Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label DangDANCHUXAHOIVC. Show all posts
Showing posts with label DangDANCHUXAHOIVC. Show all posts

Thursday, 29 August 2013

NHỮNG CON CHÓ GIÀ NẦY CHÊ PHÂN TƯƠI VIỆT CỘNG THIỆT Ư ? - KỆ MẸ CHÚNG BÂY, HẢI NGOẠI KHÔNG BAO GIỜ TIN HAY CẦN CHÚNG BÂY PHẢN TỈNH CON MẸ GÌ CẢ- CHÚNG BÂY ĐI ĐON CÀNG SỚM CÀNG CÓ LỢI CHO TỰ DO DÂN CHỦ THẬT SỰ./- Mt68

Thú vật còn Đàng hoàng hơn
Hồ Ngọc Nhuận


Trên thế giới ai cũng biết: một nền dân chủ pháp trị đích thực, với một Nhà nước pháp quyền đích thực, là một nền dân chủ đặt luật pháp lên trên hết, trên mọi người và trên mọi quyền bính, tất nhiên và trước hết là trên người lãnh đạo cầm quyền, vì phải làm gương. Trừ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vì Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo ở đây tự vẽ ra Hiến pháp, cầm điều 4 HP làm bùa chủ đạo, để ngồi xổm trên luật pháp.
Trong một nền dân chủ pháp trị ai cũng biết: “Điều gì luật pháp không cấm thì người dân có quyền làm”.
Nhưng trước hết, người dân còn phải làm những điều luật pháp kêu làm.
Như làm ăn thì luật pháp kêu phải đóng thuế. Làm trai thì luật pháp kêu phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Làm người chiến sĩ trong quân đội thì phải trung thành với Tổ quốc… Ở đâu cũng vậy.
Nhưng ở Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì có khác. Ở đây đi lính, nhất là ở cấp chỉ huy, thì phải trung thành với Đảng lãnh đạo. Còn luật pháp vẽ ra để đó chớ không hẳn để thi hành. Hay chỉ thi hành theo các Ban Chỉ đạo của Đảng, có mặt ở mọi cấp mọi nơi, trước hết là ở ngành Tư pháp, đặc biệt tập trung trong tay Ban Nội chính của Đảng, từ trung ương đến cơ sở, để tập trung chỉ đạo không chỉ các bộ phận có liên quan như công an, giám sát hay tòa án, mà cả từng vụ án lớn nhỏ. Với những bản án đã được định sẵn.
Như về báo chí, miệng thì nói tự do báo chí, luật thì viết báo chí tự do, nhưng đốt đuốc cũng không tìm đâu ra một tờ báo tư nhân, mà toàn là báo của các ban ngành đoàn thể của Đảng và Nhà nước, từ trung ương đến các địa phương. Đứng đầu mỗi tờ báo, mỗi Ban Biên tập báo phải là một đảng viên Cộng sản, có mấy trăm tờ báo là có mấy trăm đảng viên Tổng Biên tập, có bao nhiêu Ban Biên tập là có bấy nhiêu đảng viên trưởng ban, dù là báo cho trẻ con hay người lớn, dù là báo chí văn hóa văn nghệ, thể thao du lịch, làm ruộng,làm ăn buôn bán, hay vui chơi giải trí… Chưa kể hàng trăm đảng viên lớn nhỏ khác trong hàng ngũ các báo. Tất cả làm thành hội nhà báo, chia thành nhiều phân hội nhà báo, đứng đầu là những ông bà đảng viên Cộng sản có vai vế nhất. Còn báo nói và báo hình, đương nhiên cũng là thành viên của Hội Nhà báo, nhưng là thành viên công cụ chuyên chính hàng đầu của Đảng.
Báo chí tự do ở đây là như vậy đó, có thêm mấy chữ “xã hội chủ nghĩa” hay không cũng vậy.
Ở đây luật viết tự do lập hội, nhưng từ hội to hội nhỏ, cả hội làm vườn, nuôi chim nuôi cá, hay hội người mù, người già, người khuyết tật, hay hội đi chơi đi bộ… phần lớn cũng phải do một đảng viên Cộng sản đứng đầu làm hội trưởng. Có ông đảng viên “cỡ bự”, đi đứng đã khó huống hồ chạy bộ, nhưng cũng là hội trưởng hội điền kinh.
Ở đây, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, trên mọi lãnh vực, là “nói một đường làm một nẻo”.
Ở đây Quốc hội, được nói, được viết là nơi đại biểu cho quyền làm chủ của nhân dân, nhưng được Đảng Cộng sản chia nhau làm chủ rất kỹ. Tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội phải là đảng viên. Có đảng viên được cơ cấu chánh thức để được đắc cử, có đảng viên được cơ cấu để lót đường, không chịu cũng phải chịu, không được chạy, không được la, bởi ai biểu làm đảng viên. Các đảng viên lót đường này ngày càng cần, vì các ứng cử viên “tự ứng cử” ngày càng thưa, sau khi bị nhiều áp lực phải tự rút. Phải có đảng viên ứng cử thuộc loại lót đường vì phải có ít nhất hai ứng cử viên cho một ghế đại biểu, hay ba ứng cử viên cho hai ghế đại biểu. Để “coi cho được”, mà vẫn có phiếu “tập trung”. Không như “thuở ban đầu không cần e ấp ấy”, chỉ một ứng cử viên duy nhất cho một ghế đại biểu, để có phiếu tuyệt đối tập trung, nhưng mà “coi không được”. Số ứng cử viên “tự ứng cử”, tức không do Đảng Cộng sản đề cử, thường rất ít ỏi, lại bắt phải qua hai nấc lựa chọn sơ khởi là ở tổ dân phố nơi mình ở, và ở cơ quan nơi mình làm việc. Như vậy người dân hai nơi đó được biến thành cử tri hạng nhất được quyền “tín nhiệm” hay “không tín nhiệm” trước đa số các cử tri khác dựa vào mấy “tiêu chuẩn của người đại biểu Quốc hội” được ghi trong luật bầu cử, như “phải trung thành với Tổ Quốc”, “phải tôn trọng luật pháp”, hay “ phải sâu sát với cử tri”… Đó là những tiêu chuẩn phổ quát cơ bản mà mọi công dân bình thường lương thiện đều đạt, trước khi có những bằng chứng cụ thể ngược lại, chớ không riêng gì của các đại biểu Quốc hội. Còn tiêu chuẩn “sâu sát với cử tri” thì người tự ứng cử đương nhiên phải đạt hơn ai hết, bởi có ai sâu sát hơn khi nhà người ta đang ở đó, khi người ta đang làm việc ở đó? Những điều luật mị dân hết chê nổi. Vậy mà số ứng cử viên “tự ứng cử” cứ rụng như sung bị sâu. Trước hết là tự rút, vì không chịu nổi chuyện nhà chuyện cửa, chuyện con chuyện cái, có khi là chuyện con chó của nhà mình bị người ta đưa ra làm đề tài mổ xẻ… khi bị tổ chức đưa ra bình chọn ở tổ dân phố. Nếu không tự rút thì cũng có người của Mặt trận đến vận động, áp lực để rút.
Nút chặn then chốt là Mặt trận mà luật bầu cử viết hẳn là có quyền lựa chọn trước khi đưa ra cho cử tri bầu cử – một Mặt trận mà một 100% thường trực lãnh đạo, từ cấp trên đến cấp dưới là đảng viên Cộng sản. Kèm bên là một Đảng Đoàn Mặt Trận. Kèm trên là một Ban Dân vận Mặt trận. Rồi Đảng ủy Khối, Đảng ủy cơ quan…cho tới Đảng ủy thành, Đảng ủy tỉnh, Đảng ủy trung ương… Tất cả gộp lại làm thành một “thiên la địa võng” để chận bất cứ ai không là người của Đảng, không do Đảng cắt cử, để Đảng tha hồ một mình một chợ ở Quốc hội.
Cái Quốc hội ”một mình Đảng một chợ” đó được tổ chức như một “Đại hội các loại cán bộ, viên chức của Đảng và Nhà nước”. Trong đó có nhiều hạng, trên hết là hạng đại biểu là thành viên Bộ Chánh trị, hay ủy viên Trung ương Đảng, chót hết là lưa thưa vài cụ thuộc vài tôn giáo lớn được cơ cấu vô Quốc hội để làm đại biểu danh dự. Ngồi yên đó để vỗ yên đồng đạo và bá tánh.
Các thành viên của cái “Đại hội các loại cán bộ viên chức của Đảng và Nhà nước”, được gọi là Quốc hội đó, tất nhiên là không phân chia theo từng khối nhóm đại biểu cho các nhóm quyền lợi hay khuynh hướng chánh trị ngoài xã hôi, mà được phân ra từng đoàn theo các tỉnh thành nơi họ cư trú, ứng cử và đắc cử. Trưởng đoàn đại biểu, nếu không là người đứng đầu đảng hay chánh quyền, thì cũng là một đảng viên có vai vế nhất nhì trong Đảng ở địa phương, để phát ngôn, phát biểu thay đoàn hay chỉ định người phát biểu ở các diễn đàn Quốc hội, hay khi tiếp xúc cử tri được tổ chức định kỳ một năm vài lần. Không ai được phép xé rào, và trên thực tế chưa thấy ai dám xé rào…
