Nguyễn Văn Sâm
Bên ngoài nhà hàng, Đường
Sách càng lúc càng vui. Nhiều người xoải chưn, dang tay chụp hình. Nhiều
phụ nữ áo quần thời thượng đang tạo dáng đứng ngồi, tạo nụ cười tươi
mát huyền hoặc trước máy ảnh.
Sau một vòng dạo đường
sách, con đường nay được coi như bộ mặt văn hóa của thủ đô Sài Gòn, với
nam thanh nữ tú, với du khách thanh lịch, với người có nhiều ái lực với
văn chương… chúng tôi vào quán cà phê ngồi
vừa nói chuyện về những quyển sách xưa nay mà cả hai cùng thích vừa
ngắm hoạt cảnh sau cửa kiếng. Người chơi sách trẻ đi cùng chợt hỏi giọng
rụt rè
‘Bác có quen với nữ văn sĩ Nguyễn thị Hoàng không, cháu nghĩ là cô Hoàng đồng thời với bác.’
Câu hỏi làm quá khứ hiện
về trong trí với khu Đại Học Văn Khoa chật hẹp ở góc đường Nguyễn Trung
Trực và Gia Long một thời tuổi trẻ chúng tôi. Thời chưa có xuống đường ồ
ạt của tuổi trẻ tự dấn thân hay bị giật
dây, chưa có những biến động chánh trị thay chúa đổi ngôi như chong
chóng, người sinh viên chúng tôi chăm chú vào việc trau dồi kiến thức để
tạo lập hành trang cho chính mình trước khi thiệt sự bước chưn vào đời.
Thời của những vô tư với tiếng súng đì đùng
thiệt xa ngoài kia, mơ hồ sương khói. Thời người sinh viên chưa lo lắng
về tấm Giấy Gọi Nhập Ngũ của Chuẩn Tướng Bùi Đình Đạm sau nầy khi chiến
tranh đã lên cao điểm. Tôi trả lời thiệt tình:
‘Đồng thời thì đúng nhưng quen biết thân tình thì chưa được cơ duyên..’
Ánh mắt ngạc nhiên dò hỏi
của người bạn trẻ chiếu thẳng lên tôi rồi quay qua chỗ khác liền. Anh có
vẻ ngạc nhiên về lời thú nhận của tôi. Trầm ngâm một lúc hèn lâu tôi
mới nói như tâm sự:
‘Nữ sĩ cùng trạng tuổi, cùng một lớp ở trường năm ấy nhưng lúc đó như có một sự cách biệt lớn giữa nhóm nam sinh viên ‘nhà quê’ chúng tôi với nhóm các cô ‘rất sang trọng’ ấy.’
Nói tới đây tôi chợt nhớ
đến ba nhóm nữ sinh viên chơi thân với nhau, mỗi nhóm chiếm lĩnh một vị
trí trong giảng đường 1 ngoài sau cầu thang, ngó qua khu đất trống sau
nầy biến thành Thư Viện Quốc Gia mà nay là
Thư Viện Tổng Hợp của thành phố Sàigòn. Thuở ấy, không biết từ bao giờ,
chúng tôi có qui ước bất thành văn là hễ có quyển tập, túi xách nào đặt
lên bàn có nghĩa là ghế đó đã có người. Và không ai tranh cãi dầu cho
nhiều khi ghế xí phần đó không ai vào ngồi.
Thông lệ mỗi nhóm nữ thường cắt ra hai cô đi rất sớm xí chỗ trước. Với
ba nhóm của các cô, bọn nam sinh viên chúng tôi dầu đi sớm cách mấy cũng
thường đành chịu ngồi phía sau. Xa thầy, giảng đường bao la, nghe bài
giảng tiếng được tiếng mất cũng đành chịu,
chẳng lẽ xen vào giữa những tà áo dài đầy màu sắc ấy. ‘Coi sao được’.
