THẰNG ROBBIE VỚI CHÚNG TÔI.
LHXung, Úc Châu.
Tôi có hai cháu gái đều sanh ở Việt Nam. Cháu lớn tên QH, cháu nhỏ QT. Định cư ở Melbourne từ năm 1979. Năm 1992, QT học xong trung học với điểm khá cao. Vợ chồng tôi hứa với cháu, nếu vào được đại học với một ngành nào đó trong y tế thì chúng tôi sẽ thưởng cho một món quà tùy ý chừng một, hai trăm đồng. QT đã may mắn đậu vô Monash đúng với môn học mà cháu và chúng tôi lựa chọn ưu tiên một. Cháu: “ Xin được nuôi một con chó con cho vui!” . Một món quà khá bất ngờ với vợ chồng chúng tôi, vì từ trước cháu không hề bày tỏ một ý thích như thế. Dĩ nhiên là chúng tôi giữ lời, mặc dù chúng tôi có thể thấy trước nhiều bất tiện, phải chăm sóc, phải mất nhiều thời giờ cho nó, nhứt là phải tốn tiền mua thức ăn. Không như ở Việt Nam mình nuôi chó thường bằng xương gà, xương heo đã nấu lấy nước béo hay thức ăn dư của mỗi bữa ăn. Cháu hăng hái hứa sẽ tự lo cho con chó, không để chúng tôi bận tâm; nhưng chúng tôi có kinh nghiệm cái vụ hứa ban đầu nầy ở mấy đứa con của vài người bạn của chúng tôi rồi.
Tuy hứa vậy mà sau nầy cha mẹ chúng là người lãnh đủ; phải tắm rửa, dọn dẹp vệ sinh chứ không phải tụi nhỏ. Chúng nó chỉ đi học về đùa giỡn cho vui vậy thôi chứ không để ý gì mấy. Sau khi nghe chúng tôi chính thức đồng ý thì hai chị em dò quảng cáo trên báo, đến mấy tuần mới tìm được chỗ rao bán chó con đúng giống (breed) mà cháu muốn nuôi. Cháu nó thích giống Beagle, chỉ hình cho chúng tôi xem thì tôi nhớ ra ngay, đó là giống chó săn (hunting dog) chuyên đi săn những con chồn (Fox) mà người ta thường hay thấy ở bên Anh. Tới mùa đi săn Fox, những người thợ săn trưởng giả nầy thuộc một câu lạc bộ hoàng gia gì đó; áo đỏ, mũ đen chỉnh tề, cỡi ngựa thành một đàn và cả bầy beagle lúc nhúc chạy theo để đánh hơi tìm những con chồn, ẩn núp trong bụi rậm. Đây là một thú vui thể thao của dân Anh, không phải săn chồn để lấy thịt ăn như ở Việt Nam ta hay các xứ Á Châu. Cuối tuần cả nhà tôi cùng lên xe đi Ivanhoe, một khu đông dân toàn là những gia đình khá giả, cách khu Richmond, nhà tôi chừng nửa giờ lái xe. Hai đứa con tôi có vẻ háo hức hơn cả để coi mặt con chó con và nếu thấy được sẽ mua đem về luôn. Tới nơi, thấy căn nhà sang trọng khiến cho tôi phải kêu con tôi dò lại địa chỉ cho đúng. Vì trong đầu vợ chồng tôi không thể hiểu nổi một gia cư như vậy mà “bán chó” chăng?! Từ đó về sau tôi mới hiểu thêm nhiều về chuyện bán chó con, không giống trong đầu óc Việt Nam của tôi nghĩ về chuyện mua bán chó, như hồi tôi làm việc ở nhiệm sở Kinh B Cái Sắn !
Bà chủ nhà là một người có giọng Anh chính cống, bà cho chúng tôi biết, chó Beagle của bà hoàn toàn thuần giống, có khai sinh hẳn hoi và có chủng ngừa cẩn thận. Bà vô nhà sau ôm con chó thả xuống cho chúng tôi coi. Tôi cứ sợ tôi không hiểu hết những gì bà chủ nhà vừa nói, nên tôi hỏi con tôi : “ Sao bà không cho mình coi con chó con ?” – Con tôi trả lời “Nó đó !” – Tôi suýt kêu trời, vì chó con gì mà to gần bằng mẹ nó ! – Con chó mới chưa đầy 6 tháng mà cân nặng cả chục kí lô. Tôi khều con tôi hỏi bà chủ nhà, sau nầy nó sẽ lớn to cỡ nào ? – Bà ấy cười và nói rằng nó to cỡ mẹ nó đó ! – Tôi nghĩ nếu đúng như thế thì cũng không to hơn nó bây giờ. Bà ấy nói thêm là con chó nầy sanh ra trước tiên và hai con sau thì nhỏ nhắn hơn và người ta đã lựa mua trước hết rồi. Một chút sau thì bả cũng mang lên cho thấy một con nhỏ mà ngưòi mua chưa tới bắt đi. Chúng tôi rất thích vì nó rất dễ thương, một con chó con rất đúng tầm cỡ của nó. Vợ chồng tôi hơi ngần ngừ … thì bà chủ nhà vội hạ giá bớt xuống đến mấy chục đồng. Con tôi nói rẻ lắm đó ! không có nơi nào mà nó hỏi qua điện thoại lại có giá như thế. Nên chúng tôi đều “OK !”. Bà chủ nhà hỏi: “Đặt cho nó tên gì để bà điền vào khai sanh đã xin mẫu sẵn rồi ?” – Vì qua điện thoại con tôi đã biết nó là “boy” nên đã chọn cho nó tên là ROBBIE ! - Vợ chồng tôi lại thêm một lần bất ngờ nữa về chuyện chó mà cũng có khai sinh và cái tên mà con tôi đã âm thầm có sẵn trong đầu !
Sau đó bà căn dặn con tôi một vài điều để chăm sóc chó con và bà cũng dông dài một chút về tính nết của loại chó Beagle, giống chó nầy cũng có những đặc tính riêng mà sau nầy chúng tôi có nhiều kinh nghiệm vui, buồn với nó. Xong xuôi mọi chuyện, Bà chủ nhà ôm Robbie vào lòng, vuốt ve đem nó đến kiss từ giã mẹ nó. Bà vừa nói vừa kiss vào đầu Robbie : “ Good bye ! You have a new home and good care from now on …” Bà giao Robbie cho cháu nhỏ mà nước mắt cũng lưng tròng và bà vội quay đi với lời nhỏ nhẹ cáo từ chúng tôi. - “ Bye bye ! Take care of him please, I can’t see he’s leaving …” Hai cháu giữ Robbie phía sau, tôi lái xe vừa bắt đầu lăn bánh là Robbie chồm lên, vùng vẫy … giương cao cổ nhìn căn nhà cũ sủa mấy tiếng quấu , quấu … Tôi nghe hai cháu nó cứ phát âm ư … ư … kêu Robbie, Robbie … calm down … you’ll be alright ! Alright, coming home soon Robbie! Robbie, ư … ư …
Một lát sau, không còn nghe tiếng của hai cháu nó nữa thì tôi lại nghe tiếng Robbie rên khe khẻ. Tôi hỏi sao vậy ? – Cháu nhỏ trả lời: “ Robbie, nó khóc quá Ba ơi !” – Tôi nói: “ Tụi mầy ! Chó mà cũng biết khóc nữa ?!” – Cháu lớn chen vào: “ Ba à, nó khóc thiệt mà, về nhà Ba sẽ thấy!” Tới nhà, cháu nhỏ bồng Robbie xuống xe; cả hai cháu đều chỉ cho vợ chồng tôi thấy: “Sắc mặt Robbie nó buồn thiu, hai khoé mắt nó còn in dấu ướt đẫm hai vệt dài nước mắt.” Mẹ các cháu nói: “QH, kiếm cái thùng giấy, lót cái khăn cũ trong tủ phòng giặt cho THẰNG ROBBIE nằm tạm trong nhà đêm nay xem sao ?” Lúc đó chúng tôi không ai để ý tiếng “THẰNG” mà mẹ các cháu đã gọi Robbie như một thằng boy và từ giây phút đó, tiếng THẰNG đã trở thành một xưng hô mà chúng tôi sẽ mãi dùng để thân thiết gọi Robbie, một cách đầy nhân cách hoá như một đứa con trai trong gia đình của chúng tôi. Khi các cháu sửa soạn xong cái thùng giấy, thả thằng Robbie vào thì nó nằm êm re, gác cái mỏ chành bành trên cái bờ thành của thùng giấy, loại thùng đựng xoài bán ở các tiệm, cao độ 1 tấc thôi. Hai lỗ tai nó to, mỗi cái to chừng bằng bàn tay của người lớn, mềm nhũn như không có xương sụn, buông thõng xuống che bít hai bên má. Thằng Robbie nó cứ liếc dòm hết người nầy, tới người khác trong nhà. Còn Mẹ con các cháu quây quần ngồi chung quanh thằng Robbie. Một chút sau thì cháu lớn vội vàng đi siêu thị mua thức ăn hộp cho thằng Robbie theo chỉ dẫn của Bà Chủ cũ. Cháu nó về, còn có thêm cái tô nhôm dành riêng cho chó, hình thù như cái nón vải của lính thủy. Để ngửa là đựng thức ăn; còn lật úp lại là chứa nước uồng. QH khui ngay một hộp cho thằng Robbie; đổ ra ½, nó ăn hết lập tức, đổ thêm ½ còn lại nó cũng làm sạch trong chớp nhoáng. Cháu nhỏ nói, ăn mạnh như vậy hèn chi nó to gần bằng mẹ nó là phải rồi. Cháu nó phân bua với chúng tôi: “Theo lời dặn của Bà Chủ thì loại beagle, dù có thức ăn nhiều bao nhiêu nó cũng cứ ăn cho tới hết.