Với một Quốc hội như vậy, độc có tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội là đảng viên của một độc đảng, tổ chức có hạng bậc trên dưới chặt chẽ, với kỷ luật thép của Đảng Cộng sản, thì thảo luận ở Quốc hội là gì? Với kỷ luật thép của Đảng, khi một chỉ thị nghị quyết của Đảng đã được ban ra thì mọi phê bình đối với quyết định đó đều bị coi là phá hoại chệch hướng. Các quyết định của Đảng thường là áp đặt từ trên xuống, đặc biệt từ một nhóm nhỏ gọi là Bộ Chánh trị, có khi chỉ từ vài người có thế lực trong Bộ Chánh trị. Vì vậy đại bộ phận các đảng viên có nói gì, bàn gì, cũng không hề ảnh hưởng gì đến quyết định của lãnh đạo Đảng, mà lãnh đạo Đảng cũng không hề biết, không cần biết tâm tư ý kiến của quần chúng đảng viên. Càng không cần biết tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Một Quốc hội như vậy thường được gọi là một “hòm thư”. Nhưng “hòm thư” ở đây bị rỗng, vì nguyện vọng nhân dân đã bị chận từ ngoài cổng. Hoặc bị công an rượt đuổi từ ngoài đường, tận cổng các tòa án.
Trong tình hình như vậy mà lãnh đạo Đảng, cũng là lãnh đạo Quốc hội, lãnh đạo Chánh phủ, ký kết với bất kỳ ai, cả với Bắc Kinh hay với quỷ, bất cứ thứ gì rồi đưa ra cho các đại biểu Quốc hội thông qua thì có trời mà biết đó là cái gì…
Tôi là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 đến nay tổng cộng là 38 năm. Trong đó có 24 năm, từ 1975 đến 1999, là không có luật, và 14 năm, từ ngày 12 thang 6 năm 1999 đến nay, là có luật, gọi là “Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”. Nên tôi xin nói một chút về Luật Mặt trận.
Mặc dầu có Luật Mặt trận hay không có Luật Mặt trận thì cũng vậy thôi, cũng không ai thấy Mặt trận làm gì cho dân, ngoài việc cũng có một guồng máy đồ sộ từ trung ương đến địa phương cơ sở, song song với guồng máy đồ sộ của Nhà nước, song song với guồng máy đồ sộ của Đảng, cùng chia nhau xài chung ngân sách nhà nước, tức từ tiền thuế của nhân dân, để cùng làm nhiều việc của các hội đoàn xã hội từ thiện tư nhân, ngoài các việc do Đảng và Nhà nước giao, như lập hồ sơ và sàng lọc các ứng cử viên vào Quốc hội hay các Hội đồng. Và Ban Thường trực Trung ương Mặt trận thì định kỳ ngồi ký các văn kiện gọi là “liên tịch” với Chánh phủ để định kỳ tổ chức mần liên tịch tiếp.
Còn về “nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” như được ghi ở Điều 2 của Luật Mặt trận thì không ai thấy “mặt ông Mặt trận” ở đâu hết, khi nông dân nhiều nơi bị cướp ruộng kêu cứu, khi công nhân nhiều nơi bị hà hiếp đình công “la làng”, khi người dân kêu gọi biểu tình chống bọn bành trướng Bắc Kinh cướp đảo, rượt bắt ngư dân nước ta, hay khi thanh niên sinh viên học sinh yêu nước đấu tranh bị đàn áp.
Hay về “nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước” cũng được ghi hẳn hòi ở Điều 2 của Luật Mặt trận, cũng không ai thấy tổ chức Mặt trận giám sát được gì từ mấy chục năm nay.
Nếu đã giám sát được ai hay chút gì, trong 38 năm qua, thì đâu đến nỗi ông Tổng Bí thư Đảng lãnh đạo cầm quyền phải “ngậm ngùi”, hay ông Chủ tịch nước phải ngập ngừng không thể nói ra, trước những sai phạm to đùng nào đó trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nứớc?
Tại sao Mặt Trận lại cứ ngó lơ trước những nhiệm vụ của mình được ghi rành rành trong Luật Mặt trận?
Bởi khi khơi khơi nêu hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác, mà không giao quyền, không giao phương tiện, thể hiện bằng luật pháp, để thi hành nhiệm vụ, thì chỉ để chơi thôi. Cả khi nêu lên quyền này quyền khác mà không có phương tiện luật pháp đi kèm để thực thi thì cũng như vô quyền. Như những quyền tự do cơ bản của người dân được ghi trong Hiến pháp mà không pháp chế hóa để bảo đảm thi hành thì coi như treo đó để phỉnh người dân mà thôi. Không chỉ phỉnh mà còn ngăn chận, bao vây, đàn áp, như khi người dân sử dụng quyền biểu tình hợp pháp bất bạo động để chống bành trướng Bắc Kinh.
Mặt trận còn làm ngơ một điều cơ bản nữa mà Luật Mặt trận ngay từ điều 1 đã kêu làm.
Tức là “phát huy quyền làm chủ của nhân dân… để góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
Nhưng điều đặc biệt quan trọng nhất là người ta đã nuốt dần lời hứa “Đánh thắng giặc ta sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, tốt đẹp hơn”. Mà chỉ nghe thấy kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Cả hai thứ đều không hề thấy ở đâu, cả ở nơi mà cái nôi xã hội chủ nghĩa cũng đã bị vất từ lâu, trừ vài nơi người dân vừa bị đeo gông vừa hô khẩu hiệu “hoan hô lãnh tụ cha, lãnh tụ con, lãnh tụ cháu nội”.
Bởi không thể xây dựng tốt đẹp hơn, nếu không xây dựng đàng hoàng hơn. Và xây dựng đất nước đàng hoàng hơn là xây dựng một nền dân chủ đích thực, tức một hệ thống chánh trị tôn trọng sự công chính trong cạnh tranh quyền lực, tôn trọng tiếng nói, dư luận, tôn trọng phán quyết tối hậu của người dân bằng lá phiếu để có sự luân chuyển hay thay đổi quyền hành trong hòa bình, tôn trọng sự khác biệt chính kiến, sự khác biệt của người khác, có văn hóa tranh luận.
Bịt miệng, chụp mũ, trù úm, đàn áp… là tiếp tục không đàng hoàng, là làm ngược, là phản lại chính ông cha mình…Không thể có xây dựng đàng hoàng mà bóp chết tự do.
Khởi xướng, hay kêu gọi xây dựng dân chủ có đối lập, trong một xã hội dân sự tôn trọng quyền con người, có tình người, chính là tiếp nối lời kêu gọi xây dựng đất nước đàng hoàng hơn.
Đó không chỉ đơn thuần là một tổ chức chính đảng. Đó trước tiên là tinh thần dấn thân nhập cuộc, mở ra một con đường cho dân tộc thoát khỏi vòng xoáy của một hệ thống quyền lực luôn đe dọa mọi ý chí độc lập bằng bạo lực, sớm muộn sẽ đưa đất nước xuống hố diệt vong. Đó là một phong trào tập hợp mọi nỗ lực thiện chí muốn cống hiến cho đại cuộc, vì một nền dân chủ tự do độc lập thật sự cho Tổ quốc, cho nhân dân.
Từng sống qua mấy chế độ khác nhau của miền Nam, từng biết qua ít nhiều vài chế độ dân chủ đây đó gần xa, tôi không hề có ảo tưởng về một chế độ dân chủ tuyệt đối, một hệ thống chánh trị tuyệt hảo ở bất cứ đâu.
Nhưng không thể không có tiếng la báo động trước sự mất còn của đất nước. Một hệ thống ngày càng chồng chất những cái không lương thiện, lại thêm lồng ghép với những nhen nhóm xã hội đen tối, kể cả mafia, ở đâu đó, là một vòng xoáy tàn khốc khó thoát đối với mọi người, mọi dân tộc.
Cái hệ thống của những điều không đàng hoàng gần như toàn diện hiện nay, nếu không sớm được thay đổi bằng một hệ thống dân chủ đích thực, sớm muộn sẽ đưa đất nước đến hố diệt vong, chắc chắn sẽ sớm đưa đến mất nước vào tay bành trướng Trung Quốc. Cái đáng sợ nhất là nó đánh mất linh hồn con người, linh hồn Việt Nam.
Đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta đã chịu nhiều “cải biến” quá rồi, đã đổ nhiều máu và nước mắt quá rồi. Và thế giới, trong đó có dân ta, đã kinh qua đủ thứ cách mạng rồi. Nên không có cách nào khác, nếu muốn sống còn, là tổ chức hợp tác bình đẳng giữa những con người tự do biết tôn trọng lẫn nhau./.
26-8-2013
H. N. N.
Tác giả trực tiếp gửi cho BVN.