Chúng tôi bảo với nhau như vậy và chấp nhận ngồi phía sau, bất lợi về
mặt thâu lượm kiến thức nhưng được cái là có dịp chiêm ngưỡng những cái
ót trắng đẹp, những lọn tóc lòa xòa cố ý, những
mái tóc thề cắt ngang rất thẳng hay những tà áo hở chút vai gần cổ… để
trí tưởng tượng có dịp vân du phiêu bồng…
Tôi nói hơi chi tiết để người bạn trẻ hiểu:
‘Năm 1954, đất nước bị
chia hai. Nỗi đau buồn vì vận nước ai cũng có, nhưng rồi chánh quyền
trách nhiệm phần đất của mình phải bắt tay thực hiện những gì cần thiết
để tạo thành một quốc gia. Trường Đại Học Văn
Khoa trước đó Miền Nam chưa có, được thiết lập từ một bộ phận giáo sư
ít ỏi bỏ Miền Bắc vào Nam. Sau một thời gian chấn chỉnh, khai giảng năm
đầu tiên 1955-1956, với một vị Hán học thâm niên làm Khoa Trưởng. Mấy
năm sau đó, vào niên học 1960-1961 mà chúng
tôi hân hạnh tham dự, trường tương đối đã đi vào nền nếp với vài ba vị
tiền bối được cấp văn bằng cử nhân là văn bằng cao nhứt lúc đó như Lữ Hồ
Nguyễn Minh Hiền, Phạm Thế Ngũ, Lê Hữu Mục, Trịnh Văn Thanh… và một
người là Thích Nhất Hạnh sau nầy.
Giáo Sư Khoa Trưởng thời
1960 là cụ Nguyễn Huy Bảo, một người theo Tây học. Cụ không đồng ý loại
bỏ hẳn ảnh hưởng của Pháp nên tổ chức năm thứ nhứt Văn Khoa gồm hai hệ:
Dự bị Việt dành cho sinh viên học chương
trình Việt dưới Trung học và Dự bị Pháp, dành cho sinh viên trước đây
theo chương trình Pháp, gọi là lớp Propédeutique française. Nói thì nói
vậy, nhưng ai muốn ghi danh hệ nào cũng được, tùy theo ý thích của mình.
Năm thứ nhứt chia như thế nhưng sinh viên
sau khi học xong thì theo hệ thống chứng chỉ, chọn những chứng chỉ nào
mình nghĩ là phù hợp để hoàn tất văn bằng cử nhân sau bốn chứng chỉ..
Lúc nầy hai hệ đã hòa lẫn nhau vì nhiều chứng chỉ có cả giáo sư Việt và
Pháp, nhứt là các chứng chỉ thuộc nhóm Địa lý,
Lịch sử và Triết học.
‘Hình như là cô Ngô Đình Lệ Thủy học Dự Bị Pháp năm đó. Bác có nhớ gì về cô ấy không?’Tôi mơ màng, trầm ngâm khi nhớ đến sự bất hạnh cuối đời của người thiếu nữ duyên dáng nầy:
‘Lệ Thủy học Dự Bị nhưng
sau nầy kìa, hình như là niên khóa 62-63. Vì có hai lớp Dự Bị nên các
sinh viên gọi là cùng học năm thứ nhứt nhưng cách biệt lắm. Dân Dư Bị
Pháp hào hoa sang trọng, nói chuyện với nhau
bằng tiếng Pháp lưu loát, giọng Pháp chuẩn vì họ học ngôn ngữ nầy từ
nhỏ, sử dụng tiếng Pháp hằng ngày với dàn giáo sư hầu hết từ Pháp qua.
Họ ghi tên nhưng với tâm trạng tạm thời để chờ ngày đi du học Pháp, Anh.
