BẾN NƯỚC
VENICE LÀ ĐÂY.
LHXung
Venice
dĩ nhiên là một đô thị hấp dẫn nhiều du khách nhất, và cũng là một hải cảng
quan trọng của Ý. Venice có cả thảy hơn 150 canals chằng chịt ngược xuôi. Những
chiếc thuyền ngộ nghĩnh, mũi và lái ngóc cao,
trạm trổ màu mè, thường sơn toàn một màu đen, đáy bằng phẳng, được gọi
là GONDOLAS. Trước
kia chúng là phương tiện vận chuyển
chính, ngày nay người ta đã tận dụng thuyền máy nên các gondolas chỉ còn dùng để phục vụ du khách trong tinh thần
chuộng cổ cho vui. Nói đến Venice là
phải nhắc đến cầu, có hơn 400 chiếc cầu nối liền các ‘CALLI’, là tên gọi những
đường đi bộ nhỏ hẹp chen giữa 2 dãy
phố, băng qua các canals. Grand Canals là con
kinh chính, xuyên qua trung tâm Venice. Dọc hai bên Grand canal có nhiều lâu
đài bằng đá màu và cẩm thạch, xây cất từ những năm 1100. Con đường thương xá
nhộn nhịp của Venice có tên là Merceria bắt đầu từ cầu Rialto đến Công Trường
Saint Mark.
Khi xe vừa đến nơi, chúng tôi hối hả xuống một tàu đã được thông báo chờ sẵn. Tàu đưa chúng tôi sang LAGOON, một đảo biệt lập. Trên đường ra Lagoon, tàu chạy
dọc theo những hàng cột cắm sâu xuống
nước, dòm như những trụ điện; cắm dọc, cắm ngang thẳng tắp, mang những con số
thay cho tên để phân biệt đường nọ với đường kia như trên đất liền. Khi gặp lúc
nước dâng cao và lúc ban
đêm hay tối trời chỉ nhờ các các trụ đường nầy mới biết mình đang di chuyển
hướng nào? để đến đâu?
Chúng tôi ăn trưa tại một nhà hàng nổi
tiếng trên Lagoon. Sau đó có một đôi giờ dạo phố, nơi đây tôi được nhắc nhớ đến
hai nhân vật danh tiếng sanh trưởng tại Venice. Một là CASANOVA. Chúng tôi đi
ngang ngôi nhà của CASANOVA, còn được gìn giữ, bảo tồn cẩn thận. Chắc không ít
người còn nhớ cuốn phim kể lại cuộc đời Casanova . Đây là một người thật có tên
là Casanova Giovanni Jacopo (1725 - 1798). Ông ta được công chúng nhìn
nhận như một người đàn ông có những đường tình luyến ái nồng nàn nhất thiên hạ
(greatest of romantic lover). Thuở thiếu thời, ông làm nhiều ngành nghề khác
nhau, từ đi lính tới đàn vĩ cầm cho một dàn nhạc hợp tấu. Nhưng Ông cứ phải
thay đổi việc hoài, vì những chuyện tình
ái lăng nhăng...
* Casanova's house
Người ngoại hạng thứ 2 của Venice là MARCO
POLO (1254 - 1324), một doanh thương đầy mạo hiểm. Ông nổi tiếng là người Tây Phương đầu tiên du
hành qua trung Á và Trung Hoa, thời đó được gọi là Cathay.
Lúc 17 tuổi, Marco Polo đã theo Cha và
một người Chú, đi tàu buồm đến vịnh
Trung đông, từ đó cỡi lạc đà băng qua sa mạc và núi đá hiểm trở để đến Mông Cổ.
