Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label CanhSatDaChienVNCH. Show all posts
Showing posts with label CanhSatDaChienVNCH. Show all posts

Monday, 3 July 2017

MỘT THỜI LON LÁ VNCH TÁI XUẤT GIANG HỒ HẢI NGỌAI./-TCL

Về Vụ ô Trang Sĩ Tấn với Y Phục Không Giống Ai
Một Đề Nghị với Các cựu Quân Nhân
 
Đây là chuỗi 4 mails về việc Tướng CS Trang Sĩ Tấn với y phục “lố lăng” mới được “hâm nóng” trở lại. Có lẽ lý do là ô Tôn Thất Sơn, tháng 6/2017,  đăng một bức hình rồi mỉa mai “ Đề đốc Trần Văn Chơn ngủ gục và ô Trang Sĩ Tấn (?) đội mũ trong buổi lễ”. Một người lính “mắng” ô Sơn vì hình đó, Đề Đốc Trần Văn Chơn không có ngủ gục. Tôi đã xem và đúng như thế. Nhìn kỹ thì mắt bên tay phải ô Chơn đang mở. Sau nữa, trong một buổi lễ, cá nhân tôi đôi khi nhắm mắt vài giây vì tuổi già mắt mau mỏi. Một kẻ xấu có thể chớp moment đó rồi bôi nhọ là RẤT SAI. Hy vọng ô Tôn Thất Sơn nên tránh bươi móc những việc không đáng. Nhất là bươi móc các hành vi xấu của cấp lãnh đạo ( quân nhân, hành pháp) của hai nền Cộng Hòa: LÀ KHÔNG NÊN.  Không nên nhân danh sự thật để bươi móc dĩ vãng như thế. Điều quan trọng hôm nay là xây dựng cộng đồng hải ngoại vững mạnh, song song là tìm hiểu và yểm trợ nhà tranh đấu nào trong nước mà mình tin tưởng.
Về những hình ảnh “xấu xí” của ô Tướng Cảnh Sát Trang Sĩ Tấn:  ô Tấn nên xin lỗi cộng đồng và vụ này nên khép lại.
Những người còn lại lưu ý:
1-Thời buổi net, rất khó gian dối. Vì thế cần Thật. Nhất là vài người cựu quân nhân đã bôi nhọ hàng ngũ chung vì : 1) Giả mạo cấp bực. 2) Giả mạo chức tước. 3) Giả mạo trường được học tu nghiệp ở Hoa Kỳ. 4) Giả mạo huy chương mà mình không có. Giả mạo trường trung học danh tiếng trước 75 mà mình không hề là học sinh…
2-Khi bị phanh phui vì chót lỡ (xạo, nổ)  cách đây nhiều năm: nên can đảm xin lỗi. Vấn đề sẽ được khép lại thay vì dây dưa.
Hoàng Ngọc An
7/2017
**************************
4- From: Toan Nguyen <anhtoan2006@
Date: 2017-07-03 4:27 GMT+02:00
Subject: Re: Những kẻ mặt chai trơ trẽn!
To: Doan Huu Dinh <
dhdinh@gmail.com>
Thân gởi Anh Định ;
Tôi thật xấu hổ và khổ tâm, khi thiên hạ hỏi Tôi : " Ông có biết Ông Tướng Cảnh sát, tên TST " không ?? . ôi là người Cảnh sát thuần túy, đã phục vụ trong ngành CSQG được 18 năm !! qua hai Chế Độ Đệ nhất và Đệ nhị Việt nam Cộng hòa . Chứng nhân của nhiều " Cuộc đổi đời " thay đổi trong ngành CSQG . Về Tổ chức cũng như Nhân sự, Ngành CSQG, chúng tôi đã phải tiếp nhận một số lớn chuyển ngành và Đồng Hóa, gồm có các Cấp Điều khiển, cấp điều hành, ( Cấp chỉ huy và Nhân viên ) tuy nhiên HỌ chẳng có chút khả năng chuyên môn của ngành CSQG !!   Chẳng hiểu vì nhu cầu gì ( Cái dù che cái cán ) nên Ngành CSQG chúng tôi, đã có một người Thẩm phán, được Đồng hóa với NGẠCH CAO CẤP ( ngang hàng cấp Đại tá ) cho đến khi có Qui chế chuyển cấp ( Mang cấp bậc Quân-Đội ) đến ngày Cảnh lực 1 tháng 6 , Chính phủ đã chấp thuận cho các cấp Chỉ huy các Bộ chỉ huy cấp Đô thành và Quân khu được thăng cấp . Do đó Ông TST, từ Anh DÂN CHÍNH , trở thành " CHUẨN TƯƠNG "  Bàn Dân thiên hạ, quên miệng gọi là :  ( Ông Tướng Cảnh Sát ) !!! .        Đã có lần Tôi thấy trên Diễn đàn Mạng, họ biếm nhẽ về tác phong và cách mặc Quân phục , mang Huy chương Lố lăng , vay mượn, kể cả : " Quân đội Nhà Đòn " Thiên hạ nói rằng : Ông này là Tướng Cảnh Sát !!. Vì danh dự của Ngành
CSQG, Tôi liền phản hồi và xác nhận như sau : Xin Quí vị đừng gọi là Tướng Cảnh sát , vì Chúng Tôi xem Ông này chỉ là :"  KẺ LỘN SÒNG " làm giảm uy tin và Danh dự CSQG/VNCH .
3-Doan Huu Dinh <dhdinh@>:
Mất nước là mất tất cả.  Chỉ còn thứ mặt chai trơ trẽn múa tuồng!
ĐHĐinh 
2) Tôn Thất Sơn
Thưa Quý Vị,
Lượm được '' bản tin '' này, chuyển tiếp để cùng học hỏi. Chúng tôi không bôi
nhọ hay chơi xấu ai. Chỉ trình bày '' sự kiện có thật. Vài suy nghĩ :
-Có nên mang dây biểu chương/huy chương mà mình không hề có từ thời
VNCH trước tháng Tư Đen 1975 !
-Ông '' tướng '' Cảnh Sát VNCH đồng hóa có ngang vai vế với Tướng VNCH
từng xông pha trận mạc vào sinh ra tử, trong khi Quý Vị Cảnh Sát không bao
giờ đối diện với VC ??? 
-Xin các anh tướng-tự-biên-tự-diễn ở bên dưới đây đừng làm nhục Tướng 
Lãnh VNCH nơi xứ người !!!
-Ăn mặc quân phục tự-biên-tự-diễn có làm cho mình oai phong hơn lên hay
là chỉ làm trò cười cho người ngoài và kể luôn cả VC ?!?! 
Xin mời kéo con chuột xuống bên dưới .
Tôn-thất Sơn
1-On Wednesday, June 28, 2017 4:52 AM, Lính VNCH <> wrote:
Những kẻ mặt chai mặt trơ trẽn!
 