Cho nên chỉ cho nó ăn đủ một bữa ăn thôi; không phải thấy nó ăn hết nhanh rồi mình tưởng nó còn đói mà cho ăn thêm là không đúng với loại beagle.” Biết tính loại beagle háu ăn như vậy nên chúng tôi đều yên tâm. Nhân lúc có đủ mọi người chưa tan ra, cháu nhỏ lập lại mấy lời chỉ dẫn của Bà Chủ: Phải mua đúng thức ăn cho nó, không được cho ăn xương mình nấu ăn trong nhà, sợ nó bị mắc cổ, phải mua biscuit của chó để cho nó ăn xen kẽ các bữa ăn, phải mua xương giả để nó gặm cho chắc răng. Phải thỉnh thoảng chà răng cho nó, phải để ý lau sạch mắt và nhỏ thuốc rửa mắt cho nó, phải cắt móng chân khi thấy nó dài. Phải lấy bông gòn chùi sạch bên trong lỗ tai sau mỗi lần tắm. Đặc biệt khi dẫn nó ra khỏi nhà, bắt buộc phải có dây dẫn cầm tay, không được thả lỏng nó ngoài công viên, ngoài đường vì nó sẽ chạy xa, không dễ gì mà bắt nó lại v.v… Khi không có mặt các cháu, nhà tôi nói: “ Kệ tụi nó dặn gì thì dặn … dần dà mình sẽ tập cho nó ăn thêm thức ăn Việt Nam trong gia đình để nó quen, đỡ tốn. Chó ở Việt Nam mình nuôi, có ai ra chợ mua thức ăn cho nó bao giờ. Chó ở Úc cũng chó vậy thôi, làm gì có chuyện không biết nhai xương …” Chạng vạng, cháu nhỏ dẫn thằng Robbie ra sau nhà, cho nó chạy lòng vòng và giữ yên một chỗ, canh chừng cho nó đi tiểu theo lời dặn của Bà Chủ và buổi sáng phải mở cửa sớm để cho nó ra ngoài đi tiểu, tiện. Quả thật cháu nó làm y như lời dặn thì thằng Robbie đều sinh hoạt đúng theo thói quen của nó. Việc tiểu, tiện có nề nếp của thằng Robbie giúp cho cả nhà tôi yên tâm, không còn lo lắng nhiều về chuyện vệ sinh như hồi sắp sửa định nuôi chó trong gia đình. Hôm sau là ngày Chúa Nhựt, nhằm tuần tôi được nghỉ. Sáng sớm tôi vội vô nhà kho, lựa ra một số cây ván vụn hồi mấy tháng trước khi nới rộng nhà sau còn dư; đủ để đóng một nhà chuồng (kennel) nhỏ nới rộng nhà sau còn dư; đủ để đóng một nhà chuồng (kennel) nhỏ cho thằng Robbie. Tháng mấy tôi quên rồi, nhưng còn nhớ là thời tiết đang khô ráo, ấm áp. Tôi thả thằng Robbie ra ngoài sân sau toàn lát gạch, để nó loanh quanh và tôi cưa cây, cắt ván để ráp nhà chuồng. Tôi chỉ đóng kín chung quanh, chừa cửa ra vào và hai mái xéo thì bằng 2 miếng ván đâu lại, có thể gỡ ra để rửa ráy bên trong cho tiện.
Thằng Robbie sau khi cả buổi cứ đi chung quanh sân sau và bên hông nhà hít hít, hửi hửi hết chỗ nầy, chỗ kia cho quen chỗ mới chăng ? Gần như mọi nơi nó đều thám thính xong thì đến nằm gần chỗ tôi, mắt dòm ngó như say mê học việc. . Khi gần xong, tôi còn lui cui đóng thêm vài miếng bợ, để khi ráp hai mái nhà sẽ dễ dàng ăn khớp với nhau. Bất chợt tôi lại chứng kiến một chuyện không ngờ khác ! Thằng Robbie đứng dậy từ từ bước vô nhà chuồng của nó, nằm xoay qua, xoay lại; quay đầu vô trong, đổi đầu ra ngoài cửa … Tôi ngạc nhiên ngừng tay theo dõi, xem nó làm gì ? - Nằm bên trong một chút lại bước ra ngoài, tiếp tục ngồi nhìn tôi làm việc. Khi tôi hoàn tất đâu vào đấy, tôi kéo nhà chuồng Robbie lại để ở một góc vách hàng rào, cách cửa từ nhà bếp ra sân sau độ 4, 5 thước thôi. Vừa đặt xuống yên chỗ thì thằng Robbie lại hăng hái bưóc vào nhà của nó, đứng thò đầu ra cửa, trông thật là cảm động và dễ thương. Các cử chỉ của nó như ngầm cho tôi thấy, nó đã hiểu: “Tôi đóng chuồng nhà là để cho nó ở !” - Khiến cho tôi đã nhanh chóng nhận ra, thằng Robbie nó rất thông minh và khôn ngoan ! Buổi chiều khi có mặt cả nhà; tôi đem kể chuyện thằng Robbie tự động bước vô chuồng nhà quan sát lúc gần xong và đã vô nhà mới nó ở; ai cũng khó tin, tưởng như tôi đã thêm mắm, muối cho câu chuyện. Mấy tuần sau, tôi lại lấy tôn che thêm bên trên chuồng nhà, để tránh mưa nắng cho thằng Robbie, giúp nó có một khoảng trống rộng hơn. Một dịp nghỉ cuối tuần khác, tôi lại phải đóng thêm 2 phía hàng rào còn trống, như vậy 4 phía chung quanh nhà chuồng đã kín. Chỉ đóng cửa hàng rào chung quanh nhà chuồng giữ nó lại, mỗi khi cần mở cửa hông để cho xe ra vào, sợ sơ ý nó lẻn ra đường, gặp nguy hiểm. Thằng Robbie học việc rất mau, chỉ trong 3 tháng đầu mà nó đã làm được những việc mà chúng tôi đã trông cậy ở nó. Nó đi vệ sinh rất đúng giờ giấc và đúng chỗ. Sáng sớm nó ra khỏi nhà chuồng, ngồi gần cửa hàng rào để đợi có người mở cửa rào cho nó ra sân sau. Nó đi tiểu tiện y chang một chỗ ở góc sân gần nhà kho, chỗ mà chúng tôi lúc mới đầu cầm dây giữ cho nó tiểu tiện ngay chỗ trống trải đó, cho dễ giữ sạch mỗi ngày.
Nó cũng nhanh chóng biết ý mỗi người trong nhà và từ đó nó cũng bày tỏ (greeting) cảm tình của nó với mỗi người gần như theo những cách thức nồng nhiệt khác nhau. Như đối với cháu lớn, lúc đó đã là năm thứ 2 nên cháu nó rất bận rộn bài vở và cuối tuần thì mắc đi làm thêm để có chút tiền túi riêng, mua sắm chút ít nhu cầu mà khỏi cần phải nhờ xin gia đinh. Nên cháu lớn QH hay lơ là, không để ý mấy, hay ít chăm sóc thằng Robbie … Vậy mà thằnh Robbie nó âm thầm nhận ra, mỗi khi QH nó về đến nhà, mà thằnh Robbie nó âm thầm nhận ra, mỗi khi QH nó về đến nhà, thằng Robbie chỉ đến ve vẩy cái đuôi mừng sơ sài rồi đi chỗ khác. Nó đánh hơi hay nghe ngóng thính lắm, mặc dù bị nhốt trong hàng rào nhà chuồng, cách ngoài đường cả chục thước, vậy mà nó phân biệt được tiếng xe của tôi hay của cháu nhỏ sắp về đến nhà. Tự nhiên ở trong sân chuồng nó chồm lên cửa rào, sủa quấu … quấu … là chúng tôi biết có ai sắp về tới nhà. Đúng hệt, một hai phút sau thì nghe có tiếng gõ cửa, có người về. Lần hồi chúng tôi phân biệt được, thấy nó quýnh quắn, sủa ỏm tỏi là biết cháu nhỏ QT về. Còn thấy nó chỉ sủa báo động rời rạc mấy tiếng rồi thôi thì là cháu lớn đã về. Cháu nhỏ về mà không ra ngoài mở cửa rào cho nó ra là nó làm giặc ngay, vừa sủa vừa lấy 2 chân trước đẩy cửa rào nghe rầm rầm. QT phải cho nó ra, nó chồm lên người, phải vò đầu, phải nhắc nó lên một chút nó mới chịu yên. Còn tôi và nhà tôi về thì nó cũng lăng xăng báo động cho trong nhà biết, nhưng nó không làm dữ như lúc cháu nhỏ về. Nó mừng rỡ mỗi người nặng, nhẹ thấy rõ. Cho nên cháu lớn hay nhiều lần than phiền: “Thằng Robbie nó đối xử với con thật tệ, tệ nhứt trong nhà mình.” - Mẹ cháu cười và nói : “Nó biết con không ngó ngàng , không để ý gì mấy đến nó thì con biểu nó làm sao hơn bây giờ ?” Chừng 3, 4 tháng sau, chích ngừa đợt chót xong xuôi, cháu nó hỏi Council về chuyện xin đăng bộ, để có thẻ mang vào cổ, dẫn đi ngoài đường cho hợp pháp. Tôi không biết các Council ở chỗ khác thì sao ? Ở Richmond, chỗ tôi vào thời đó muốn được Council cấp phép cho nuôi hợp pháp thì chó “bắt buộc phải thiến”, xong rồi có giấy chứng nhận mới được cho đăng bộ. Nên cách đó vài tuần, cả nhà lại chở thằng Robbie đi bịnh viện Thú Y có tên là LORT SMITH, Animal Hospital, North Melbourne; để desexualize cho thằng Robbie. Trên đường, cháu nhỏ cứ lo lắng hỏi mẹ của cháu nó: “Chắc nó đau lắm hả mẹ ?” – “Ừ thì đau, nhưng nó sẽ được cho thuốc mê nên đâu biết đau đớn gì mà con lo cho nó quá vậy !” Khi xuống xe, dẫn thằng Robbie qua cổng bịnh viện, QT còn an ủi đưa cho nó ngậm một cái bánh biscuit, hình thù giống như một khúc xương, hai đầu nở to như xương thật mà thằng Robbie rất ưa thích. Lần nầy tự nhiên nó không nhai ngấu nghiếm, mà chỉ ngậm nửa trong nửa ngoài. Phải tới phòng tiếp tân điền ghi giấy tờ, một ông y tá ra nhận nó nhập viện.
