Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label PhamDucThan. Show all posts
Showing posts with label PhamDucThan. Show all posts

Sunday, 11 February 2024

 Phạm Đức Thân

 

 

DU HIỆP KHÁCH, ÔNG LÀ AI ?

           

            Đọc truyện chưởng, nhiều người thắc mắc, không biết các du hiệp khách gốc gác đâu ra, có nghề nghiệp gì không, sống thế nào, mà cứ đi giang hồ hành hiệp. Bài này cố gắng giải đáp phần nào thắc mắc trên để độc giả hiểu rõ bối cảnh lịch sử Trung Hoa hầu thưởng thức truyện chưởng thấu đáo hơn..

 

Du là đi đây đó; hiệp là hào hiệp. Du hiệp khách hay hiệp khách, hiệp sĩ là người hào hiệp, thường bênh vực kẻ yếu, hoạn nạn, giúp đỡ người nghèo. Hiệp khách xuất hiện ở Trung Hoa vào thời Chiến Quốc (403-221 BC) trong bối cảnh bất ổn chính trị, xáo trộn xã hội và nở rộ tư tưởng. Nhà Chu mất kiểm soát các chư hầu - những người này đang tự xưng vương và đánh nhau tranh giành quyền lực. Quý tộc suy tàn, không tiếp tục bảo trợ người có biệt tài (nhạc sĩ, pháp sư, thuật sĩ, bói sĩ...) khiến họ lang thang tìm đến xin việc nơi các lãnh chúa phong kiến. Các nhà tư tưởng cũng đua nhau trình bầy giải pháp cứu vãn tình trạng xã hội.

 

Nho gia (Khổng giáo) đề nghị trị nước theo luân lý, đạo đức như thánh vương Nghiêu Thuấn ngày xưa. Lão gia khuyên vô vi, cứ để tự nhiên, bãi bỏ các định chế xã hội và chính trị. Pháp gia nhấn mạnh đến luật pháp và hình phạt để ngăn ngừa tội phạm. Mặc gia rao giảng hòa bình và tình thương.

 

Trong khi chính khách bôn ba thuyết phục lãnh chúa trị dân theo cách mình đề nghị thì hiệp khách đơn giản tự tay thực thi công lý, cải sửa việc họ cho là sai trái, bất công, đồng thời giúp đỡ người nghèo, hoạn nạn, bênh vực kẻ yếu, cô thế. Họ không ngần ngại sử dụng võ lực, cũng như xem nhẹ luật pháp. Họ thường hành động trên động cơ vị tha và sẵn sàng hy sinh cho chính nghĩa.

 

Về nguồn gốc xã hội của hiệp khách, các học giả có ý kiến khác nhau. GS Phùng Hữu Lan cho rằng họ là nông dân và nghệ nhân thất nghiệp đã trở thành võ sĩ chuyên nghiệp. GS Lao Kan khi bàn về hiệp khách đời Hán nhận xét rằng họ là dân thường, biết võ nghệ, và hành hiệp chuyên nghiệp.

 

Tuy nhiên T'ao Hsi-sheng nghĩ khác. Theo ông, võ sĩ, thương gia, nghệ nhân khánh tận và nông dân thất nghiệp tạo thành một giai cấp lớn trong xã hội. Họ không có tài sản nhưng bảo họ thuộc giai cấp bình dân là không đúng. Những người này ghét lao động, có thói quen lang thang, nhàn tản. Trong số người nghèo của giai cấp võ sĩ, một số người vẫn thích đánh đấm, có tham vọng và khả năng tổ chức, lãnh đạo. Các võ sĩ này tạo thành một giai cấp đứng giữa quý tộc và dân giả.

 

GS Yang Lien-sheng cũng cùng nhận xét như trên. Có khi chính hiệp khách ngày xưa là quý tộc, nhưng nay thất thế họ đồng hóa với dân thường. Thời Chiến Quốc họ được coi như một giai cấp riêng. Lúc đó, trật tự phong kiến cổ bắt đầu tan rã, nhiều võ sĩ gia truyền mất địa vị và tước hiệu. Là những người can đảm, cương trực, được thêm các thanh niên dân giả khỏe mạnh tham gia, họ phân tán tứ xứ, kiếm sống bằng làm công, bảo vệ, có khi hy sinh cả mạng sống, cho người thu nhận, cấp dưỡng họ.

 

Nhưng GS Tatsuo Masubuchi có ý kiến khác hẳn, cho rằng hiệp khách không phải là một nhóm người riêng biệt trong xã hội, mà chỉ là những người có máu hiệp sĩ, do tánh khí hơn là nguồn gốc xã hội, biểu thị tác phong, lối sống hơn là nghề nghiệp. Điều này xem ra có vẻ hợp lý hơn cả.

 

Thứ nhất, Tư Mã Thiên (145-86 BC) trong sách Sử Ký phần Tiểu Sử Các Hiệp Khách luôn luôn phân biệt rõ "hiệp sĩ bình dân" (ăn mặc xuề xòa), "hiệp sĩ làng", "hiệp sĩ xóm nghèo" . Điều này hàm ý có những hiệp sĩ không bình dân, không thuộc làng xóm, vì nếu không, thì chả cần phải nói rõ gốc gác xã hội ra như vậy. Thứ hai, ông so sánh hiệp sĩ mà Thái Tử phong kiến thường gọi là "khách" với hiệp sĩ bình dân, và nếu nhận xét hiệp sĩ bình dân thi hành công việc khó khăn hơn, đáng khen, đáng phục hơn, mặc dù "khách" cũng là hiệp sĩ. Ban Cố (32-92) trong sách Hán Thư cũng viết: "Dựa vào ảnh hưởng của các Vương, các Công, họ [Thái Tử] trở thành hiệp khách". Vậy rõ ràng quý tộc cũng có thể là hiệp khách.

 

Hiệp khách được cấp dưỡng, nhưng không thể bảo tất cả dựa vào công tác để có lợi tức như một nghề. Chu Chia (thế kỷ III BC) là chủ điền, mua dân làm lao động trên đất của mình. Ning Ch'eng (thế kỷ II BC) mua đất, làm giầu rồi mới bắt đầu hành hiệp. Thật ra, thường là hiệp khách cho tiền giúp người, hơn là hành hiệp để được nhận tiền. Tiền của họ phần nhiều do quà tặng của bạn bè, người hâm mộ, đóng góp tự nguyện, mặc dù đôi khi họ cũng tịch thu của cường hào ác bá bóc lột để đem cho người nghèo.

 

Mặt khác có người không phải vì giỏi võ nghệ hay tài quân sự, mà chỉ vì lòng vị tha, bác ái, thực thi công lý mà nổi tiếng hành hiệp. Như vậy không thể bảo hiệp khách là một giai cấp hoặc chuyên nghiệp, mà đúng ra họ chỉ là người có lòng hào hiệp, theo đuổi một lý tưởng. Lý tưởng này thường bao gồm mấy đặc điểm như sau.