.
 
Hình này không cần che mặt. Vì mặt anh này dày lắm
 
 
 
Nhớ lại ngày xưa lịch lãm và tư cách!
 
https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif

HẾT

Tuesday, 5 February 2013


Lời đầu năm của người vợ tù chính trị
     
Lê thị Xuân
(Cựu nữ Thiếu Úy CSQG)
 
Thế là đã 20 năm xa quê, tôi vẫn khắc khoải thương nhớ quê hương, nơi mà mỗi góc phố, mỗi con đường còn ghi đậm trong tim tôi..
          Cũng như anh, người bạn đường của tôi, mỗi mùa xuân tới, là một háo hức được về thăm quê Mẹ, nhưng cũng mỗi mùa xuân tới, vẫn còn lưu lạc nơi đất khách, chúng tôi lại se sắc niềm đau vì lại thêm một lần thất hứa và lại thêm một lần hứa sẽ trở vế.
            Dù “tuổi già giọt lệ như sương”, trong khóe mắt cay cay nỗi ngậm ngùi. Tôi chia với anh “nỗi đau chưa được về như đã 19 lần hứa sẽ về:
 
                                              Nỗi Buồn
Hai mươi mùa xuân nơi xứ lạ,                                  
                             Hai mươi lần. con hẹn sẽ về,
                             Con Vẫn còn nguyên bao ước nguyện
                             Vẫn còn nguyên vẹn khối tình quê
 
                   Nhớ buổi ôm hờn xa đất Mẹ
                    Trời mây trắng xóa một màu tang.
                    Lệ con chảy ngược vào tim máu
                    Xương óc con ghi lẽ bẽ bàng.
 
Mười chín năm dài nghe Mẹ gọi
Khắc khoải căm hờn ngập núi sông.
Đất khách bồi thương nhớ Mẹ
Ray rứt niềm đau, xé cõi lòng.
 
                    Tiếng Mẹ vực con đứng thẳng người
                    Giúp con tiếp bước với cha ông
                    Hồn thiêng quyện mãi vào hơi thở
                    Con quyết trở về với Quê hương.
 
Con nhớ nỗi buồn nơi mắt Mẹ
Mẹ ơi, con Mẹ tóc ngã màu
Sương gió làm con thêm nhớ Mẹ
Xa Mẹ, đau hoài một  nỗi đau
 
                                          (Tống phước Hiến – Nỗi buồn nhớ Mẹ)
 