Dân Dự bị Việt thì
nhà quê hơn, ít thời thượng và nói tiếng Việt. Tương lai của họ
là ở trên đất nước nầy nhưng vì trở ngại ngôn ngữ nên các trào lưu văn
học và triết học Âu Châu chỉ biết sơ sài. Tôi thuộc lớp nhà quê nầy mà
là nhà quê bực hai vì mình ngố giữa đám đông
các bạn thuộc gia đình tương đối giàu, ăn mặc đúng kiểu: Giày da bóng,
quần jean bằng vải nhung mới, lúc đó chưa có mode xé rách đầu gối hay
cắt cụt tối đa như bây giờ, áo Montagut mỗi ngày một màu trang nhã, sơ
mi dài tay, manchette double có gài nút đắt
tiền… Họ nói chuyện văn chương triết lý cao xa từ những quyển sách mới
xuất bản, ít người biết, được gởi thẳng từ Pháp về qua nhà sách Việt
Bằng ở đường Lê Lợi… Họ ăn uống ở nhà hàng Thanh Bạch, La Cave hay ngồi
ghế cao cẳng trong khu cinéma Lê Lợi thưởng
thức cà phê phin, ăn bánh mì chiên xịt maggi nhập cảng, hoặc cầm tay
đào dạo passage Eden, khu phố Charner (sau nầy là passage Tax), ngồi nhà
hàng La Pagode, Givral, Pole Nord tán gẫu trong những giờ không có
lớp…’
‘Và cô Ngô Đình Lệ Thủy?’
‘Đó là một cô gái tương
đối đẹp. Nhu mì, mềm mỏng. Lúc nào cô cũng có ba bốn người hộ vệ, họ
không dữ dằn hay vô phép gì nhưng luôn luôn ngó chừng với cặp mắt nhà
nghề lưu ý ai đến quá gần ái nữ của ông cố vấn
họ Ngô Đình. Thường bọn nhà quê chúng tôi kháo nhau hôm nay có Lệ Thủy
đi học và đến nhìn. Bao giờ cô ấy bị ai đó nhìn nhiều thì đều mỉm cười
gật đầu chào thân thiện rất Tây phương để người đó biết ý mà tiến tới
làm quen hay lãng xa..’
Người bạn trẻ ranh mãnh với nụ cười nửa miệng:‘Bác có được chào thân thiện?’
‘Dĩ nhiên là có, vài ba
lần vì tò mò, nhưng đến gần để làm quen thì không. Mình vốn nhát làm
quen với bất kỳ ai, vả lại cũng sợ cô ấy xổ tiếng Tây mình ú ớ mặc dầu
các bạn đều quả quyết rằng với người không quen
cô ta đều nói tiếng Việt.’
‘Hai hệ thống giáo dục làm
phân cách một thế hệ thanh niên cùng thời đại… !’ Người bạn trẻ của tôi
trầm ngâm một lúc rồi đưa ra nhận xét.
‘Không ai muốn có hai hệ
thống giáo dục trong một nước. Ngày đó có hiện tượng tréo ngoe nầy vì hệ
thống giáo dục thời Pháp thuộc đương hiện diện cần thời gian để được
thay thế sau khi nước nhà độc lập, thời gian
đó chưa thực sự dứt điểm.’
‘Vậy mà bây giờ chúng ta
đương có hai hệ thống!’ Tiếng người trẻ tuổi thoát ra mau như tên bắn
nhưng với giọng buồn như tiếng than.
Tôi trầm ngâm một lúc lâu, uống nhiều hớp nước mới nhỏ nhẹ:‘Do sự phân cách quá xa giữa các đại gia giàu xụ dính dáng đến chế độ và lớp dân đen cùng đinh nghèo khổ kiếm từ ngàn, nuôi con được đi học là may!’ Tôi lơ đãng ngó ra ngoài rồi chuyển hướng câu chuyện: ‘Hình như chúng ta đi lệch đề tài lúc ban đầu. Em hỏi về nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng?’
Người thanh nên gật đầu bẽn lẽn.
Tôi tiếp moi từ ký ức xa xôi của hơn nửa thế kỷ lâu ngày nằm yên trong não bộ.