 

1/ Vị tha. Đây là đặc điểm nổi bật của hiệp khách. Họ thường giúp đỡ người nghèo, kẻ bị áp bức, đôi khi mất mạng vì ra tay cứu người. Không những đối với thân thuộc, bạn bè, mà cả đối với người dưng, cho nên hiệp thường gắn liền với nghĩa, gọi là hiệp nghĩa để chỉ tánh cách vị tha này. Phùng Hữu Lan nhận thấy cái nghĩa này cao hơn tiêu chuẩn đạo đức bình thường, là một "siêu đạo đức". Làm ơn không mong báo đáp là đạo đức, nhưng làm ơn mà từ chối báo đáp là siêu đạo đức

 

2/ Công lý. Vị tha trên phát sinh từ quan niệm công bằng hợp lý, có khi đặt trên cả tình cảm gia đình. Vd. Kuo Hsieh đành để cháu mình bị giết vì ông nghĩ nó đã làm điều sai trái. Công bình đòi phải "chơi đẹp", kết hợp với vị tha tạo nên câu nói mô tả rất đúng: hiệp khách là người "giữa đường thấy chuyện bất bình, liền rút đao tương trợ"; Trong khi chính khách hy vọng hão huyền vào chuyện lay động tâm các vua chúa thì hiệp khách tìm được cách nhanh chóng và trực tiếp để ít ra thi hành chút công lý hạn chế.

 

3/ Tự do cá nhân. Hiệp khách biểu lộ thái độ phản kháng không những bằng cách công khai thách thức luật pháp khi tự tay thực thi công lý, mà cả trong cuộc sống thường ngày. Họ thích tự do tuyệt đối, xem nhẹ quy ước xã hội, không theo một hình thức nào nhất định, đôi khi kỳ quặc, cho nên có người còn được gọi là quái khách. Vd. Kinh Kha bạn với kẻ bán thịt chó, nhạc sĩ ( Cao Tiệm Ly ), cùng nhau ăn uống, cười khóc chỗ công cộng. Chi An (112 BC) ngông cuồng, cục cằn, thô lỗ.

 

4/ Trung thành. Trung thành cá nhân, riêng tư được coi trọng hơn cả trung thành với vua chúa, cha mẹ. Kinh Kha chết cho Thái Tử Đan nước Yên không phải vì trả ơn cấp dưỡng mà vì "tri kỷ". Thái Tử Wu-chi (243 BC) đãi ngộ hiệp khách rất hậu, trọng dụng Hou Ying. Khi phải di tản, Hou Ying già không thể đi theo, cắt họng để tỏ dạ trung thành.

 

5/ Can đảm. Phải có can đảm thật lớn về thể chất cũng như tinh thần mới thành hiệp khách. Họ không ngại nguy hiểm, không coi trọng mạng sống, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, khi cần hy sinh cho đại nghĩa.

 

6/ Chân thành và tin tưởng nhau. Hiệp khách coi trọng chân thực trong lời nói cũng như việc làm. Tư Mã Thiên viết "Họ luôn luôn nói thật, luôn luôn hoàn tất việc đã khởi sự, luôn luôn giữ lời hứa". Có người thà chết hơn phản bội, để lộ bí mật. Vd. Chi Shao-kung tự tử để khỏi lộ chỗ ẩn náu của Kuo Hsieh đang bị quan quân lùng bắt. Điền Quang cũng tự tử để khỏi lộ bí mật của Thái Tử Đan.

 

7/ Danh dự và danh vọng. Trung thực có liên quan đến danh dự. Tư Mã Thiên viết " Họ hành động kỷ luật và trọng danh dự để cho tiếng tốt lan truyền". Hàn Phi Tử tuy chê họ, nhưng cũng phải công nhận họ đã đặt tiêu chuẩn cao về sự chính trực để được nổi tiếng. Hành hiệp chủ yếu do vị tha, nhưng cũng có một động cơ phụ hơi vị kỷ là thích được nổi tiếng..

 

8/ Quảng đại và coi thường phú quý. Một mặt ham muốn nổi danh, nhưng mặt khác họ coi thường giầu sang. Họ có thể sở hữu hoặc được tặng nhiều tiền của, nhưng không bị cám dỗ, coi thường tài vật, và hào phóng chia sẻ cuộc sống dễ dãi với thân thuộc, bạn bè; hoặc quảng đại phân phát cho người nghèo.

 

Dĩ nhiên không phải tất cả mang danh hiệp khách đều sống tuyệt đối trọn vẹn theo lý tưởng, cũng như người theo đạo ít khi sống trọn vẹn hết được các giáo điều. Đây chỉ là bản chất của con người, không riêng hiệp khách. Mặt khác họ cũng không toàn hảo. Ngay hiệp khách nổi tiếng đã sống rất lý tưởng cũng không tránh được nhược điểm nghiêm trọng. Vd. họ rất dễ bị chạm tự ái, dễ nổi sùng, và hơi chút là động thủ. Đôi khi phản ứng quá lố, không tương thích với sự cố, mà có khi chỉ là tưởng tượng.

 

Sách Hoài Nam Tử kể chuyện nhà giầu kia tiệc tùng vô ý để con diều bay thế nào mà làm rớt xác một con chuột xuống trúng đầu một hiệp khách. Nhóm hiệp khách cho là khinh thường họ, chờ nửa đêm xông vào nhà giết sạch cả gia đình.

 

Ngoài ra quan niệm công lý của hiệp khách có tính hạn chế, trên căn bản cá nhân riêng rẽ hơn là toàn bộ xã hội. Hành động vị tha, cứu người chỉ lợi ích cho một số người thụ hưởng, không tác dụng đến cộng đồng. Mặt khác, coi thường pháp luật khi tự tay thực thi công lý, vô tình họ đã làm xáo trộn trật tự xã hội. Thảo nào họ bị Hàn Phi Tử và Ban Cố lên án trong khi Tư Mã Thiên thì khen ngợi.

 

Xét cho cùng, công của họ nhiều hơn tội. Ngay như Ban Cố cũng thừa nhận "Nhìn chung họ là người có lòng tốt, đáng yêu; giúp người nghèo và cứu người hoạn nạn; khiêm nhượng và không khoa trương". Nếu không có lý tưởng với các đặc điểm nêu trên, làm sao họ có thể hành hiệp như vậy được.

