CÂU CHUYỆN DI TẢN CỦA THÔNG DỊCH VIÊN NGỌC NHUNG NGUYỄN TẠI HAWAII./-Mt68
Mt68 History
Sunday, 16 March 2025
Thursday, 16 November 2023
KHÔNG PHẢI CHỈ CÓ NGUYỄN ĐI, NGUYỄN LẠI VỀ ĂN "PHÂN" CỘNG./-Mt68
__________________
Bước Đường Tị Nạn Tại Mỹ Vào Năm 1975
Đào Văn - Tác giả Đào Văn, trước năm 1975: làm Phó Ty An Ninh Quân Đội-HN, Nghị Viên Đồng Tỉnh Hậu Nghĩa (70-74 & 74- 78); sau năm 1975: Phụ trách chương trình định cư người tị nạn giáo phận Wichita 1975-1979, công chức Tiểu Bang Kansas 1979 – 2007, có tên trong Ban Biên Tập tạp chí VNTP 1982-2005, phụ trách Bản Tin Yểm Trợ thuộc CT YT.GHCH.VN 1990-1993; thời kỳ LM Ng Đức Việt Châu: làm Chủ Tịch CĐ GSTS VN/HK, kiêm Chủ Tịch Liên Đoàn CGVN-HK nhiệm kỳ 1989-1993. Đây là bài viết đầu tiên của ông để tham gia Viết Về Nước Mỹ. Mong ông tiếp tục viết.
***
Phương án 2 - Cũng đi Úc nhưng bằng 6 thuyền đánh cá lớn của người chú làm LM từ Phan Rí đã di tản vào Vũng Tàu cùng với khoảng 200 dân cư, cho nên người viết hay đi Vũng Tầu thăm nom.
Tối Ngày 21.4.1975 TT Thiệu đọc diễn văn từ chức, ngày hôm sau (22.4.1975) người viết bàn với mẹ 2 cháu (làm việc tại bệnh viện tỉnh), xin BS Giám đốc bệnh viện nghỉ 1 tuần.
Ngày 23.4.1975 người viết đi Vũng Tàu để coi xem việc chuẩn bị thuyền bè để vượt biển còn thiếu những gì. Trên đường về khi gần đến Long Thành thì bị chận đường, nhiều xe bị kẹt tại đây, và có nghe tiếng xúng nổ rải rác từ hướng xa xa. Nằm chờ khoảng hơn nửa giờ, rồi bụng bảo dạ sống chết có số, thế là lái xe dzọt đại.
Khi về đến Biên Hòa, người viết ghé vào cư xá của các cố vấn Mỹ thuộc Quân Đoàn tại ngã 3 vườn Mít, Biên Hòa để hỏi tình hình. Khi vô cư xá thì gặp lại anh bạn cố vấn cũ của ty ANQĐ thời 1968. Anh ta đến Việt
Dò theo theo danh sách 17 điểm hẹn, người viết chọn số 87 Lê Văn Duyệt (cơ sở USOM), phía đối diện là khách sạn Hoàng Gia. Người viết mướn một phòng tại khách sạn này, cả gia đình dọn vào để chờ..."giờ thứ 25".
Vô khách sạn lúc hơn 4 giờ chiều, vì cả ngày chưa ăn gì, nên người viết ra phía ngã 6 đầu đường kiếm đồ ăn lót bụng. Đang đứng chờ mua đồ ăn thì nghe tiếng bom nổ phía trung tâm thành phố, nghĩ bụng chắc là "giờ thứ 25" đã điểm. Về lại khách sạn nghe tiếng nói từ bộ-đàm xe môtô cảnh sát công lộ đang đậu tại sân khách sạn phát ra, nhờ đó người viết biết tình hình toàn thành phố Sài gòn.
Vào lúc 5 giờ 10 phút, thấy một chiếc chinook của KQVN đáp xuống sân ga xe lửa phía đường Lê Lai, phía đối diện cách khách sạn không xa. Người viết trở lại phòng và cả gia đình lên xe phóng đến cổng sắt phía đường Lê Lai. Cửa sắt này khóa nhưng bản lề của cửa sắt vì mục, cánh cổng bị xệ xuống. Người viết kéo mạnh cánh cổng sắt cho rộng thêm, cả gia đình lách vào trong sân ga, chạy thẳng đến đuôi chiếc Chinook đang đậu sẵn. Đến nơi có anh quân nhân đứng chờ phía sau cứ tưởng là người nhà của Đại úy phi công trưởng, kéo gia đình người viết lên, và khoảng 4-5 phút sau, 19 người gia đình Đ/u phi công trưởng mới đến nơi, sau đó máy bay trực chỉ hướng Vũng Tàu.
Tàu Kimbro đậu ngoài khơi Vũng tàu khoảng 2 ngày để vớt các thuyền nhân trên các thuyền đánh cá từ Vũng Tàu và đón thêm người trên hai chiếc xà lan từ Tân Cảng ra. Ngày 4.05.1975 , tầu cập cảng Subic Bay, gia đình người viết lên bờ, vô trong khu tiếp cư tắm rửa, ăn uống, sau đó lên phi cơ quân sự và đến đảo Guam sáng sớm ngày 5.5.1975. Một người cùng lều đến trước ở lại trại chờ người thân đi tầu thủy đến sau, chia sẻ với người viết về sinh hoạt của trại, anh ta cho hay việc xếp hàng làm thủ tục vào đất liền phải mất cả ngày trời. Vì vậy mặc dù mệt mỏi vì thiếu ngủ, người viết và cháu lớn 5 tuổi đến khu vực làm giấy tờ xếp hàng chờ đợi. Số người xếp hàng quá dài nên hai cha con người viết thay nhau một khi cần đi nhà vệ sinh, hoặc cháu bé xếp hàng để người viết đi nhận khẩu phần ăn cho cả gia đình.
Tất cả các người tị nạn đều chờ đợi người bảo trợ từ nhiều tiểu bang gọi đến. Thường thì các gia đình, xứ đạo, hay xí nghiệp hay nông trại nhận một hay hai gia đình, có nơi bảo trợ 500 người như tiểu bang Washington, ai muốn đi đến tiểu bang này thì ghi danh.
Gia đình người viết 4 người được một xứ đạo thuộc thành phố Wichita, tiểu bang Kansas bảo trợ và rời trại Camp Pendleton ngày 23 tháng 6 năm 1975. Khi rời trại phải nộp lại áo ấm nhà binh và nhận lại một áo ấm dân sự.
