Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Thursday, 19 September 2024

 

BẾN NƯỚC VENICE LÀ ĐÂY.

LHXung

 Chúng tôi đến Venice lúc xế trưa. Venice là một thành phố tên tuổi của thế giới và khác lạ so với những thành phố khác. Người ta hay gọi Venice là thành phố nổi vì nó tọa lạc trên hơn 100 hòn đảo nhỏ, cách nội địa chừng 4 km, thuộc miền cực bắc của bờ biển Adriatic, với những con kinh đào (canals) dọc ngang thay cho các đường phố. Tới Venice, sẽ phải di chuyển bằng tàu, bằng thuyền thay cho xe cộ.

 


Venice dĩ nhiên là một đô thị hấp dẫn nhiều du khách nhất, và cũng là một hải cảng quan trọng của Ý. Venice có cả thảy hơn 150 canals chằng chịt ngược xuôi. Những chiếc thuyền ngộ nghĩnh, mũi và lái ngóc cao,  trạm trổ màu mè, thường sơn toàn một màu đen, đáy bằng phẳng, được gọi là GONDOLAS. Trước kia chúng  là phương tiện vận chuyển chính, ngày nay người ta đã tận dụng thuyền máy nên các gondolas chỉ còn  dùng để phục vụ du khách trong tinh thần chuộng cổ cho vui.  Nói đến Venice là phải nhắc đến cầu, có hơn 400 chiếc cầu nối liền các ‘CALLI’, là tên gọi những đường đi bộ nhỏ hẹp chen giữa 2 dãy phố, băng qua các canals. Grand Canals là con kinh chính, xuyên qua trung tâm Venice. Dọc hai bên Grand canal có nhiều lâu đài bằng đá màu và cẩm thạch, xây cất từ những năm 1100. Con đường thương xá nhộn nhịp của Venice có tên là Merceria bắt đầu từ cầu Rialto đến Công Trường Saint Mark.

     Khi xe vừa đến nơi, chúng tôi hối hả xuống một tàu đã được thông báo chờ sẵn. Tàu đưa chúng tôi sang  LAGOON, một đảo biệt lập. Trên đường ra Lagoon, tàu chạy


dọc theo những hàng cột cắm sâu xuống nước, dòm như những trụ điện; cắm dọc, cắm ngang thẳng tắp, mang những con số thay cho tên để phân biệt đường nọ với đường kia như trên đất liền. Khi gặp lúc nước dâng cao và lúc ban đêm hay tối trời chỉ nhờ các các trụ đường nầy mới biết mình đang di chuyển hướng nào? để đến đâu? 

 


Chúng tôi ăn trưa tại một nhà hàng nổi tiếng trên Lagoon. Sau đó có một đôi giờ dạo phố, nơi đây tôi được nhắc nhớ đến hai nhân vật danh tiếng sanh trưởng tại Venice. Một là CASANOVA. Chúng tôi đi ngang ngôi nhà của CASANOVA, còn được gìn giữ, bảo tồn cẩn thận. Chắc không ít người còn nhớ cuốn phim kể lại cuộc đời Casanova . Đây là một người thật có tên là Casanova Giovanni Jacopo (1725 - 1798). Ông ta được công chúng nhìn nhận như một người đàn ông có những đường tình luyến ái nồng nàn nhất thiên hạ (greatest of romantic lover). Thuở thiếu thời, ông làm nhiều ngành nghề khác nhau, từ đi lính tới đàn vĩ cầm cho một dàn nhạc hợp tấu. Nhưng Ông cứ phải thay đổi việc hoài, vì những  chuyện tình ái lăng nhăng...

   

                     * Casanova's house

Người ngoại hạng thứ 2 của Venice là MARCO POLO (1254 - 1324), một doanh thương đầy mạo hiểm.  Ông nổi tiếng là người Tây Phương đầu tiên du hành qua trung Á và Trung Hoa, thời đó được gọi là Cathay.