Từ Venice phải mất hơn 3 năm mới tới Trung Hoa. Ông được Vua Thành
Cát Tư Hản (Kublai Khan) (1215-1294) tiếp đón nồng hậu và tin dùng dựa vào
khả năng và kiến thức phương tây. Marco Polo nói thông thạo 4 ngôn ngữ nên được
Thành Cát Tư Hản bổ nhậm như một đặc quan, cho du hành nhiều nơi trên đất Trung
hoa và đã cho chính thức cai quản vùng
Yang Chou (Giang Châu ?) trong 3 năm. Khi Thành Cát Tư Hản già yếu, Marco Polo
sợ lúc Thành Cát qua đời sẽ có loạn lạc vì những tranh quyền giữa anh em; nhất
là nếu người cầm quyền sau nầy có óc bài ngoại thì Marco Polo sẽ khó an toàn,
nên muốn hồi hương trước khi quá trễ. Nhân cơ hội được Thành Cát giao trọng trách hướng dẫn đoàn tàu đưa
cô dâu mà TCTH đã chọn cho một người cháu đang thống lãnh vương quốc Persia
(Trung Đông), Marco Polo, sau đám cưới đã dùng đường bộ trốn qua Thổ Nhỉ Kỳ và
xuống tàu trở lại Venice, chấm dứt 24 năm dài xa xứ. Khi về Venice, Marco Polo
đã viết lại tất cả những gì tai nghe mắt thấy tại những đất địa xa xôi bên viễn
Á. Những du ký của Marco Polo, được giao cho một nhà văn tên Rustichello chuyển
qua Cổ Ngữ Pháp, ngôn ngữ chính của Ý vào thời đó. Sách có tên là Description of the World,
sách nói về những tiến hoá dưới đế chế Thành Cát Tư Hản. Ông mô tả cách vận
chuyển thư tín, từ trạm nầy nối liền trạm khác, bằng các kỵ mã được tổ chức và
huấn luyện rất chu đáo, coi như tiên phong cho ngành bưu điện của thế giới ngày
nay. Ông cũng phổ ghi những sự kiện mới lạ mà Âu châu chưa có, như Trung Hoa đã
tạo ra nhiệt năng bằng than đá, xài tiền giấy, và in sách vở. Lúc ấy Âu Châu chưa có in ấn, nên các học
giả chỉ sao lại sách của Marco Polo bằng cách chép tay. Cuốn sách của Marco
Polo đã mở ra một khung trời
mới, thật thích thú, đầy xa lạ; làm
ảnh hưởng và thôi thúc những du khảo, khám phá những chân trời mới và đi mạo
hiểm khắp nơi. Nhất là Christopher Columbus
(1415-1506), cũng là một người Ý, chịu ảnh hưởng nặng nề những hiểu biết
tân kỳ của Marco Polo và đã lênh đênh
trên đại dưong bao la mới phát hiện ra Châu Mỹ La Tinh. Rời Lagoon lúc hơn 3 giờ chiều, chúng tôi trở
lại công trường Saint Mark, khu trung tâm của Thành Phố Venice. Chúng tôi dạo
phố cho đến gần 6 giờ, bắt đầu di chuyển đến bến đậu của các thuyền Gondolas,
gần Grand Canal. Từng nhóm cứ 6 du khách
xuống một gondola với một người chèo thuyền. Đặc biệt thuyền của tôi chỉ có 4
du khách; có thêm một anh ca sĩ giọng Tenor và một anh chàng đàn guitar; Anh ta
hát vang, dư sức cho cả đoàn thuyền cùng thưởng thức. Thuyền chúng tôi len lỏi
theo các canals, đến đoạn nào khách trên bộ ai cũng dừng lại đứng nghe văn nghệ
của nhóm chúng tôi. Chúng tôi đã có một buổi chiều hoàn toàn tràn đầy âm hưởng
của Venice ... Từ Saint Mark, chúng tôi đi tàu vô đất liền và đến khách sạn
Palladio, lúc gần 9 giờ đêm. Sau đó chúng tôi cấp tốc xuống ăn tối và tôi đã
qua đêm thẳng một mạch cho tới khi nghe điện thoại báo thức. Ngày 21/ 9, khi
ngồi trên xe chúng tôi mới có cơ hội dòm kỹ một chút, mới biết khách sạn nầy
mới khai trương chẳng bao lâu, nên hèn chi cái gì cũng tiện nghi và mới toanh!