Ông y tá thấy nó ngậm biscuit thì nói : “ you are spoilt aren’t you ?” – Ông ta đưa một tay lòn dưới bụng, cặp nách nó ngang hông, tỉnh bơ đi vào trong mà không thấy thằng Robbie cựa quậy gì cả. QT còn cố chạy theo vài bước để vuốt đầu trấn an thằng Robbie. Chúng tôi được căn dặn 2 ngày sau, sau 3 pm sẽ trở lại để nhận thằng Robbie về. Hôm ấy, chúng tôi lại cả nhà đi đón thằng Robbie, chúng tôi được y tá trực dẫn vào tận bên trong, đến ngay chỗ của thằng Robbie là một lồng sắt được đặt từng dãy chia theo từng khu bịnh khác nhau. Mỗi lồng có ngăn cách không cho con nầy thấy con kia. Bên trong có lót nệm mỏng bằng cao su rất sạch sẽ như ở các bịnh viện. Khu vực nầy đều có chạy máy điều hoà không khí, lần đầu tiên chúng tôi mới biết được một bịnh viện thú y mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến. Tiếng chó mèo …khua động inh ỏi …vang rền. Thằng Robbie nhìn thấy chúng tôi là đưa chân khều vào cửa như hối thúc mở cửa cho mau. Mặt mày nó phát vui thấy rõ. QT cứ giành ôm nó ra xe; ông y tá nói cứ để nó xuống đi không sao. Nhưng QT không dám buông nó xuống vì sợ đau và ông y tá cũng vội tháo băng ra xem lại một lần chót trước khi để nó xuất viện. Ai cũng tưởng chi phí bịnh viện sẽ khá to, nhưng không ngờ bịnh viện chỉ thâu tiền vài chục, một cách tượng trưng vì có sự tài trợ của chính phủ và Hội Chăm Sóc Thú Nhà. Từ nãy giờ thằng Robbie không hề gây một tiếng động nào, nó ngồi giữa hai cháu ở phía sau; đến khi xe tôi nổ máy sắp sửa lái ra cổng thì thằng Robbie vùng vẫy chồm ra phía cửa, đã được các cháu quay kiếng thấp xuống cho có gió. Thằng Robbie ló đầu ra ngoài sủa quấu quấu thật to … cho đến khi xe ra tới đường nó mới chịu thôi. QT thông dịch cho cử chỉ của thằng Robbie là để “phản đối” bịnh viện đã mổ nó đau chăng ?! – Ai cũng cười ! – Còn Mẹ các cháu thì nói : “Không chừng nó từ giã bạn bịnh và cám ơn bịnh viện đã săn sóc tận tình thì đúng hơn con à !” Vết thương thật mau lành, chỉ một tuần sau theo căn dặn của y tá bịnh viện, nếu thấy chỗ may khô ráo, không bị nhiễm trùng thì có thể tự cắt chỉ may vết mổ. Nhờ có tay nghề nhà thương mấy mươi năm của Mẹ các cháu mà công việc cắt chỉ một chút là khéo léo xong ngay. Và chừng mươi ngày sau thì thằng Robbie đã lành lặn bình thường. QT đem giấy tờ đến Council để đóng lệ phí đăng bộ và được cấp cho một tấm “Name tag” đeo cổ, hình tròn bằng nhôm cỡ đồng tiền 20 cent; trên đó có ghi Số Đăng Bộ và ngày hết hạn đúng mỗi năm phải đóng tiền đăng bộ lại. Theo lịnh của Council thì chó mèo dẫn ra đường phải có name tag mới hợp lệ và khi bị thất lạc thì căn cứ vào name tag đó mà Council hay cơ quan bảo vệ súc vật RSPCA mới biết chủ nhân của nó là ai, hầu liên lạc để hoàn trả. Khi hoàn tất mọi thủ tục hợp lệ của Council, thằng Robbie được tập đi theo chúng tôi ra đường nhiều hơn. Buổi chiều sau khi cơm nước xong xuôi, tôi hay dẫn thằng Robbie đi một vòng, nay đường nầy mai đường khác. Cứ mỗi lần đi những con đường mới nó cứ liên tục dừng lại ở những gốc cây, ở những cột điện; mỗi nơi nó đều giơ cao chân sau lưu lại “một chút” để nhớ đường trở về. Tôi đã thử nhiều lần khi dẫn nó quay về, thay vì cứ để nó hít hít rồi quẹo phải, quẹo trái; tới một ngã ba tôi cố tình đi ngược hướng khác xem sao ? Nó cứ nhứt định lôi tôi về hướng nó tìm thấy mùi hương để lại dọc đường của nó. Chúng tôi đi đâu chơi, công viên, picnic dù đường xa cũng có nó đi theo. Nó biết tự động lên xe, ngồi phía dưới chân ở hàng ghế sau một cách lặng lẽ, cho đến khi tới nơi bước xuống mới đòi chạy ra xa tiểu, tiện. Có lần ỷ y, chúng tôi không gài dây xích ở một picnic nọ, nó vụt chạy vô bìa rừng. Báo hại cả nhà phải chạy theo, bao vây tứ phía mới chụp được nó. Từ đó về sau, bất cứ ở đâu chúng tôi cũng phải móc dây xích mỗi khi cho nó ra đường. Chúng tôi tập cho nó đi theo ra chợ, thấy nó sạch sẽ, đứng yên, không tới gần để hửi những người lạ như những con chó khác. Cho nên những người ngoài đường thấy nó đều đến vuốt ve, hỏi chuyện. Có nhiều người cảm hứng kể chuyện chó rất là thích thú, khiến cho mình cũng có những phút giây thân thiện, hòa đồng với những người chung quanh. Có con chó đi theo là dễ trò chuyện, dễ có đề tài làm quen với những người dù chưa một lần quen biết. Thằng Robbie được đến chỗ làm của tôi, được hai cháu cho đến 2 trường để gặp bạn bè, nó cũng được đến bịnh viện, chỗ làm việc của mẹ các cháu. Robbie được đến bịnh viện thường hơn vì nó cứ leo lên xe với tôi để đi rước mẹ các cháu tan sở. Robbie được các bà trong bịnh viện rất thương mến, có một bà làm việc trong nhà ăn; cứ hễ có dư thức ăn ngon là thế nào cũng để dành một hộp nhỏ đưa cho nhà tôi mang về cho thằng Robbie. Lần hồi thằng Robbie đã quen với thức ăn dư trong nhà và thức ăn ở nhà thương, nên việc tốn kém cho nó được giảm bớt hẳn đi. Các cháu lâu lâu mới cho nó ăn thêm một bữa bằng thức ăn mua ở siêu thi. Nói là đồ ăn dư trong nhà, nhưng riết rồi thằng Robbie cũng được mọi người chia phần mỗi thứ dành cho nó một chút ngay từ đầu, để sau khi ăn xong sẽ đem trộn thêm cơm cho nó ăn. Đến những năm sau nầy thì thằng Robbie món nào trong nhà nó cũng đều không chê !