 

Lúc 17 tuổi, Marco Polo đã theo Cha và một người Chú, đi tàu buồm  đến vịnh Trung đông, từ đó cỡi lạc đà băng qua sa mạc và núi đá hiểm trở để đến Mông Cổ. Từ Venice phải mất hơn 3 năm mới tới Trung Hoa. Ông được Vua Thành Cát Tư Hản (Kublai Khan) (1215-1294) tiếp đón nồng hậu và tin dùng dựa vào khả năng và kiến thức phương tây. Marco Polo nói thông thạo 4 ngôn ngữ nên được Thành Cát Tư Hản bổ nhậm như một đặc quan, cho du hành nhiều nơi trên đất Trung hoa và đã cho chính thức cai quản  vùng Yang Chou (Giang Châu ?) trong 3 năm. Khi Thành Cát Tư Hản già yếu, Marco Polo sợ lúc Thành Cát qua đời sẽ có loạn lạc vì những tranh quyền giữa anh em; nhất là nếu người cầm quyền sau nầy có óc bài ngoại thì Marco Polo sẽ khó an toàn, nên muốn hồi hương trước khi quá trễ. Nhân cơ hội được Thành  Cát giao trọng trách hướng dẫn đoàn tàu đưa cô dâu mà TCTH đã chọn cho một người cháu đang thống lãnh vương quốc Persia (Trung Đông), Marco Polo, sau đám cưới đã dùng đường bộ trốn qua Thổ Nhỉ Kỳ và xuống tàu trở lại Venice, chấm dứt 24 năm dài xa xứ. Khi về Venice, Marco Polo đã viết lại tất cả những gì tai nghe mắt thấy tại những đất địa xa xôi bên viễn Á. Những du ký của Marco Polo, được giao cho một nhà văn tên Rustichello chuyển qua Cổ Ngữ Pháp, ngôn ngữ chính của Ý vào thời đó. Sách có tên là Description of the World, sách nói về những tiến hoá dưới đế chế Thành Cát Tư Hản. Ông mô tả cách vận chuyển thư tín, từ trạm nầy nối liền trạm khác, bằng các kỵ mã được tổ chức và huấn luyện rất chu đáo, coi như tiên phong cho ngành bưu điện của thế giới ngày nay. Ông cũng phổ ghi những sự kiện mới lạ mà Âu châu chưa có, như Trung Hoa đã tạo ra nhiệt năng bằng than đá, xài tiền giấy, và in sách vở.   Lúc ấy Âu Châu chưa có in ấn, nên các học giả chỉ sao lại sách của Marco Polo bằng cách chép tay. Cuốn sách của Marco Polo đã mở ra một khung trời

mới, thật thích thú, đầy xa lạ; làm ảnh hưởng và thôi thúc những du khảo, khám phá những chân trời mới và đi mạo hiểm khắp nơi. Nhất là Christopher Columbus (1415-1506), cũng là một người Ý, chịu ảnh hưởng nặng nề những hiểu biết tân kỳ của  Marco Polo và đã lênh đênh trên đại dưong bao la mới phát hiện ra Châu Mỹ La Tinh.  Rời Lagoon lúc hơn 3 giờ chiều, chúng tôi trở lại công trường Saint Mark, khu trung tâm của Thành Phố Venice. Chúng tôi dạo phố cho đến gần 6 giờ, bắt đầu di chuyển đến bến đậu của các thuyền Gondolas, gần Grand Canal. Từng nhóm  cứ 6 du khách xuống một gondola với một người chèo thuyền. Đặc biệt thuyền của tôi chỉ có 4 du khách; có thêm một anh ca sĩ giọng Tenor và một anh chàng đàn guitar; Anh ta hát vang, dư sức cho cả đoàn thuyền cùng thưởng thức. Thuyền chúng tôi len lỏi theo các canals, đến đoạn nào khách trên bộ ai cũng dừng lại đứng nghe văn nghệ của nhóm chúng tôi. Chúng tôi đã có một buổi chiều hoàn toàn tràn đầy âm hưởng của Venice ... Từ Saint Mark, chúng tôi đi tàu vô đất liền và đến khách sạn Palladio, lúc gần 9 giờ đêm. Sau đó chúng tôi cấp tốc xuống ăn tối và tôi đã qua đêm thẳng một mạch cho tới khi nghe điện thoại báo thức. Ngày 21/ 9, khi ngồi trên xe chúng tôi mới có cơ hội dòm kỹ một chút, mới biết khách sạn nầy mới khai trương chẳng bao lâu, nên hèn chi cái gì cũng tiện nghi và mới toanh! Chúng tôi rời Venice và coi như sẽ từ giã Ý để sang qua Áo (Austria). Theo lộ trình, chúng tôi đi trở lại Verona nhưng không dừng chân ở đây nữa, và sẽ chạy thẳng lên hướng Bắc; qua biên giới và ngừng lại ở một thành phố có tên là INNSBRUCK. Từ Verona tới Innsbruck chừng 300 km. Innsbruck nằm về hướng Tây của Áo, gần với biên giới Thụy Sĩ. Trong khi đó Thủ Đô Wien nằm về phía Đông gần với Cộng Hòa Slovenska, trước thuộc Tiệp Khắc với cái tên cũ là Zchechslovakia./-