Chúng tôi rời Venice và coi như sẽ từ giã Ý để sang qua Áo (Austria).
Theo lộ trình, chúng tôi đi trở lại Verona nhưng không dừng chân ở đây nữa, và
sẽ chạy thẳng lên hướng Bắc; qua biên giới và ngừng lại ở một thành phố có tên
là INNSBRUCK. Từ Verona tới Innsbruck chừng 300 km. Innsbruck nằm về
hướng Tây của Áo, gần với biên giới Thụy Sĩ. Trong khi đó Thủ Đô Wien nằm về phía Đông
gần với Cộng Hòa Slovenska, trước thuộc Tiệp Khắc với cái tên cũ là Zchechslovakia./-
THÂU NGẮN CÁC PHẦN CÒN LẠI ĐỂ KẾT
THÚC DÔNG DÀI.
LHXung
Salzburg, Austria nằm ở giữa trên con đường nối liền Innsbruck và Wien (Vienna). Nó nổi tiếng với những đồng cỏ và núi rừng xanh biếc. Những cảnh trí trong phim The Sounds of Music (1965), đều quay ở Salzburg!
Còn Innsbruck là một thành phố nghỉ ngơi cho cả mùa Hè lẫn mùa Đông của dân Âu Châu. Nơi đây đã là địa điểm tổ chức Thế Vận Hội Mùa Đông năm 1964.
Tới nơi, chúng tôi đi dạo phố trước, còn quý bà, quý cô chạy nhanh vô tiệm
chuyên sản xuất Crystal . Crystal ở Innsbruck vang danh trên thị trường thế
giới. Phụ nữ cứ hăm he, dặn dò nhau, cộng thêm những lời quảng cáo mách nước của
Bà hướng dẫn, nên khỏi nói, các Bà, các Cô đua nhau lựa chọn các đồ trang sức
và đã đeo ngay khi chưa ra khỏi tiệm !
Có bà còn tin rằng: ‘đeo Crystal sẽ mang đến nhiều may mắn, nếu không
tin hãy mua thử xem !?’.
Nữ du khách vừa có niềm vui xong, chúng tôi đi lên một ngọn núi cao, chỗ người
ta hay trượt tuyết. Hôm ấy trời quá lạnh, chỉ mới đau điếng thôi chứ
chưa có tuyết rơi. Chúng tôi được ngồi xe song mã ì-ạch lên dốc để ngoạn cảnh
núi rừng nên thơ. Ngồi trong toa xe, mỗi người đều quấn mền cho ấm và được mời
nhăm nhi vài thứ rượu. Bước xuống xe ai cũng ngả nghiêng một tí nhưng may
mắn chỉ cần bước vài bước là vô nhà hàng. Thực đơn ở đây toàn là những món ăn
độc đáo của Áo và hầu như ai cũng uống thử rượu bia Áo.
Chúng tôi về khách sạn Bon Alpina là ấm ngay, vì trời mới chập tối mà bên ngoài
đã lạnh như cắt da! Tuy nhiên sáng ra cũng có người than nóng quá ‘cứ cởi mở
đến hết mà vẫn không thấy mát !'. Té ra vì phòng của họ nằm ở từng giữa nên bị
nóng hơn cả.
Sáng 22 / 9,
chúng tôi rời Innsbruck lúc 7:30. Đi
chừng nửa giờ là qua biên giới, vào nước
Đức. Tiếp tục chạy hơn 100 km nữa thì tới Munich (Munchen), chúng tôi
tới nơi lúc 9:25 sáng. Ngừng lại ở đây một vài giờ, dạo phố, uống bia cối của
Đức.