Mẹ các cháu kể chuyện nó rất thích món “Chả Giò”; vì mỗi lần chiên là phải ra cái bếp dã chiến sau nhà cho đỡ có mùi dầu mỡ trong nhà. Những lúc như vậy thằng Robbie ngồi ngó mẹ các cháu chiên giòn, vớt ra gác trên cái vĩ cho khô mỡ … thằng Robbie nó nhìn nhễu nước miếng. Mẹ các cháu phải lựa một chiếc đã nguội đưa cho nó, nó nhai ngấu nghiến với vẻ say mê hiện rõ trong đôi mắt. Mẹ các cháu nói, nó giống như con nít vậy ! - Về sau những lần chiên chả giò mà không để ý tới nó thì nó lại nằm sát bên cạnh, lấy chân khều khều xin ăn. Cho một chiếc xong, lâu lâu lại khều … và phải có 3, 4 chiếc mới chịu. Tuy thằng Robbie rất háu ăn theo thói quen, nhưng nó có một đức tính mà chúng tôi không nhìn thấy ở những giống chó khác ? Thức ăn để ở đâu đó, nó có thể tới ăn được … nhưng nếu không ai để ra cho nó thì nó không bao giờ ăn vụng. Thằng Robbie đã sống với chúng tôi như một đứa con trong gia đình, có thể chúng tôi nói ra như thế có phần quá đáng chăng ?! Nhưng chắc chắc những ai có từng nuôi chó, thương yêu một con chó mình nuôi thì sẽ dễ dàng thông cảm cho chúng tôi hơn. Có nó chúng tôi không thể đơn giản hoạch định đi xa một đôi ngày, cứ phải lo gởi hàng xóm, rất sợ phiền hà. Đi đâu thật vui, rồi tối cũng nhắc thằng Robbie, về tới nhà là phải chạy vào xem nó ra sao ?! Vì mẹ các cháu hay làm ca chiều, tới hơn 10 giờ đêm mới xong. Còn tôi thì thường làm ca sáng, nên khi về nhà buổi chiều có thời giờ rảnh để dắt nó ra đường hay đùa giỡn với nó ở sau nhà. Tôi hay liệng banh cho nó chạy đi lượm lại, đến khi hơi chán thì nó hay tha mấy cái khăn rách để lau nhà đến để trước mặt tôi, rồi làm bộ ngó chỗ khác. Khi tôi chụp cái khăn định máng lên hàng rào thì nó nhào tới ngậm chặt để kéo đi. Tôi không buông ra thì nó càng ra sức kéo thật mạnh, đôi lúc tôi cố giở cao hỏng giò nó lên khỏi mặt đất mà nó cứ đeo dính, lấy làm khoái trá lắm. Đến khi mệt thì nó lại ngồi bên cạnh tôi, lấy cái mỏ cạp mấy ngón tay tôi nhè nhẹ, mắt thì nhìn tôi dò xét; thấy tôi không có phản ứng gì thì nó lại nhai hơi mạnh hơn … đến khi bất chợt tôi làm bộ la đau “Oh !!!” … thì nó nhả ra. Chiều nào cũng vậy, về tới nhà … bước ra sau thì thằng Robbie lại đi tìm cái khăn rách tha tới rủ tôi “kéo khăn” với nó, thành một thói quen. Nhờ về tới nhà có nó khiến đầu óc tôi không còn nhớ gì đến những chuyện phiền toái, bực tức trong sở làm. Hầu như ngày nào cũng gặp phải, không chuyện đụng chạm với các cấp cai thợ hống hách, thì cũng có vấn đề bị khinh khi, miệt thị … và không như những năm trước, dạo sau nầy nhờ có thằng Robbie nó hoá giải cho tôi nhiều chuyện, tất cả đều trôi đi mất hút, thật nhanh. Điều mà nhiều bạn đồng sở, cứ phải chất chứa lâu ngày thành ra tâm trí hao mòn, lệch lạc bất thường. Có một anh bị trầm trọng đến nỗi phải nằm bịnh viện tâm thần đến cả năm, mà cũng chỉ đỡ hơn đôi chút vậy thôi. Thấm thoát, thằng Robbie về với chúng tôi cũng gần một năm; nhờ có giấy khai sanh nên nhớ ngày, cháu nó làm một cái mũ giấy sinh nhựt. Trang trí cho có thêm màu mè, đội lên đầu Robbie. Cho nó ăn món ngon và bánh biscuit đặc biệt để mừng ngày sinh, coi như đã lớn 7 tuổi rồi. Theo sách vở khảo cứu về chó, người ta quy định cứ một năm tuổi của con người thì bằng với 7 tuổi của con chó, so sánh theo tuổi thọ của chó mà tính ra tương đương. Năm thứ 2, thằng Robbie được vô trong nhà bếp, nối liền với chỗ bàn ăn thường hơn. Vì khoảng nầy toàn lót gạch nên dễ lau chùi sạch sẽ. Từ nhà bếp có một cửa kéo bằng kiếng nối liền với phòng học và từ đó có cửa thông lên phòng khách và cầu thang lên các phòng ngủ trên lầu. Thằng Robbie chưa bao giờ được cho phép vượt qua cửa kiếng, vì sợ nó làm dơ thảm nhà. Một hôm cuối tuần, cháu lớn đi làm cho một tiệm bán bánh mì, cháu nhỏ đi dạy kèm toán cho một đứa nhỏ con người Ấn, chủ một nhà hàng mà anh của đứa nhỏ nầy là bạn học của cháu lớn ở RMIT.
Gia đình ấy rất muốn cho đứa con gái được vào trường Mac Robertson, nên nhờ QT, hướng dẫn để luyện thi vào trường nầy. Ở nhà bữa đó, thứ bảy thì phải; tôi cắt cỏ ở sân trước, mẹ các cháu nấu nướng, dọn dẹp trong nhà và thằng Robbie được cho vào quanh quẩn chơi ở nhà bếp. Độ 1 giờ sau thì nhà tôi bước ra sân hỏi tôi: “Thằng Robbie đâu rồi ?” – “Đâu biết, anh đâu có thả nó ra ngoài sân !” – Nhà tôi nói đã cho nó vô nhà bếp hồi nãy, giờ thì không thấy nó đâu cả. Hai vợ chồng tôi kiếm đủ chỗ, vừa kiếm vừa kêu Robbie, Robbie … như mọi khi nghe kêu như vậy là nó tới ngay hay nếu ở trong nhà chuồng thì cũng bước ra cho thấy. Nhưng lạ, khắp từ ngoài vô trong, chúng tôi lục lọi không bỏ sót một chỗ nào mà vẫn không thấy tăm hơi thằng Robbie.
Nhà tôi quýnh lên, mặt mày xanh lè, hớt hải; nghi rằng tôi đã sơ ý để nó lên nhà trên rồi theo ra sân mà tôi không hay ! Ban đầu tôi nhứt định không có chuyện thằng Robbie ra sân; nhưng từ từ chính tôi cũng chỉ thấy còn lại một lý do duy nhứt đó khiến cho thằng Robbie biến mất. Chúng tôi bắt đầu ra ngoài đường phía trước, hỏi thăm hai bên nhà kế Chúng tôi bắt đầu ra ngoài đường phía trước, hỏi thăm hai bên nhà kế bên, rồi bắt đầu đi xa hơn … đi từng con đường chung quanh khu nhà, vừa kêu tên Robbie, vừa nghe ngóng hỏi thăm bất cứ ai mà chúng tôi gặp. Cả giờ đồng hồ xuôi ngược trong xóm mà hoàn toàn tuyệt vọng, coi như thằng Robbie đã đi lạc. Chúng tôi lại vào trong nhà tìm kiếm tiếp và dĩ nhiên cũng không thấy nó đâu cả. Chúng tôi trở ra đường và về lại tay không. Mẹ các cháu rớm nước mắt, khiến tôi cũng xao xuyến trong lòng. Tôi nói thôi để chờ QT về, thứ hai kêu nó đi hỏi Council và gọi cho chỗ bảo vệ súc vật để xem có ai báo tin có thấy chó lạc không ? Chúng tôi cứ đứng trước sân dáo dác, hết nhà nầy đến nhà khác … để hy vọng sẽ thấy nó đâu đó ! Đến khi chúng tôi ngồi xuống ở trước thềm nhà, tay chân và đầu óc đều mệt mỏi rã rời … thì tự nhiên nhà tôi nói: “Hình như em vừa nghe tiếng thằng Robbie…” –
Chúng tôi đã mau chóng khám phá ra chuyện thằng Robbie sợ tiếng “Trời gầm”. Một bữa nọ trời sắp mưa, nó còn đang ở ngoài sân với chúng tôi, nghe ầm một tiếng nó phóng tới chui rúc vào hai chân tôi, run như cầy sấy. Cho nên về sau, mỗi khi trời sắp mưa là chúng tôi hay mở cửa cho nó vô trong nhà nằm im re ở một góc bếp. Đến khi tạnh mưa mới dám thò đầu ra, đi lòng vòng. Còn không thấy có mặt ai trong nhà để cho nó vào thì nó trốn trong nhà chuồng, khoanh gọn thành một cục, nằm tuốt trong sâu, sơ ý dòm vô không thấy mắt mũi nó đâu cả. Bởi vậy các cháu cũng học theo tôi, gọi Robbie là “Thỏ đế” nhứt nhà ! Chó nhà ai cũng vậy, hầu hết đều sủa râm ran mỗi khi có người lạ hay khách tới nhà. Còn thằng Robbie chỉ sủa vài tiếng lấy lệ nhằm để báo động cho nhà biết mỗi khi có khách. Không phải đợi đến khi nó thấy mặt mới nhận ra khách hay người nhà; ngay như nó đang ở trong chuồng phía sau, không thấy gì phía trước nhà. Vậy mà có người bước vô sân là nó sủa vài tiếng cho chúng tôi hay ngay. Tuỳ theo giọng sủa của nó mà chúng tôi sau nầy đều quen và đoán được khách hay người nhà. Thằng Robbie sủa mà có kèm theo cái đuôi quơ qua, quơ lại là người nhà; còn nó sủa hơi to hơn và cái đuôi nó quặp xuống như sợ sệt là khách. Riết rồi chúng tôi cũng rất quen cách thức báo động của nó và đoán ra ai đang có mặt ở cửa trước. Khách lạ hay quen gì mà được chúng tôi mở cửa mời vào nhà thì thằng Robbie cũng vẫy đuôi chào mừng. Con nít hay người lớn vào nhà thấy nó thân thiện, nằm im như lắng tai nghe chuyện, dòm cái lỗ tai nó giựt giựt, mạnh nhẹ tùy theo giọng nói lên xuống của khách, thấy tức cười lắm ! Con nít dù nhát cách mấy mà gặp thằng Robbie, một chút sau là đùa giỡn với nó ngay. Nó hay cắn trái banh tennis trong miệng rồi đi theo mấy đứa nhỏ, thấy có đứa nào dòm nó thì nó mau tới gần nhả trái banh ra để chờ tụi nhỏ lượm lên ném đi chỗ khác và nó sẽ chạy đi nhặt đem lại cho liệng tiếp. Con nít tới nhà là thích nó, không muốn về ! Ít lâu sau, thấy phần lớn các nhà lối xóm có nuôi chó, gia chủ thường hay mua một tấm bảng nhỏ “Beware of Dog” để ngầm đe doạ con nít và trộm vặt. Một hôm có thời giờ rảnh, tôi lấy một tấm thiếc ra vẽ và cắt hình thù cái mặt của thằng Robbie, trông cũng khá giống. Tôi viết vào đó chữ “Beware of Tough Dog”, đem cột vào cửa hàng rào bên vào đó chữ “Beware of Tough Dog”, đem cột vào cửa hàng rào bên hông nhà, định hù thiên hạ cho vui !