Wednesday, 28 August 2013

VC VÀ NẰM VÙNG HỐ TO KHI VẪN XEM THƯỜNG HẢI NGOẠI

HẢI NGOẠI CHÚNG TA CÙNG NHAU LỘT TRẦN BỌN CHÚNG THÌ VC KHÔNG THỂ NÀO TIẾP TỤC PHỈNH LỪA MÃI ĐƯỢC./- Mt68

TỪ NGUYỄN HỘ ĐẾN LÊ HIẾU ĐẰNG, HỒ NGỌC NHUẬN:
CŨNG CHỈ LÀ NHỮNG VỞ KỊCH!
-Lão Móc -

Trong bài “Phản tỉnh thật, phản tỉnh giả”, tôi đã trình bày những việc làm của nhà văn Dương Thu Hương (DTH), người mà ngay sau khi “con trăn Miền Bắc” nuốt trọng “con nai miền Nam”, đã bật khóc khi vào đến Sàigòn (mà những người thắng trận hãnh diện đặt cho cái tên mới là “thành phố Hồ Chí Minh” rực rỡ tên vàng) và đã có nhận xét: “Nền văn minh đã bị cưỡng chiếm bởi một chế độ man rợ!”. 
  
Trong bài viết này, tôi cũng đã viết rõ những tố cáo về chế độ CSVN của những tên “ăn cơm Quốc Gia thờ ma VC” Lê Hiếu Đằng trong bài viết“Những suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh”Hồ Ngọc Nhuận trong bài “Phá xiềng” chẳng có mùi mẽ gì so với những quyển tiểu thuyết “Những Thiên Đường Mù”, “Tiểu Thuyết Vô Đề” và những bài viết “Những tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen” và những bài viết tố cáo đảng CSVN đã “dẫn hổ về thịt dê nhà” và kêu gọi Quân Đội Nhân Dân đứng lên “chém chết những con đĩ Mỵ Châu (tức 14 tên đầu lĩnh bán nước trong Bộ Chính Trị) đang nằm dạng háng chờ những thằng Trọng Thủy phương Bắc (tức bọn Trung Cộng)”. 
  
Theo tôi nghĩ, vở kịch “phản tỉnh” của nhà văn DTH đã hạ màn khi bà ta được sang định cư tại Pháp và viết quyển “Đỉnh Cao Chói Lọi” để ca tụng tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh. 
  
Cũng như diễn viên “phản đảng cuội” Bùi Tín đã lộ mặt quá rõ qua những việc làm của ông ta tại hải ngoại trong hơn 20 năm qua. 
  
Do đó, trong bài viết này tôi sẽ đề cập sơ lược đến “những vở kịch phản tỉnh, phản kháng” do các diễn viên Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận thủ diễn. 
  
Ông Nguyễn Hộ, một đảng viên CS có 50 tuổi đảng đã viết các quyển “Quan điểm và Cuộc sống”, “Chỉ có con đường duy nhất: Lột Xác”, “Bức thư ngỏ về giải pháp hoà giải dân tộc”. Ông này đã từng tuyên bố rất quyết liệt: “Căn nhà ở đường Trần Quốc Thảo sẽ là mồ chôn xác tôi”. 
  
Vì vai diễn của ông này “quá đạt” nên có 2 ông trí thức ở hải ngoại là ông kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng (ở Pháp) và ông Tiến sĩ Nguyễn Bá Long (ở Canada) đã “suy cử” ông này lên làm “minh chủ” cỗ xe “Mặt Trận Dân Chủ”. Ông Nguyễn Hộ, từ trong nước đã “ị” từ trên đầu hai ông trí thức Kiểng, Long mà “ị” xuống. Báo hại hai ông “trí thức đầu ruồi” này lãnh đủ cả “thùng phân phản kháng” của ông Nguyễn Hộ. (Xin xem phụ bản) 
  
Về chuyện của cố Trung Tướng Trần Độ xin xem bài viết “Trần Độ: Chống Đảng để cứu Đảng” của Lão Móc. 
  
Về chuyện ông Hoàng Minh Chính xin xem bài viết “Từ từ mà điên” của bình luận gia Kiêm Ái. 
  
Về màn giễu dở của 2 diễn viên Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận xin mời độc giả đọc “góp ý” sau đây của nick có tên “quandannambo” góp ý dưới bài của ông đảng viên Việt Tân Nguyễn Khắc Long tức Hoàng Long phỏng vấn ông Bùi Tín như sau: 
  

“Thấy quý vị bàn việc nước dễ như ăn kẹo thật buồn cười. 
Nếu những tay đổ tể như Lê Hiếu Đằng buông dao vào giờ thứ 25 mà cứu được nước  thì Việt Nam đã được cứu từ lâu. 
Trò phản tỉnh là sang kiến của Ba Đình Hà Nội đưa ra tính đến nay đã được khoảng 20 năm tuổI ý đồ chính là mở một cửa sau để thoát hiểm phòng khi chế độ sụp đổ và  cũng để hoá giải những khó khăn trên mặt trận tư tuởng văn hoá. 
  
VC tính toán rất gian manh và xảo quyệt. Tay lão thành cách mạng phản tỉnh Lê Hiếu Đằng là người thứ 201 trong danh sách diễn viên. 
Phản tỉnh LHĐ chẳng đáng xách dép cho phản tỉnh cộm cán Hoàng Minh Chính. 
Đây chỉ là trò thay đổi diễn viên. 
Đảng viên phản tỉnh miền Bắc đã hết ăn khách 
Nên phải đưa đảng viên phản tỉnh Nam Bộ lên sân khấu lên vai diễn. 
Trung tâm phản tỉnh Hà Nội đã đóng cửa nếu quý vị đảng viên lão thành cách mạng nào 
Có nhu cầu phản tỉnh…thì xin liên hệ với trung tâm phản tỉnh Sàigòn. 
Phản tỉnh Bùi Tín bơm hơi cho phản tỉnh LHĐ là đúng bài bản của Ba Đình 
Nồi nào úp vung nấy. 
Màn kịch phản tỉnh diễn đã được 20 năm Xin quý vị hãy làm lễ tổng kết 
để rút ưu khuyết điểm phê bình và tự phê để làm các màn kế tiếp hấp dẫn hơn.”   
Về một số ý kiến cho rằng không nên “đánh phá” “nhân thân” của hai ông “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản” LHĐ, HNN, cứ để hai ông này làm coi thật hay giả rồi hãy có phản ứng thì, xin thưa: 
  
Cá nhân tôi, LM, chỉ phê phán và đánh giá việc làm của hai ông này, chứ không đánh phá! Cũng như trong quá khứ, tôi đã phê phán và đánh giá nhà văn Dương Thu Hương, các ông Bùi Tín, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Minh Chính… cũng như đã phê phán những cá nhân và những tổ chức, đảng phái tại hải ngoại. 
  
Xin hãy phân biệt: Phê phán không phải là đánh phá! 
  

PHỤ BẢN 
  
Bà Ngô Bá Thành, người theo đảng CSVN vào giờ thứ 25, đã trả lời phóng viên ngoại quốc về số phận của “bọn ngụy quân, ngụy quyền” như sau:“Đảng và Nhà nước cho các ngụy quân, ngụy quyền đi học tập cải tạo là nhân đạo lắm rồi. Lẽ ra phải đem những người này ra mà bắn (sic!)”. Do đó, “bọn ngụy quân, ngụy quyền” của miền Nam cũng không nên “chạnh lòng” mà làm gì khi nghe Ông Nguyễn Hộ, người đã hãnh diện tự xưng “đã đi làm cách mạng 56 năm” tuyên bố: “Nhà cửa của ngụy thì ta ở, vợ của ngụy thì ta xài, con của ngụy thì ta sai, còn bọn ngụy thì ta đày chúng nó lên vùng rừng sâu, nước độc!”. 
  