 

Họ sống tự do, hành động theo sở thích, nhưng không phải vô luân lý và đạo đức. Lý tưởng của họ có vài điểm tương hợp với các tư tưởng đương thời. Họ không thích khuôn phép gò bó, đạo trung dung của Nho giáo, nhưng nhân, nghĩa, tín thì có phần tương hợp. Pháp gia quá khe khắt, thiếu bao dung, nhân đạo không hợp với họ. Mặc giáo và Lão giáo nhiều tương đồng với họ hơn. Sau này thêm Phật giáo từ bi bác ái, và Minh giáo cởi mở, rất hợp với họ. Cho nên hiệp khách có người là đạo sĩ, tăng ni hoặc đệ tử của họ.

 

Lịch sử Trung Hoa từ Chiến Quốc đến nhà Thanh ghi lại nhiều hiệp khách nổi tiếng thật ngoài đời cũng như truyền thuyết. Vd. Kinh Kha, Võ Tòng, Tống Giang... Nhà thơ Lý Bạch (701-762) đời Đường.hồi trẻ đam mê quân sự và kiếm thuật, sống như hiệp khách, coi thường của cải. Chính ông tuyên bố có lần trong vòng một năm, ông giúp đỡ người hoạn nạn gần hết gia sản. Wei Hao, bạn ông, cho biết chính Lý Bạch đã dùng tay giết chết vài người.

 

Sang tới Thanh triều (1644-1911) số hiệp khách giảm dần, nhưng không bao giờ hết hẳn Hai trong số lãnh đạo của cách mạng Thái Bình (1851-1866) là Hồ Dĩ Hoàng và Lâm Phượng Tường được coi như hiệp khách. Số hiệp khách giảm là vì xuất hiện chế độ bảo tiêu. Hiệp khách nay bảo vệ hàng hóa di chuyển của thương nhân, cũng như làm vệ sĩ cho quan chức. Trớ trêu là xưa họ coi thường luật pháp, nay trở thành bảo vệ luật pháp. Nhưng tinh thần hành hiệp vẫn không mất vì họ thường không chịu bảo vệ quan chức ác độc hoặc ức hiếp người nghèo.

 

Hiệp khách có nhiều ở phía bắc Trung Hoa, có lẽ vì gần núi non sa mạc bao la, hơp với cuộc sống đây đó, cưỡi ngựa, bắn cung hơn miền Nam sống bằng nhiều thủy lộ. Tuy ngày nay không còn hiệp khách, nhưng tinh thần hành hiệp vẫn thỉnh thoảng thể hiện trong cuộc sống văn minh hiện đại..

 

Dựa vào lịch sử, các nhà văn đã hư cấu thêm, tạo nên những nhân vật hiệp khách với các kỳ tích và tình tiết gay cấn, làm say mê độc giả trong các truyện như Thủy Hử, Tam Hiệp Ngũ Nghĩa, Giang Hồ Kỳ Hiệp (Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự), Giao Trì Hiệp Nữ, Bồng Lai Hiệp Khách... Nhất là từ thập niên 50 thế kỷXX xuất hiện truyện võ hiệp của các tác giả hiện đại như Lương Vũ Sinh, Cổ Long, Kim Dung.. mở ra một kỷ nguyên mới đa dạng, sâu sắc, ly kỳ, hấp dẫn cả trăm triệu độc giả. Người viết hy vọng rằng hiểu biết bối cảnh lịch sử xuất hiện của hiệp khách sẽ giúp độc giả thưởng thức truyện chưởng đầy đủ hơn.

 

 

Phạm Đức Thân

(tham khảo sách The Chinese Knight- Errant , James J. Y. Liu)

 

Saturday, 10 February 2024

VỪA TÌM THẤY CHÚT THƠ CỦA PHẠM ĐỨC THÂN , ĐS13 - KHÔNG HIỂU PHẠM ĐỨC THÂN NHÀ QGHC CÓ PHẢI LÀ PHẠM ĐỨC THÂN ĐÍNH KÈM BÊN DƯỚI? - QUÝ BÁC AI RÀNH THÂN TRÊN VÀ THÂN DƯỚI LÀ 1 HAY 2 - XIN VUI LÒNG MÁCH BẢO GIÙM./-Mt68

____________________________

*TRÊN

 From: than pham <dupham44@gmail.com>

Date: Sat, Feb 10, 2024 at 6:33 AM
Subject: Thơ Tết
To: Sau Nguyen <saunguyen66@gmail.com>, traugia72 <traugia72@gmail.com>, Truong Nguyen <truonguyen40@yahoo.com>



Thấy các bác thơ Tết lia chia KG ngứa ngáy cũng xin góp tiếng.

Lão Khỉ đầu năm chúc bạn hiền
Khang an thịnh vuợng cả năm liền
Bút còn cứng rắn vung lia lịa
Nghiên chửa khô khan chấm liên miên
Sáng tối hết tô rồi lại vẽ
Phút giây vừa tỉnh đã lại điên
Của trời cho không chơi thì liệt
Chào đón Giáp Thìn khai bút tiên

Câu đối:

Mèo đi, những tuởng hết còn mèo mỡ,
đóng máy nằm khoèo, lim dim đợi Tết.
Rồng tới, hóa ra lại đuợc rồng lộn,
mở meo bật dậy, hớn hở mừng Xuân.

Kính.

KG
_____________

*DƯỚI


Phạm Đức Thân

 


 

KHAI BÚT ĐẦU XUÂN

Bút đã hơi cùn khó thể khai
Mực thì gần cạn xúc nghiên hoài
Nhâm Dần hổ dữ vừa xông tới
Tân Sửu trâu điên đã chạy dài
Thẳng lối ngay hàng ghi thật đúng
Dọc ngang trên dưới viết đừng sai
Mặc dù bẩy tám không còn sức
Cũng cố khai Xuân chịu kém ai!

Phạm Đức Thân

 

 

 

 

CHÚC XUÂN BẠN GIÀ

Chịu thua ai, bút mực thi tài
Bút mực thi tài thỏa chí trai
Tài thỏa chí trai dù bẩy tám
Trai dù bẩy tám chịu thua ai.

Năm Nhâm Dần chấp bút khai Xuân.
Chấp bút khai Xuân chúc bạn thân
Xuân chúc bạn thân luôn mạnh khỏe
Thân luôn mạnh khỏe năm Nhâm Dần.

PĐThân.


 

Phạm Đức Thân

 

 

THƠ

KHAI BÚT ĐẦU XUÂN / CHÚC XUÂN BẠN GIÀ

TẠ TÌNH

THAN THỞ / CHÁN ĐỜI / SAY

TÔI PHẢI NÓI / HỎI EM

TỰ THUẬT / TỰ HỌA

YÊU

 

VĂN

ĂN, CÁI KHOÁI THỨ NHẤT

BÓNG ĐÁ

CÁI ĐẸP TRONG VĂN HÓA NHẬT BẢN

CHẾT LÀ PHẢI

CHUỘT: ĐÔI ĐIỀU LÝ THÚ

CÓ CHĂNG MỘT VĂN HÓA ĂN THỊT NGƯỜI

CÓ CHĂNG TÌNH BẠN KHÁC PHÁI ?