Trong 3 tháng đầu khi mới đến, người viết được trao cho công việc không tên tại Trung Tâm Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (Perpetual Help Center - PHC), trung tâm tâm này thuôc xứ đạo bảo trợ gia điình người viết. Công việc đa phần là phụ việc cho bà thư ký Trung Tâm từ việc quay roneo các bulletin của một số xứ đạo, và phục vụ các bữa ăn trưa trong chương trình hotmeal cho người già do cơ quan Hồng Thập Tự cung cấp tại 3 trung tâm (ngoài trung tâm PHC còn 2 trung tâm khác). Sau hai tuần người viết lấy bằng lái xe và phía Hồng Thập Tự cho mượn xe để người viết chuyên chở các phẩm vật, tiện lợi cho việc chạy đi chạy lại tại 3 trung tâm và phục vụ bữa ăn trưa cho người già.
Vào cuối tháng 8 năm 1975, hãng MBPXL (mổ bò xẻ thịt) bảo trợ khoảng hơn 30 người toàn là thành phần cựu quân nhân, cư ngụ tại khu chung cư tại trung tâm thành phố, mỗi người một căn riêng. Có khoảng 7- 8 người còn độc thân, và khoảng 20 người đã lập gia đình, nhưng tất cả vợ con đều kẹt lại Việt Nam, một vài người có gia đình thì hãng cho ở nhà loại có nhiều phòng tại khu vực khác. Buổi sáng hãng MBPXL chuyên chở số anh em này đến hãng làm việc, khi tan sở hãng chở về lại chung cư. Đa số làm tạm dịch, quét dọn, xếp thịt vô thùng. Hãng MBPXL không cho các người tị nạn mới đến lên thớt cầm dao xẻ thịt, với lý do người Việt không khoẻ và chiều cao thấp hơn người gốc Mễ và Mỹ. Trong số này người viết gặp lại một vị cựu quận trưởng, trước đây làm việc cùng tỉnh với người viết. Nhờ có nhóm người đến sau này, mà vào ngày cuối tuần người viết thường đến đây họp mặt chuyện trò, ăn uống cho đỡ nhớ Việt Nam.
Cả 3 cơ quan USCC, HIAS và CWS đều yêu cầu hạn chế người tị nạn xin trợ cấp welfare. Vào thời gian này nhiều nhà cho thuê không trang bị đồ dùng cơ bản như bộ bàn ăn, giường nằm. Một số nhà còn thiếu cả bếp, tủ lạnh, và máy lạnh. Riêng máy sưởi thì nhà nào cũng đều có.
Để giải quyết vấn đề thiếu đồ dùng trong nhà, người viết nhờ bà phụ trách phòng tiếp tân và trực điện thoại tại cơ quan, gửi thư đến các xứ đạo trong phạm vi thành phố, nhờ loan tải thông tin trên các bulletin hàng tuần của các nhà thờ Công giáo, để xin các giáo dân nếu ai có bàn ghế, giường, nệm, tủ lạnh, bếp cũ, nồi niêu, chén bát, quần áo ấm mùa đông cho trẻ em và người lớn, bỏ đi không xài thì có thể mang đến cơ quan. Trường hợp không thể chuyên chở đến văn phòng, thì cơ quan sẽ cử người đến nhận, để trao lại cho người tị nạn mới đến.
Như đã viết trên, ngày cuối tuần được nghỉ, người viết thường đến đây ăn nhậu, chuyện trò, trao đổi về cuộc sống khó khăn, chia sẻ những ước nguyện nơi xứ người...Vì mới đến không có phương tiện đi lại, nhóm anh em này đặt ra nhiều câu hỏi nhờ người viết đi tìm hiểu. Chẳng hạn như muốn học Anh ngữ vào ban tối sau giờ làm việc, có nơi nào dạy không - muốn học nghề để tìm việc làm thích hợp thì học ở đâu, trường dạy nghề có tốn tiền hay không - 4 hãng máy bay trả lương cao điều kiện xin vào làm đòi hỏi những gì - ( tại tp Wichita thời gian này có 4 hãng sản xuất máy bay là: Lear Jeat, Cessna, Beech Craft , 3 hãng này sản xuất nguyên chiếc, còn Boeing sản xuất một số bộ phận của một số loại Boeing) và hầu hết nhóm 20 người " độc thân tại chỗ" này đều muốn biết luật lệ của Mỹ về việc đón vợ con qua đoàn tụ.
Người viết hứa sẽ đi tìm hiểu, tuy nhiên người viết cũng chia sẻ ý kiến riêng với số anh em này rằng: vấn đề cấp thiết hiện nay là vận động làm sao để hãng MBPXL cho một số người cầm dao xẻ thịt bò, để có nhiều việc làm cho người đến sau. Trong khi hiện nay các anh đang làm công việc, lương lại thấp hơn người cầm dao và hãng tuyển rất ít người làm việc loại này.
Một khi có nhiều việc làm, lúc đó sẽ lôi kéo được nhiều người về Wichita sinh sống, có số đông dân cư, thì mới hy vọng có nhiều người tiếp tay vào cuộc vận động cho các nguyện vọng đã nêu ra, vì vấn đề xin đoàn tụ thuộc phạm vi trách nhiệm của chính quyền Liên Bang, cư dân của một thành phố, hay một tiểu bang chắc là khó với tới...
Việc xin bảo lãnh vợ con, phía social worker của cơ quan Bác Ái Công Giáo cho hay hiện tại không có luật lệ bảo lãnh áp dụng cho người tị nạn mang qui chế parolee (người tị nạn 1975 đều được cấp thẻ I.94 mang hàng chữ parolee).
Việc học nghề chỉ có lớp ban ngày không có lớp ban tối dạy rất nhiều nghành nghề, người viết trao ra những brochures của trường votech từng ngành học cho anh em để nghiên cứu, và brochures các trạm xe bus, lịch trình, giờ giấc để anh em biết qua.
Một vài người trong nhóm hoài nghi về ý kiến của người viết, cho rằng chỉ là để an ủi... Người viết trả lời rằng, chuyện nghi ngờ là chuyện thường tình, vì sau chiến tranh niềm tin của người Việt đã bị thui chột, không tin vào các lời nói suông, không tin vào các lời hứa hẹn "ba bò chín trâu", và may ra... chỉ tin khi nhìn thấy việc làm thực tế, cụ thể trước mắt mà thôi.