Munich là nơi duy nhất có trường dạy môn chế tạo rượu
bia ở Đại Học. Trên đường ra khỏi Munich , chúng tôi chạy dọc theo Đại Lộ Leopoldstrabe, rộng lớn, thẳng tắp với hai
hàng cây xanh bóng mát. Đại Học Munich nằm trên đại lộ nầy, một đại học
lớn hàng thứ 2 sau Đại Học Berlin . Khi sắp ra ngoài ngoại ô, chúng tôi chạy
ngang qua khu Olympic, với cây tháp có tên là Olympic
Tower, có thể trông thấy từ rất xa. Từ bên ngoài có thể nhận diện
được cách kiến trúc khá đặc biệt của khu thế vận, có những căn lều giống như
chỗ giải trí ngoài trời của Melbourne , gọi là Sidney Myer Music Bowl. Du
khách qua Munich , nếu có thời giờ ít ai bỏ sót khu Olympic, vì đấy là nơi xảy
ra vụ các lực sĩ Do Thái bị bọn khủng bố thảm sát, trong Thế Vận Hội năm 1972.
Hôm ấy là lần đầu tiên chúng tôi phải ngồi một đoạn đường dài nhất, hơn 700 km mới tới chổ dừng chân kế tiếp là Heidelberg . Heidelberg nằm bên bờ sông Necka, nổi tiếng về bia và đóng đàn Piano. Có một lâu đài gọi là Heidelberg Castle , xây cất từ thế kỷ 13. Đại Học Heidelberg là một đại học lâu đời nhất của Đức, cũng là một đại học độc nhất, trừng phạt các sinh viên phạm kỷ luật bằng cách cho ngồi tù. Heidelberg cũng là quê quán của Steffi Graff (?).
Từ Heidelberg, chúng tôi di chuyển thêm không đầy một tiếng thì tới chỗ nghỉ
đêm tại khách sạn Treff Page, thuộc
thành phố Lampertheim, cách Frankfurt 75 km.
Ngày 23 /9, chúng tôi bắt đầu rời Đức. Trên chặng đường từ Lampertheim đến Amsterdam, Hoà Lan, chúng tôi chạy
ngang qua Bonn và dừng chân tại Koln (Cologne), thành phố nằm bên bờ sông Rhine , nơi
giao điểm vận chuyển bằng đường thủy và hỏa xa của Âu Châu. Nó nổi tiếng nhất
thế giới về nước hoa Eau De Cologne. Ngôi Thánh Đường mà du khách nhất
định phải tới viếng là Cologne Cathedral,
dài 443 ft , rộng 282 ft , cao 512 ft; bắt đầu xây từ 1248 nhưng mãi tới năm 1880 mới tạm xong. Rời Cologne, chúng tôi đi bên ngoài thành phố Dusseldorf , rồi ra khỏi biên giới. Bắt đầu vào Hòa Lan, đất bằng phẳng nhất thế giới, không có đồi núi gì cả. Cách biên giới không xa là thành phố Arnhem , là nơi thu hình trong phim The Bridge too Far (1977). Hồi đệ nhị Thế chiến, khi băng qua chiếc cầu nầy, Đồng Minh tổn thất cả ngàn nhân mạng.
Chúng tôi tới Amsterdam lúc 4:30 chiều. Khách sạn Ibis Schiphol nằm
gần phi trường Quốc Tế Schiphol của Hoà Lan. Nghỉ ngơi một chập là chúng tôi ra
xe, đi xem tận mắt một quạt gió, hình ảnh tượng
trưng cho Hoà Lan. Sau đó chúng tôi vào nội thành Amsterdam , món đầu tiên là
chúng tôi xuống phà, chạy dọc theo các canals.
Chắc ai mà không biết, người Hoà Lan đã đắp đê lấn biển để có đất sinh sống.
Đất đai của Hòa Lan đều thấp hơn mực nước biển nên họ phải đắp đê chung quanh
để khỏi bị ngập nước. Các con kinh (canals) nằm trong Amsterdam đều bị ứ đọng nên nước sông không được trong
sạch cho lắm. Đi xong tour trên sông, chúng tôi ăn tại một nhà
hàng nổi, thức ăn làm theo lối Indonesia . Thức ăn Indo có vẻ như rất phổ thông vì liên quan thuộc
địa xa xưa chăng?