Chiều đó hai cháu lần lượt về tới nhà nhìn thấy tấm bảng chó dữ của tôi đều cười và mỗi đứa cho một câu bình luận trực khởi: - Ba để vậy người ta cười chết, vì thằng Robbie mà tough nỗi gì ! – Ba vẽ hình nó ra, người ta thấy thì càng muốn vào để bắt nó luôn nữa chứ ! Còn ông Eric, sát bên nhà tôi thì hỏi đùa: “ Is Robbie really tough like Viet Cong ?” – Tôi trả lời: “Maybe!” – Ông ấy nói: “you are joking !” và thường cũng nhờ tấm bảng chó hiền nầy mà chúng tôi hay có vài câu trao đổi với hàng xóm, gặp nhau nói chuyện thời tiết hoài cũng chán. Độ hai, ba năm sau gì đó … có một lần nghỉ thường niên, mỗi sáng tôi đều dẫn thằng Robbie loanh quanh trong xóm hay ra một công viên gần nhà, dọc theo bờ sông South Yarra. Bữa nọ, tôi móc cái khóa của sợi dây vào cổ, vì cái khoen chưa lọt hẳn bên trong lưỡi gà, nên đi một chút là nó sút dây ra. Thằng Robbie cắm đầu, cắm cổ chạy miết … tôi chạy theo không kịp. nó chạy ngược hướng khác, băng ngang con đường Bridge Road; xe thắng két két làm tôi hết hồn. Cũng may giờ đó ít xe và mấy chiếc đã tránh kịp.
Tôi rượt đuổi cả giờ mà không làm sao tới gần được … lúc nào nó cũng giữ một khoảng cách thật xa với tôi. Tôi đi chậm thì nó cũng chậm lại, tôi chạy nhanh thì nó vọt lẹ hơn. Tôi tức quá mà không làm gì được, tôi định kệ nó, bỏ cho đi mất luôn. Nhưng tức khắc trong đầu tôi lại có những câu cản ngăn: Không được ! Không được đâu ! Không có nó là cả nhà sẽ mất ăn, mất ngủ cho mà coi ! Vì vậy mà tôi cứ canh chừng, đi theo, đi theo xa xa … cả buổi mà không bắt được. Rồi … tôi thấy một ông già dẫn một con chó nhỏ xíu đi tới. Ông hỏi tôi có chuyện gì mà đứng đây? Tôi chỉ thằng Robbie cho ông thấy và tôi nói sút dây, không bắt lại được. Ông nói để ông giúp cho ! Tôi mừng trong bụng nhưng chưa biết ông giúp tôi bằng cách nào ? Vì ông chống gậy từng bước khá nặng nề. Ông vỗ vỗ vào mấy cái túi áo jacket nhà binh cũ xì, ông cười nó đây rồi ! Ông thò tay vào túi lôi ra một gói nhỏ có mấy cái bánh biscuit, không cái nào còn nguyên. Ông ta dẫn chó bằng loại dây dài, bán tự động có thể nới ra hay thu ngắn lại trong cái hộp ở chỗ tay cầm. Ông liền nới dài sợi dây cho con chó của ông tới gần Robbie, rồi tôi cũng nhè nhẹ bước theo ông … hai con chó làm quen nhau … hửi, hít nhau. Ông liệng cho mỗi con một miếng biscuit … thằng Robbie, vừa nhai vừa dòm dòm chúng tôi. Có lúc chúng tôi chỉ cách thằng Robbie trong vòng 2 thước thôi. Tôi định bước tới để chộp nó; nhưng bị ông già nắm tay kéo lại … ông bảo chờ một chút nữa đã. Ông thảy thêm 2 miếng bánh cho 2 con ăn tiếp. Ba bốn phút sau ông kéo con chó của ông từ từ đi, thằng Robbie lại theo sát nút. Ông nói Ok ! rồi ông ta chậm rãi rảo bước … dặn tôi đừng đến gần ông nữa, đi xa phía sau … Ông nói sẽ dẫn chúng nó vào một đường hẻm nhỏ theo tay chỉ về phía trước. Hồi xưa người ta hay chừa xa xa một hẻm thông thương, phòng hờ cho xe ngựa chở nước cứu hoả, hai bên là vách tưòng nhà, thường cách mươi căn là có một hẻm như thế. Quả thật đi độ 100 thước thì có một cái hẻm, ông dẫn con chó đi vào, thằng Robbie lội theo … Khi thấy nó đã đi vào trong thì tôi khóa đít bọc hậu, Ông già thì chặn phía trước, tôi thủ ở phía sau … Chừng đó, thằng Robbie tự nhiên rất dễ thương, nó ở phía sau … Chừng đó, thằng Robbie tự nhiên rất dễ thương, nó đứng yên chờ tôi tới xích cổ nó dẫn về. Tôi ứa nước mắt trước sự tính toán và trợ giúp tích cực của ông già. Tôi cứ nấn ná, cám ơn, rồi lại cám ơn… mà bước đi không đành. Ông nói không có chi, don’t worry! Mầy về nhà đi, chắc là sáng tới giờ mệt đừ rồi ! Từ 9 giờ mà tới hơn 1 giờ trưa mới bắt đưọc thằng Robbie, may là có ông già tính kế giùm. Sau nầy thỉnh thoảng nếu có ngày nghỉ tôi đều dẫn thằng Robbie qua hướng đó để có ý chờ gặp ông già … chúng tôi có gặp nhau vài lần. Độ cuối năm 95 thì phải, tôi gặp lại ông một lần sau cùng, lúc đó ông già và con chó đều suy sụp thấy rõ … ông nói: “Ông sắp bán nhà để về Ballarat sống với con gái, vì sức khoẻ ông có phần quá tệ rồi !” – Ông hỏi tôi có từng đi lính không ? - “Có !” - Ông nói ông là cựu quân nhân, có đồn trú ở Núi Đất gần 2 năm. Ông chúc gia đình tôi nhiều may mắn ở Úc ! Tôi chỉ biết nghẹn ngào không nói nên lời, chúc ông “nhiều sức khoẻ, luôn bình yên.” – Tôi chia tay với ông già mà không cầm được nước mắt … tôi đoán là sẽ không bao giờ còn gặp lại ông già tử tế, tốt bụng ấy nữa. Ông ta đã chớp nhoáng để lại trong tôi nhiều ngậm ngùi, chua xót mỗi khi nhớ lại chuyện hơn mười năm trước. Mùa Đông năm 96 thì phải ! Một buổi chiều mưa gió tầm tã, tôi đi làm về, xuống xe chạy nhanh vô nhà, tôi cứ thủ sẵn chìa khóa để mở cửa cho mau. Tôi giựt mình, suýt đạp lên một con chó lạ đang nằm co ro ngay sát cửa. Tôi né một bên, sợ đụng nó … nó táp mình không chừng ! Tôi xô cửa vô nhà thì con chó cũng đứng lên bước theo tôi. Tôi để cái xách tay đựng thức ăn xuống, đang ngần ngừ chưa biết tính sao đây ? Con chó lông lá ướt nhẹp dòm tôi như van lơn cầu khẩn, cái đuôi nó ngoe nguẩy … Tôi thấy nó tỏ ra rất thân quen mặc dù tôi chưa thấy nó ở đâu bao giờ. Không hiểu tại sao tôi không đuổi nó ra đường ngay ? – Có lẽ vì tôi còn nhớ câu nói của Mẹ tôi, lúc tôi còn nhỏ : “Chó vô nhà là hên !” Trời vẫn còn mưa to, tôi tạm thời lấy giẻ rách lau cho nó khô cái đã, nó đứng im cho tôi lau. Con chó ốm nhom, tong teo, lòi xương như thiếu ăn lâu ngày.