Anh HVH trong nhóm 20 người " độc thân tại chỗ" như đã viết, trước đây từng là quận trưởng một quận cùng tỉnh với người viết lên tiếng giới thiệu việc làm của người viết trước đây tại tỉnh HN với anh em, là một dân cử gốc nhà binh, đã có kinh nghiệm vận động dân chúng trong quá khứ, từ dự án đào kinh tại làng Việt kiều Cao Miên hồi hương tại Củ Chi, đến dự án đưa dân về bên kia sông Vàm Cỏ Đông canh tác tại khu ruộng đất bỏ hoang vì chiến tranh từ năm 1963.
Trước lễ Giáng Sinh 1975 khoảng ít ngày, người viết xin LM Giám Đốc Cơ quan Bác Ái viết thiệp chúc Giáng sinh gửi đến trưởng phòng nhân viên của hãng MBPXL là Mr. Cunningham. Ngoài lời chúc còn gửi lời cảm ơn ban giám đốc đã nhận nhiều người Việt vào làm việc tại hãng. Người viết cầm thiệp chúc đến xin gặp ông Trưởng phòng Nhân viên. Người viết trao thiệp chúc Noel cho nhân viên tại phòng tiếp tân, và nhờ trao cho ông Trưởng phòng và nêu ý kiến muốn xin gặp mặt, sau đó ông ta đồng ý gặp người viết.
Nhân dịp này người viết đề nghị ông ta cho một số người cao, to lên thớt (cầm dao xẻ thịt), nếu không được thì cho họ trở về làm công việc cũ, có thể thì cho họ làm giấy cam kết nếu có tai nạn xảy ra thì sẽ không thưa kiện hãng, vì còn rất nhiều người tị nạn muốn xin làm việc tại hãng này.
Vào ngày cuối tuần sau lễ Giáng Sinh, người viết đến gặp nhóm "độc thân tại chỗ", kể lại câu chuyện đến gặp ông Cunningham cho nhóm anh em này nghe... Sau đó nhân ngày đầu năm, nhóm anh HVH và một vài người khác đến gặp ban giám đốc hãng để xin cho một số người được cầm dao. Ít lâu sau thì hãng chấp thuận cho người tị nạn lên thớt cầm dao, và từ đó hãng nhận thêm nhiều người Việt.
Việc tổ chức Tết Bính Thìn 1976 người viết cũng đem ra thảo luận với anh em nhóm này, và nhờ một số anh em tiếp tay trong việc tổ chức. Một vài người trong nhóm khuyên không nên tổ chức Tết, vì thấy người khác có đầy đủ vợ con đến dự thì sẽ đau khổ thêm...
Người viết lại phải " biện giải " rằng.... trước khi phát động cuộc vận động lớn, hãy thử làm cuộc vận động nhỏ là tổ chức Tết Bính Thìn, qua việc tổ chức Tết đầu tiên tại Wichita, để biết xem liệu người tị nạn Việt Nam có sốt sắng tham gia, và có bao nhiêu người đến chung vui. Người viết phác họa chương trình để mời anh em góp ý kiến và nhờ tiếp tay vào việc tổ chức Tết.
Thành phần tham dự sẽ mời đồng bào và gia đình Mỹ bảo trợ cư ngụ khắp tiểu bang về tham dự với "covered- dish" đủ cho gia đình và người bảo trợ (nhờ bảo trợ lái xe về tham dự).
Về khách mời thì sẽ mời bà Thị Trưởng thành phố, mời người phụ trách chương trình định cư thuộc giáo phân Dodge City, Salina, mục sư phụ trách định cư cơ quan Lutheran Social Services, viên chức sở welfare, viên chức sở Lao Động thành phố, và một số bạn bè bên Red Cross và ký giả bên tờ Wichita Eagle-Beacon tại địa phương.
Về ẩm thực, cơ quan Bác Ái Công Giáo cung cấp gà chiên, bột khoai tây nấu, bia và nước ngọt uống miễn phí. Trường hợp các anh tham dự, vì các anh trong tình trạng độc thân, không cần mang theo gì cả, vì người viết đã nhờ được hơn chục chị em có chồng là người Mỹ sinh sống ở đây đã lâu, sẽ cung cấp thêm thực phẩm dành cho khách mời, và còn phụ người viết trong việc tiếp tân.
Sau ngày Tết Bính Thìn 1976 số người ngỏ ý muốn rời bỏ bảo trợ khá đông và với lý do là người bảo trợ bắt làm việc nhiều, người thì nói việc nông trại không phù hợp, người thì cho hay sống tại tỉnh lẻ, không có người đồng hương buồn quá. Ngoài ra, vào đầu năm 1976, cơ quan USCC trung ương thông báo việc Mỹ nhận định cư người tị nạn đang tạm cư tại các trại tị nạn tại Thái Lan. (4 trại tạm cư tại Mỹ: Camp Pendleton, California,- Eglin Air Force Base, Florida, - Fort Indiantown Gap, Pennsylvania 3 trại này đóng cửa trại ít ngày trước, và ngày 20.12.1975 là ngày chót đóng cửa trại Fort Chaffee, Arkansas.) - Số là, sau khi CSVN tiến chiếm Miền Nam ngày 30.04.1975, phía CSBV đưa quân qua Lào, cùng với lực lượng Pathet Lào lật đổ chính quyền Hoàng Gia Lào. Cho nên một số người bỏ chạy sang Thái Lan, ngoài số người Lào, còn có số người Hmong, dưới trướng của Tướng Vang Pao và một số người Việt sống tại Lào cùng với một số người Việt tại Việt Nam vượt biên sau ngày 30.4.1975 tạm trú tại Thái Lan cũng được nhận cho định cư tại Mỹ.
Một số anh em trong nhóm 20 người nhờ người viết tiếp tay trong việc tìm kiếm nhà ở và đồ dùng cần thiết cho bạn bè tại các tiểu bang khác muốn về Wichita cư ngụ, việc làm thì phía hãng MBPXL hứa nhận cho họ vô làm việc tại hãng này. Người viết đồng ý tiếp tay tìm kiêm nhà cửa giúp cho bạn bè người thân quen của nhóm này, kể cả việc ra phi trường đón rước.