Từ nhà hàng, tuy đã hơi khuya nhưng chúng tôi vẫn dạo thêm một màn quanh khu Red Lights của Amsterdam , được
mệnh danh là táo bạo nhất thế giới. Các
chi em 'bày hàng' bên trong các khung cửa kính, nằm sát bên đường… Các bà
lùi lại, các Ông tiến lên và Bà Hướng
Dẫn thì đi đoạn hậu vì sợ có chàng nào rơi rớt phía sau! Khi trên xe về khách sạn, Bà hướng dẫn ngợi
khen nhóm chúng tôi 'GOOD', vì đã tới đó mà không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra
?!
Hôm sau 24 / 9, chúng tôi theo đoàn tới viếng hãng mài hột xoàn, vì Hoà Lan có
tiếng về việc cắt gọt các hột kim cương. Thiên hạ cũng có nhiều người mua,
riêng tôi chỉ lạm dụng một vài ly cà phê ngon đãi khách. Và tôi phải chia tay
với đoàn tại đây, vì đã chấm dứt chuyến đi. Mọi ngườI sẽ trở lại Luân Đôn và
chuyến đi sẽ hoàn tất ở đấy.
Riêng tôi không trở lại Luân Đôn, nên được cho bù bằng một đêm khách sạn. Tôi
dời đến khách sạn Eden , nằm trong thành phố Amsterdam rất là tiện lợi. Tôi lưu
lại thêm 2 ngày, 2 đêm, đủ để biết khá nhiều về Hòa Lan.
Ngày 25 / 9, tôi quanh quẩn trong
Amsterdam, tới viếng ngôi nhà của Anne Frank
(1929 - 45), nàng sanh ở Frankfurt và sống tại Amsterdam từ 1933. Tôi ngậm ngùi
chụp hình kỷ niệm với ngôi tượng đồng mà các bó hoa tươi vẫn có người mang đến
viếng thăm hàng ngày; bên cạnh căn nhà mà gia đình cô ta đã ẩn náu dưới thời
Hitler truy lùng và tận diệt Dân Do Thái. Tôi có đáp xe lửa xuống Rotterdam ,
một hải cảng coi như to lớn và nhộn nhịp nhất của Âu Châu.
Ngày 26 / 9, tôi đi theo Tour Brussels, lấy tên thủ đô của Bỉ. Trên đường đến Brussels, tôi có một đôi giờ ghé lại Antwerp. Tôi được hướng dẫn nhiều nơi trong thành phố, thăm công trường Độc Lập, nơi có các trái cầu nối liền bằng các đường ống, ngườI ta đi trong các ống nầy và có thể thấy được mọi nơi của Brussels . Thành Phố Brussels với thật nhiều kiến trúc cổ kính theo kiểu thời La Mã,
nên ai đến đây cũng đều nhìn nhận danh tặng là Paris Thứ 2. Brussels cũng có một khu kiến trúc hoàn toàn tân kỳ, đó là khu Bộ Tư Lệnh của Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ngoài ra, Brussels là một thành phố có nhiều cây xanh bóng mát nhất của toàn thể các nước Âu Châu. 25 % dân ở Brussels là người ngoại quốc, làm việc cho nhiều tổ chức quốc tế. Tôi cũng có đến tận nơi xem tượng chú bé cầm cu đứng đái, được gọi là Manneken - Pis.
Tôi rời Amsterdam vào sáng sớm ngày 27 / 9, bay qua Hamburg để chuẩn bị tham dự đám cưới của Cô cháu gái, con
của Chị tôi vào ngày 6/ 10. Sau đám cưới, tôi lại chu du qua vài thành phố của
Đức và đã sang Đan Mạch. Từ
Copenhagen tôi băng qua một chiếc cầu dài nối liền eo biển giữa Đan Mạch và
Thành Phố Malmo của Thụy Điển.