THÂU NGẮN CÁC PHẦN CÒN LẠI ĐỂ KẾT THÚC DÔNG DÀI.

LHXung

Salzburg, Austria nằm ở giữa trên con đường nối liền  Innsbruck và Wien (Vienna). Nó nổi tiếng với những đồng cỏ và núi rừng xanh biếc. Những cảnh trí trong phim The Sounds of Music (1965), đều quay ở Salzburg!



     Còn Innsbruck là một thành phố nghỉ ngơi cho cả mùa Hè lẫn mùa Đông của dân Âu Châu. Nơi đây đã là địa điểm tổ chức Thế Vận Hội Mùa Đông năm 1964.

     Tới nơi, chúng tôi đi dạo phố trước, còn quý bà, quý cô chạy nhanh vô tiệm chuyên sản xuất Crystal . Crystal ở Innsbruck vang danh trên thị trường thế giới. Phụ nữ cứ hăm he, dặn dò nhau, cộng thêm những lời quảng cáo mách nước của Bà hướng dẫn, nên khỏi nói, các Bà, các Cô đua nhau lựa chọn các đồ trang sức và đã đeo ngay khi chưa ra khỏi tiệm !  Có bà còn tin rằng: ‘đeo Crystal sẽ mang đến nhiều may mắn, nếu không tin hãy mua thử xem !?’.

     Nữ du khách vừa có niềm vui xong, chúng tôi đi lên một ngọn núi cao, chỗ người ta hay trượt tuyết.  Hôm ấy trời quá lạnh, chỉ mới đau điếng thôi chứ chưa có tuyết rơi. Chúng tôi được ngồi xe song mã ì-ạch lên dốc để ngoạn cảnh núi rừng nên thơ. Ngồi trong toa xe, mỗi người đều quấn mền cho ấm và được mời nhăm nhi vài thứ rượu.  Bước xuống xe ai cũng ngả nghiêng một tí nhưng may mắn chỉ cần bước vài bước là vô nhà hàng. Thực đơn ở đây toàn là những món ăn độc đáo của Áo và  hầu như ai cũng uống thử rượu bia Áo.

     Chúng tôi về khách sạn Bon Alpina là ấm ngay, vì trời mới chập tối mà bên ngoài đã lạnh như cắt da! Tuy nhiên sáng ra cũng có người than nóng quá ‘cứ cởi mở đến hết mà vẫn không thấy mát !'. Té ra vì phòng của họ nằm ở từng giữa nên bị nóng hơn cả.