Gần đến ngày 30.4.1976, kỷ niệm một năm ngày bỏ nước ra đi, nhất là để dễ dàng tìm kiếm việc làm cho người tj nạn tại hãng xưởng trong thành phố , người viết đến gặp phóng viên Barnett báo Wichita Eagle-Beacon ( đã giúp viết bài về Tết, kèm phía dưới), nhờ anh Barnett đến phỏng vấn trưởng phòng nhân viên hãng MBPXL và phổ biến trên mặt báo các nhận xét về khả năng làm việc của người tị nạn Việt Nam trong hãng. Người viết chia sẻ với anh phóng viên Barnett về các khó khăn trong công tác tìm kiếm việc làm cho người tị nạn, bởi các chủ nhân chưa sẵn sàng nhận người tị nạn, còn nhiều hoài nghi về khả năng làm việc của người tị nạn đến từ châu Á, trong khi đó thì cơ quan trung ương không muốn cho người tị nạn nhận trợ cấp Welfare. Còn về phía người tị nạn chúng tôi, không muốn nhận trợ cấp xã hội mà chỉ muốn đi làm, họ chấp nhận làm over time, chấp nhận làm cả ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật. Người tị nạn chúng tôi rất thông minh, chỉ nhìn qua là bắt chước làm được ngay. Có nghĩa là người viết ca bài "con cá nó sống vì nước"... để mong được sự tiếp tay từ phía báo chí Mỹ hầu tạo dư luận tốt về người tị nạn.
Về phía các bà sơ thuộc Trung Tâm PHC, sau một thời gian làm quen với người tị nạn, đồng ý xin mở lớp học dạy tiếng Anh - và dạy luyện thi GED cho một số người có nhu cầu sau giờ hành chính .
ĐỌC LẠI CHUYỆN CŨ ĐỂ NHẬN DIỆN "NHỮNG ĐỨA KHỐN NẠN" ĐÃ QUAY VỀ LIẾM VÁI VIỆT CỘNG - NHỨT LÀ NHỮNG ĐỨA XƯNG MÌNH LÀ GIÁO SƯ ĐẠI HỌC HAY CHỨC TƯỚC, NGHỀ NGHIỆP LÁU CÁ NẦY NỌ./-TCL/Mt68
______________________
Gió đã đổi chiều? Câu chuyện 48 năm sau…
Tác Giả: Nguyễn Văn Lục
Cách đây 48 năm, trên chiến hạm chỉ huy Blue Ridge cùng với 30 chục chiến hạm đủ loại của hạm đội 7 đang đậu ở ngoài khơi bờ biển VN, cách Vũng Tàu khoảng 30 dặm vào lúc miền Nam đang hấp hối.
Họ đang chờ đợi để đón lính Mỹ và người Việt từ đất liền. Sứ mạng lần này không giống với 21 năm về trước tại vịnh Hạ Long.
GS. Nguyễn Văn Lục
Trên phòng chỉ huy của viên đô đốc Hạm đội thứ bảy, người ta thấy tề tựu đông đủ các ký giả nhà báo Mỹ đã từng có mặt trên các chiến trường VN như Stanley Karnov, David Halberstam, Neil Sheehan, John Kenneth Galbraith và nhiều người khác v.v… Dầu vậy được biết còn 125 người nhà báo trong số họ, đủ quốc tịch tình nguyện ở lại để chứng kiến cơn hấp hối của miền Nam Việt Nam.
Bên cạnh đó còn có phụ tá Trùm mật vụ là Frank Snepp đã từ Đài Loan đến đây được vài giờ sau khi hộ tống ông cựu tổng thống NVT ra đi trước đó mấy ngày. F. Snepp đến đây để đón tiếp một nhân vật quan trọng nhất- đại diện cho nước Mỹ- trong giờ phút này:
Đó là đại sứ Martin. Ông là người Mỹ cuối cùng rời VN mà trên tay chỉ ẵm theo một gói nhỏ: Đó là lá cờ nước Mỹ. Lá cờ đã được cuốn lên có nghĩa là nước Mỹ đã không còn ở đó nữa.
Ngay khi vừa đặt chân lên boong tàu vào lúc 2 giờ 47, giờ Sàigòn, ông đại sứ nhận được một điện tín chúc mừng của H.Kissinger với nội dung như sau: Với lời khen ngợi nồng nhiệt vì ông đã chu toàn toàn trách nhiệm. Nước Mỹ đến như thế nào thì lúc ra đi cũng như thế!!!
Nhìn từ trên boong tàu, các ký giả ngoại quốc đã thấy hàng ngàn những chiếc thuyền nhấp nhô như lá tre trôi trên biển. Đó là những thuyền đủ loại, đủ cỡ của những người Việt Nam đầu tiên bỏ chạy Cộng Sản. Họ là ai, số phận họ sẽ ra sao sau này? Chẳng ai trong số những ký giả trên và ngay cả những người ngồi trên những chiếc thuyền đó có thể tiên đoán đuợc điều gì.
Chỉ biết bỏ chạy đã. Chữ bỏ của chạy lấy người diễn tả đúng trong hoàn cảnh như thế này. Số phận họ ra sao không ai dám nghĩ tới, ngay cả đối với kẻ lạc quan nhất. Và đã có hơn 100.000 ngàn người trong số 250.000 ngàn người như thế đã được vớt đi định cư từ các chiến hạm của hạm đội 7. Cuộc ra đi thật bi tráng và tuyệt vọng đến tức tưởi.
Số phận họ có khác gì những con thuyền lênh đênh trên biển cả như những lá tre? Vâng những lá tre trên một đại dương mà lẽ sống chết đang chờ đợi họ. Bằng mọi giá họ đã ra đi mà nếu nay ngồi nghĩ lại, nhiều người không mường tượng nổi, họ đã có thể làm một điều như vậy. Nhưng cái “sô” vớt người trên biển trong tuần lễ cuối cùng của tháng tư và đầu tháng năm của người Mỹ cũng nói lên được cái gì:
Người Mỹ có thể làm được tất cả mọi việc một cách quy mô, ngay cả việc trốn chạy.
Nhận xét trên ăn khớp với điều mà Sir Robert Thompson, một chuyên gia về du kích dưới thời đệ nhất cộng hòa đưa ra lời tiên đoán trước đó vào ngày 23 tháng 3.1975 như sau: “Chúng ta sắp chứng kiến một cuộc đầu hàng chiến lược của Hoa Kỳ… Cuộc triệt thoái của người Mỹ khỏi Đông Dương là cuộc rút lui lớn nhất mà thế giới nhìn thấy từ khi Napoléon rút lui khỏi Moscow”.