Tôi đi tắm rửa thay quần áo xong, trở xuống nhà thì thấy nó nằm ngủ khò trên mấy tấm giẻ lau lúc nãy. Tôi rửa chén bát, nó thức dậy đi lại đứng dưới chân tôi như quá quen thuộc. Chờ tạnh mưa tôi cho nó ra nhà sau gặp thằng Robbie. Tôi lấy cơm, rưới chút canh đem ra, nó nuốt không kịp nhai. Còn thằng Robbie ngộ lắm, ngồi ngó con kia ăn mà không có ý giành giựt gì cả. Đến khi các cháu về, tôi kể chuyện cho các cháu nghe, mấy đứa đều nói tạm giữ ít hôm xem sao? Có ai tìm kiếm thì mình sẽ trả lại cho chủ nó ! QT khá rành, nói con chó đó thuộc giống Kelpy, một loại chó rất thông minh, có thể thông minh hơn loại Beagle như Robbie. Cháu nói: Ba có thấy chó đi lùa trừu không ?! Các con chó chăn cừu là loại Kelpy như con nầy đây. Chừng đó tôi mới nhớ ra, đã từng thấy nhiều lần trên TV, nó hay chạy trên lưng các con trừu , dí bên nầy, chặn bên kia để lùa trừu đi theo bầy hay gom trừu vô chuồng theo ý người chăn. Tôi kiếm được mấy bao bố cũ, lót tạm phía trước nhà kho, tương đối kín gió để cho nó ngủ. Tới tối tôi đi đón mẹ các cháu về, tôi kể chuyện con kelpy trong lúc lái xe, nhà tôi cũng nói: “ Nghe nói chó vô nhà là điềm hên, đừng đuổi nó đi.” Về đến, nhà tôi chưa kịp thay đồ, mau ra xem mặt con kelpy và đem hộp đồ ăn ra chia làm 2. Mạnh con nào nấy ăn phần của mình, không chen lấn gì nhau cả. Mặc dù phân nửa phần ăn đó chẳng thấm gì cho con kelpy. Chúng tôi nuôi nó, nhưng mở cửa tự do, để nó đi ra đường nếu nó muốn ra. Chúng tôi không cố tình giữ nó, cứ mong nếu có chủ đến tìm thì sẽ trả nó lại ngay. Có ý chờ mà chẳng thấy có ai hỏi han gì cả. Chừng hai ba tuần sau thì con kelpy nhờ ăn uống đầy đủ đã lên ký rất mau, không còn ốm như cò ma nữa. Con kelpy là chó cái, vì nó vô danh nên chúng tôi cứ kêu kelpie, kelpie … thành tên nó luôn. Nó rất nhanh chóng nhận ra tên của nó bây giờ là kelpie. Một tháng trôi qua, những người lối xóm tưởng rằng chúng tôi đã nuôi thêm một con chó mới thuộc loại kelpy. Ông Eric nói với tôi: Loại kelpy khôn, nhưng leo trèo và phá phách dữ lắm đó mầy coi chừng. Lúc đó ông Eric đã quá 65, vừa mới hưu trí ở nhà. Ông đối xử với gia đình tôi như đối với mấy đứa con của ông. Mấy anh chị đó ở xa, lâu lâu mới về thăm ông bà một lần. Cho nên ông bà Eric rất gần gũi với gia đình chúng tôi. Cái gì cần mà giúp được là ông thực hiện ngay. Ngược lại gia đình chúng tôi coi ông bà như cha mẹ của mình. Tôi lần hồi sửa soạn chỗ cho con kelpie ấm cúng và thoải mái không thua gì thằng Robbie. Thằng Robbie và con kelpie sống với nhau rất hoà hợp, không rầy rà gì cả. Từ ngày có con kelpie vô nhà, chúng tôi có cái gì cho tụi nó ăn, đều chia hai đồng đều, không hề có chuyện tranh giành. Chúng tôi để ý thấy, thằng Robbie và con kelpie có những cá tánh rất khác biệt. Thằng Robbie nó biết nhường nhịn, hai đứa nó cùng chờ mẹ các cháu về để có món ngon. Tính thằng Robbie nó mừng rỡ nhưng không lăng xăng như con kelpie. Còn con kelpie thì hay tới gần như để được mẹ các cháu vuốt ve một chút nó mới chịu. Lần hồi thằng Robbie cũng ngoắc đuôi mừng nhưng đứng hơi xa, ngó con kelpie nhõng nhẽo, ưỡn ẹo với mẹ các cháu. Con kelpie từng bước bắt đầu lấn lướt thằng Robbie. Khi thấy thằng Robbie tới gần mẹ các cháu thì con kelpie chen vô, lấn thằng Robbie ra ngoài. Một thời gian sau thì chúng tôi khám phá ra, con kelpie có cách gì đó để lẻn vô được bên trong hàng rào của thằng Robbie. Nó chiếm nhà của thằng Robbie, khiến cho thằng Robbie cứ loay quay ở ngoài, không vô nhà của nó được. Tôi hay mở cửa đuổi con kelpie ra ngoài, thằng Robbie mau mắn chui vô nhà của nó. Tôi cũng chưa biết tại sao Kelpie vào được bên trong rào ? Mặc dù tôi luôn nhớ đóng cửa rào cẩn thận, không cho thằng Robbie ra ngoài sân, trước khi tôi đi làm. Không bao lâu, có nhiều người lối xóm, cách nhà tôi đến cả chục căn; gặp chúng tôi họ nói: Con chó mới của tôi hay tới nhà họ chơi quanh quẩn trong sân và vô nhà người ta nữa. Tôi nghe hai ba người nói y như thế và ai cũng nói nó hiền, không phá phách gì và họ luôn cho nó ăn. Cả nhà tôi đều thắc mắc, làm sao nó ra ngoài đường được, vì hàng Cả nhà tôi đều thắc mắc, làm sao nó ra ngoài đường được, vì hàng rào rất cao và không có một lỗ trống nào để có thể chui qua. Trong lúc chúng tôi còn đang phân vân chưa có câu trả lời và cứ nghi ngờ về những câu nói cho chúng tôi biết của hàng xóm. Chúng tôi đa phần đều cho rằng, có thề các người ấy lầm lẫn con kelpie với con chó nhà ai khác chăng ?! Thế rồi, một bữa nọ, nhà tôi nghỉ ở nhà gặp ông bà Eric cho biết, chính ông chứng kiến, mổi lần chúng tôi rời nhà, không còn ai trong nhà, chừng 10, 15 phút sau là con kelpie phóng lên đeo hàng rào, rồi chòi chòi rớt ra ngoài. Tôi ngạc nhiên lắm, sang hỏi ông Eric cho rõ ngọn ngành vì tôi không thể tưởng tượng được, con kelpie có thể làm được chuyện nhảy rào quá cao như vậy. Ông Eric thấy tôi còn thắc mắc, ông liền tả chi tiết cho tôi nghe. Đầu tiên nó phóng lên, đưa hai chân trước móc lên hàng rào, đôi khi nó phải phóng lên vài lần mới bỏ được hai chân máng trên bờ rào; sau đó nó dùng 2 chân sau đạp đạp vô vách hàng rào lấy thế vọt ra ngoài. Nó khôn lắm, biết sắp tới giờ có người về là nó phóng trở vô nhà cũng bằng cách thức đó. Cho nên chúng tôi mỗi khi về nhà đều thấy nó có mặt ở nhà, đâu có ai biết nó đã nhảy rào đi chơi đã đời, đợi tới chúng tôi sắp về thì nhanh chân về trước một chút thôi. Ông Eric nói với chúng tôi: Bà Eric không vui về chuyện con kelpie, làm cho bà giựt mình hoài, vì nó cứ lù lù nhảy hàng rào vô sân nhà sau của bà. Ý của bà Eric không muốn cho chúng tôi nuôi con kelpy vì bà biết nó bất hợp pháp và thả rong ngoài đường một cách trái phép. Chúng tôi chưa biết tính sao, nuôi thì phiền phức và mít lòng với bà Eric, điều mà chúng tôi không bao giờ để nó xảy ra; còn đuổi nó đi thì tội quá. Tôi đã thử thả nó ra đường trước khi đóng cửa đi làm mà đến khi về lại thấy nó ở trong nhà như không có chuyện gì. Kelpie càng ngày càng chèn ép thằng Robbie thấy rõ, nhưng tuyệt nhiên không thấy nó cắn nhau bao giờ. Một chủ nhựt nọ tôi phải đi làm, mẹ các cháu được nghỉ bù cuối tuần. Nhà tôi đi chợ độ 2, 3 giờ sau về nhà, thấy con kelpie ngồi chờ ngoài cửa sau. Nhà tôi bước ra nó đưa cao một chân trước lên thấy bị lũng một lỗ ở trên, một lỗ ở dưới rất sâu, gần thấu hết bàn chân.
Còn thằng Robbie thì nằm êm ru trong nhà của nó. Nhà tôi lấy thuốc rửa vết thương và băng bó lại cho con kelpie, nước mắt nó cứ chảy dài và rên ư ư như mét thằng Robbie đã cắn nó. Từ đó chúng tôi thấy con kelpie không còn dám nhảy vô nhà thằng Robbie nữa và m ỗi tối khi mẹ các cháu về, con kelpie không dám tới hất thằng Robbie ra như trước. Do đó chúng tôi tin vết thương đó là do thằng Robbie ra tay hung tợn một lần cho bỏ ghét. Tới lúc ấy chúng tôi mới nhận ra tính thằng Robbie hiền mà rất cộc. Bấy lâu nay nó để cho con kelpie tha hồ ăn hiếp, đến khi chịu hết nổi thì cắn mạnh đến nỗi gần thấu cả bàn chân. Làm cho con kelpie tởn luôn, hết dám lôi thôi giỡn mặt. Càng ngày mọi người trong nhà đều thương con Kelpie không thua gì thằng Robbie. Cuối tuần chúng tôi hay cho Robbie hoặc con Kelpie thay phiên đi chợ với chúng tôi. Thằng Robbie không thể thả lỏng được nên đi đâu phải dắt theo … phải có người giữ nó ở ngoài shop ngồi chờ. Còn con Kelpie thì khi xuống xe là tự động nằm bên lề đường ngay kế bên chiếc xe. Khi đi chợ xong mình ra xe, mở cửa là đường ngay kế bên chiếc xe.