Đặc biệt nhất cho tôi là có cơ hội
đặt chân đến BERLIN , dĩ nhiên bây
giờ không còn Đông và Tây như thời trước 1989. Tôi cứ loay huay đi tìm vết tích
của bức tường Bá Linh, bây giờ đã hoàn toàn mất dấu. Chỉ dựa vào bản đồ cũ mới
biết khi xưa nó chạy dọc theo những con đường nào trong Bá Linh. Cổng Nuremberg uy nghi đứng trên Đại Lộ 17/ 6, cách khu
nhà Quốc Hội và Thủ Tướng Phủ chẳng bao xa. Phiá bên trái là một con sông, nơi
mà ngày xưa có nhiều người liều chết, lội qua giòng sông định mệnh nầy để được
sang bến bờ tự do Tây Bá Linh. Sông tuy
nhỏ, nhưng ít có ngườI đến được bến bờ
!!! Đến Berlin mới nhận diện được sự bôi
xoá lằn ranh Quốc Cộng, thành phố bây giờ là một, không còn dấu tích khác biệt
giữa đôi bên. Ngay chiếc xe hơi mà tốc độ tối đa 60 km/h của Đông Đức, nay đi
tìm một chiếc để chụp hình cũng không có nữa. Tôi
thiển nghĩ chưa có một nơi nào hội nhập một cách nhanh chóng và êm đẹp như thế,
có lẽ là nhờ sự phồn thịnh của Tây Đức, đã dùng hàng trăm tỷ (ngàn tỷ ?) Marks
để lôi kéo Đông Đức bước cùng một nhịp tốc, cùng tạo nên một nước Đức Thống Nhất, dẫn đầu kinh tế của
Âu Châu. Một thành công Impossible
cho các nước đã bị chia cắt khác!
Tôi rời Hamburg vào ngày 19 /10, bay xuống Frankfurt, rồi bay ngược lên phía Bắc, ngang qua Ba Lan, Nga, Mông Cổ, Đại Hàn và đáp xuống phi trường Osaka, Nhật vào sáng ngày 21 /10.
Bằng lộ trình nầy tôi cảm thấy an toàn hơn là
nếu bay thẳng về Úc, qua các không phận đang sôi động bởi chiến tranh giữa Hoa
Kỳ và A Phú Hãn. Tới Osaka, tôi lưu trú tại một nhà trọ giá trẻ dành choi sinh
viên và back pack tại thành phố Kyoto.
Kyoto là thành phố tiêu biểu cho phật giáo của Xứ Phù Tang. Toàn là chùa với
chùa, ngôi chùa nào cũng to lớn, cổ kính và trang nghiêm, khiến tôi chỉ ngần
ngại ngắm nhìn mà không dám bước vào cầu mong cho một ước mơ nào, vì bất chợt
tôi không có một định tâm nào! Mấy hôm
ấy đầu óc tôi mãi lo lắng về chuyện hãng ANSETT xập tiệm, mà tôi chưa biết làm
sao về lại Úc. Cũng may Hãng Lufthansa, đã giúp tôi bay về Úc bằng Air
Thailand.
*Mùa Thu Kyoto
Rời Osaka ngày 24 / 10, nghỉ khá lâu tại Bangkok, bay tiếp đến Brisbane, rồi
mới hú hồn về tới Melbourne để kịp ngày đi làm trở lại. Trên chuyến về có đoạn
bay ngang qua Đà Nẵng, làm tôi cảm thấy bồi hồi, nhớ đến những ngày xuôi ngược
Hội An, Điện Bàn, Thanh Quít, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị… Biết đâu một sáng tinh
mơ nào đó, qua cơn ác mộng tôi lại được quay về trong ao ước tự do của mọi
người bên nầy và bên kia !
Đến đây, tôi xin mạn phép được kết thúc Một Vòng Âu Châu, với sự cám ơn
đặc biệt của tôi với SGT, nhứt là Chị "D" đã gõ từng chữ và sửa giùm lỗi Hỏi, Ngã của một tay Nam Kỳ học đòi Bút, Mực! và cám ơn bạn bè, cùng bạn đọc. Nếu có bất cứ một chữ, một
lời sơ sót vô tình nào, xin được quý đồng hương lượng thứ cho !/.
LHXung- Melbourne.
AUSTRALIA,
2 / 02
No comments:
Post a Comment