Ông Nguyễn Hộ- người tuyên bố câu nói để đời này - đã qua đời vào ngày 2-7-2009. 
“Các nhà tranh đấu dân chủ, tự do” từ trong nước hết lời lên tiếng ca tụng “sự nghiệp tranh đấu cho tự do, dân chủ” của ông Nguyễn Hộ.  
  

“Quan điểm tựa Sáu Dân, mấy trận sửa sai thành quyết tử
Cuộc sống như Năm Hộ, hai lần kháng chiến để trường sinh”. 
  
Đây là câu đối do ông Hà Sĩ Phu và thân hữu gửi đến đám tang của “nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ” Nguyễn Hộ. 
  
Vào năm 1996, tại hải ngoại có ông Tiến sĩ Nguyễn Bá Long ở Canada và ông kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng của nhóm Thông Luận ở Pháp xúm nhau vào suy tôn “nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ” Nguyễn Hộ lên làm MINH CHỦ, nhưng ông này không chịu. Lúc đó chúng tôi có viết bài viết này với cái tựa đề “Góp ý với ông Trần Bình Nam: Phê phán không phải là đánh phá”. 
  
Nay, “nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ” Nguyễn Hộ đã qua đời, không thấy “các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ ở trong nước” ghi lại SỰ KIỆN LỊCH SỬ ông Nguyễn Hộ ĐƯỢC “các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ ở hải ngoại” là các ông Nguyễn Bá Long, Nguyễn Gia Kiểng SUY TÔN LÀM MINH CHỦ! 
                        
Đề nghị “các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ ở trong nước” ghi thêm “thành tích vĩ đại” này vào sự nghiệp của ông Nguyễn Hộ. 

  
“Kính gởi giáo sư Nguyễn Bá Long. 
  
Thưa ông, 
  
Vừa qua, ông có hỏi tôi về một bức thư ngỏ gởi cho cộng đồng người Việt hải ngoại bên dưới có ghi tên tôi - Nguyễn Hộ - có phải là của tôi không? Vì tôi chưa có và chưa kịp đọc bức thư ấy nên tôi chưa kịp trả lời ngay cho ông. Nay thì sau khi đọc được nó rồi, tôi xin khẳng định với ông là từ đầu năm 1996 đến nay (gần 4 tháng) tôi không hề viết bức thư ngỏ nào gửi cho cộng đồng người Việt hải ngoại cả (chỉ trừ bức thư tôi viết vào cuối năm 1995 để trả lời các câu hỏi của ông đặt ra sau khi ông đọc thư ngỏ của tôi về giải pháp hòa giải hòa hợp dân tộc ở Việt Nam). Chắc ai đó ở hải ngoại với động cơ và ý đồ gì thì tôi không rõ, đã mạo danh tánh tôi, viết ra bức thư ngỏ ấy. Đó là điều sai trái. Vậy xin thông báo ông rõ để tránh lầm lẫn. Cái gì của tôi viết thì tôi khẳng định nó là của tôi như “Quan điểm và cuộc sống”, “Chỉ có con đường duy nhất: Lột xác”, “Bức thư ngỏ về giải pháp hòa hợp hòa giải dân tộc”. Ngoài ra, cái gì không phải của tôi (dù có ghi rõ tên tôi) thì tôi phải khẳng định nó không phải là của mình. 
Sự đời thật phức tạp. Mong ông hiểu cho. Chúc ông luôn vui khoẻ và hạnh phúc. 
Thân ái 
(ký tên) 
Nguyễn Hộ”.  
  
Trên đây là lá thư viết tay không đề ngày của ông Nguyễn Hộ, gửi cho ông Nguyễn Bá Long, để trả lời với ông Long cùng một số người khác ồn ào suy cử ông Nguyễn Hộ làm lãnh tụ. 
  
Trái núi đẻ ra con chuột. Mọi chuyện bắt đầu từ nhóm Thông Luận của ông Nguyễn Gia Kiểng ở Paris, đưa đến sự sai lầm đáng tiếc của ông Nguyễn Bá Long ở Canada. 
  
Về việc này, ông Trần Bình Nam của Tổ chức Phục Hưng đã viết một bài, tựa đề “Ông Nguyễn Hộ và bà Dương Thu Hương” với nội dung bào chữa cho việc làm của nhóm Thông Luận, trách móc ông Nguyễn Hộ chấm dứt với kết luận: 
  
“Hãy để cho ông Nguyễn Hộ trở về hàng ngũ của ông, trên con đường tranh đấu, ta còn gặp lại ông. Nhưng không vì một lý do nào người quốc gia phải đánh nhau vì lá thư không đề ngày của ông Nguyễn Hộ.” (Trần Bình Nam, Bài đã dẫn).   
  

  • Diễn tiến sự việc:
  
-Đầu tháng 3-1996, nhóm Thông Luận của ông Nguyễn Gia Kiểng phổ biến một lá thư ngỏ, không có ký tên, đề ngày 19-2-1996, nói là của ông Nguyễn Hộ, nội dung kêu gọi mọi người Việt Nam trong và ngoài nước thuộc mọi phe phái thành lập một mặt trận dân chủ. 
  
-Ngay sau đó, ông Nguyễn Bá Long và nhóm của ông đã đứng ra thành lập một mặt trận dân chủ, suy tôn ông Nguyễn Hộ lên làm Chủ tịch và ông Nguyễn Bá Long tự phong là Tổng thư ký. Ông Nguyễn Bá Long kêu gọi sự ủng hộ của mọi người đối với việc suy cử ông Nguyễn Hộ của ông. 
  
-Tháng 7-1996: Ông Nguyễn Hộ gửi ra hải ngoại lá thư viết tay, có ký tên, nhưng không đề ngày viết. Nguyên văn bức thư này đã được ghi lại như ở phần đầu bài viết này. Lá thư tuy không đề ngày, nhưng qua nội dung, ông Hộ cố ý để lộ cho mọi người là ông viết bức thư nói trên vào khoảng cuối tháng 4-1966 (“… Từ đầu năm 1966 đến nay (gần 4 tháng) tôi không hề viết bức thư ngỏ nào…”. Thư ông Nguyễn Hộ đã dẫn ở đầu bài). Còn thời gian chính xác khi ông Nguyễn Hộ viết lá thư này là điều cần phải xét lại. 
  
-Trong bài “Ông Nguyễn Hộ và bà Dương Thu Hương”, ông Trần Bình Nam viết: “Dư luận vốn thích chuyện ‘scandale’ nên thư ông Nguyễn Hộ trở thành lý do ngon lành để các đoàn thể chính trị hải ngoại chỉ trích và tố cáo lẫn nhau. Biết đâu đó cũng là điều ông Nguyễn Hộ muốn. Vào lúc Thông Luận phổ biến thư ngỏ, ông Nguyễn Hộ đang bị chính quyền Cộng sản bao vây và một phụ tá của ông Nguyễn Hộ đã liên tục thúc hối Thông Luận phổ biến thư ngỏ. Bản văn do Thông Luận thảo, đã được trao đổi với ông Nguyễn Hộ, thời gian ông chưa bị bao vây, mặc dù chưa chung quyết. Trước khi phổ biến, tài liệu đã được sửa đổi theo yêu cầu của người phụ tá ông Nguyễn Hộ…” (TBN, Bđd). 
  
Như vậy rõ ràng, bức thư ngỏ đề ngày 19-2-96 do nhóm Thông Luận phổ biến và tuyên bố là của ông Nguyễn Hộ, thực sự không do chính tay ông Hộ viết, và không được gửi đi từ Việt Nam, do đó không có chữ ký của ông Nguyễn Hộ. Bức thư do nhóm Thông Luận thảo ra, và theo ông Trần Bình Nam, đã có những trao đổi giữa ông Hộ và nhóm Thông Luận về nội dung bức thư. Nhưng vào thời điểm cuối cùng trước khi lá thư được phổ biến, Thông Luận không còn liên lạc được với ông Hộ. Thông Luận chỉ còn liên lạc được với “người phụ tá” của ông Hộ, và nội dung bức thư đã được sửa chữa lại theo lời yêu cầu của người này. “Người phụ tá” này là ai mà được Thông Luận tin tưởng và nghe theo?    
  

“… Trong khi đó người phụ tá của ông Nguyễn Hộ thúc đấy Thông Luận phổ biến lá thư ngỏ đã soạn thảo trước kia với vài thay đổi. Qua nhiều năm làm việc với nhau, Thông Luận không nghi ngờ gì về ý muốn của ông Nguyễn Hộ qua người phụ tá nên đã phổ biến thư ngỏ ngày 19-2 như một văn kiện do ông Nguyễn Hộ ký…” (TBN, Bđd).