Cuộc rút lui chiến lược ấy lôi kéo hàng trăm ngàn người Việt đi theo. Đó là những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên chạy trốn làn gió chướng ở giờ thứ 25 từ trong đất liền đã thổi giạt họ ra biển..
Nhìn cảnh tượng đó,- cảnh tượng quá bi tráng- Stanley Karnov quay sang David Haberstam vừa cười vừa nói một cách mỉa mai: Công việc đang xảy ra trước mắt chúng ta đây, ngày hôm nay, chúng ta như những chứng nhân lịch sử vào những giờ phút cuối cùng của miền Nam, tôi nghĩ rằng trong đó có phần đóng góp của ông đấỵ!
Haberstam trả lời:
– Ông nói không sai, nhưng chỉ xin xác định cho rõ tôi chỉ là một ký giá làm việc cho quyền lợi nước Mỹ trên mảnh đất nghèo nàn và khốn khổ này. Mỗi người Mỹ đến đây hẳn mang theo mình một trách nhiệm, một sứ mệnh. Ông cũng đồng ý chứ, ông bạn của tôi? Chẳng hạn sứ mệnh của E. Lansdale và tôi- mặc dầu khác nhau- Nhưng tất cả, chúng ta đều làm vì nước Mỹ!!
– Như thế chắc là ông hãnh diện lắm.
– Đương nhiên, vì thế mà tôi có mặt ở đây trong giời phút này. Thôi, mời ông nhìn xem cảnh tượng dưới kia như màn chót của tấn bi kịch mà chúng ta đã dựng lên, tốn kém hằng trăm tỉ đô la.
Ông cứ tưởng tượng, trong số hằng trăm ngàn người dưới kia, ít ra cũng đến phân nửa ở tuổi vị thành niên. Cái hình ảnh ngưới lếch thếch, lang thang với từng đoàn người người nối đuôi nhau chạy trốn. Nếu tôi là họa sĩ, tôi chỉ vẽ lên cái cảnh này đũ diễn tả cái hiện trạng người Việt bỏ chạy. Và nếu cần nói một điều gì về lúc đó, về tâm trạng những người bỏ chạy thì có thể tóm tắt trong một câu: Tất cả đều hoang mang và không có một chút hy vọng gì về tương lai cả.
Những điều nhận xét của ký giả Haberstam sau này chỉ đúng có nữa phần đầu của câu chuyện.
Trong lúc đó, một sĩ quan đang trình với viên đô đốc chỉ huy chiến hạm 7 là có một vị tướng lãnh VN vừa đáp trực thăng của ông xuống boong tàu muốn được gặp. Vị đô đốc ra lệnh một cách gắt gỏng là: Ông nói với ông ta là tức khắc cởi bộ quân phục, lột bỏ lon của ông ấy ra và không được tuyên bố điều gì.
Đây là nước Mỹ trên biển chứ không phải là VNCH nữa.
Nhiều người sau này cho biết là viên tướng VN sau đó đã quỳ xuống, ngữa mặt lên trời và hét to lên: Ta thề với trời đất là ta sẽ trở về… Sau này được biết là ông đã giữ đúng lời thề, ông đã về.
Ông đã về theo cái cách mà Phạm Duy đã về!!
Vấn đề không phải là cởi bỏ bộ quân phục, cởi bỏ lon chậu vốn chỉ là cái bề ngoài. Câu chuyện viết về ông tướng có thể chỉ là một câu chuyện hư cấu. Vấn đề hôm nay, chính là nhiều người đã cởi bỏ cái danh xưng người Việt Quốc gia- cái biểu tượng của 48 năm nay -.
Và cứ như thế, không phải chỉ có đêm 29 tháng tư, mà tiếp câu chuyện đêm nay còn được tiếp diễn dài dài. Các con số thuyền nhân trốn khỏi Việt Nam càng gia tăng theo nhịp độ của những chính sách tàn bạo và trả thù của Hànội như “đi vùng kinh tế mới”. “học tập cải tạo”, “đánh tư sản, mại bản”, và cuối cùng “đi bán chính thức” nhằm vào giới Hoa Kiều.
Cứ mỗi một đợt chính sách lại thêm số người trốn ra đi khỏi nước.
Tổng cộng đã có gần hai triệu người trốn đi như thế. Đấy là còn chưa kể
những nguời để lại xác trên biển cả. Con số này chẳng ai biết là bao nhiêu? Và cũng chẳng ai có thì giờ tìm hiểu làm gì. Người chết thì đã chết.
Phải vậy không? Tiếc nuối rồi cũng khuây khoa, người Việt đến được xứ người đều quyết tâm cật lực để lo sinh kế, miếng ăn trước đã.
Tất cả những chính sách vừa kể trên là nhằm đánh vào những thành phần phản động, ngụy quân, ngụy quyền, tay sai Mỹ Ngụy. Nước nhà đã độc lập, nay bỏ nước ra đi thì không phản động thì còn là cái gì?
Nhưng chính thức thì có thể quả quyết rằng, nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra ra nước ngoài sinh sống. Và cuối cùng để giữ thể diện, vừa loại bỏ được những thành phần “rác rưởi” muốn vứt, vừa kiếm được tiền hoặc để trao đổi trong thương thuyết, nhà nước Cộng Sản đã đồng ý với Liên Hiệp Quốc theo một chương trình “ra đi trong vòng trật tự” (Orderly Departure Program).
Thảm cảnh thuyền nhân trên biển vì thế đã giảm mức độ đi nhiều.
Tất cả câu chuyện, những thảm cảnh trên biển cả nay đảo ngược trở thành cái mà Michel Tauriac trong Hồ sơ đen của Cộng sản (Le dossier noir du Communisme) (*1) tóm tắt đầy đủ ý nghĩa tóm gọn trong một câu “Những con bò sữa thuyền nhân”.
Gió đã đổi chiều, gió chướng đã thổi họ ra biển, nay ngọn gió nào đã đưa họ về ?
Hình ảnh thật biểu tượng và gợi hình. Thật vậy, tất cả những con bò sữa thuyền nhân đã ra đi với hai bàn tay trắng để lại tiền bạc, nhà cửa ruộng vườn. Họ đã vắt được bao nhiêu sữa ở những con bò đó: Vắt lúc ra đi và nhất là vắt lúc trở về.