DỊCH THƠ

DỊCH THUẬT

DỊCH THUẬT THỰC HÀNH

DU HIỆP KHÁCH, ÔNG LÀ AI ?

HOA VIÊN NHẬT BẢN

KIM DUNG, ÔNG LÀ AI ?

MẬP ỐM XẤU ĐẸP

NGỒI LÊ ĐÔI MÁCH

NHẠC BỒ ĐÀO NHA : FADO

NHẠC PHẨM SUỐI MƠ LÀ TƯỞNG TƯỢNG

NHẠC RAP VÀ HIP HOP

NHẠC SĨ LEONARDO DA VINCI

NHÂN NHẠC CHẾ, THỬ XÉT LẠI TƯƠNG QUAN NHẠC LỜI CỦA CA KHÚC

PHÊ BÌNH KIM DUNG

QUÀ - ĐÔI ĐIỀU LÝ THÚ

RÂU RIA RẮC RỐI

SÁNG TÁC ÂM NHẠC

TẠI SAO ÂM NHẠC GIÀU TÌNH CẢM

THÓI TRƯỞNG GIẢ

THƠ PHỔ NHẠC

THỜI GIAN VÀ ĐỒNG HỒ

THỜI TRANG GIẢI CẤU

THỜI TRANG THANH LỊCH

THUỐC LÁ

THỰC PHẨM - ĐÔI ĐIỀU LÝ THÚ

TRIẾT LÝ VỀ THỰC PHẨM

TRONG SÁNG CỦA NGÔN NGỮ

VĂN HÓA LƯU MANH

VĂN HÓA THÙ HẬN CỦA TÂY PHƯƠNG

Ý NGHĨA ÂM NHẠC TRONG TƯƠNG QUAN VỚI CUỘC SỐNG

Ý NGHĨA CỦA THỜI TRANG

Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI

 

DỊCH

AGURI

ÂM NHẠC NGỌT NGÀO

BÀN TAY TÊ CÓNG

BỊT MẮT BẮT DÊ

CÁI NỐT RUỒI

CHÍN TỶ DANH XƯNG CỦA THƯỢNG ĐẾ

ĐỂ ĐƯỢC GIỚI THIỆU

GIÁNG SINH VUI VẺ

HAI CHUỘT, CÁO VÀ TRỨNG

HÃY ĐỢI MỘT NĂM RƯỠI

HOA HỒNG GIẢ

KHẨU SÚNG SĂN

KIẾP SAU CÒN YÊU ( ENCHI FUMIKO )

LINH HỒN ĐẸP

MÃI MÃI YÊU EM, ANNA

MỘT BUỔI CHIỀU CHỦ NHẬT

MƯA NGÃ TƯ ROKUDO

NỮ HOÀNG BÚP BÊ

NƯỚC LŨ MÙA THU ( MẠC NGÔN)

ÔNG VÉO MÔNG ( KRUSHWANT SINGH )

OSEN VÀ SOKICHI

PHÒNG MỔ - PHẦN1

PHÒNG MỔ - PHẦN 2

QUẦN SOỌC ĐỨC ( HARUKI MURAKAMI )

THEO DẤU ÁO VÉT XANH LỤC

TÌNH ĐỔI TỦ LẠNH

TOBERMORY

VÁCH ĐÁ ( EDOGAWA RAMPO )

VIÊN PHẤN KỲ DIỆU ( ABE KOBO )

 

NHẠC

CÁM ƠN NGƯỜI

LÀM SAO QUÊN

SUỐI MƠ ( nhạc - Nguyễn văn Nho trình tấu)

Monday, 29 January 2024

Gần đây có vài bạn đọc muốn biết dịch giả Phạm Đức Thân là ai? 

Chúng tôi chỉ biết Ông dịch giả nầy đã góp mặt khá nhiều trên SÁNG TẠO (Đã ngưng hoạt động). Nhưng hiện chưa tìm thấy thêm chi tiết gì về Phạm Đức Thân. Bút hiệu hay tên thật?! Quý huynh trưởng nếu biết xin bổ túc giùm để nhiều độc giả được thỏa lòng mến mộ./-Mt68

________________

Phạm Đức Thân:

 ÔNG VÉO MÔNG 



 (Tác giả Khushwant Singh, Phạm Đức Thân dịch)

Khushwant Singh (1915 – 2014) có một sự nghiệp đồ sộ trong nhiều lãnh vực: chính trị, ngoại giao, lịch sử, báo chí… nhưng đáng kể là lãnh vực văn học. Với cả trăm truyện dài và ngắn ông là một nhà văn Ấn nổi tiếng, ngang tầm R.K.Narayan, Salman Rushdie… và từng nhận nhiều giải và bằng danh dự về văn học và báo chí. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất Train to Pakistan (1956).

Ông có cái nhìn sắc bén, chi tiết về xã hội Ấn, phơi bày những thói hư tật xấu của đời thường, nhưng qua giọng văn khôi hài dí dỏm ông không cay nghiệt, luôn tỏ ra bao dung, tin vào lòng tốt của con người. Ông không ngại viết bạo về những đề tài tế nhị, bị phê phán, và về già tự nhận mình là một dirty old man.

Một chủ đề của ông là thói đạo đức giả. Trong truyện điển hình The Bottom-Pincher (Ông Véo Mông) ông vạch trần thói đạo đức giả của nhiều người: bên ngoài trông đạo mạo, đáng kính nhưng thật ra lại âm thầm làm những chuyện thiếu đạo đức. Trong một truyện khác, có cảnh khôi hài cho thấy khẩu hiệu không đi đôi với việc làm: Đèn xanh đã bật ở ngã tư, nhưng xe trước vẫn chưa đi. Xe sau nhấn còi inh ỏi..Cảnh sát tiến đến xe sau hỏi giấy tờ, rồi trả lại người lái. Người này tức giận hỏi bộ nhấn còi là phạm luật sao. Cảnh sát trả lời “Tôi thấy xe dán khẩu hiệu Cầu Nguyện Thay Đổi Mọi Chuyện mà tài xế lại nóng nẩy nhấn còi liên tục, nên tôi nghi là xe ăn cắp, ông không phải là chủ nhân.”