Rõ ràng Thông Luận và “người phụ tá” của ông Hộ mới thực sự là tác giả bức thư và cũng là người đã chịu trách nhiệm phổ biến lá thư đề ngày 19-2-96. Ông Trần Bình Nam đã bỏ công bào chữa cho nhóm Thông Luận: “… Vì hoàn cảnh khắc nghiệt, ông Nguyễn Hộ không ký được, nay ông có quyền nói ông không ký nhưng hàm ý rằng Thông Luận giả mạo tên của ông là điều quá đáng…” (TBN, Bđd). 
  
Trên lý lẽ, nhóm Thông Luận khó bào chữa việc mạo danh người khác. Thông Luận đã thảo ra bức thư, “người phụ tá” của ông Hộ góp ý kiến sửa đổi, sau đó đem phổ biến dưới tên ông Nguyễn Hộ. Màn kịch do Thông Luận và một vài người - chưa rõ danh tính, gốc gác - mệnh danh phụ tá cho ông Hộ góp tay dựng nên. Bào chữa chuyện mạo danh này bằng cách nói rằng nội dung bức thư được trao đổi trước là không thuận lý. Cho dù lá thư ấy được chính tay ông Hộ từ trong nước gửi ra nhưng không có chữ ký của chính ông Hộ thì Thông Luận cũng không thể phổ biến dưới danh nghĩa của ông Hộ được. Đó là một kẽ hở cố tình trên khía cạnh pháp lý. Chỉ có một trong hai điều sau đây là có thể được mọi người chấp nhận: 
  
Thông Luận đã dựng nên màn kịch, hoặc Thông Luận tỏ ra hết sức ngờ nghệch về pháp lý và không có sự thận trọng cảnh giác tối cần thiết trong khi đối đầu với những người Cộng sản. 
  
Đối với nội tình trong nước, ông Trần Bình Nam nhận định: “Thời gian gần Đại hội 8, khoác bên ngoài là sự tranh chấp giữa hai khuynh hướng bảo thủ và cởi mở (kinh tế và chính trị) kỳ thực bên trong là sự tranh chấp giữa hai khuynh hướng Bắc Nam trong Đảng. Võ Văn Kiệt bị nhóm bảo thủ Hà Nội tìm cách bứng ra khỏi vị trí quyền lực, ông bèn trở về huy động lực lượng gốc miền Nam, trong đó có nhóm ông Nguyễn Hộ để tự tồn… Cho nên ông Hộ đổi liên minh là phải vì liên minh với các đảng viên Cộng sản gốc miền Nam mới có khả năng thay đổi thế cờ…” (TBN, Bđd). 
  
Lẽ ra nên có sự cảnh giác trước khi có chuyện này xảy ra. Ông Trần Bình Nam cho rằng tại “dư luận vốn thích chuyện ‘scandale’ nên thư ông Nguyễn Hộ trở thành lý do ngon lành để các đoàn thể chính trị hải ngoại chỉ trích và tố cáo lẫn nhau”. Nếu ông Trần Bình Nam để ý sẽ thấy dư luận đã lên tiếng phê phán ngay từ khi  ông Nguyễn Bá Long bắt đầu lên tiếng suy cử ông Nguyễn Hộ, chứ không phải lên tiếng sau khi ông Nguyễn Hộ gửi ra hải ngoại lá thư có ký tên nhưng lại không đề ngày! 
Mọi người đã lên tiếng cảnh giác trước khi ông Nguyễn Bá Long rơi xuống cái hố do chính ông, Thông Luận và “người phụ tá” của ông Nguyễn Hộ góp tay đào nên. Ông Nguyễn Bá Long đã vô tình đào sâu cái hố rồi chính mình rơi xuống đó. Còn Thông Luận và những “người khác” khi góp sức khoét sâu cái hố cho ông Long - và những người theo ông; chưa chắc đã là sự vô tình! 
  
Còn về phần ông Nguyễn Hộ, để giải thích sự thay đổi của ông này, ông Trần Bình Nam viết:

 “… Trước kia Nguyễn Hộ giận Võ Văn Kiệt, cho rằng ông Kiệt liên kết với đám cầm quyền Hà Nội để bắt nạt anh em đảng viên tiến bộ ở miền Nam và nhất là đã xử tệ với ông, nhưng sau đại hội 8, ông Võ Văn Kiệt nhờ sự ủng hộ của anh em đảng viên miền Nam mà giữ được vị trí nên ông Kiệt dứt khoát với nhóm cầm quyền Hà Nội, và ông Nguyễn Hộ đã tìm thấy nơi liên minh với ông Kiệt một thế đứng lâu dài hợp với đường lối và bản chất địa phương của ông. Nếu trước kia, ông Nguyễn Hộ không có liên minh nào ngoài liên minh với hải ngoại, bây giờ ông có một liên minh vững chắc bên cạnh vốn có cùng ngôn ngữ chính trị với nhau. Cho nên ông Hộ đổi liên minh… Là Cộng sản suốt cả cuộc đời, ông có quyền trở về liên minh với những người Cộng sản của ông…” 
  
Ông Trần Bình Nam có thể đã có một cách suy nghĩ khá đơn giản trước những chuyện phức tạp, chồng chéo nhau của cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói rằng nhờ sự ủng hộ của đảng viên miền Nam mà Võ Văn Kiệt giữ được vị thế và quay ra “dứt khoát với nhóm cầm quyền Hà Nội” nghe có vẻ như một lời nhận định mang tính chất khôi hài! Chính Võ Văn Kiệt và phe nhóm đang đứng chia phần, bắt tay thỏa hiệp với các phe nhóm khác - ít nhất là trong giai đoạn này - hầu chia chác quyền lợi cho mỗi bên. 
  
Ông Nguyễn Hộ có vì quyền lợi hoặc sự an toàn cá nhân phe nhóm của ông mà thay đổi, chuyện đó chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán được. Bởi vì nhiều người đã lên tiếng góp ý với ông Nguyễn Bá Long từ khi ông này vận động suy cử ông Nguyễn Hộ. Làm sao chúng ta có thể giao trọng trách lãnh đạo chúng ta trong cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ với Cộng sản vào tay một người mà chúng ta không hoàn toàn tin tưởng, đồng ý? Làm sao chúng ta có thể đặt lòng tin vào một người mà rất nhiều người trong chúng ta chỉ “nghe” chứ chưa hề “biết” rõ? Liệu ông Nguyễn Hộ sẽ hành xử vai trò lãnh đạo Mặt Trận Dân Chủ của chúng ta như thế nào trong hoàn cảnh của ông ở trong nước? Với những bài viết của ông gửi ra hải ngoại, chúng ta có thể ghi nhận sự phản tỉnh của ông đối với chủ nghĩa Cộng sản, ý thức về tự do, dân chủ nơi ông. Chúng ta có thể để ông đi cùng đường với chúng ta, yểm trợ ông, khai thác những mặt có lợi trong các lời nói và hành động của ông. Nhưng không nên ngờ nghệch làm một việc vô tác dụng - nếu không muốn nói là phản tác dụng - khi suy cử ông Nguyễn Hộ làm lãnh tụ. MỘT LÃNH TỤ PHẢI CÓ TÁC DỤNG CỦA MỘT BIỂU TƯỢNG, NHƯNG KHÔNG PHẢI BIỂU TƯỢNG NÀO CŨNG CÓ KHẢ NĂNG TRỞ THÀNH LÃNH TỤ! 
  
Tại sao chúng ta liều lĩnh đặt Mặt Trận Dân Chủ dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hộ, một người mà theo ông Trần Bình Nam, các quan hệ giữa ông này với ông Võ Văn Kiệt thay đổi như chong chóng? Tại sao chúng ta lại liều lĩnh đem số mệnh của cả một phong trào vận động đặt vào trong mối quan hệ của hai ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Hộ, vốn  đã không lấy gì làm chắc chắn lắm? 
  
Ông Trần Bình Nam nhận xét về cuộc tranh chấp trong đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay như sau:

 “Đại hội nhưng không có quyết định quan trọng gì về chính sách kinh tế, nhưng với sự sắp xếp nhân sự Chính trị bộ, nhất là nhân sự của Thường vụ Chính trị bộ gồm 5 ủy viên, trong đó cứ xem ông già Đỗ Mười trung lập; Anh và Phiêu (một người miền Bắc, một người miền Trung) bảo thủ; Kiệt và Dũng (hai người miền Nam) cởi mở, người ta thấy một sự dàn trận giữa hai khuynh hướng Bắc Nam. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu và sự ngã ngũ của nó sẽ quyết định tương lai chính trị Việt Nam…” (TBN, Bđd). 
  