     Sáng 22 / 9, chúng tôi rời Innsbruck lúc 7:30.  Đi chừng nửa giờ là qua biên giới, vào nước Đức. Tiếp tục chạy hơn 100 km nữa thì tới Munich  (Munchen), chúng tôi tới nơi lúc 9:25 sáng. Ngừng lại ở đây một vài giờ, dạo phố, uống bia cối của Đức.  
     Munich là nơi duy nhất có trường dạy môn chế tạo rượu bia ở Đại Học. Trên đường ra khỏi Munich , chúng tôi chạy dọc theo Đại Lộ  Leopoldstrabe, rộng lớn, thẳng tắp với hai hàng cây xanh bóng mát.  Đại Học Munich nằm trên đại lộ nầy, một đại học lớn hàng thứ 2 sau Đại Học Berlin . Khi sắp ra ngoài ngoại ô, chúng tôi chạy ngang qua khu Olympic, với cây tháp có tên là Olympic Tower, có thể trông thấy từ rất xa. Từ bên ngoài có thể nhận diện được cách kiến trúc khá đặc biệt của khu thế vận, có những căn lều giống như chỗ giải trí ngoài trời của Melbourne , gọi là Sidney Myer Music Bowl.  Du khách qua Munich , nếu có thời giờ ít ai bỏ sót khu Olympic, vì đấy là nơi xảy ra vụ các lực sĩ Do Thái bị bọn khủng bố thảm sát, trong Thế Vận Hội năm 1972.


 Hôm ấy là lần đầu tiên chúng tôi phải ngồi một đoạn đường dài nhất, hơn 700 km  mới tới chổ dừng chân kế tiếp là Heidelberg . Heidelberg nằm bên bờ sông Necka, nổi tiếng về bia và đóng đàn Piano. Có một lâu đài gọi là Heidelberg Castle , xây cất từ thế kỷ 13.  Đại Học Heidelberg là một đại học lâu đời nhất của Đức, cũng là một đại học độc nhất, trừng phạt các sinh viên phạm kỷ luật bằng cách cho ngồi tù. Heidelberg cũng là quê quán của Steffi Graff (?).


Từ Heidelberg, chúng tôi di chuyển thêm không đầy một tiếng thì tới chỗ nghỉ đêm  tại khách sạn Treff Page, thuộc thành phố Lampertheim, cách Frankfurt 75 km.

     Ngày 23 /9, chúng tôi bắt đầu rời Đức. Trên chặng đường từ Lampertheim đến Amsterdam, Hoà Lan, chúng tôi chạy ngang qua Bonn và dừng chân tại Koln (Cologne), thành phố nằm bên bờ sông Rhine , nơi giao điểm vận chuyển bằng đường thủy và hỏa xa của Âu Châu. Nó nổi tiếng nhất thế giới về nước hoa Eau De Cologne.  Ngôi Thánh Đường mà du khách nhất định phải tới viếng là Cologne Cathedral,


dài 443 ft , rộng 282 ft , cao 512 ft; bắt đầu xây từ 1248 nhưng mãi tới năm 1880 mới tạm xong.  Rời Cologne, chúng tôi đi bên ngoài thành phố Dusseldorf , rồi ra khỏi biên giới.  Bắt đầu vào Hòa Lan, đất bằng phẳng nhất thế giới, không có đồi núi gì cả.  Cách biên giới không xa là thành phố  Arnhem , là nơi thu hình trong phim The Bridge too Far (1977). Hồi đệ nhị Thế chiến, khi băng qua chiếc cầu nầy,  Đồng Minh tổn thất cả ngàn nhân mạng.

     Chúng tôi tới Amsterdam   lúc 4:30 chiều. Khách sạn Ibis Schiphol nằm gần phi trường Quốc Tế Schiphol của Hoà Lan. Nghỉ ngơi một chập là chúng tôi ra xe, đi xem tận mắt một quạt gió, hình ảnh tượng trưng cho Hoà Lan. Sau đó chúng tôi vào nội thành Amsterdam , món đầu tiên là chúng tôi xuống phà, chạy dọc theo các canals. Chắc ai mà không biết, người Hoà Lan đã đắp đê lấn biển để có đất sinh sống. Đất đai của Hòa Lan đều thấp hơn mực nước biển nên họ phải đắp đê chung quanh để khỏi bị ngập nước. Các con kinh (canals) nằm trong Amsterdam   đều bị ứ đọng nên nước sông không được trong sạch cho lắm.  Đi xong tour trên sông, chúng tôi ăn tại một nhà hàng nổi, thức ăn làm theo lối Indonesia . Thức ăn Indo  có vẻ như rất phổ thông vì liên quan thuộc địa xa xưa chăng?