(Phạm đức Thân dịch từ bản English trong sách Passages – 24 Modern Indian Stories, Signet Classics, 2009, có tham chiếu bản khác trên mạng để điều chỉnh thiếu sót và lỗi chính tả)

Tôi không phải là một người véo mông, nhưng tôi thích được là một người như vậy. Giống như người được ban tặng tự do của thành phố (ND. Chìa khóa hay chứng nhận của một thành phố, tượng trưng cho phép được hưởng vài đặc quyền), tôi thích được cho phép tự do véo mông phụ nữ thành phố. Véo là từ không chỉnh. Nếu mông tròn trịa xinh đẹp tôi thích được tự do vuốt ve nó trong lòng bàn tay. Nếu nó rất to hoặc quá nhỏ tôi thích được tự do lướt ngón tay chỗ khe mông từ dưới lên trên. Chỉ khi mông xệ tôi mới muốn kẹp dúm thịt xệ giữa ngón cái và ngón trỏ rồi véo nó. Tuy nhiên không thành phố nào ban tặng tôi cái tự do đó.

Tôi là một công dân tuân thủ luật pháp. Chủ nghĩ tốt về tôi. Tôi là hội viên của câu lạc bộ tốt nhất và có chân trong ban quản trị của YMCA. Tóm lại tôi là một thành viên đáng kính của cộng đồng. Điều này cấm tôi không được tự tiện với mông phụ nữ, trừ bằng cặp mắt. Khi tôi tới gần một cái mông mà tôi muốn vuốt thì tôi liền tự cảnh giác ngay về hậu quả. Tôi nhủ thầm phụ nữ này có thể không thích tôi đụng vào mông. Bà có thể làm ầm lên. Bà có thể thu hút đám đông và một ông nào đó ra vẻ đạo đức, mặc dù chính ông ta là một người véo mông, có thể ra tay thực thi luật pháp, đánh đập tôi. Những ý nghĩ như vậy làm tôi toát mồ hôi trán. 

Với tôi véo mông đã là một thú giải trí cho khán giả. Tôi lại diễn đạt sai rồi. Bởi thú vui này chỉ giới hạn vào chuyện ngắm mông. Chứ tôi chưa từng bao giờ có đặc quyền ngắm ai véo mông người khác. 

Thành phố đông đúc như Bombay cung cấp điều kiện lý tưởng cho ngắm mông. Và những y phục phủ trên mông phụ nữ thì vô vàn khác biệt hơn bất cứ nơi nào trên thế giới; sari, gagara, lungi, váy (kiểu ghagra của Ấn cũng như kiểu dài và mini của Âu châu), quần căng co dãn, quần ống loe, churidar – bạn có thể bắt gặp mọi thứ trong vòng 15 phút, bất cứ lúc nào và ở đâu. Khu vực ưa thích của tôi trải dài nửa dặm từ sở tới giao điểm của năm con đường tại môt tượng đài gọi là Bồn Nước Flora. Thời điểm tốt nhất là vào giờ ăn trưa, lúc đông đảo nhất. Không như đi bộ mà giống như kiến bò, tránh né người, va đập vào họ, xua đuổi ăn mày, cười với các ả đang mời mọc “vui vẻ qua trưa”, càu nhàu mấy tay dai dẳng đòi mua bán ngoại tệ. Tuy nhiên tôi thích hoạt động này, giống như cái chợ, chính xác là vì nó đông phát khiếp. Nhiều sạp sách ven đường. Vỉa hè đầy các loại hàng hóa lậu: Nước hoa, mỹ phẩm, vải the của Pháp; máy ghi âm, máy ảnh, máy thu thanh bán dẫn của Nhật mở lớn hết cỡ. Và không thể tránh được, đông đảo phụ nữ mua sắm. Người ta phải hết sức cẩn thận để không đụng chạm vào ngực hoặc mông của họ. Nhưng có ai mà muốn hết sức cẩn thận cơ chứ?

Chính vào một giờ trưa như thế tôi được mục kích một cảnh véo mông nhớ mãi. Tôi đang rà soát tại một sạp sách bên đường dọc theo Đền Lửa Dadyseth Parsis. Đám ăn mày đột nhiên kéo đến tụ tập phía cửa chấn song sắt dùng để ngăn cản dân không phải Parsi, khiến tôi chú ý. Từ Đền Lửa tiến ra một ông gầy cao, khoảng lục tuần, mặc bộ đồ xanh nhạt, đội mũ cối chống nắng, và đeo kính dày hậu-cataract. Ông thò vào túi và bỏ một đồng xu vào tay mỗi ăn mày. Hình như họ biết người đàn ông và thời điểm ông xuất hiện; trong đám đông có những người cùi lê lết và một phụ nữ mù xốc một đứa bé trên vai. Mặc dù tôi có định kiến khắt khe về chuyện cho tiền ăn mày tôi không thể không cảm phục người, do bất kỳ tính toán gì, mỗi xế trưa lại cho đi một tài sản nhỏ.

Người đàn ông tiếp tục đi về hướng sở tôi. Tôi theo sau ông cách vài bước. Việc thiện của ông không ngừng bên ngoài Đền Lửa. Ông tiếp tục thò vào túi bên phải và bỏ đồng xu vào mỗi bàn tay chìa ra. Rồi tôi nhận thấy khi ông đi ngang qua một nhóm ba phụ nữ đang cúi người trên một món đồ ở sạp, bàn tay trái của ông lướt nhẹ trên mông một bà trong nhóm. Lúc bà thẳng người lên để nhìn xem ai đã làm vậy thì người đàn ông đã đi lên trước vài bước trong đám đông. Ông không quay lại nhưng tiếp tục bước tới, người thẳng đứng. Và cứ thế tiếp tục. Tay phải bố thí người túng thiếu, tay trái vỗ hay vuốt mông các bà hớ hênh, không cẩn thận. Một người cá tính đặc biệt cách gì! Ông đã mạo hiểm biết bao, không sợ bị bắt gặp, vạch trần và xử lý!

Trưa hôm sau tôi trở lại sạp sách. Một mắt nhìn tờ tạp chí, mắt kia ngó cổng Đền Lửa. Ăn mày đã thu thập xong và trưng ra vốn liếng của mình; người cùi với bàn tay trụi lủi không ngón, đàn ông chống nạng, phụ nữ mù ẵm con trong lòng. Người đàn ông xuất hiện từ nhà nguyện, cũng bộ đồ xanh nhạt, mũ cối chống nắng, và sau cặp kính dày là một khuôn mặt nhợt nhạt, khô khan, không biểu lộ gì. Ông diễn lại những hành động cũ; xuất cả túi tiền xu cho những bàn tay chìa ra. Với phụ nữ mù ông cho nhiều hơn: một tờ 1 rupee ông đòi giao tận tay đứa bé. Ông nói gì đó với bà mẹ mà tôi cố hết sức cũng chỉ đoán được là, “Đây là cho cháu bé.” Trong động thái này ông đã chạm vào ngực người phụ nữ trẻ. Ông được thưởng một nụ cười. Xá gì một chạm nhẹ ở ngực nếu nhờ đó bạn được 1 rupee!