       
Tôi, người chị cả trong gia đình có 8 người em, bố là Hạ sĩ quan Nhảy dù, mẹ tảo tần. Như những gia đình khác, cuộc sống bình thường, chúng tôi cũng được đến trường. Nhưng biến cố Tết Mậu thân, ba tôi phải giải ngũ vì bị thương nặng. Biến cố nầy lôi tôi ra khỏi học đường. Tôi gia nhập vào Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa phục vụ tại “Ban Thăng Thưởng và Thuyên Chuyển” thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa (BTL/CSQG/VNCH). Tuy thế, các em tôi vẫn được tiếp tục đến trường.
Đầu năm 1973, tôi gặp một Sĩ quan mới tốt nghiệp và được BTL/CSQ VNCH chọn về phục vụ tại BT/CSQG. Qua giao thiệp, anh cho biết đã làm đơn xin ra đơn vị. Theo hệ thống hành chánh, đơn của anh nằm trong hồ sơ xin trình ký của tôi. Đơn anh viết”Tình nguyện phục vụ trên toàn lãnh thổ VNCH”, gây trong tôi vài ý nghĩ. Tôi giúp anh ra khỏi BTL/CSQG.Thời gian sau, anh gởi thư cám ơn, nhờ vậy, tôi biết anh phục vụ tại một buôn trên cao nguyên, đó là vùng chướng khí, hầu hết là người Thượng, an ninh khá nguy hiểm. Tuy thế, anh vui lòng và không hối hận. Tin qua thư lại, cuối cùng chúng tôi là của nhau.      
Đám cưới chúng tôi, anh về trước một ngày, hôm sau chúng  tôi hưởng “Tuần trăng mật” nơi anh trú đóng, nhưng không có “tuần trăng mật “ vì đêm ấy, trận đánh diễn ra ngay nơi thị trấn nhỏ bé và heo hút nầy. Sáng sớm hôm sau, tôi gấp rút về lại Sài gòn. Đó là những ngày đầu tháng 12/1974. Từ đó, tôi sống trong lo âu hồi hộp, tin tức loan đi, thất lợi nghiêng về phía chúng ta.
Khoảng đầu tháng 3/1975 lâu lâu lại có dăm ba người tìm tôi với mấy dòng chữ của anh giới thiệu họ là những chiến hữu thuộc cấp, họ cần sự giúp đỡ của tôi. Còn anh, chưa thể về như những người lính nầy. Yêu nhau gần hai năm, đám cưới trong vội vàng, thời gian sống bên nhau được tính bằng phút, bằng giờ, rồi biền biệt xa nhau. Giữa tháng 4/75 anh trở về với vẻ hốc hác phong sương, chiếc chiến y sờn rách bạc màu.
Sáng 30/4/1975, ông Dương văn Minh ra lịnh đầu hàng, tôi khóc cho vận nước. Còn anh bất động đôi mắt đỏ, giọt nước mắt của anh lặng lẻ rơi.
           Sáng ngày phải đi trình diện, anh lấy mấy chiếc áo tôi mua sẳn để đón chào đứa con đầu lòng, chính tay anh thêu tên đứa con yêu sắp chào đời. Anh dặn tôi chuẩn bị cho anh ít vật dụng và khi nghe tiếng súng cướp tù thì đừng kiếm, anh quyết định tham gia vào cuộc kháng chiến mới. Biết tính anh, biết những ước mơ của anh, tôi chấp nhận định mệnh với bao khổ nhục đang chờ. Tiếng súng cướp tù không có, anh và đồng đội của anh sẽ phải gánh chịu những nghiệt ngã.
Đến trại Suối máu được khoảng tuần lễ, bên nữ chúng tôi bị đưa về Thành Ông Năm, Hóc Môn do Đoàn 500 cộng sản quản lý. Trại chia làm hai khu cho nữ Sĩ Quan Cảnh Sát và Quân đội. Chúng tôi bị chia thành nhiều nhóm, tương đương trung đội gọi là B. Chen chúc trong một diện tích quá nhỏ hẹp, phải nằm nghiêng, chẳng có mùng mền nên chúng tôi trở thành những con mồi béo bở, nơi cung cấp máu cho đàn muỗi tham lam, say máu.   
Lúc nầy, tôi đang mang thai vào tháng thứ 7, thai nhi lớn dần cần dinh dưỡng để phát triển. Dinh dưỡng không có, cơ thể tôi mất dần sức đề kháng, Đã thế, môi trường sống lại quá dơ bẩn. Thiếu đói, dơ bẩn , muỗi rệp cùng tấn công, không đủ nhu cầu, con tôi hờn lẫy đạp tứ tung, Đau đớn, đói, muỗi rệp, và thù hận ti tiện từ kẻ thù làm tôi đuối sức.
          Cuối tháng 8/1975, tình trạng sức khỏe của tôi sa sút trầm trọng. Sợ trách nhiệm nếu tôi chết, Ban quản lý trại giam của cộng sản tạm tha với lý do ghi trong giấy: ” có thai sắp đẻ”.
          Gia đình tôi phải dọn đi khỏi thành phố Sài Gòn để chấp hành lệnh “hồi hương lập nghiệp”. Gia đình thím tôi dọn lại về căn nhà nầy, chú tôi còn thất lạc. Quá yếu, tôi đành phải nán lại chờ ngày sinh đẻ. Đầu tháng 9/1975 đau chuyển bụng, tôi đến Bảo sanh viện Từ Dũ. Cháu bé đầu lòng của chúng tôi cất tiếng chào đời. Tủi mừng,hân hoan và oán hận trộn lẫn trong giòng suy nghĩ. Ráng gượng nhìn, biết cháu là gái, hao hao giống bố, rồi tôi bị băng huyết… ngất xỉu. Tỉnh dậy, máu ướt đẫm cả quần áo.Tôi bị đuổi khỏi bảo sanh viện ngay khi bị phát hiện lý lịch, dù trong tình trạng hiểm nghèo. 10 ngày sau, tôi tìm đường về với gia đình.
*
*  *
          Nơi gia đình tôi tá túc là mái lá xơ xác, dấu vết chiến tranh lưu lại, những hố bom, đạn, lựu đạn và mìn. Vì sự sống, người ta phải làm bạn với tử thần.Sức còn yếu, tôi lo cơm nước và chăm sóc các em để ba mẹ tôi có thời gian khai phá thêm đất canh tác. Cứ mỗi lần nghe tiếng nỗ, lòng tôi lại se thắt lo sợ. Tôi không thể làm gì hơn ngoài cầu xin các đấng thần linh che chở.