‘Nếu Văn Khoa được nhắc
đến nhiều vì có Ngô Đình Lệ Thủy sau nầy thì trước đó hai niên khóa đã
có Nguyễn Thị Hoàng. Dĩ nhiên là trong cái nhìn chủ quan của tôi và vài
ba người bạn tôi lúc đó. Chị ấy có cái đẹp
mặn mà, sang trọng. Chúng tôi thấy nét quí phái của chị trong từng cử
chỉ nghiêm trang hay trong nụ cười thân thiện. Cùng học một lớp nhưng
hầu hết bọn tôi đều coi chị như một người đàn chị trong dáng đi điệu
đứng hay cách nói chuyện với bạn bè nam cũng như
nữ. Tất niên năm đó, nhớ không lầm, thì chị đứng lên ứng khẩu bài nói
chuyện bằng tiếng Anh rất lưu loát. Giáo sư Mc Kenzy, người Tân Tây Lan
dạy môn Anh Văn cho năm Dự Bị Việt chúng tôi đã đeo theo nói chuyện với
chị hàng giờ liền. Trong nhóm bạn của chị
Hoàng có vài chị cũng đẹp và giỏi Anh ngữ, họ đối đáp với thầy mà tôi
tưởng là họ thuộc nhóm theo hệ Dự Bị Anh. Các chị ấy hầu hết sau nầy đều
tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ban Anh văn hay cử nhân Anh văn dễ dàng. Có
một chị rất thành đạt tôi gặp ở Houston, Texas.
Mấy chị khác hầu hết lập gia đình với những người có chức phận nên ít
xuất hiện, họ không trở thành người của đám đông.’
‘Thầy giáo nói chuyện quá lâu với sinh viên có bị tai tiếng cho hai phía như thời nay?’‘Có bạn thời đó như anh Nguyễn Tăng Uyên sau nầy dạy ở trường Sư Phạm Cộng Đồng Long An, quả quyết với tôi là GS.. Mc Kenzy say mê một bóng hồng trong nhóm, tôi xin không nói ra là ai. Chuyện xa xưa rồi, xác nhận rõ ràng chẳng ích lợi gì. Khoảng cách thầy trò chưa đầy 10 tuổi là yếu tố để gánh những tiếng xì xầm. Một người bạn khá thân của tôi lúc ấy là anh Trương Kim Chung (đã mất) lại quả quyết có chị Bích T. thích ông Mc Kenzy. Hai năm sau gặp lại, anh vẫn xác nhận điều đó, tuy rằng hai người trong cuộc chẳng tiến xa gì hơn, ông thầy Anh văn của chúng tôi về nước liền sau niên học ấy…’
Tôi thấy mình không nên đi quá chi tiết cá nhân:
‘Tại sao em hỏi về nhà văn Nguyễn Thị Hoàng?’
‘Em muốn xin vài chữ ký
cho bộ sưu tập tác phẩm có chữ ký của những nhà văn tên tuổi Sàigòn độ
trước. Chữ ký của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng rất khó tìm, kể cả sách từ
trong tủ của cụ Vương Hồng Sển hay của GS Nguyễn
văn Trung.’
‘Chị Hoàng rời trường sớm để trở thành một hiện tượng văn nghệ thời đó…’‘Vòng Tay Học Trò đăng trong tạp chí Bách Khoa xôn xao một thời…’
‘Tôi nghĩ rằng nhà văn
Nguyễn Thị Hoàng đã phát pháo cho phong trào các nhà văn nữ viết mạnh,
dám nói những điều thầm kín mà các cây bút trẻ trước đây khi muốn viết
cũng phải ngập ngừng. Những Trùng Dương, Nhã
Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NH., Âu thị Phục An và cả Lệ
Hằng có thể nói là đã tin tưởng hơn những gì mình sắp viết sau khi Vòng
Tay Học Trò ra đời.’
‘Ngay cả Chu Tử với những đề tài liên quan nhiều đến phụ nữ trẻ cũng là chịu ảnh hưởng xa gần của nhà văn Nguyễn thị Hoàng.’
‘Bác nghĩ sao về trường
hợp Lê Xuyên với những nhân vật nhí nhảnh và nói năng liều mạng như Phấn
và mấy cô gái khác trong những tác phẩm của ông (?)’
‘Nhà văn nam chịu ảnh hưởng cách khác, nhà văn nữ chịu ảnh hưởng cách khác. Nam chú trọng đến ‘hành vi buông thả’, tới
‘lời nói bán trời’ của các cô gái, nữ chú trọng đến ‘nội tâm’ của người hành động và ‘những biện minh cho hành động của mình’.