Ông tiến hành nhịp bước thắng lợi qua đám đông chen chúc. Dễ dàng theo dấu ông vì chiều cao của ông, mũ cối nhấp nhô trên biển đầu người và ngạc nhiên bất ngờ mà phụ nữ quay xem ai đã đặt tay trái lên mông họ để khen thưởng.

Tôi theo dõi ông suốt chặng đường. Ông rẽ vào tòa nhà Phòng Thương Mại đồ sộ. Nhân viên canh cửa chào ông. Có một hàng dài người đang đợi thang máy. Ông tiến thẳng vào thang máy không ai phản đối. Ông rõ ràng là một sếp lớn.

Vài tuần sau tôi đang đi bộ từ sở về ngang qua tòa nhà Phòng Thương Mại, tôi thấy một xe Mercedes Benz mầu cam đỗ dọc lề đường. Trong xe có hai phụ nữ – một bà thấp mập và tóc xám ngồi thu mình trong một góc ghế sau, người kia là một cô tuổi teen rõ ràng là con gái bà. Tài xế mở cả 2 cửa xe cùng bên.

Nhân viên đặt một cặp táp và một chồng hồ sơ trên ghế trước. Nhân vật của chúng ta ở Đền Lửa bước ra theo sau là hai người trông như phụ tá. Cô gái nhẩy ra khỏi xe, chạy qua vỉa hè và ôm ông kêu to “Bố!”. Cô không thể ngoài 16 tuổi. Và cũng rất đáng yêu. Tóc nâu hạt dẻ xõa trên vai.. Kiểu người ngoài trời, khỏe mạnh. Một dáng hình như vừa thoát ra khỏi bức tường của một đền đài cổ Ấn độ, ngực nở như muốn bật tung khỏi áo blouse, eo nhỏ và mông – lại mông – nẩy nở và khiêu khích như thể thách thức với thế gian và bảo “Tôi cóc thèm quan tâm!”

Thảo nào nhân vật của chúng ta bị ám ảnh bởi ngực và mông. Tiếp cận liên tục những cám dỗ như thế! Ức chế liên tục không được chạm vào chúng!

Chiều tối hôm sau tôi biết được tên ông. Lần này chiếc Mercedes Benz ở đó không có hành khách nữ. Tôi giả vờ chiêm ngưỡng chiếc xe và làm như tình cờ hỏi tài xế nó thuộc về ai.

“Burra Sahib.”

“Burra Sahib nào?”

“Lalkaka Sahib, chứ còn ai nữa!” hắn trả lời cụt ngủn.

Có 14 Lalkaka trong niên giám điện thoại Bombay. Tất cả tên danh sách người Parsis từ trên xuống – Cyrus, Darius, Framroze, Jal, Jehangir, Nausheer.

Rồi tới vần P có 2:.Một cùng với địa chỉ ‘Tòa nhà Phòng Thương Mại’, và P kia đi kèm với ‘Gia cư: Biệt phủ Lalkaka, Đồi Malabar’. Sách điện thoại của tôi ghi tên người Parsi vần P chỉ có một, Phiroze. Sáng sau lúc 11 giờ khi rất họa hiếm có người trong gia đình ở nhà, tôi gọi số điện thoại. Một gia nhân bắt điện thoại. “Phiroze Lalkaka Sahib hai?” tôi hỏi.

Gia nhân trả lời giọng tiếng Anh bang Goa. “Đây không phải Phiroze Lalkaka. Mà là nhà của Pesi Lalkaka. Ông đi làm rồi.”

“Cô Lalkaka có nhà?”

“Cô Baba cũng đã đi học. Bà Sahib ra ngoài. Không ai có nhà. Ai gọi?”

Tôi chưa hề nghĩ đến câu trả lời cho câu hỏi này. Bị thôi thúc bất ngờ lúc đó tôi liền bảo người làm ghi tên tôi xuống. Tôi chậm rãi đánh vần cho hắn “Ông Véo Mông.”

“Số điện thoại?”

“Ông ấy biết số của tôi.”

Hôm sau Pesi Lalkaka không có mặt ở Đền Lửa. Cả tuần sau cũng không. Ăn mày tụ tập đúng giờ thường lệ và giải tán tay không. Tôi tiếc cho họ. Tôi cũng ân hận cho người đàn ông tử tế mà ham thích giải trí vô hại của ông đã bị tôi cắt đứt. Tôi đã là một kẻ phá bĩnh.

Tôi thắc mắc không biết Pesi Lalkaka đã phản ứng thế nào với thông tin điện thoại của tôi. Có thể vợ hoặc con gái đã nhận tin trước. “Cái tên kỳ quặc làm sao! Véo Mông! Ông ta là ai, bố?” Pesi Lalkaka hẳn phải xanh mặt và lắp bắp, “Bố không biết.” Họ có thể đã hỏi người làm. “Ông ta nói Sahib biết số điện thoại.” Họ có thể đã kiểm tra danh bạ điện thoại. Không có ngay cả một tên Mông hay Véo trong điện thoại Bombay. Họ hẳn đã phải bỏ qua chuyện này. “Ai đó đang muốn đùa giỡn.” Nhưng tội nghiệp Pesi Lalkaka! Ông hẳn đã phải chịu buồn khổ biết bao, thấy rằng mình đã bị phát hiện!.

Hai tuần sau Pesi Lalkaka trở lại Đền Lửa Dadyseth. Ông trông không thoải mái. Ông bỏ tiền vào tay một vài ăn mày bám sát ông. Ông nhìn quanh xem có thể nhận ra ai đó không. Rồi tiến về hướng sở làm. Tôi theo sau ông. Ông tiếp tục cho tiền bằng tay phải. Nhưng lần này tay trái ém chặt trong túi áo choàng..

Mỗi lần đi ngang một phụ nữ ông quay lại ngó xem mình có bị theo dõi. Tội nghiệp, tội nghiệp Pesi Lalkaka!

Ông bắt đầu lại cái thói quen cầu nguyện vào giờ bữa trưa, tiếp theo là bố thí trên đường trở lại sở. Nhưng bây giờ tay trái ông luôn luôn trong túi áo choàng.

Và mỗi lần ông đi ngang qua một phụ nữ ông quay nhìn qua vai giống như người bị ma đuổi. Cứ như vậy một thời gian. Pesi Lalkaka hình như đã thắng được cái ám ảnh. Ông đang trở nên bình thường, nhàm chán.

Không phải vậy. Có vẻ như là Pesi Lalkaka đã tự trấn an rằng người có lần đã bắt gặp ông quả tang đã biến mất khỏi hiện truờng.