          Một tháng sau, đang cho con bú; tôi nghe tiếng xuồng máy hướng về phía nhà chúng tôi cư ngụ, rồi tiếng la hét, tiếng chân chạy, nhà tôi bị bao vây. Tiếng lách cách lên đạn, tiếp đến là tiếng quát ra lịnh:
-Chị Lê thị Xuân, chấp hành mệnh lệnh sẽ được khoan hồng.
Chưa kịp kéo vạt áo xuống thì hai mũi súng đen đã áp sát. Tôi ghi vội mấy chữ cho gia đình biết, quơ theo vài vật dụng như tả lót, và ít áo quần. Tay bế con, vai tòn ten bị lát, hai mẹ con tôi đi giữa hàng súng lăm lăm. Chiếc tác ráng xé nước lao đi.
Tôi bị chở đến trại giam Đám Lát. Vì là người đàn bà duy nhất có con dại, nên tôi được nằm dưới nhà bếp. Những người bạn tù cho tôi mượn mấy tấm bao bố đựng gạo, tôi trải thêm cái khăn lông tắm còn đậm mùi mồ hôi của bố cho con nằm.
         Chuyện vệ sinh của tù được giải quyết tại một đìa nước nhỏ. Khi nào thủy triều lên cao mới mong có chút nước từ sông cái tràn vào, vì vậy nước trong đìa là nước tù có nhiều phèn. Như bao nhiêu người tù khác, tôi đói vật vã, đói triền miên, lúc nào cũng thèm ăn, thèm từng hạt cơm rơi, từng chót mẩu khoai hà. Dinh dưỡng không có, môi trường sống dơ bẩn; tâm trạng luôn lo sợ, thương nhớ, và mong ước, tất cả tạo thành áp lực đè lên mạng sống, sức khỏe tôi sa sút theo từng ngày. Nhìn đứa con gái yêu quý, thoi thóp thở. Cháu bị nóng sốt gần như triền miên. Nụ cười trẻ thơ đã mất từ lâu trên môi mắt thơ dại, chỉ có tiếng khóc xé lòng vì đau đớn và đói sữa. Hệ lụy của dói vì thiếu sữa là toàn thân cháu bị những nốt đỏ như muỗi chích. Chiếc mùng lúc mang theo nay đã mục rách, những con muỗi tai ác vào được, hút máu trên những những hình hài èo uột và mong manh. Tôi không phân biệt được là vết muỗi chích hay dấu hiệu của tai ương. Đầu cháu sài lỡ, những nốt đỏ phồng to hơn và khi bị vỡ thì nước nhầy màu hồng nhạt chảy và cứ thế gần như trên thân cháu không còn nơi nào là không ghẻ lỡ. Móng tay móng chân cháu bị thối, và sứt lìa. Tôi chẳng làm gì được cho con ngoài những dòng nước mắt. Nhìn con, nhìn mình, toàn là tủi nhục. Tôi bất lực nhìn tử thần đang tiến sát với con. Dù biết hèn, nhưng phải tìm cách cứu con, tôi chịu nhục, hạ mình xin thuốc cho con. Đáp lại là nụ cười khẩy, ánh mắt thỏa mãn trả thù ti tiện, họ bịt mũi và xua đuổi mẹ con tôi ra xa. Có lẻ giọt lệ đã cạn hẳn, tôi nuốt uất hận và tình người vào sâu trong tiềm thức. Héo hắc, ôm con vào lòng, thương nhớ chồng vô hạn, tôi thầm hứa sẽ không bao giờ xa con. Tôi sẽ vĩnh viễn giả từ cuộc đời nầy với con nếu con tôi không còn đủ sức chống chọi với nghiệt ngã, âu đó cũng là phương cách để chúng tôi được bên nhau. Lưỡi hái tử thần vẫn thường đến thăm, cái chết đối với chúng tôi chỉ còn là vấn đề thời gian.
Bất ngờ, tuần lễ trước ngày cộng sản gọi quốc khánh. Một toán người đi ngang chỗ mẹ con tôi. Mùi hôi từ chúng tôi khiến họ khó chịu. Họ gọi tôi đến hỏi vài câu và mấy hôm sau, mẹ tôi được tha ra khỏi trại giam.
Tôi bồng con khấp khễnh trên con đường khấp khễnh đến tương lai. Một năm qua, kể từ ngày mẹ con tôi bị bắt lại, căn nhà như xiêu vẹo hơn. Ba Mẹ tôi vẫn phơi mình giữa cơn nắng gắt kiếm miếng ăn cho các con. Các em tôi chẳng biết đi đâu. Căn nhà vắng nhưng nồng ấm lạ thường.
Lấy lại được sức khỏe, tôi bế cháu về Sài gòn thăm bà mẹ chồng, và tìm cách bế con thăm chồng. Nhưng, mẹ chồng tôi đã về bên kia cõi sống. Thắp nén nhang, bế con trên tay vái lạy bà nội, nước mắt tôi thấm ướt vai áo con. Cháu bé ngây thơ nhoẽn miệng cười. Trở lại căn nhà ba mẹ tôi ngày xưa, thím tôi cho biết tin về chú,  tôi nhận được mấy lá thư của chồng tôi mà thím nhận được đã khá lâu. Tôi đắn đo rồi viết thư báo anh biết tin buồn, người Me yêu kính của anh đã vĩnh viễn xa anh . Những giọt lệ thấm trên trang giấy.
Sau một năm chắc mót tiện tặn, tôi bế con ra thăm anh với ít quà. Gần một năm, không nhận được thư anh, ruột tôi như lửa đốt, tôi dắt con tìm ra trại cũ. Được biết anh đang bị cùm, kỷ luật,  tôi lại khóc. Thức ăn thăm nuôi tôi nhờ các chị cũng thăm nuôi chồng chuyển lại cho những anh thiếu điều kiện.
Không gặp được chồng, tôi buồn lắm, nhưng tôi không là bất ngờ vi tôi hiểu anh, tôi không phiền trách anh, trái lại lòng tôi có chút ít nhè nhẹ của sự tự hào về tư cách của chồng . Nhìn con ngủ trong vòng tay, lại thêm nhớ thương.
Sau lần bị cùm, anh chuyển trại, và cùng chung trại giam với chú tôi. Chú tôi được tha về năm trước. Chú cho biết những chuyện trong tù và ngầm cho biết chồng tôi là một trong những người khó có ngày về.
*
*   *
Đời tôi, trời dành cho nhiều bất ngờ. Một bưổi chiều, tôi nghe tiếng máy chiếc tàu đò cặp trước bến nhà. Tôi thấy chú tôi lên trước, đưa tay cho một người khác bước lên theo. Ôi, chồng tôi đó! chồng tôi đó sao?.Từ cõi chết, chồng tôi đã trở về!? Tôi chẳng còn thấy gì nữa. Không gian vần vũ rồi bất động. Không gian bất động hay chính tôi  bất động?. Tôi muốn chạy đến ôm người chồng còm cõi, nhưng chân tay tôi không nhấc lên được. May quá cảm xúc điếng người ấy thoáng qua khi anh ôm lấy người tôi. Tôi nhìn anh, mắt anh vẫn khô ráo, nhưng dường như có một ngấn lệ lạc loài trong tận cùng của hốc mắt.