Nói chi đâu xa, tôi có căn nhà kiểu biệt thự ở số 224B Nguyễn Huỳnh Đức, quận Phú Nhuận. Căn nhà đó lúc mua là 5 triệu 300 ngàn trước 75. Tính theo trị giá vàng thời đó là khoảng 80 chục cây. Ra đi hợp pháp, có giấy tờ hẳn hoi, đi bằng cửa chính ra Tân Sơn Nhứt.
Giấy tờ xuất cảnh có thể chỉ là tấm giấy nhỏ viết tay nguệch ngoạc mấy chữ là: Nhà này do nhà nước quản lý!! Quản lý là trông coi, giữ dùm mà thật ra là tịch thu, là hôi của! Cả miền Nam, hai triệu người bỏ nước ra đi đã bị “quản lý” như thế. Nói toạc ra là đã “bị cạo lông” sạch như thế .
Việc ra đi theo diện người Hoa, bán chính thức hay việc quản lý nhà cửa đất đai, tài sản nằm trong tay Bộ nội vụ. Công việc bộ này là đảm trách và tổ chức nhằm “nhổ sạch lông” những bọn người lưu vong này. Kẻ dỗi hơi ngồi tính nhẩm chuyện nhổ sạch lông này đem lại cho nhà nước ít nhất là 25 tấn vàng. Tôi không tin vào con số, đúng sai khó đoán vì không biết tính toán. Nhưng ấn tượng trong đầu tôi là nhiều lắm, nhiều lắm lắm. Nhưng 25 tấn vàng vẫn là chuyện nhỏ. Vẫn là chuyện vắt đi. Vắt lại mới là quan trọng.
Và để gọi những thuyền nhân thì có nhiều tên gọi tùy theo thời kỳ: lúc đầu là bọn bán nước, bọn tay sai. Bán được bao nhiêu nhà nước thu cả. Cho mãi đến năm 1990 cũng còn có người gọi Việt kiều là những tên Việt gian. Nói chung họ coi đó là thành phần rác rưởi của chế độ cũ, muốn thải loại, muốn tống đi cho rảnh mặt. Và gọi một cách vô tội vạ nhất là người nước ngoài. Nghĩa là có sự phân biệt đối xử giữa người trong nước và ngoài nước. Sau này chữ được dùng hơn cả là Việt Kiều.
Rồi cứ như thế sau thời kỳ mở cửa mà số lượng người Việt về nước cũng như kiều hối đã bắt buộc mọi người phải thay đổi lại thế nhìn, thế bắn. Không ai có thể từ chối được những món quà, không phải 10 đô la trong ngày lễ Noel mà là 13 tỉ đô la. 13 tỉ đô la!
Không phải chỉ 13 tỉ đô mà nay nhiều lần hơn, chiếm tỉ trọng một phần ba ngân sách nhà nước. Nhờ đó tình nghĩa hàn gắn những vết sứt sẹo, những lời nói mà bình thường chỉ được coi như kẻ thù. Gió đã đổi chiều nên ngôn ngữ cũng đã đổi theo.
Những chiếc thảm đỏ đã trải dài từ phi trường Tân Sơn Nhứt đến Nội Bài chạy thẳng vào Bắc bộ Phủ. Thật là trớ trêu đến nực cười ra đi trốn chui, trổn nhủi, lúc trở về thảm đỏ dưới chân.
Những thành phần rác rưởi ta vừa nói ở trên, những con bò sữa đã vắt cạn chẳng bao lâu sau trở thành rác quý mà người ta có thể chế biến thành những sản phẩm, những vật liệu để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh. Đã chẳng ai ngờ điều đó đã xảy ra.
Rác rưởi cứ thể đổi hình đổi dạng mà tính ra tiền bằng những sản phẩm mới.
Những anh thuyền chài có thể ra đi vỏn vẹn chiếc quần đùi nay chễm trệ ngồi Mercedes. Những mệnh phụ nói tiếng Mỹ oe oé mà nếu không có cuộc đổi đời này thì cùng lắm chỉ là những người đàn bà làm vợ, làm mẹ, là nội trợ bình thường trong gia đình.
Nhưng kể làm gì đến những chuyện nhỏ nhoi đó.
Đã có rất nhiều thay đổi mà không ai tiên đoán trước được- những thay đổi tràn đầy hy vọng như thế đối với giới người Việt di tản-nhất là nơi người trẻ.
Họ không còn là cô nữ sinh cười e lệ, hỏi không dám mở lời mà nay là những chuyên viên hàng đầu của xã hội Mỹ. Có những người trong bọn họ đã làm ra số vốn bạc tỷ. Có người trong bọn họ cùng với bạn đầu tư nửa tỷ đô la tại nơi mà trước đây được coi là thánh địa của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Củ Chi với những địa đạo, nơi tự hào về cuộc chiến thần thánh trong tương lai trở thành biểu tượng “thung lũng của ngành tin học”.
Đã chẳng ai từ hai phía, người trong nước cũng như người nước ngoài nhìn thấy được điều đó ngay từ đầu.
Chuyện kể ra như một giấc mơ hay như câu chuyện thần thoại.
Và cái kim chỉ đường cho người Việt tương lai là hãy nhìn vào giới trẻ đang lên. Họ chiếm đa phần. Tương lai thuộc về họ, đời sống thuộc về họ, cộng đồng VN là họ. Không phải do một thiểu số những người lớn tuổi như tôi. Những người bỏ nước ra đi đã chỉ nhớ cái phần đầu câu chuyện mà chưa thuộc hết phần cuối.
Đó là những người không biết kể chuyện và những câu chuyện kể càng ngày càng nhạt phèo như nước ốc. Thời của họ đã hết. Ngay cả Thời của Thánh thần hay Thiên đường mù của những kẻ bất đồng chính kiến cũng bị bỏ quên lãng.
Những người còn bám víu vào quá khứ có thể được coi là những người không thức thời? Nhưng nếu không bám víu vào đó thì họ còn gì là họ? Quá khứ là chính họ là cái làm nên bản thân họ. Họ bị coi như loài “củi mục” trong đám cây rừng đang xanh lá. Củi mục thì làm gì? Đốt làm củi cũng không xong.
Nhưng chắc hẳn nhiều người như tôi không nghĩ như thế. Bản thân tôi cũng thế- không chấp nhận được lối xếp loại ấy -.
Trong 48 năm qua, chúng ta- những người Việt di tản- đã không ngừng tranh đấu không ngơi nghỉ cho điều mà tôi gọi là trận chiến cho một biểu tượng, trận chiến cho một hình ảnh (bataille de l’image) là người Quốc Gia.