Khi đi chợ xong mình ra xe, mở cửa là phóng lên xe đi về. Nhiều lần từ xa, chúng tôi để ý coi con Kelpie nằm giữ xe ra sao ? - Thấy ai đi ngang qua, nó đều đứng dậy ngoắc đuôi làm quen; nhiều người đứng lại vuốt ve … nói chuyện với nó. Khi người ta từ giã … nó lại nằm xuống coi chừng xe tiếp, chứ không bước đi theo người ta. Chúng tôi mục kích, càng cảm thấy thương nó hơn ! Có những bà Úc đã gặp con Kelpie vài lần nằm giữ xe và khi thấy chúng tôi ra xe … ai cũng kêu chúng tôi nói: Con chó khôn quá, biết nằm đó coi xe và chờ chủ đi chợ. Con Kelpie ra ngoài đường có những cử chỉ nhỏ nhẹ, hiền từ khiến cho những người đi ngang qua đều cảm thấy yên tâm, không lo sợ như gặp những con chó dữ dằn khác. Con Kelpie sống có vẻ như thích đi rong chơi ngoài đường, không thích tối ngày ở trong nhà. Cho nên chúng tôi hay nói : “ Con Kelpie nầy sống rất bụi đời … nhưng rất ngoan, chứ không du côn như những đứa khác.” Chúng tôi nghĩ, con Kelpie nầy chắc chủ trước nuôi nó để chăn cừu, tối ngày ngoài đồng nên bây giờ bó chân trong hàng rào chật hẹp, làm sao nó chịu cho được. Càng ngày thấy được nhiều tính nết khôn ngoan và ham đi chơi rong của con Kelpie, chúng tôi gần như cả nhà đều binh vực nó. Chúng tôi cũng cảm thấy hơi khó chịu về chuyện bà Eric cứ bảo ông Eric nói cho chúng tôi sớm “Get risk” nó đi !
Chúng tôi cả nhà đều muốn giữ con Kelpie cho thằng Robbie có bạn và chúng tôi thấy tính nết của nó cũng vui lây. Nhà tôi và cháu nhỏ hay sang thăm bà Eric và tìm cách kể cho bà Eric biết con Kelpie rất thông minh và hiền khô. Chúng tôi hứa là tìm cách để không cho con Kelpie sang nhà bà quấy rầy nữa. Hứa là hứa vậy, nhưng chúng tôi cũng không biết làm sao giữ nó suốt ngày trong hàng rào ? Chúng tôi bàn với nhau, chắc phải mua dây xích, cột lại trong nhà, chỉ có cách đó thì may ra … nhưng xích nó lại thì cảm thấy tội cho nó quá, các cháu đều không đồng ý biện pháp giới hạn tự do của con Kelpie ! Được vài tuần sau đó, chúng tôi vẫn để con Kelpie tư do trong nhà và không thấy lối xóm ai than phiền gì về con Kelpie, duy chỉ hơi lo và nghe ngóng bên bà Eric mà thôi. Chiều nọ tôi đi làm về thì ông Eric sang nhà mời tôi qua để bà Eric nói chuyện. Tôi rất hồi hộp chờ bà Eric mở lời. Bà nói : “Con Kelpie vẫn còn qua nhà bà và bà bị bịnh yếu tim … nên bất chợt thấy nó nhảy sang nhà, bà hồi hộp muốn đứng tim nhiều lần.” – Bà yêu cầu tôi phải “get rid” con Kelpie, nếu không thì bắt buộc bà phải báo với Council để bắt đi và không chừng chúng tôi còn bị phạt nữa, vì nuôi chó bất hợp pháp.” Tối đó chúng tôi bàn với nhau, hai cháu buồn lắm nhưng đành để cho tôi quyết định. Còn nhà tôi thì nổi nóng nói rằng bà Eric là người lắm chuyện, xía vô chuyện nhà mình ! Tôi phải giải thích cho nhà tôi nguôi đi để tránh xích mích với hàng xóm là điều không nên ở xứ lạ quê người và ông bà Eric, mình coi như cha mẹ thì nhứt định phải chiều ý cho ông bà vui. Tôi giải bày với cả nhà : “ Tại mình thương con Kelpie và mình muốn giữ lại … nhưng sự thật thì mình nuôi nó hoàn toàn bất hợp pháp. Dù giữ lại … nhưng sự thật thì mình nuôi nó hoàn toàn bất hợp pháp. Dù cho bây giờ mình xin phép Council cho nuôi hợp pháp đi nữa, nhưng con Kelpie cứ nhảy sang nhà bà Eric hoài thì sớm muộn gì bà cũng thưa mình và Council cũng phải bắt đi mà mình không làm gì được. Thôi thì đành phải cho nó đi … hy vọng sẽ có người nhận về nuôi và nếu đúng là người nuôi để giữ cừu thì sẽ thích hợp với tính phóng khoáng của nó hơn. Hai cháu nói xin để qua thứ hai tới mới cho nó đi ! Cuối tuần chúng tôi tấm rửa sạch sẽ cho con Kelpie, cho chút dầu thơm nữa. Dẫn nó đi chợ … đem nó và thằng Robbie ra công viên cho chơi giỡn với nhau cả buổi. Hai hôm cuối tuần cả 2 được ăn ngon và dư thừa. Thằng Robbie tham ăn đến đi không muốn nổi. Chúng tôi nhìn con Kelpie thấy tội nghiệp và chua cay cho nó quá. Sáng thứ Hai, tôi có một ngày nghỉ … cả nhà đã biết tôi sẽ đem nó đi ra chợ và sẽ không chở về nhà nữa … Các cháu dậy sớm hôn con Kelpie để từ giã trước khi QTđi học, QH đi làm. Hai cháu đều ngậm ngùi lau nước mắt để chia tay với con Kelpie. Hơn 9 giờ, trước khi đi làm, mẹ các cháu cũng đến vò đầu, vuốt ve con Kelpie một hồi lâu, hai mắt đỏ hoe; nhà tôi ngồi trong xe lặng thinh và tôi cũng không biết có câu gì để nói ! Khi tôi quay về, tôi thả thằng Robbie ra ngoài chơi với con Kelpie một lúc, tôi kéo thằng Robbie đến cho nó liếm mỏ con Kelpie và con Kelpie cứ đứng liếm mặt thằng Robbie rất lâu. Không như mọi ngày, lần nầy thằng Robbie để yên cho con Kelpie liếm mặt mà không né tránh gì cả. Tôi cứ bịn rịn và cảm thấy chúng nó sắp chia tay nhau, sẽ không còn có dịp sống chung như 3, 4 tháng qua nữa. Tôi cảm thấy thật xót xa cho con Kelpie, nên tôi cứ lấn cấn cả giờ mà không đành dẫn nó ra xe. Cuối cùng, tôi mở cửa xe cho con Kelpie leo lên mà nước mắt cứ tuôn ra … tôi nuốt nước miếng kềm chế cơn xúc động của mình. Tôi lái xe ra khu chợ quen thuộc … tôi đi vô chợ, còn con Kelpie vẫn cứ ngồi giữ xe như mọi lần. Một chập sau, tôi trở ra xem sao … Kelpie vẫn nằm đó … Tôi đứng khá xa theo dõi con Kelpie … có ai đi ngang nó cũng đứng lên ngoắc đuôi … và người ta đều dừng lại sờ đầu nó và nói những câu thân mật như nói chuyện với một đứa con nít. Tôi đi vô chợ trở lại … tôi cảm thấy mình bỏ nó ở giữa đường như vậy … chẳng khác nào: “Đem con bỏ chợ …” mà người đời hay ta thán và thường khinh khi. Nghĩ tới câu đó, tôi thấy mình bất nhẫn quá, tôi lại muốn đem nó về nhà. Nhưng tôi nghĩ, nếu mình đem về thì chắc chắn bà Eric sẽ không để yên đâu và cuối cùng là mình cũng phải bỏ rơi con Kelpie. Tôi cứ đi vô, đi ra chợ cho kéo dài thêm thời gian, không biết để làm gì … và chần chờ như thế tôi cũng không có cách gì khác hơn. Tôi đi thẳng một mạch ra xe, con Kelpie mừng vẫy đuôi … khi thấy tôi không mở cửa sau cho nó lên như mọi khi, nó lo lắng lắm … cứ chồm hai chân lên cửa kiếng. Tôi không còn can đảm để nhìn nó đang lýnh quýnh … đòi lên xe đi về nhà với tôi … nó đâu biết là tôi đang thi hành chuyện bỏ rơi nó. Tôi nổ máy … lái xe đi … Kelpie chạy theo một đoạn … khi tôi chạy nhanh hơn thì nó ngừng lại và bước lên lề đứng nhìn chăm chăm theo tôi. đứng nhìn chăm chăm theo tôi. Chắc nó đang chưng hửng, chới với, không biết tại sao tôi đã chạy bỏ nó ở lại vậy ??? !!! Tôi dòm kiếng chiếu hậu thấy nó đứng đó bất động … nhỏ dần và mất hút. Không biết nó … dao động và ngỡ ngàng ra làm sao ???!!! Mắt tôi chìm trong ướt mờ … , không thấy đường lái xe, tôi phải dừng lại bên lề một chút để giảm cơn xúc động mạnh . Về đến nhà, tôi cứ nằm băn khoăn … cảm thấy vô cùng xấu hổ, đau xót. Tôi tự oán trách mình và ân hận về một việc làm tồi tệ: “Mình