Ngày bố đi tù ,con còn trong bụng mẹ. Ngày bố về con đã lên tám. Cháu đã chịu ngồi trên chân bố. Nhìn hai cha con, tôi thấy bóng dáng hạnh phúc đang trở về.
Công an xã cho biết, chồng tôi phải lập sỗ trình diện và phải trình diện công an xã mỗi buổi sáng. Không được ra khỏi xã nếu không có giấy phép. Bất cứ lúc nào cũng phải có mặt nếu có lịnh gọi. Mỗi năm phải đóng 26 ngày công lao động xã hội chủ nghĩa, và phải tự túc mọi thứ từ cơm ăn thức uống thuốc men và cả dụng cụ lao động.
Ban ngày anh đi làm mướn, tối lén ra chợ Sa Đéc làm phu khuân vác. Sức khỏe của anh vơi dần theo tỷ lệ ngược với đồng tiền kiếm được, cuối cùng anh gục ngã vì bạo bịnh. Phổi bị khô nước, tim bị lệch, sạn thận, bao tử, sán lải ùa vào tấn công anh. Không còn tiền, tôi đành đau đớn nhìn anh và chờ đợi tai họa xảy đến. Nhưng lại thêm một bất ngờ, Người chị cả của anh thất lạc từ ngày anh lọt lòng mẹ. Biền biệt không tin tức. Trước đây anh có kể về chị, và anh có gặp được chị một lần khi lén công an xã ngược xuôi chèo mướn. Anh hẹn sẽ đem mẹ con tôi về thăm chị. Rồi anh bị bịnh, lời hứa kia chẳng làm sao thực hiện. Chờ lâu quá, chị tìm thăm chúng tôi. Gặp nhau trong cảnh ngộ có bóng tử thần lấp ló. Chị bao ghe và chở anh về nhà chị chạy chữa. Nhờ tận lực, chị đã giành được mạng sống của anh.
Đây là lần thứ hai, anh đứng dậy, xoay lưng với tử thần. Gia đình chúng tôi lấy lại sinh khí, tôi sinh cháu bé thứ hai và cũng là cuối cùng. Anh hết chèo ghe mướn, hết làm thuê, qua làm nghề thú y, chích dạo, làm thủ kho lò đường. Còn tôi, từ sạp bán đồ tạp hóa, thành cửa hàng bán vải, thuốc tây, dụng cụ học sinh, rồi nơi cung cấp hàng may sẳn. Đời sống sáng dần, chúng tôi trả lại nụ cười cho các con. Nhưng không may lại đến. Chính quyền xã không cho phép chồng tôi dạy Anh ngữ, tiệm thuốc tây phải dẹp, cửa hàng vải và may mặc bị trưng thu vào hợp tác xã. Họ buộc chồng tôi phải nhận những trách vụ họ giao như Kế toán tập đoàn, phó chủ nhiệm Hơp tác xã…, chồng tôi khôn khéo từ chối, không cộng tác. Chúng tôi dự tính về lại Sài gòn thì có tin hồ sơ xin tỵ nạn chính trị đã được chấp thuận và chúng tôi được gọi phỏng vấn.
*
*   *
Bây giờ, đoạn trường cơ cực qua. Ngẫm lại những gì chúng tôi có được là nhờ NGƯỜI và do chính mình.
Chữ Người mà tôi muốn nói là chữ NGƯỜI viết hoa. Những con người đầy ắp tình Người. Những NGƯỜI đã chia nửa trái tim cho những phận người đang bị bàn tay sắt đẩm máu của cộng sản bóp nghẹt. Xin cám tạ những con NGƯỜI cao đẹp nầy. Chúng tôi sẽ học  và theo chân quý vị, Xin được xem đó như là lời cám ơn của chúng tôi với quý vị.
Chữ NGƯỜI nầy cũng xin kính gởi những NGƯỜI lính chiến Quân Lực VNCH, những chiến sĩ CSQG/VNCH, những cán bộ bán võ trang…,đã bỏ cả thời thanh xuân, vào chốn tử sinh để bảo vệ quê hương, an bình cho xã hội, trong đó có chúng tôi. Vào tù, các anh vẫn khẳng khái và khí tiết, chúng tôi được hãnh diện là em của các anh, là vợ của một chiến hữu của các anh trong đại gia đình chiến sĩ Quốc Gia. Hãnh diện không phải vì cái tên trại tù A20 nơi giam nhốt chồng tôi, mà vì trại giam A20, trại trừng giới A20, trại kiên giam A20, thung lung tử thần A20, nơi cộng sản lập ra với mục đích đánh cướp nhân cách, hèn hóa các anh.  Nhưng các anh đã giữ được nhân cách và tiết tháo. Xin nghiêng mình chúc mừng các anh đã chiến thắng! A20 nói riêng và những trại giam tù chính trị, giam những chiến sĩ Quốc Gia, những Sĩ Quan của Quân Lực VNCH và của CSQG…nghĩa là những người đoạt được vinh quang chiến thắng từ  máu lệ lầm than khắc nghiệt. Các anh là những đứa con yêu, những đứa con  hiếu hạnh với Mẹ Việt Nam, người chồng đáng cho chị em chúng tôi khâm phục, là người cha gương mẫu. Các anh đã tuyệt vời trong mọi cảnh ngộ.
Các anh, vốn được đào tạo trong nền giáo dục nghiêng về đạo đức, khí tiết. Cuộc đời của các anh, những chiến binh VNCH đã sống trọn vẹn cho DANH DỰ - TỔ QUỐC – TRÁCH NHIỆM. Những tôn chỉ thiêng liêng đó trở thành tâm điểm, là thước đo giá trị làm người của các anh. Nhờ ý thức về Danh Dự - Tổ Quốc – Trách Nhiệm, các anh đã chiến thắng trên chiến trường và chiến thắng trong ngục tù nghiêt ngã của bạo tàn cộng sản. Hôm nay dù mái tóc trắng màu sương tuyết, các anh vẫn mĩm cười và vẫn cứ như thế hiên ngang đi vào thế trận mới, vẫn quyết tâm tranh đấu cho quê hương, vẫn quyết tâm bảo vệ giống nòi.
Trân trọng kính chào và kính chúc hạnh phúc đến với gia đình các anh chị.
 