Một buổi chiều ông đang len lỏi tìm đường qua vỉa hè đông đúc có tôi theo sau cách vài thước. Tôi thấy có 3 phụ nữ phía trước chúng tôi đang xem xét một món hàng trên sạp. Mông họ phơi bầy khác biệt về kích cỡ cũng như vải che, trông thật cám dỗ. Một cô gái trẻ mặc jeans xanh bó sát da; mông giống như 2 quả dưa hấu tròn trịa chưa chín. Cạnh cô là một bà già hơn mặc sari đỏ tươi. Bà đồ sộ như một quả bí đỏ lớn. người thứ ba trong hàng là một Lolita 12 tuổi mặc một váy trắng mini ngắn đến độ khi cúi xuống cô để hở đùi cũng như chút mông. Tôi có thể thấy cánh tay trái của Pesi Lalkaka co giật. Bộ ba cặp mông chổng lên như thế chứng tỏ một cám dỗ mãnh liệt không cưỡng lại được. Tay ông ra khỏi túi và vuốt nhanh liên tiếp cả ba cặp mông. Tới lúc mấy phụ nữ thẳng người lên và quay nhìn quanh thì Pesi đã đi lên phía trước và tôi ở liền ngay sau ba người. Bà có tuổi giận dữ và chửi thề, “Badmash – đồ khốn nạn.” Người đồng hành trẻ hơn rít lên. “Mẹ, đừng làm ầm ĩ.” Tôi thoát nạn trong gang tấc. 

Tôi quyết định dạy cho Pesi Lalkaka một bài học. Ngay vừa tới sở tôi liền điện thoại nhà ông. Cũng chính cái giọng cũ bên đầu kia. “Sahib đi làm. Bà Sahib đang nghỉ. Cô Baba đi học. Ai đang gọi?”

“Ông Véo Mông.”

“Làm ơn cho số điện thoại!”

“Bảo ông chiều tôi sẽ gọi lại.”

Làm vậy để ông ta sửa chữa! Và đúng thật.

Pesi Lalkaka không có mặt ở Đền Lửa trong nhiều ngày. Sau cùng khi ông xuất hiện tay trái ông địu trong một dải băng. Ông trông nhợt nhạt hơn trước. 

Tôi chắc rằng ông đã tự mình cương quyết cắt đứt. Tội nghiệp Pesi Lalkaka!

Ăn mày ân cần săn hỏi. Ông chỉ lắc lắc đầu. Như thường lệ tôi theo ông suốt dải đường đông đúc. Mấy ngày nay hình như ông đã trở nên lom khom. Ông bước đi khó nhọc không quay ngó lại. Bất cứ khi nào ông gặp một phụ nữ đang nhìn đi hướng khác ông lại chậm bước. Ông nghiêng đầu, thoáng nhìn tiếc nuối mông nàng và tiếp tục đi tới. Lần này tôi cảm thấy thật ân hận cho ông. Mà tôi có nên vậy không? Tại sao ông đã không dùng tay phải để làm cái việc mà tay trái không thể? Tôi đã đọc ý kiến của nhà xã hội học cho rằng dân Ấn chỉ dùng tay trái để sờ soạng hạ bộ phụ nữ, không bao giờ tay phải vì dùng để bốc ăn và họ không muốn nó bị ô nhiễm. Tôi tự hỏi không biết có phải điều này đã ngăn cấm Pesi Lalkaka. Và tò mò đã thắng thế.

Chiều tối tôi gọi ông. Cũng vẫn gia nhân đó bên kia đầu giây.

“Hullo! Ai đang gọi?”

“Bác sĩ. Tôi muốn nói chuyện với Sahib.”

Vài giây sau một giọng nói xác nhận: “Pesi Lalkaka đang bên đây.”

“Tay trái ông thế nào, ông già?”

“Ai đó?” ông hỏi giọng ngập ngừng.

“Đừng bận tâm. Hãy thử dùng tay phải. Vui hơn.” Và tôi dập máy.

Tôi không còn thấy Pesi Lalkaka ở Đền Lửa Dadyseth trong nhiều tuần. Có lẽ ông đã thay đổi địa điểm cầu nguyện giờ ăn trưa. Có lẽ ông đã tìm được một lộ trình khác không có ai theo dõi đằng sau. Tôi cảm thấy cá nhân mình bị xúc phạm. Tôi sẽ không để cho ông hạ cánh an toàn.

Mấy ngày tiếp theo tôi tản bộ sau bữa trưa chung quanh tòa nhà Phòng Thương Mại.. Tôi thấy Pesi Lalkaka trở lại sở bằng những lộ trình khác.nhau. Tôi thử điện thoại ông tại sở ông. Ông không bao giờ chính mình bắt máy, còn tôi từ chối liên lạc qua thư ký của ông. Tôi thử ở nhà. Đây cũng vậy, chính người làm, vợ hoặc con gái bắt máy.. Mỗi lần họ hỏi tôi là ai, tôi đáp sẽ gọi lại sau. Tôi không hề nghĩ rằng lão già này có thể đã yêu cầu Điện Thoại Bombay kiểm tra những cú gọi tới nhà ông. 

Rồi tới ngày lễ Tân Niên Parsi, Navroz. Đây là ngày lễ riêng của người Parsi. Tôi có cảm giác Pesi Lalkaka sẽ đến viếng nơi lui tới cũ, Đền Lửa Dadyseth, vào giờ thường lệ để bố thí cho ăn mày đang trông đợi. Tôi như thường lệ cũng ở sạp sách gần đó, liếc qua các trang của một tạp chí nhưng một mắt ngó cổng đền. Đứng cạnh tôi một người cũng đang lật qua những trang tạp chí. Một mắt y ngó tôi.

Một đám thật đông ăn mày ở ngoài đền.. Quý ông Parsi mặc y phục cổ truyền, quần và sơmi hồ cứng và mũ cap muslin trắng tinh. Quý phu nhân mặc sari kiểu Parsi, phủ thẳng trên vai. Cạnh lối đi ở cửa người bán vật liệu bằng gỗ đàn hương phát đạt bán hàng cho khách tấp nập.

Linh cảm của tôi đúng; Pesi Lalkaka có ở đó. Lần này đi kèm có vợ và con gái. Ông trông khác hẳn trong bộ đồ toàn trắng. Cánh tay ông không còn địu trong dải băng, nhưng cả 2 cánh tay đều vướng bận. Tay phải đặt trên vai vợ; và tay trái con gái cầm để giúp ông xuống các bực thềm của đền. Vào dịp lễ Navroz thì chính bà Lalkaka thò vào túi xách của mình để phát chẩn tiền xu cho ăn mày. Nhiều người phàn nàn đã không thấy Sahib một thời gian dài và hỏi thăm sức khỏe ông.