Phe nào trong Đảng thắng thế, thì Đảng vẫn là thế lực bao trùm tuyệt đối trên mọi sinh hoạt chính trị của đất nước. Tương lai chính trị của nước Việt Nam chỉ được quyết định ngã ngũ ngay ở điểm Đảng Cộng sản Việt Nam có chịu từ bỏ việc độc quyền lãnh đạo  hay không mà thôi. Phe nhóm nào đạt được sự thắng thế trong Đảng, điều ấy có ảnh hưởng nhất định đối với đất nước trong một giai đoạn nhất thời; nhưng chắc chắn sẽ không mang quyết định chung cuộc. Đó là điều dứt khoát. 
  
Mọi người đã phê phán và còn tiếp tục phê phán những hành động của ông Nguyễn Bá Long và nhóm của ông. 
  
Nhưng phê phán không có nghĩa là đánh phá. Mọi người phê phán hành động suy tôn ông Nguyễn Hộ của ông Nguyễn Bá Long. Người ta phê phán đó là một hành động nông nổi, thiếu cảnh giác và không được đặt trên căn bản của một sự nhận thức và suy xét không kỹ lưỡng, cẩn trọng. Rõ ràng là hành động của nhóm ông Nguyễn Bá Long vừa rồi đã đem lại những thiệt hại không nhỏ đối với phong trào tranh đấu cho dân chủ, tự do. Nhưng không ai đánh phá ông Nguyễn Bá Long và nhóm của ông, chưa đến nỗi có ai lên tiếng cho rằng ông Nguyễn Bá Long và nhóm của ông đang cố tình phá hoại công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ. Người ta đã lên tiếng cảnh giác ông, nhưng vì những lý do nào đó, ông Nguyễn Bá Long đã bỏ ngoài tai những lời cảnh giác ấy. Đó là lý do tại sao ông đang bị dư luận người Việt hải ngoại phê phán hơi nặng nề. Nhưng sự phê phán nặng nề đó vẫn không phải là sự đánh phá. 
  
Có thể có một số người nghĩ rằng ông Nguyễn Bá Long nhất định suy cử ông Nguyễn Hộ làm Chủ tịch Mặt Trận Dân Chủ là để qua đó, khẳng định chức Tổng thư ký Mặt Trận này mà ông tự phong cho mình. Chính việc này đã dẫn đến hậu quả tai hại như vừa rồi. Việc này hãy để công luận đánh giá. 
  
Những hành động mập mờ, không rõ ràng của nhóm Thông Luận trong nhiều năm qua đã khiến mọi người nghi ngờ về lập trường của nhóm này. Sự kiện Thông Luận và “người phụ tá” của ông Nguyễn Hộ đã thảo ra, sửa đổi và phổ biến lá thư ngỏ không ký tên đề ngày 19-2-96, nói chung là của ông Nguyễn Hộ mặc dù ông này chưa có ý kiến “chung quyết” - chữ của chính ông Trần Bình Nam - đã củng cố thêm sự bất tín nhiệm của công luận đối với lập trường và hành động của nhóm Thông Luận. Ông Trần Bình Nam cố công bào chữa cho nhóm này, phải chăng vì sự liên hệ mật thiết giữa Tổ chức Phục Hưng và nhóm của ông Nguyễn Gia Kiểng? 
  
Ông Nguyễn Hộ đã có đầy đủ căn bản về lý lẽ để nói rằng ông không hề phổ biến lá thư ngỏ đó. 
  
Người quốc gia không “đánh phá nhau vì một lá thư không đề ngày của ông Nguyễn Hộ” như ông Trần Bình Nam viết đâu. Người quốc gia đang rút kinh nghiệm với nhau về phương thức đấu tranh kêu gọi những ai đang dấn thân đấu tranh hãy tỉnh táo cảnh giác trước mọi thủ đoạn chống phá hàng ngũ Quốc Gia của những người Cộng sản. 
  
Cảnh giác với thủ đoạn của những người Cộng sản, đó là chuyện đương nhiên. Nhưng chúng ta cũng cần phải cảnh giác trước lập trường và hành động mập mờ của nhóm Thông Luận nữa. Còn với ông Nguyễn Bá Long, ông hãy mừng là ông Nguyễn Hộ chỉ mới tuyên bố rằng ông ta chưa hề viết lá thư ngỏ ngày 19-2-96. Ông Hộ chưa tới mức quay ngoặt 180 độ để đánh ngược Mặt Trận Dân Chủ do ông Long làm Tổng thư ký, đó là điều may mắn cho ông và cho mọi người nữa. 
  
Cỗ xe Mặt Trận Dân Chủ do ông Nguyễn Bá Long làm tài xế với vị khách danh dự tối cao là ông Nguyễn Hộ, chỉ mới vừa lăn bánh là đã rơi xuống hố. Nếu ông Nguyễn Hộ chờ thêm một thời gian nữa, khi cỗ xe này đã chạy hết công suất rồi mới ra tay thì hậu quả sẽ còn xấu hơn nhiều! Còn với ông Trần Bình Nam, thưa ông, người Quốc Gia đang rút kinh nghiệm với nhau, đang phê phán nhau, không phải quay ra đánh nhau như ông đã viết. Rõ ràng trong chuyện này, Thông Luận phải gánh một phần trách nhiệm; ông cần gì phải tốn sức bào chữa cho nhóm này như vậy?

LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com

Tuesday, 27 August 2013

THẰNG KHỐN NẠN VC NẰM VÙNG TS ĂN PHÂN TƯƠI HOÀNG VĂN LỄ TEXAS

CHÂN TƯỚNG ÔNG VIỆT KIỀU MỸ VIẾT BÀI TRÊN BÁO NHÂN DÂN
Ông Việt kiều Amari TX là TS. Hoàng Văn Lễ
- Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sổ tay Xây dựng Đảng?!?!


Tâm Sự Y Giáo

Báo Nhân Dân, trong bài thuộc chuyên mục Bình luận và Phê phán ngày 22-8-2013 cho biết tác giả của bài này là Amari TX, một người Mỹ gốc Việt. Được biết tác giả này có nhiều bài đã được đăng trên báo giấy cũng như báo điện tử ở Việt Nam, và là chủ của trang blog amaritx.wordpress.com, mà từ trang blog này, báo Nhân Dân đã đăng lại để có bài nói trên. Trên trang blog này, không khó để nhận ra giọng văn chính luận của một người chuyên làm công tác chính trị tư tưởng, từ ý tưởng, hành văn, câu cú cho đến cách sử dụng các thuật ngữ thuộc chuyên môn nghiệp vụ tuyên huấn. Điều đó làm cho mình băn khoăn : Ông Amari TX này là ai mà viết hay thế, hùng hồn thế ? Sao ông ta là công dân Mỹ mà lại có cách hành văn của một nhà lý luận ở Việt Nam, một người marxist kiên trung đến thế ?

Hôm nay mình tình cờ đọc bài trên báo Sài Gòn Giải Phóng của TS. Hoàng Văn Lễ, thì thấy có những ý, những câu giống hệt như của tác giả Amari TX.


Chẳng hạnTS. Hoàng Văn Lễ viết :


Nếu nghiên cứu kỹ hơn, chắc “Đằng ấy” biết rằng: Một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là chế độ đa nguyên về chính trị. Trung Quốc hiện nay có 9 đảng chính trị thì 8 đảng thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là người duy nhất lãnh đạo nước Trung Hoa, lấy chung mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là chế độ đa đảng mà nhất nguyên về chính trị. Ở Mỹ, tuy có 2 đảng nhưng có đúng là chế độ đa nguyên về chính trị không? Bởi 2 đảng này chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản còn xét về bản chất giai cấp - xã hội, 2 đảng này là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau: củng cố và phát triển thể chế chính trị đầy bất công ở Mỹ. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai có thể đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ thể chế riêng có của họ. Ở nước Nga thời hậu Xô-viết, người ta cũng thành lập chế độ cộng hòa tổng thống theo cách thức của người Nga chứ không theo cách thức của người Anh để tái thiết lập chế độ Sa hoàng… 


Thưa anh Lê Hiếu Đằng, hẳn anh cũng biết rằng, một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên về chính trị là do một loạt nhân tố quy định, trong đó tương quan lực lượng xác lập vị trí vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó. Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Còn Amari TX thì viết :


Xin nói để ông và các ‘chiến hữu’ của ông biết : một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là một chế độ đa nguyên về chính trị. Chẳng hạn ở Mỹ hiện nay, tuy đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng nếu xem đó là chế độ đa nguyên về chính trị thì chưa hẳn đúng. Bởi lẽ, hai đảng chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản ; xét về mặt bản chất giai cấp – xã hội, hai đảng là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau là củng cố và phát triển thể chế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ... Ở các nước khác cũng tương tự như vậy, cho dù nước Mỹ khác nước Anh, nước Anh lại không giống nước Pháp, nước Ý. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai ngớ ngẩn, rỗi hơi, vô lối đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ chế độ quân chủ lập hiến để hiến định chế độ cộng hòa, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa dân chủ nhân dân...