        Lê thị Xuân
(Cựu nữ Thiếu Úy CSQG/VNCH)
 

Saturday, 11 August 2012


                          CẢNH SÁT DÃ CHIẾN VNCH.
Lâm Viên 59



Cảnh Sát Dã Chiến (CSDC) là một lực lượng võ trang thuộc Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ngoài việc trang bị vũ khí để tiêu diệt hạ tầng cơ sở Cộng sản, Cảnh Sát Dã Chiến còn được trang bị thêm các dụng cụ cần thiết khác để trấn áp các cuộc bạo động và nhiễu loạn dân sự.
 
 Ðể đạt được kết qủa tốt trong hai nhiệm vụ chính yếu đó, tất cả các sĩ  quan Cảnh Sát Dã Chiến sau khi tốt nghiệp tại Học Viện CSQG, còn được gở theo học trọn khóa huấn luyện sĩ quan tại trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ngoài ra, sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến cũng còn lần lượt được gỡi đi thụ huấn các khóa về trấn áp bạo động, tác chiến rừng rậm, và tình báo tác chiến tại Mã Lai và Phi Luật Tân.
 Ðối với nhân viên Cảnh Sát Dã Chiến, sau khi tốt nghiệp khóa Cảnh SátCăn Bản tại Rạch Dừa, Vũng Tàu còn được huấn luyện thêm về quân sự và chuyên môn Cảnh Sát Dã Chiến tại Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến Ðà Lạt. Ðây là trung tâm huấn luyện lớn nhất, chuyên huấn luyện phần căn bản Cảnh Sát Dã Chiến cho nhân viên cảnh sát sắc phục được chuyển sang
 
 Cảnh Sát Dã Chiến và huấn luyện tập thể cấp trung đội cho tất cả các đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến trên toàn quốc. Cảnh Sát Dã Chiến là thành viên chính yếu trong chiến dịch Phượng Hoàng. Với cấp số lý thuyết là 16,500 quân, Cảnh Sát Dã Chiến được phối trí hoạt động từ thành thị cho tới nông thôn.

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ÐỘNG TẠI TRUNG ƯƠNG

Tại Sài Gòn có Bộ Chỉ Huy Khối Cảnh Sát Dã Chiến trực thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Do nhu cầu cải tổ để phù hợp với tình hình an ninh chung, Khối Cảnh Sát Dã Chiến nhiều lần đã được đổi tên. Năm 1969, KhốiCảnh Sát Dã Chiến được đổi tên là Khối Yểm Trợ Võ Trang. Khối này có trách nhiệm quản trị và điều hành theo hệ thống dọc hai lực lượng dưới
 quyền: lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến, lực lượng Giang Cảng.
Năm 1972, Khối Yễm Trợ Võ Trang một lần nữa được đổi tên thành Khối Ðiều Hành. Lúc nầy Khối Ðiều Hành có 3 lực lượng võ trang dưới quyền, đó là lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến, lực lượng Giang Cảnh và lực lượng Thám Sát tỉnh. Ðến năm 1973, Khối Ðiều Hành được đổi tên thành Khối Hành Quân. Khối Cảnh Sát Dã Chiến nguyên thủy ngoài các phòng chuyên môn còn có Ðại Ðội Tổng Hành Dinh và một Chi Ðội Thiết Giáp gồm 8 chiến xa AM8. Chi Ðội nầy phụ trách an ninh Ngân Hàng Quốc Gia và an ninh vòng đai Bộ Tư Lệnh CSQG. Bên cạnh đó có hai biệt đoàn. Biệt Ðoàn 5 CSDC có 12 đại đội tác chiến, được phối trí hoạt động trong khắp các quận của đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Ðịnh.
Biệt Ðoàn 222 CSDC là biệt đoàn tổng trừ bị của Bộ Tư Lệnh CSQG. Biệt đoàn này sẵn sàng tăng cường yểm trợ hoạt động cho tất cả các Bộ Chỉ Huy CSQG địa phương trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
 
 Tổng số quân số của 2 biệt đoàn này có trên 5,000 người. Những thành tích quan trọng và khó quên được đó là hoạt động của hai biệt đoàn trong trận chiến Tết Mậu Thân năm 1968. Các trận đánh của Biệt Ðoàn 5 tại nhà thờ Cha Tam, nhà thờ Bảy Vàng, bến Phạm Thế Hiển, Ðồng Ông Cộ (Gia Ðịnh). Trận đánh tái chiếm đài phát thanh Sài Gòn do Thiếu Tá N.T.X. (chỉ huy phó Biệt Ðoàn 222) chỉ huy.
 Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, chúng ta cũng thấy các trận đánh dữ dội của Biệt Ðoàn 222 do Thiếu Tá N.V.T. chỉ huy tại Ký Thu Ôn, Quận 8 Sài Gòn. Ngoài ra, Biệt Ðoàn 222 cũng từng được điều động tăng cường yểm trợ để vây bắt đảng cướp “Cua Vàng” tại ranh giới hai tỉnh Kiến Phong và Châu Ðốc.