đã đem con bỏ chợ …”. Thật là vô tâm ! Cả tuần, trong nhà ai cũng lặng thinh, rất buồn … mặt mũi thằng Robbie cũng dàu dàu, nó nằm khoanh trong nhà chuồng đến mấy hôm, chỉ ra ngoài ăn uống rồi trở vô nằm ì. Chúng tôi không ai dặn ai mà đều không dám có một lời nhắc đến con Kelpie, mặc dù tôi tin mấy hôm đó làm sao mà chúng tôi không có nhiều suy nghĩ trong đầu về con Kelpie vô phước bị bỏ chợ. Trong mấy ngày đó, mỗi chiều trên đường về; tôi đều quẹo xe qua khu chợ vừa mong … và cũng vừa không mong thấy con Kelpie còn đó. Tôi không thấy lại con Kelpie nữa và chúng tôi đều cầu mong cho nó được một người tốt bụng nào đó, đã nhặt nó về nuôi. Con Kelpie nó rất xứng đáng được sống trong một nhà đàng hoàng, bởi vì nó rất khôn ngoan, dễ thương hơn biết bao nhiêu con chó khác. Chúng tôi khó lòng nguôi ngoa về chuyện con Kelpie! Các năm sau; từ 97, 98 thằng Robbie hay bị đau ốm hoài, nhứt là vào mùa Thu. Chúng tôi hay bị cúm, còn thằng Robbie thì bị bịnh đau mắt. Mắt nó bị nhặm khá nặng, buổi sáng mắt nó bị đóng ghèn kín mít, phải thấm nước lau sạch, nó mới mở mắt được. Mắt nó đỏ hoe, nhỏ thuốc thú y cho mà cũng phải chờ thay đổi thời tiết, mới khỏi hẳn. Robbie phát phì, nặng đến 19, 20 ký … thú y kêu chúng tôi cho nó ăn ít lại; nhưng thấy nó đói nên chúng tôi cũng chỉ cho ăn bớt được đôi chút thôi. Nó bắt đầu có bịnh tiểu đường thì phải ? Tôi quên rồi ! – Các cùi chỏ chân của nó bị rụng hết lông, dầy cộm, sưng to ra …bôi thuốc không chữa lành; phải đem đi cho thú y giải phẫu. Được một thời gian, rồi tái phát trờ lại. Năm 2000, sức khoẻ của thằng Robbie suy kém nặng, đi đứng chậm chạp và cái đầu nó bị sưng như có cái bướu lồi ra, to dần. Nó thường bị đau nhức, bỏ ăn … Thú y tiêm thuốc cho nó thì thấy nó khoẻ khoắn được vài tuần rồi bị lại. Những lúc đau đớn như vậy, cho nó ăn mà nó cũng không màng ngó đến. Thú y nói, nó bị bứu nảo, chỉ chích thuốc cho nó bớt đau vậy thôi chứ không thể làm gì khác hơn được. Nghe QT kể lại, Bà Bác Sĩ Thú Y theo dõi sức khoẻ thằng Robbie từ nhỏ rất thương nó. Thường chở nó tới nơi là đi vào phòng mạch, biết ngoe nguẩy đuôi khi Bà Thú Y vò đầu hỏi chuyện. Sang năm 2001, chúng tôi biết thằng Robbie bịnh quá rồi, gần như nó nằm hoài … không có thể đi đứng nhiều được nữa. Mắt nó xệ xuống … trông tội nghiệp lắm. Cả nhà chỉ ngồi quanh vỗ về, nhè nhẹ … không biết làm gì để giúp nó qua cơn đau nhức, đang hoành hành. không biết làm gì để giúp nó qua cơn đau nhức, đang hoành hành. Bắt đầu mùa Thu, thằng Robbie lại vừa bị allergy đau mắt và cái bướu cũng hành hạ nó nhiều hơn. Bà Thú Y, cũng chích thuốc giảm đau cho nó … một chút sau, nó khoẻ lại đi về. Hai tuần sau đó, thằng Robbie bị đau nhức dữ dội ! Lần nầy không ai đụng vào nó được, ngay QT chạm nhẹ để an ủi, nó cũng không cho.
Tối đó, sau khi cơm nước xong; QT ngồi hỏi ý chúng tôi : Vì khi chiều điện thoại cho Bà Thú Y biết tình trạng của thằng Robbie, Bà cho biết chắc không thể nào để cho thằng Robbie chịu đau lâu hơn nữa. Bà hẹn sáng mai chở ra phòng mạch cho Bà xem lại. Bà dặn phải nói cho gia đình biết và QT phải có thẩm quyền quyết định khi cần. Nhà tôi và tôi khi nghe QT cho biết như thế; chúng tôi đã tiên đoán ngày mai chuyện gì có thể xảy ra cho thằng Robbie. Chúng tôi ứa nước mắt giao cho QT định đoạt. Khuya đó QT cũng gọi điện thoại sang Hoa Kỳ báo cho chị nó biết tình trạng tệ hại của thằng Robbie. Mấy ngày đau nặng, thằng Robbie được nằm trong nhà cho đỡ bớt cô đơn và cũng dễ dòm ngó nó. Hôm sau tôi đi làm sớm, bật đèn nhà bếp thì thấy thằng Robbie nhướng mắt dòm … tôi sờ thật nhẹ chỗ đau trên đầu, nó rên ư, ư … tôi từ biệt và âm thầm mong cho nó được hưởng may mắn, nhiệm mầu làm đảo ngược bịnh tình ! Tôi đi làm mà đầu óc cứ miên man nhớ tới thằng Robbie ! Lúc nghỉ ăn trưa, tôi nhận được điện thoại của QT; cháu nó sụt sùi báo cho tôi biết: Bà Thú Y nói, cái bướu đã phát triển lan vào não bộ, thằng Robbie đang đau đớn kinh khủng … Bà khuyên nên để cho Bà chích thuốc cho nó ngủ yên…chấm dứt đau đớn sớm hơn ! QT nói: “Con đã thay mặt gia đình mình, quyết định “đồng ý” và con ngồi ôm nó … đến khi Bà Thú Y cho biết, “He stopped breathing already ! – Lay him down!...” Buổi tối, chúng tôi 3 người đều không nghĩ gì đến ăn uống ! QH gọi điện thoại về hỏi thăm, biềt tin thằng Robbie đã chết, cháu nó khóc và lặng lẽ rời điện thoại. QT cho biết đã đóng tiền cho Bà Thú Y để nhờ người ta cho hoả táng và chôn cất ở nghĩa địa gia thú ở Werribee. Nhìn lại 9 năm thằng Robbie sống với gia đình chúng tôi; nó đã đóng góp, vun trồng thật nhiều tình cảm và tinh thần lớn lao cho gia đình chúng tôi. Tôi làm việc bình yên cho tới ngày được cho hưu trí vào tuổi 60 là nhờ thằng Robbie đã giúp cho tôi nhanh chóng quên đi những buồn phiền thường trực ở sở làm. Chắc chắn nếu tôi không quên được những va chạm ấy thì tôi đã không chịu đựng nổi từ những năm rất sớm. Hơn 22 năm khuân vác trong Bưu Điện đã lưu lại trong tôi nhiều kỷ niệm buồn nhiều hơn vui. Tôi còn bình yên về phương diện tâm trí là nhờ công không nhỏ của thằng Robbie. Nói chung, tôi nghĩ thằng Robbie là một thực thể sống động trong đoạn đời mấy mươi năm ở Úc của cá nhân tôi và gia đình. Chính nó đã góp phần làm thay đổi nhân sinh quan của tôi khá nhiều; nếu không dám thừa nhận là quá nhiều. Mẹ các cháu cũng có niềm vui khuây khoả, sau những giờ khó khăn, cực nhọc đầu óc lẫn sức lực trong công việc. Còn QH, QT lần lượt suôn sẻ ra trường vào 95, 98. Hai cháu nhờ thằng Robbie chia xẻ một phần nào những suy tư, lo lắng vụn vặt của những năm niên thiếu, căng thẳng, miệt mài sách vở, trong một môi những năm niên thiếu, căng thẳng, miệt mài sách vở, trong một môi trường xa lạ đủ mọi mặt … mà thường khi cha mẹ dù ưu ái cách mấy cũng không giúp được gì nhiều.
Các
cháu rất cần những sinh động nào đó; hoa lá, cỏ cây, con chim, con chó, con mèo
… để vơi đi những chất chứa, mỏi mệt với những cố gắng hàng ngày. Chúng tôi hay
an ủi mỗi khi nhớ đến nó: “Thằng Robbie sống đến tuổi 63 thì cũng thọ lắm đấy
chứ!” – QT kể lại: Bữa chót đó, khi tới phòng mạch. Chắc nó đau dữ lắm, không
cho con bồng xuống. Con phải vào trong báo cho Bà Thú Y biết. Bà cầm kim ra xe
chích cho nó một mũi morphine. Chừng 15 phút sau nó mới đứng lên được để đi
vào. Những giây phút cuối còn lại, nó được ngủ một giấc bình yên, không đau đớn
gì nữa …”. Những kỷ niệm không phôi pha với thằng Robbie vẫn từng cơn, sống lại
mạnh mẽ trong tâm khảm chúng tôi. Khiến cho chúng tôi không hề có ý định muốn
nuôi một con chó nào khác, để thay thế thằng Robbie và con ranh Kelpie./-
·
LHXung –
· Mùa Đông 2007. (Melbourne lạnh hơn những năm trước !).
No comments:
Post a Comment