Bao nhiêu công sức đã bỏ vào đấy!! Bao nhiêu thời giờ còm cõi ngồi trơ trọi một mình trên bàn máy điện tử để viết!!
Mặc dầu thâm tín và phải nhìn nhận rằng quá khứ định hình và làm nên người Việt di tản thế hệ thứ nhất thì tương lai sẽ định hình thế hệ người việt thứ hai, thứ ba, nghĩa là con cháu chúng ta!!
Còn lại vấn đề kế thừa là vấn đề bi quan nhất của người Việt hiện nay!!
Nhưng cho dù bi quan đến đâu, cho dù vứt bỏ vấn đề chính tri, lịch sử xã hội qua một bên thì vẫn còn lại vấn đề nhân cách, vấn đề đạo lý con người. Và lúc ấy cho thấy rằng: Củi mục thì cũng vẫn là củi.
Người khác cho rằng nhìn cây thì thấy rừng, nhưng nhìn củi mục thì thấy gì?
Họ nghĩ rằng thà là như anh thuyền chài, thà là như chị X, Y nói tiếng Mỹ oe éo. Thà là như thế. Phải nhớ rằng cuộc ra đi bất hạnh đã trở thành đại hạnh cho chính mình, cho con cháu mình, cho cái nơi mình đi tới và cả cái nơi mà từ đó mình đã ra đi.
Tháng tư đen thật ra chính là tháng hy vọng!!
Hành lý quá khứ mang đi càng nhẹ thì họ về VN càng nhanh .
Hãy nhìn vào những con số để nhận ra câu chuyện thần thoại về người Việt di tản. Năm 1987, có 8 ngàn người về thăm quê hương, đến năm 1993 thì con số tăng lên 160 ngàn người, đến năm 2002 là 380 ngàn người. Con số tự nó nói lên điều gì rồi và người ta bắt đầu vỡ lẽ ra.
Bên cạnh đó, kiều hối đem lại một sốn tiền tươi là 2 tỷ 6 đôla trong năm 2003. Hãy làm một so sánh cho rõ. Năm 2003, Việt Nam xuất khẩu được 20 tỉ đôla, trừ vốn liếng cho sản xuất, lời ròng của 20 tỷ vị tất đã được 5 tỷ?
Có một điều, nhiều người vô tình quên là năm nay có 2 triệu lượt khách đến Việt Nam. Cứ giả dụ, mỗi người khách tiêu 2000 đô la đầu người. Số tiền thu được sẽ là bao nhiêu? Trong số 300.000 người Việt về thăm quê hương, cứ cho là vừa tiêu xài, vừa cho bà con họ hàng, ở từ hai tuần đến một tháng, mỗi người đổ đồng chi tiêu 4000 đô la cho một chuyến về thăm quê hương, cán cân ngân sách cũng như nền kinh tế Việt Nam đã được kích cầu lên không nhỏ.
Tiềm năng thật lớn. Tương lai cũng đầy hứa hẹn.
Điều đáng nói hơn nữa là nay có một số Việt Kiều về nước kinh doanh đầu tư với hàng trăm dự án được chấp nhận với số vốn lên đến trên một tỉ đô la..
Những Việt kiều như Nguyễn Chánh Khê với phát minh chế tạo thành công than Nano áp dụng vào việc sản xuất mực không phải là hiếm. Dự án khu khách sạn Vinpearl Resort- Spa, 5 sao, tại đảo Hòn Tre, Nhatrang đã khánh thành với số tiền đầu tư là 500 tỉ đồng. Phần lớn các số tiền đầu tư này tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, tin học, lắp ráp, du lịch.
Cũng vì thế, nhà nước đã chẳng tiếc lời gọi Việt Kiều là những người con của đất nước.
Những lời lẽ trân trọng mật ngọt đã hẳn là không thiếu. Gió chướng đã không còn nữa.
Gió đã đổi chiều, ngôn ngữ đổi chiều, giọng lưỡi đổi giọng. Không còn có chữ nghĩa làm đau lòng nhau nữa. Trên tất cả các sách báo, trên các trang nhà, không còn có thể tìm thấy bất cứ thứ chữ nào nói xa nói gần đến chế độ miền Nam trước đây nữa. Những chữ như bọn ngụy quân, ngụy quyền và bọn tay sai đã không tìm thấy trong tự điển của bộ chính trị nữa. Ngược lại không thiếu những chữ mật ngọt như “Tổ quốc Việt Nam, quê hương thân thiết luôn giang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ.”
Nhà nước lại còn trích dẫn câu nói của ông Hồ mà không ai tự hỏi xem ông nói lúc nào và bao giờ: “Tổ quốc và chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đất nước hòa bình..” – bác nói với kiều bào ở Thái lan về nước năm 1960.
Kiều bào năm 1960 thì không phải là người di tản!! Thật rõ chán.
Hình như người ta đã quên cái cảnh bồng bế xô đẩy nhau lên máy bay và bằng bất cứ giá nào phải đi bằng được. 48 năm sau, câu chuyện kể về thuyền nhân chỉ còn là dĩ vãng mà cả bên này bên kia đều đã quên hoặc cố tình quên.
Nhưng còn những người như tôi sẽ không quên. Never. Never!!!
Thật ra không hẳn là như vậy. Nhà nước chính quyền hoan hỉ nhận những đồng tiền Đôla từ mọi nơi gửi về cũng như người Việt mang tiền về nước. Mang tiền về thì được chứ đừng mang chữ về. Chữ hiểu theo nghĩa rất rộng là sách báo, tư tưởng, âm nhạc, nghệ thuật. Từ khi có nhà nước Cộng Sản đến nay.
Chữ vẫn là độc quyền tuyệt đối nằm trong tay đảng. Nó nằm trong một hệ thống khép kín: Chủ nghĩa hay ý thức hệ – bạo lực khủng bố – và một chính quyền toàn trị. (ideology, terror and totalitarian government).
Chẳng lạ gì, trước khi về VN, người ta thường khuyên có một điều duy nhất: anh muốn làm gì thì làm:
– chẳng hạn anh có thể cờ bạc, chơi bời đủ kiểu, tắm đủ kiểu, phòng trà đủ kiểu, âm nhạc đủ kiểu, cà phê đủ kiểu, gái đủ kiểu, sex đủ kiểu, ngủ trưa đủ kiểu, ngủ tối đủ kiểu, ăn đủ kiểu, vừa ăn vừa chơi đủ kiểu, đĩ điếm đủ kiểu, hối lộ đủ kiểu, lưu manh lường gạt đủ kiểu, gian trá đủ kiểu, buôn bán mánh mung đủ kiểu, làm giầu đủ kiểu, đầu cơ đủ kiểu, công an đủ kiểu, phường khóm đủ kiểu, công ty đủ kiểu, cơ quan đủ kiểu, chính quyền địa phương đủ kiểu, chính quyền trung ương đủ kiểu, luật pháp đủ kiểu, thằng ăn cắp xử thằng ăn cướp đủ kiểu và cuối cùng xã hội loạn đủ kiểu.