Hình chụp tại Sài Gòn ngày 29 tháng 4/1975. Những người lính Cảnh Sát Dã Chiến trên đường phố Saigon. Họ vẫn chưa tan hàng, và tiếp tục chống trả mãnh liệt để bảo vệ thủ đô đến giờ phút cuối. (HÌNH ẢNH: sưu tầm)

Biệt Ðoàn 222 cũng từng được tăng phái Bộ Chỉ Huy tỉnh Biên Hòa để bao vây, bắt trọn tổ chức kinh tài của Cộng Sản trong Làng Cô Nhi Long Thành. Với nhiệm vụ truy lùng các tổ chức hạ tầng cơ sở Cộng Sản, Cảnh Sát Dã Chiến đã hành động hết sức chính xác.
 Sau 30 tháng 4 năm 1975, trong lúc chúng tôi bị tập trung vào làng Cô Nhi Long Thành, chúng tôi đã gặp lại một cán bộ Việt Cộng nằm vùng đã từng bị Cảnh Sát Dã Chiến bắt giữ trước đây. Nay anh ta trở lại làng này để tiếp tục kinh tài cho Việt Cộng. Qua việc bán chuối, tương, chao, đậu phọng, cho khoảng 3,000 viên chức các cấp của chính quyền miền Nam đang
 bị tập trung cải tạo tại trại tù này.

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ÐỘNG TẠI ÐỊA PHƯƠNG

Kể từ năm 1968 trở về trước, các tỉnh và thị xã biệt lập có 5 quận hành chánh trở xuống được thành lập một Ðại Ðội Cảnh Sát Dã Chiến với 4 trung đội tác chiến và một Ban Chỉ Huy Ðại Ðội. tỉnh và thị xã biệt lập nào có từ 6 quận trở lên được thành lập 2 đại đội Cảnh Sát Dã Chiến.
 Kể từ năm 1969 trở về sau, do nhu cầu yểm trợ chiến dịch Phượng Hoàng, Cảnh Sát Dã Chiến ở các tỉnh trên toàn quốc được tổ chức lại. Mỗi tỉnh và thị xã biệt lập chỉ còn lại một ban chỉ huy đại đội và một trung đội trừ bị đóng tại hậu cứ đại đội. Tất cả các trung đội được đưa xuống hoạt động ở khắp các quận hành chánh của tỉnh liên hệ. Mỗi quận được bố trí một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến.
 Do đó, một đại đội Cảnh Sát Dã Chiến ở cấp tỉnh được thành lập với nhiều hay ít trung đội là tùy thuộc vào số quận hành chánh của tỉnh địa phương. Thí dụ Ðại Ðội Cảnh Sát Dã Chiến có nhiều Trung đội nhất là Ðại Ðội 102-Cảnh Sát Dã Chiến Thừa Thiên. Ðại Ðội này có đến 13 trung đội, vì tỉnh Thừa Thiên có thêm 3 quận hành chánh của thị xã Huế. Trong khi đó một đại đội ở các biệt đoàn Cảnh Sát Dã Chiến chỉ có 4 trung đội như nhau.
 Những thành quả quan trọng trong nhiệm vụ là tiêu diệt hạ tầng cơ sở Cộng Sản. Cảnh Sát Dã Chiến đã đạt được rất nhiều, tỉnh nào cũng có, quận nào cũng có. Dưới đây là một số kết qủa điển hình mà đến hôm nay chúng tôi vẫn còn nhớ mãi.
 Trong một đêm vào cuối năm 1972, môt tiểu đội của Ðại Ðội 401 CSDC Ðịnh Tường (Mỹ Tho ) tổ chức một cuộc phục kích bên một bờ kênh nhỏ có cầu tre bắt qua. Trong trận này, họ bắn hạ 11 cán binh Việt Cộng, tịch thu được 10 súng AK và một súng nhỏ.
 Ðại Ðội 410 CSDC Phong Dinh (Cần Thơ) trong một lần phục kích đêm tại rạch Bến Bạ, Cần Thơ, đã tiêu diệt một toán Cộng Sản, tịch thu một số vũ khí quan trọng khi đối phương dùng xuồng vận chuyển vũ khí qua sông.
 Tại mặt trận Quảng Trị và Bình Long, Cảnh Sát Dã Chiến cũng làm tròn trọng trách của mình, cũng ở hầm, cũng đánh giặc, cũng gian khổ như các đơn vị khác. Nói tới mặt trận Bình Long (trận chiến tại thị xa An Lộc) thì cũng phải nói tới công của N.V.K.là đại đội đrưởng của Ðại Ðội 302 Cảnh Sát Dã Chiến Bình Long thời đó. Cảnh Sát Dã Chiến cũng tử thủ tai An Lộc.
 Khi được lệnh đến thăm BCH/CSQG Bình Long, tôi và Trung Tá D.T.Y được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB đóng tại Lai Khê giúp đỡ để được đi cùng trực thăng tải thương đến phi trường Xa Cam An Lộc. Chúng tôi đã được Trung tá L.V.T. (chỉ huy trưởng của Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Bình Long) và Thiếu Tá L.V.Ð. (chỉ huy phó) ra đón bằng hai xe Honda 67, vì thành phố đỗ nát không còn nhà cửa, đường sá không còn sử dụng xe Jeep được. Vả lại lúc đó Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Bình Long cũng không còn xe Jeep nào để đi.
 