     Từ nhà hàng, tuy đã hơi khuya nhưng chúng tôi vẫn dạo  thêm một màn quanh khu Red Lights của Amsterdam , được mệnh danh là táo bạo  nhất thế giới. Các chi em 'bày hàng'  bên trong các khung cửa kính, nằm sát bên đường… Các bà lùi lại, các Ông tiến lên  và Bà Hướng Dẫn thì đi đoạn hậu  vì sợ có chàng nào rơi rớt phía sau!  Khi trên xe về khách sạn, Bà hướng dẫn ngợi khen nhóm chúng tôi 'GOOD', vì đã tới đó mà không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra ?!

     Hôm sau 24 / 9, chúng tôi theo đoàn tới viếng hãng mài hột xoàn, vì Hoà Lan có tiếng về việc cắt gọt các hột kim cương. Thiên hạ cũng có nhiều người mua, riêng tôi chỉ lạm dụng một vài ly cà phê ngon đãi khách. Và tôi phải chia tay với đoàn tại đây, vì đã chấm dứt chuyến đi. Mọi ngườI sẽ trở lại Luân Đôn và chuyến đi sẽ hoàn tất ở đấy.

     Riêng tôi không trở lại Luân Đôn, nên được cho bù bằng một đêm khách sạn. Tôi dời đến khách sạn Eden , nằm trong thành phố Amsterdam rất là tiện lợi. Tôi lưu lại thêm 2 ngày, 2 đêm, đủ để biết khá nhiều về Hòa Lan.

     Ngày 25 / 9, tôi quanh quẩn  trong Amsterdam, tới viếng ngôi nhà của Anne Frank (1929 - 45), nàng sanh ở Frankfurt và sống tại Amsterdam từ 1933. Tôi ngậm ngùi chụp hình kỷ niệm với ngôi tượng đồng mà các bó hoa tươi vẫn có người mang đến viếng thăm hàng ngày; bên cạnh căn nhà mà gia đình cô ta đã ẩn náu dưới thời Hitler truy lùng và tận diệt Dân Do Thái. Tôi có đáp xe lửa xuống Rotterdam , một hải cảng coi như to lớn và nhộn nhịp nhất của Âu Châu.


Ngày 26 / 9, tôi đi theo Tour Brussels, lấy tên thủ đô của Bỉ. Trên đường đến Brussels, tôi có một đôi giờ ghé lại Antwerp. Tôi được hướng dẫn nhiều nơi trong thành phố, thăm công trường Độc Lập, nơi có các trái cầu nối liền bằng các đường ống, ngườI ta đi trong các ống nầy và có thể thấy được mọi nơi của Brussels . Thành Phố Brussels với thật nhiều kiến trúc cổ kính theo kiểu thời La Mã,

nên ai đến đây cũng đều nhìn nhận danh tặng là Paris Thứ 2. Brussels cũng có một khu kiến trúc hoàn toàn tân kỳ, đó là khu Bộ Tư Lệnh của Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ngoài ra, Brussels là một thành phố có nhiều cây xanh bóng mát nhất của toàn thể các nước Âu Châu. 25 % dân ở Brussels là người ngoại quốc, làm việc cho nhiều tổ chức quốc tế. Tôi cũng có đến tận nơi xem tượng chú bé cầm cu đứng đái, được gọi là Manneken - Pis.



     Tôi rời Amsterdam vào sáng sớm ngày 27 / 9, bay qua Hamburg   để chuẩn bị tham dự đám cưới của Cô cháu gái, con của Chị tôi vào ngày 6/ 10. Sau đám cưới, tôi lại chu du qua vài thành phố của Đức và đã sang Đan Mạch. Từ Copenhagen tôi băng qua một chiếc cầu dài nối liền eo biển giữa Đan Mạch và Thành Phố Malmo của Thụy Điển.