Bộ ba quay lưng lại tôi để đi về hướng sở ông. Lúc đó tôi mới chú ý cô Baba đang mặc váy mini xếp pli. Đùi to. Đằng sau đẹp cách gì! Mông cô đong đưa như thể đang giữ nhịp điệu tango. Tôi vứt xuống tờ tạp chí đang cầm và đi theo họ. 

Đi bộ 3 người cạnh nhau giữa vỉa hè đông đúc là một việc làm chậm chạp.Tôi bước sát sau cô Baba, mắt dán váo mông đít cô và tai tôi vang vọng âm nhạc sảng khoái. Lúc tới chỗ các con đường rẽ lối tôi ở trạng thái phấn khích cao độ. Khi nào tôi lại được cái cơ hội như thế này! Ham muốn vuốt ve đã thắng sự cẩn trọng. Tôi bước nhanh, tiến lên ngang cô Baba và để tay phải của mình vuốt trìu mến cái đằng sau mềm mại của cô. Một giọng nói sau tôi kêu lên “Ông Véo Mông!” Tôi quay sau. Chính là cái người tôi đã thấy đứng cạnh tôi ở sạp sách. Y nắm cánh tay tôi. “Đi với tôi đến trạm cảnh sát. Xin theo chúng tôi,” y nói với gia đình Lalkaka. . 

Nếu tôi phản đối đám đông sẽ chỉ làm khó cho tôi hơn. Nhưng tôi không thể không kêu lên mình vô tội, hỏi người bắt tôi đây là chuyện gì. “Ông sẽ được biết. Tôi đã giám sát ông mấy ngày nay” y nói. Tôi đi như con cừu non trong ngụ ngôn đang bị đưa đến lò sát sinh.

Tôi thật ngu ngốc làm sao! Thiên hạ sẽ nói sao khi đọc chuyện này trên báo? “Ai có thể ngờ được y lại như vậy? Đồ già dịch… Chuyện này thường xẩy ra với người cuối tuổi trung niên,” v.v… Tôi sẽ bị đuổi việc, loại khỏi mọi cộng đồng và đuổi ra khỏi câu lạc bộ. Tôi sẽ không bao giờ nhìn mặt mọi người. Tôi có nên tự tử không? Hay là chỉ biến mất khỏi Bombay, khấn nguyện làm một Khất sĩ và qua những ngày còn lại trong môt đạo tràng ở Hy Mã Lạp Sơn?

Tại trạm cảnh sát tôi được cho vài phút để trấn tĩnh. Thanh tra phụ mở quyển sổ mầu vàng lớn để ghi lời khai. Tôi nói, “Tôi không có gì để khai. Tôi không biết đây là về chuyện gì. Anh đã phạm một sai lầm lớn.” Lời tôi nói không gây ấn tượng nào với y. “Không sai lầm đâu, thưa ông! Chúng tôi đã kiểm tra các cuộc gọi của ông và chuyện ông làm chính 2 mắt tôi mục kích. Ông tốt hơn nên khai thật.”

Tôi từ chối khai thật. Tôi từ chối nói với anh chàng. Y nói, “Nếu ông muốn tham vấn luật sư ông có thể cho mời một vị. Nếu không tôi sẽ đưa ông ra trước một quan tòa.”

“Tôi không muốn gặp bất cứ luật sư nào về bất cứ chuyện gì,” tôi đáp. “Nhưng tôi muốn gặp ông Lalkaka.”

Aha! vậy là ông thừa nhận biết ông ta!” y kêu lên, tự lấy làm thích chí. Y ghi điều này vào sổ.

Tôi đã tròng thòng lọng vào cổ mình.

“Có lẽ ông cũng muốn gặp cô Lalkaka nữa?” viên thanh tra phụ nói với vẻ nhạo báng ranh mãnh. “Cô sẽ là nhân chứng cụ thể cho loại chuyện ông làm.”

Thế là quá xá đối với tôi. Tôi mất bình tĩnh và vặn lại “Bộ cô có mắt đằng sau đầu hay sao mà cô thấy người vỗ mông cô?”

Aha! Vậy là ông thừa nhận quả có người vỗ mông cô.” Y đáp lại đắc thắng. Và viết điều này xuống trong sổ. Tôi lại thắt thêm một thòng lọng khác vào cổ. Tôi cố tự giải thoát.

“Không, tôi không muốn gặp cô Lalkaka. Tôi muốn gặp bố cô.”

“Tại sao? Ông ta không dính líu gì tới trường hợp này.”

“Nếu ông ta đã tố cáo tôi sách nhiễu ông, tôi muốn đối chứng ông. Ông ấy đã phạm một lỗi lầm ghê gớm.”

“Chúng ta hãy để ông Lalkaka ra khỏi chuyện này. Ông ấy là một công dân đáng kính.”

“Tôi cũng vậy,” Tôi bướng bỉnh nói. “Tôi mọi thứ đều đáng kính như ông ấy.”

Chúng tôi ngồi nhìn trừng nhau. Nếu tiếng tăm của tôi bị xuống bùn lầy, tôi nhất quyết phải kéo theo Pesi Lalkaka xuống với tôi. Một lúc sau thanh tra phụ nhượng bộ. Y nhấn chuông trên bàn. Một cảnh sát bước vào. “Mời Sahib vào đây.”

Lát sau viên cảnh sát trở lại và thì thầm gì đó vào tai thanh tra phụ. Rồi cả hai rời phòng khai báo. Tôi có thể nghe tiếng của thanh tra phụ và Pesi Lalkaka, nhưng chỉ có thể tóm được vài chữ rời rạc như “thú nhận…trường hợp ăn chắc…không thể cho qua…” Rồi im lặng một hồi lâu. Sau cùng thanh tra phụ trở vào và ngồi xuống ghế. Đôi mắt nhìn tôi chằm chằm. “Lần này tôi sẽ bỏ qua cho ông với một cảnh cáo. Nếu tôi bắt gặp ông lại làm điều gì quấy hoặc sách nhiễu người đáng kính, ông sẽ phải đi tù. Giờ ông có thể ra về.”

Tôi không muốn kéo dài cái đau khổ bằng phản đối mình vô tội. Tôi lặng lẽ đứng lên và rời phòng.

Chiếc Mercedes Benz mầu cam đậu bên ngoài trạm cảnh sát. Khi đi qua nó tôi quay mặt sang hướng khác. Tôi nghe có tiếng gọi “Ông ơi! Ông ơi!” Chính là Pesi Lalkaka. Một Pesi trông rất buồn. “Ông ơi,” ông ta khẩn khoản, “tôi có thể cho ông quá giang đến bất cứ đâu?”

Phạm đức Thân dịch từ bản Anh ngữ “The Bottom-Pincher”