 Chúng tôi đã có dịp lưu lại một đêm tại bộ chỉ huy này để được chứng kiến những gian khổ của anh em Cảnh Sát Quốc Gia nói chung và của Cảnh Sát Dã Chiến nói riêng. Sau hơn một tháng ở dưới hầm, toàn đơn vị thiếu thốn đủ mọi thứ, từ thức ăn cho đến nước uống và cả sự liên lạc với gia đình cũng bị gián đoạn.
 Vai trò của một sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến hết sức phức tạp, không những phải am tường về luật pháp mà còn phải quán triệt về quân sự. Tiêu diệt cơ sở hạ tầng Cộng Sản thì chỉ cần biết tin tức tình báo từ Cảnh Sát Ðặc Biệt (CSÐB) hoặc các cơ quan bạn để Cảnh Sát Dã Chiến có thể thi hành nhiệm vụ. Còn đối với các cuộc biểu tình và nhiễu loạn dân sự thì Cảnh Sát Dã Chiến phải khéo léo, tế nhị hơn và nhất là phải biết rõ quyền hạn và trách nhiệm của mình.
 Thật vậy, với nhiệm vụ thứ hai này, Cảnh Sát Dã Chiến luôn luôn thi hành đúng mức và đúng luật. Bằng chứng là vào giữa năm 1973, Linh Mục Trần Hữu Thanh từ Sài Gòn ra Quảng Ngãi xúi giục học sinh và dân chúng địa phương biểu tình chống chính quyền. Vì số người xuống đường quá đông nên ngoài Cảnh Sát Dã Chiến ra, vị tỉnh Trưởng còn điều động thêm quân đội địa phương đến hỗ trợ.
Kết quả của cuộc giải tỏa đám biểu tình này là đã làm một học sinh bị trúng đạn ở chân. Cha mẹ của học sinh bị nạn gởi đơn kiện Cảnh Sát Dã Chiến đã bắn vào con họ. Nhưng qua cuộc điều tra mới biết rằng Cảnh Sát Dã Chiến chỉ sử dụng các dụng cụ chuyên môn sẳn có như lăng khiên, đoản côn, lựu đạn khói cay, vòi phun nước.
 Vã lại tầm mức bạo động ở đây luật pháp chưa cho phép Cảnh Sát Dã Chiến phải dùng đến vũ khí. Thêm nữa, giảo nghiệm đầu đạn bắn là đạn của súngColt 45 mà Cảnh Sát Dã Chiến không được trang bị loại súng này. Do đó mà Cảnh Sát Dã Chiến đã thoát khỏi bị qui trách làm sai luật pháp.
 Rất tiếc trách nhiệm của Cảnh Sát Dã Chiến chưa hoàn thành thì tháng 4 năm 1975 lại đến. Những ước vọng cải tổ, sửa đổi để biến lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến trở thành một lực lượng võ trang lớn mạnh nhất trong thời bình đã bị tan vỡ. Cảnh Sát Dã Chiến cũng như các đơn vị khác được lệnh ở đâu trở về đó để tan hàng.
 Thông thường thì ở các trung tâm huấn luyện hay ở bất cứ đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến nào, trước khi được lệnh “tan hàng” đều hô to hai tiếng “cố gắng,” rồi sau đó 5 hay 10 phút đơn vị sẽ được tập họp trở lại để tiếp tục huấn luyện hay được phân chia công tác mới.
 
Thế nhưng lần “tan hàng” này anh em Cảnh Sát Dã Chiến không có hô to hai tiếng “cố gắng” nữa. Các chiến sĩ cảnh phục “hoa màu đất” của Biệt Ðoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến đang đánh nhau với Việt Cộng tại Ký Thu Ôn (Quận 8 Sài Gòn) đã được lệnh trở về hậu cứ biệt đoàn, để rồi tự buông súng trước sân cờ và giải tán từ đó.
 Sau một tháng kể từ ngày thua trận trở về nhà, các sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến cũng cùng số phận với các viên chức khác của chính phủ VNCH, phải trình diện để được đưa vào các trại tù Cộng Sản. Thông báo trên báo chí và đài phát thanh của Cộng Sản, yêu cầu mọi người trình diện “học tập cải tạo” chỉ cần mang theo thực phẩm, quần áo và tiền bạc đủ dùng trong vòng mười ngày hoặc một tháng. Thế rồi qua nhiều năm tháng , thân phận của những người tù trong đó có nhiều chiến sĩ Cảnh Sát Dã Chiến đã bị lưu đày qua biết bao trại tù từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vào Nam.
 Trải qua những năm tháng gian khổ, đói rét, thiếu thốn đủ thứ, và tinh thần luôn luôn bị đe dọa, một số chiến hữu Cảnh Sát Dã Chiến đã ra đi vĩnh viễn, một số may mắn hơn sau khi ra tù đã vượt biên tìm đến bến bờ tự do hiện đang định cư ở nhiều nước trên thế giới, một số đông sau cùng đã được ra đi theo diện H.O. hiện đang cư trú rải rác trên các Tiểu bang của Hoa Kỳ.
 Ngày nay người chiến sĩ Cảnh Sát Dã Chiến sống xa quê hương ít có cơ hội để gặp nhau theo định kỳ hoặc trong các chuyến công tác tại các đơn vị từ Quảng Trị cho tới Cà Mau như ngày nào. Cuộc sống nơi xứ người làm chúng ta không có nhiều thời giờ để liên lạc, trò chuyện, tâm tình khi xa xứ. Những thành qủa đạt được trong quá khứ nay chỉ còn là kỷ niệm. Dù thời gian có lâu bao nhiêu đi chăng nữa cũng không làm phôi phai đi tình nghĩa đồng đội Cảnh Sát Dã Chiến. Chúng ta luôn luôn kính trọng các bậc đàn anh, thương mến đàn em.
 
 “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm” luôn luôn được chúng ta gìn giữ và tôn trọng. Khi không còn ở đơn vị nữa, thì dù ở bất cứ nơi nào, hoàn cảnh nào, người Cảnh Sát Dã Chiến cũng luôn luôn tự hào là không bao giờ để mất đi danh dự cao quý của mình.

*Nguyễn Văn Linh*