Một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên, về chính trị do một loạt nhân tố quy định, trong đó, đáng quan tâm nhất là : tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bối cảnh xác lập vị trí lãnh đạo, vai trò cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó. Vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, có thể thấy ở nước ta, bối cảnh xác lập vị trí duy nhất lãnh đạo xã hội, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của ĐCS Việt Nam như sau : Đây là nhân tố hoàn toàn khách quan, độc lập với ý chí của mọi chủ thể hoạt động chính trị. Vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam là một tất yếu khách quan của tiến trình lịch sử dân tộc, không phải do ai áp đặt lên xã hội.

Và đây là bảng đối chiếu:
TS Hoàng Văn Lễ
Amari TX
Nếu nghiên cứu kỹ hơn, chắc “Đằng ấy” biết rằng:Một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là chế độ đa nguyên về chính trị. Trung Quốc hiện nay có 9 đảng chính trị thì 8 đảng thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là người duy nhất lãnh đạo nước Trung Hoa, lấy chung mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là chế độ đa đảng mà nhất nguyên về chính trị. Ở Mỹ, tuy có 2 đảng nhưng có đúng là chế độ đa nguyên về chính trị không? Bởi 2 đảng này chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản còn xét về bản chất giai cấp - xã hội, 2 đảng này là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau: củng cố và phát triển thể chế chính trị đầy bất công ở Mỹ.
Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến.Không ai có thể đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ thể chế riêng có của họ.


Thưa anh Lê Hiếu Đằng, hẳn anh cũng biết rằng, một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên về chính trị là do một loạt nhân tố quy định, trong đó tương quan lực lượng xác lập vị trí vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó.
Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xin nói để ông và các ‘chiến hữu’ của ông biết : một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là một chế độ đa nguyên về chính trị.




Chẳng hạn ở Mỹ hiện nay, tuy đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng nếu xem đó là chế độ đa nguyên về chính trị thì chưa hẳn đúng. Bởi lẽ, hai đảng chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản ; xét về mặt bản chất giai cấp – xã hội, hai đảng là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau là củng cố và phát triển thể chế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ... Ở các nước khác cũng tương tự như vậy, cho dù nước Mỹ khác nước Anh, nước Anh lại không giống nước Pháp, nước Ý. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai ngớ ngẩn, rỗi hơi, vô lối đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ chế độ quân chủ lập hiến để hiến định chế độ cộng hòa, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa dân chủ nhân dân...
Một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên, về chính trị do một loạt nhân tố quy định, trong đó, đáng quan tâm nhất là : tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bối cảnh xác lập vị trí lãnh đạo, vai trò cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó. Vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, có thể thấy ở nước ta, bối cảnh xác lập vị trí duy nhất lãnh đạo xã hội, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của ĐCS Việt Nam như sau : ...


Được biết, bài của TS. Hoàng Văn Lễ (cựu Tổng biên tập Tạp chí Xây dựng Đảng) được báo SGGP đăng lúc 7h20 ngày 26-8-2013, nghĩa là sau bài của Amari TX trên báo Nhân Dân 4 ngày, và cũng sau bài của Amari TX trên blog amaritx.wordpress.com 4 ngày.


Nếu TS. Hoàng Văn Lễ và Amari TX là hai người khác nhau, thì có thể kết luận mà không phải chần chừ gì nữa : TS. Hoàng Văn Lễ đã trắng trợn đạo văn của Amari TX !


Tuy nhiên, điều này rất khó xảy ra giữa các tác già của hai tờ báo lớn là Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, đều là những cơ quan ngôn luận rất lớn của Đảng. Bởi nếu như thế thì chẳng còn ra cái thể thống gì nữa.


Vì vậy, có lẽ chỉ còn một khả năng duy nhất : Amari TX chính là TS Hoàng Văn Lễ, cựu Tổng Biên tập Tạp chí Xây dựng Đảng !


Và nếu điều này xảy ra, thì chỉ có thể gọi đây là một SỰ LỪA DỐI KINH HOÀNG!

ĐÚNG LÀ LUẬT SƯ TRONG RỪNG VIỆT CỘNG !!!

MUỐN LẬP ĐẢNG PHẢI ĐỆ ĐƠN XIN VỚI HÀNH PHÁP - QUỐC HỘI KHÔNG CÓ QUYỀN GÌ CẢ - QUỐC HỘI CŨNG KHÔNG CÓ QUYỀN GIẢI THÍCH LUẬT LỆ HAY HIẾN PHÁP - CHỈ CÓ TỐI CAO PHÁP VIỆN MỚI CÓ QUYỀN GIẢI THÍCH HIẾP PHÁP và LUẬT LỆ- 

* NẾU HÀNH PHÁP BÁC ĐƠN, KHÔNG CHO LẬP ĐẢNG - ĐƯƠNG ĐƠN CÓ QUYỀN KIỆN HÀNH PHÁP RA TÒA ÁN HÀNH CHÁNH (Chuyên xử các quyết định Hành Chánh) 

- LUẬT SƯ ĐÂU CÓ MẮC MỚ GÌ VỚI QUỐC HỘI - NẾU HỎI THÌ QUỐC HỘI SẼ KHÔNG CÓ CĂN BẢN NÀO ĐỂ TRẢ LỜI CẢ - CÒN NHƯ QUỐC HỘI TRẢ LỜI THÌ CŨNG KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ GÌ CẢ - VÌ QH CHỈ CÓ NHIỆM VỤ LÀM LUẬT và KIỂM SOÁT HÀNH PHÁP CHỨ KHÔNG CÓ QUYỀN THAY THẾ NHIỆM VỤ HÀNH PHÁP- NGU VỪA PHẢI THÔI LUẬT SƯ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ PHÈO./- Mt68


LS Trần Vũ Hải gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội bản Dự thảo Ý kiến về Thành lập và Tham gia đảng phái

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—–*****—–
ĐỀ NGHỊ  CHO Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ
THÀNH LẬP VÀ THAM GIA MỘT ĐẢNG NGOÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Kính gửi:  Ủy ban thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)
Tôi là Trần Vũ Hải, hành nghề luật sư tại 81 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, Hà Nội và 66 Huỳnh Khương Ninh, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh, xin gửi lời chào trân trọng đến Quý vị và xin được trình bày như sau:
Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý.
Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành và đã dự thảo Bản ý kiến gửi Quý vị để tham khảo và cho ý kiến về vấn đề này.
Theo chúng tôi, vấn đề thành lập và tham gia một đảng ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, đã có nhiều người đề xuất, các cơ quan chức năng và các nhà luật học hàng đầu của Việt Nam cần có những quan điểm rõ ràng căn cứ vào pháp luật Việt Nam để khẳng định luật pháp Việt Nam có cấm công dân Việt Nam tham gia và thành lập đảng khác ĐCSVN, nếu không cấm việc thành lập sẽ diễn ra như thế nào để phù hợp pháp luật Việt Nam.
Chúng tôi tin tưởng rằng, Quý vị sẽ có ý kiến chính thức về vấn đề quan trọng này và những ý kiến này cần được công bố trên các phương tiện truyền thông.
Trân trọng.
  