Ta có quyền đủ kiểu hết, miễn là đừng đụng đến chính trị.
Vì trên hết, vẫn có một nhà nước toàn trị ở trên tất cả những đủ kiểu đó. Trước khi lên máy bay về nước, còn dặn với theo: nhớ nhé đừng đụng đến chính trị.
Mặc dầu vậy, ngày nay, có nhiều bà con Việt Kiều tính về ở hẳn VN. Có người trong đám này về Việt Nam dưỡng già với xe hơi SUV.
Có những ông già lấy tiền xã hội của Mỹ về tậu nhà, tậu cửa, líu lưỡi khen ngọng và hãnh diện nói: mấy chục năm không sáng tác được, nay về ở VN nhờ đó mới hoàn thành được tác phẩm. Có ông Nhà văn “tiến bộ” nay trở thành thứ “Chim hót trong lồng”.
Tất cả đều thuộc loại người không biết ngượng, quên cái trận chiến biểu tượng, hình ảnh.
Trong vòng 10 năm nữa, khi xa lộ đông tây hoàn thành, khi 6 tuyến xe điện ngầm xây dựng xong, khi đường hầm Hải Vân nối liền Nam Bắc nay đã hoàn tất, thành phố Sàigòn sẽ thay mặt đổi tên chẳng còn ai nhận ra nó nữa.
Nay ở Sàigòn, đã có những khu nhà “Làng Việt Kiều “. Người ta dự trù có 4 khu như thế, với những biệt thự sang trọng, đủ tiện nghi như ở Mỹ, Canada. Người ta thấy những Việt Kiều lái những chiếc xe SUV, hay ngồi nhâm nhi ly rượu cocktail bên bờ sông Sàigòn. Những căn nhà có những bãi cỏ xanh, mái nhà mầu cam kiểu California, những hồ bơi với những cây dừa với những hàng chữ tiếng Anh Welcome.
Một anh khác tên Hoàng Tiến, chả bù cho lúc ra đi lếch thếch, lang thang, nay anh trở thành chủ nhà thầu đang có những kế hoạch xây cất nhà cho Việt Kiều với những dự án “thành phố xanh” (Green city).
Cái điều oái ăm đến quái gở là khi ở Mỹ, người ta tìm cách đặt tên Little Saigon, Phở Bắc, bánh mì Tân Định, bánh cuốn Đakao, Restaurant Hoài Hương để nhớ về; nay ở Việt Nam thì người ta lại muốn đặt tên cho những khu thương xá là “tiểu Cali”, “tiểu Fairfax” để nhớ đến. Và cứ như thế, sẽ có một số người Việt gốc Mỹ sống riêng biệt trong những tiểu quốc của họ bên cạnh những người Việt bản xứ.
Riêng Nguyễn Anh, năm nay mới 35 tuổi về Việt Nam làm việc cho một công ty nước ngoài. Ra đi từ nhỏ, kể như không biết gì về Việt Nam, anh cũng không có ý ở hẳn VN. Nhưng anh cũng có một vài nỗi khổ vặt khác. Nguyễn Anh sững sờ khi làm một việc gì giúp người khác không nhận được một tiếng thanh kiu, thanh kiếc gì hết. Anh cũng khó chịu khi mọi người chen lấn không xếp hàng khi trả tiền. Nhất là các cô thiếu nữ trông khả ái, dịu hiền, nhưng cũng huých tay chân như ai.
Gần như mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy sống chen lấn chụp giựt. Nguyễn Anh có hơi buồn về con người Việt Nam vốn có tâm hồn, vốn thương người mà một tai nạn xe cộ xảy ra đến chết người mà mọi người dửng dưng.
Quả thực, tuy là người Việt Nam, nhưng anh lại không hiểu gì về người mình.
Hình như cái gì ở Việt Nam cũng có thể trở thành cờ bạc. Lại một điều nữa, Nguyễn Anh không hiểu được.
Nguyễn Anh thì chỉ thích đi đánh golf. Nhưng muốn chơi ngon, Nguyễn Anh phải lấy vé máy bay ra Phan Thiết chơi, vì ở đó có sân chơi nổi tiếng là đẹp. Ít ra thì điều đó cũng làm Nguyễn Anh vui lòng.
Nhưng có người thấy như thế thì lấy làm kỳ cục. Họ chép miệng, tội tình gì mà phải cất công như thể để chơi Golf. Chơi đâu chả được. Phí tiền nữa. Nguyễn Anh không đáp lại, vì anh có cái lý của anh.
Đúng là anh thấy người Việt mê đá banh một cách kỳ cục. Nhưng ngược lại, họ cũng thấy anh không giống ai.
Còn về thanh niên, thiếu nữ thì chửi thề không biết ngượng mồm, nhất là thanh niên, thiếu nữ gốc Bắc. Mở mồm ra là “địt”. Sáng ra, chỉ hỏi giá cả món hàng đã bị một người con gái xinh đẹp phạng cho một câu.
Tự nhiên bật ra một câu hỏi: Nhưng nhân dân là ai mới được cơ chứ ?
Nhưng tôi cho rằng lịch sự trớ trêu có những bài học không bao giờ chúng ta học hết được.
Chiếc soái hạm Blue Ridge 37 năm trước trong vai trò chở binh lính Mỹ và người tỵ nạn VN ra khỏi miền Nam thì hiện nay đang đậu ở bãi Tân Sa, Hải Phòng!! Đố ai biết được ngày hôm nay vai trò của Blue Ridge đến VN với mục đích gì? 37 năm trước và 37 năm sau có điều gì khác biệt?
Gió đã đổi chiều. Gió nữa lên …
—————–
(1*) Cuốn sách Le livre noir du Communisme, Hắc thư về chủ nghĩa cộng sản, do nhà Robert Laffont xuất bản, Paris, năm 1997, 846 trang do Stephane Courtois cầm đầu với 11 tác giả.