     Đặc biệt nhất cho tôi là có cơ hội đặt chân đến BERLIN , dĩ nhiên bây giờ không còn Đông và Tây như thời trước 1989. Tôi cứ loay huay đi tìm vết tích của bức tường Bá Linh, bây giờ đã hoàn toàn mất dấu. Chỉ dựa vào bản đồ cũ mới biết khi xưa nó chạy dọc theo những con đường nào trong Bá Linh. Cổng Nuremberg uy nghi đứng trên Đại Lộ 17/ 6, cách khu nhà Quốc Hội và Thủ Tướng Phủ chẳng bao xa. Phiá bên trái là một con sông, nơi mà ngày xưa có nhiều người liều chết, lội qua giòng sông định mệnh nầy để được sang bến bờ tự do Tây Bá Linh.  Sông tuy nhỏ, nhưng ít  có ngườI đến được bến bờ !!!  Đến Berlin mới nhận diện được sự bôi xoá lằn ranh Quốc Cộng, thành phố bây giờ là một, không còn dấu tích khác biệt giữa đôi bên. Ngay chiếc xe hơi mà tốc độ tối đa 60 km/h của Đông Đức, nay đi tìm một chiếc để chụp hình cũng không có nữa. Tôi thiển nghĩ chưa có một nơi nào hội nhập một cách nhanh chóng và êm đẹp như thế, có lẽ là nhờ sự phồn thịnh của Tây Đức, đã dùng hàng trăm tỷ (ngàn tỷ ?) Marks để lôi kéo Đông Đức bước cùng một nhịp tốc, cùng tạo nên  một nước Đức Thống Nhất, dẫn đầu kinh tế của Âu Châu. Một thành công Impossible cho các nước đã bị chia cắt khác!

     Tôi rời Hamburg vào ngày 19 /10, bay xuống Frankfurt, rồi bay ngược lên phía Bắc, ngang qua Ba Lan, Nga, Mông Cổ, Đại Hàn và đáp xuống phi trường Osaka, Nhật vào sáng ngày 21 /10.  



Bằng lộ trình nầy tôi cảm thấy an toàn hơn là nếu bay thẳng về Úc, qua các không phận đang sôi động bởi chiến tranh giữa Hoa Kỳ và A Phú Hãn. Tới Osaka, tôi lưu trú tại một nhà trọ giá trẻ dành choi sinh viên và back pack tại thành phố Kyoto.



     Kyoto là thành phố tiêu biểu cho phật giáo của Xứ Phù Tang. Toàn là chùa với chùa, ngôi chùa nào cũng to lớn, cổ kính và trang nghiêm, khiến tôi chỉ ngần ngại ngắm nhìn mà không dám bước vào cầu mong cho một ước mơ nào, vì bất chợt tôi không có một định tâm nào!  Mấy hôm ấy đầu óc tôi mãi lo lắng về chuyện hãng ANSETT xập tiệm, mà tôi chưa biết làm sao về lại Úc. Cũng may Hãng Lufthansa, đã giúp tôi bay về Úc bằng Air Thailand.


                                   *Mùa Thu Kyoto

     Rời Osaka ngày 24 / 10, nghỉ khá lâu tại Bangkok, bay tiếp đến Brisbane, rồi mới hú hồn về tới Melbourne để kịp ngày đi làm trở lại. Trên chuyến về có đoạn bay ngang qua Đà Nẵng, làm tôi cảm thấy bồi hồi, nhớ đến những ngày xuôi ngược Hội An, Điện Bàn, Thanh Quít, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị… Biết đâu một sáng tinh mơ nào đó, qua cơn ác mộng tôi lại được quay về trong ao ước tự do của mọi người bên nầy và bên kia !

     Đến đây,  tôi xin mạn phép được kết thúc Một Vòng Âu Châu, với sự cám ơn đặc biệt của tôi với SGT, nhứt là Chị "D" đã gõ từng chữ và sửa giùm lỗi Hỏi, Ngã của một tay Nam Kỳ học đòi Bút, Mực! và cám ơn bạn bè, cùng bạn đọc. Nếu có bất cứ một chữ, một lời sơ sót vô tình nào, xin được quý đồng hương lượng thứ cho !/.

LHXung- Melbourne.

AUSTRALIA,  2 / 02

No comments:

Post a Comment