Công dân Trần Vũ Hải
——————–
BẢN Ý KIẾN
VỀ THÀNH LẬP VÀ THAM GIA ĐẢNG PHÁI DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
(Dự thảo)
 Hà Nội, ngày 22/8/2013
Từ sau 1975 đến 1988, tại Việt Nam có 03 chính đảng hoạt động hợp pháp là Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đó là Đảng Lao động Việt Nam và tên gọi tại miền Nam là Đảng Nhân dân Cách mạng), Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam hoạt động. Đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tự giải tán. Từ đó đến nay, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chưa có đảng nào được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài ĐCSVN.
Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý. Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, trong đó có những văn bản sau:
1.     Hiến pháp Việt Nam  năm 1992 (được sửa đổi 2001);
2.     Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005;
3.     Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và các luật sửa đổi, bổ sung bộ luật này;
4.     Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1984);
5.     Luật về quyền lập hội 1957;
6.     Một số luật khác như: Luật Mặt trận Tổ quốc; Luật Công đoàn 2012; Luật Thanh niên; Pháp lệnh về Cựu chiến binh….;
7.     Nghị định 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2010/NĐ-CP; các thông tư hướng dẫn các Nghị định này.
Trên cơ sở nghiên cứu những văn bản này, chúng tôi có những ý kiến như sau:
1.     Không có điều khoản nào trong Hiến pháp và các luật của Việt Nam cấm công dân Việt Nam thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài ĐCSVN.
2.   Tuy nhiên, Điều 79 Bộ luật Hình sự có quy định trừng phạt người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Như vậy, việc thành lập hoặc tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này. Nói cách khác, hoạt động thành lập và tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền sẽ không được coi là bất hợp pháp.
3.   Về nguyên tắc đảng là một loại hội chính trị. Thành lập và tham gia một chính đảng là thực hiện quyền về lập hội, hội họp. Điều 69 Hiến pháp ghi nhận: Công dân có quyền … hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Điều 22 Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình. 
4.   Pháp luật nhiều nước phân biệt giữa đảng phái chính trị và hội. Bộ luật Dân sự Việt Nam (Điều 100) quy định có các loại pháp nhân như: (i) tổ chức chính trị; tổ chức chính trị – xã hội; (ii) tổ chức chính trị  xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; (iii) tổ chức khác. Không có quy định rõ trong Bộ luật Dân sự hội thuộc loại pháp nhân nào trong 03 loại pháp nhân trên.
5.    Chúng tôi cho rằng một đảng phái hoặc  một liên minh chính trị là tổ chức chính trị theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, không có điều khoản nào của Hiến pháp, các Luật, Điều lệ ĐCSVN khẳng định ĐCSVN là một tổ chức chính trị. Điều 9 Hiến pháp quy định Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu… Luật Mặt trận Tổ quốc cũng có quy định tương tự, nhưng không khẳng định Mặt trận tổ quốc là tổ chức chính trị (theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự). Các tổ chức chính trị – xã hội ở Việt Nam gồm: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các công đoàn (theo Luật Công đoàn), Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam (theo Luật Thanh niên), Hội Cựu chiến binh Việt Nam (theo Pháp lệnh Cựu chiến binh),Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (theo Điều lệ của hội này), Hội Nông dân Việt Nam (theo Điều lệ của hội này).
6.     Có vẻ như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội không được coi là hội theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Luật về Quyền  lập hội 1957 hiện đang còn hiệu lực (mặc dù một số điều khoản trong Luật này thực tế đã  không còn hiệu lực do không phù hợp với một số luật khác ban hành sau đó hoặc không phù hợp với thực tế hiện nay, nhưng Nghị định 45/2010/NĐ-CP vẫn căn cứ vào Luật này, tức Chính phủ vẫn coi Luật này còn hiệu lực). Điều 9 Luật về quyền lập hội quy định: Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này. Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) quy định không áp dụng đối với các tổ chức chính trị – xã hội (nêu ở mục 5 trên), các tổ chức giáo hội. Không thấy Nghị định này quy định rõ loại trừ ĐCSVN và tổ chức chính trị ra khỏi đối tượng áp dụng. Nhưng Điều 2 định nghĩa hội như sau: Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viêncủa cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hiểu theo quy định này, đảng phái (tổ chức chính trị) không được coi là Hội. Như vậy, có thể cho rằng Luật về quyền lập hội, Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) không áp dụng cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.
7.     Trong khi Công đoàn, Mặt trận có luật riêng, chưa thấy có luật nào về đảng, kể cả luật về ĐCSVN. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, đảng là một tổ chức chính trị, một loại pháp nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự. Do đó, những quy định về pháp nhân, tổ chức chính trị trong Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng nếu xem xét về thành lập, tham gia một đảng chính trị.
8. Pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật Dân sự được quy định như sau:
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Được thành lập hợp pháp;
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Thế nào là thành lập hợp pháp không được định nghĩa rõ trong Bộ luật Dân sự, tuy nhiên Điều 85 Bộ luật Dân sự quy định như sau: Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy có 02 loại pháp nhân được thành lập: (i) theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức.
9.     Tổ chức chính trị theo Bộ luật Dân sự thuộc đối tượng nào trong 02 loại pháp nhân được thành lập nêu trên? (Đảng có phải xin phép thành lập từ Nhà nước hay không?)
Điều 88 khoản 1 Bộ luật Dân sự quy định : Trong trường hợp pháp luật quy định pháp nhân phải có điều lệ thì điều lệ của pháp nhân phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua; điều lệ của pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận trong trường hợp pháp luật có quy định.
Như phân tích ở trên, không có luật nào quy định về thành lập, tham gia tổ chức chính trị ngoài Bộ luật Dân sự. Do đó, đảng (tổ chức chính trị) có cần điều lệ hay không và điều lệ này phải được một cơ quan Nhà nước công nhận hay không sẽ căn cứ chính những điều khoản trong Bộ luật Dân sự.
Trong khi loại pháp nhân (ii) nêu trong mục 4 trên được quy định tại Điều 104 Bộ luật Dân sự (pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp), theo đó pháp nhân loại này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ, thì điều 102 Bộ luật Dân sự quy định về loại pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội chỉ quy định phải có điều lệ, nhưng không quy định cơ quan nhà nước công nhận điều lệ và  cho phép thành lập đối với loại pháp nhân này. Như vậy, tổ chức chính trị (và tổ chức chính trị – xã hội) phải có điều lệ nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận điều lệ, cho phép thành lập. Thực tế, ĐCSVN đã hoạt động như vậy, điều lệ của Đảng này sửa đổi nhiều lần nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận việc sửa đổi vì không có điều khoản của văn bản pháp luật nào (kể cả Bộ luật Dân sự) quy định phải có thủ tục công nhận từ Nhà nước. Nói cách khác pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật Dân sự) quy định: đảng phái (tổ chức chính trị) là loại pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của tổ chức cá nhân (không thuộc loại thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước), không phải xin phép thành lập, điều lệ không cần Nhà nước công nhận nhưng phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua.
10.  Tóm lại, theo chúng tôi đảng phái (tổ chức chính trị) được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, và cần lưu ý những điểm chính sau:
a.     Có sáng kiến của những cá nhân (công dân Việt Nam) đề nghị thành lập đảng.
b.     Mục tiêu của đảng dự kiến thành lập không được nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
c.     Các sáng lập viên (những người sáng kiến) thông qua điều lệ đảng hoặc đại hội thành lập thông qua điều lệ đảng. Đảng phải có cơ quan điều hành (Ban chấp hành), người đại diện (người đứng đầu) và trụ sở (các điều 88,89, 90, 91 Bộ luật Dân sự).
d.     Việc thành lập đảng và điều lệ đảng không cần sự cho phép, công nhận từ Nhà nước.
11.   Tuy nhiên những ý kiến trên là những ý kiến cá nhân của chúng tôi, dựa trên nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành. Theo Điều 91 Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Do đó, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu bản ý kiến này của chúng tôi. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng ý với bản ý kiến này và có cách giải thích khác về Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và những luật liên quan khác về vấn đề này, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố sớm ý kiến của mình.
Văn bản này cũng được gửi đến một số cơ quan liên quan và một số giáo sư, nhà khoa học luật hàng đầu Việt Nam (có danh sách kèm theo dưới đây) để  tham khảo, xin ý kiến.
Chúng tôi hi vọng rằng sẽ nhận được ý kiến của các cơ quan hữu quan, các nhà luật học. Sau 30 ngày kể từ ngày công bố bản ý kiến (dự thảo) này,  những ý kiến (nếu có) của các cơ quan hữu quan và các nhà luật học sẽ được chúng tôi công bố và tham khảo để đưa ra văn bản ý kiến cuối cùng của chúng tôi về vấn đề này.
Trân trọng.
Ký tên
                                                                  Trần Vũ Hải
                          (Hành nghề luật sư tại 81 chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội)
Dự thảo Bản ý kiến này được gửi đến:
1. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)
3. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chung Lưu
4. Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao (Ông Trương Hòa Bình)
5. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao (Ông Nguyễn Hòa Bình)
6. Bộ Công an (Ông Trần Đại Quang)
7. Bộ Tư pháp (Ông Hà Hùng Cường)
8. Bộ Nội vụ (Ông Nguyễn Thái Bình)
9. Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (Ông Phan Trung Lý)
10. Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Ông Nguyễn Văn Hiện)
11. Ông Nguyễn Như Phát – Viện trưởng ViệnNhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
12. Ông Nguyễn Đăng Dung – Giáo sư Luật Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Ông Đào Trí Úc – Giáo sư Luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
14. Bà Mai Hồng Quỳ – Giáo sư Luật – Hiệu trưởng trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
15. Ông Lê Hồng Hạnh – Giáo sư Luật, Hội luật gia Việt Nam