Dầu thế nào đi nữa họ cũng cảm thấy sao sao ấy khi cho nhân vật mình có
những hành vi đi quá hơn cái bình thường
của thời đại. Sao sao ấy là sự trói buộc, là những cấm kỵ theo quan
niệm đạo đức của xã hội đương thời. Nhìn chung người phụ nữ trong văn
chương thời thập niên 60 đã được cởi trói về mặt tính dục qua sự phát
pháo của nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng, dầu là còn giới
hạn, chưa tung hê tất tật như Hồ Xuân Hương ngày trước hay như hai ba
nhà văn nữ nổi tiếng viết bạo dơ dáy quá đáng ở hải ngoại hay trong nước
gần đây.’
‘Chắc là những người nầy muốn đi đường tắt vào văn học.’Tôi cười nói rằng em phê như vậy là quá đáng, khi phê bình không được hạ nhục người ta.
Người đối thoại trầm ngâm trong bối rối. Tôi hớp từng ngụm nhỏ ly cà phê đen trước mặt, nhớ đến những vị thầy của thời xưa đã góp phần đào tạo trí thức cho chúng tôi. Cụ Sa Minh Tạ Thúc Khải dạy Hán văn quá cao vì chú trọng đến nguyên nguyên cả bài thơ. Cha Larre, dạy Hán Văn quá thấp vì muốn cho học trò có căn bản ngay từ bước đầu, cụ Vương Hồng Sển suốt năm dạy không thấy có một chương trình cụ thể nhưng đã đem cho họ trò những kiến thức đặc biệt không dễ gì có. Tôi nghĩ đến cụ Sển mà ngờ ngợ, không nhớ rõ cụ dạy chúng tôi năm Dự Bị hay năm chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm. Tôi cũng nhớ đến bà GS. Quách Thanh Tâm và phụ khảo Nguyễn Thị Bình Minh kẻ tung người hứng môn địa lý nhân văn rất khác lạ đem lại thích thú cho người học. Cụ Nguyễn Đăng Thục, thầy Nguyễn Khắc Hoạch đã giảng với sự sâu xa và đầy hứng thú đã mê hoặc một số sinh viên sau nầy đi vào con đường nghiên cứu của các thầy… Tất cả đều có thể đã quá vãng, sáu mươi năm học trò còn chịu không nổi cái búa của thời gian huống chi là thầy lớn hơn trò tròm trèm ba chục tuổi. ’
‘Bác có không vừa lòng ai trong số các Giáo Sư thời đó?’
‘Chúng tôi thời đó rất trọng thầy. Ai mình cũng thấy xứng đáng là nhà mô phạm, xứng đáng là người hướng dẫn tâm hồn. Cho tới bây giờ sự kính trọng đó vẫn còn, mặc dầu có trường hợp sau nầy chánh kiến khác nhau như vị thầy đã thoát ly theo MTGPMN hay vị thầy quá ủng hộ chế độ mới và nhận được nhiều ân sủng. Chỉ có điều là sinh viên Văn Khoa là những người thích đọc sách. Trong hai năm chót của Trung học họ đã thủ đắc một số lớn kiến thức sách vở, trong năm Dự Bị họ lại có thời giờ nghiền ngẫm một số lớn tác phẩm danh tiếng đương thời nên nếu vị giáo sư nào ít chuẩn bị bài dạy hay chỉ lập lại theo sách xưa mà không có ý kiến gì đặc biệt hoặc vô lớp chỉ đọc bài, không giảng thêm, thường bị sinh viên có cái nhìn hơi khang khác, khang khác nhưng không có nghĩa là không kính trọng.
Lớp tôi thời đó, sau nầy vài ba năm nổi về mặt truyện ngắn truyện dài thì có Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, Huỳnh Phan Anh… là những người tôi biết, về mặt thi ca thì là các nhà thơ Tạ Ký, Hữu Phương, Hải Phương, Trần Văn Nam… Những người thành danh trên đường nghiên cứu nhận định thì có Đặng Tiến, Bửu Ý bên Dự Bị Pháp, Nguyễn Thiên Thụ, Trần Nhựt Tân bên Dự Bị Việt. Đó là chưa kể hơn 80% sinh viên năm đó sau nầy trở thành những nhà giáo, có người rất nổi tiếng dạy hay dạy giỏi kể không thể hết. Điều đó cho em thấy nền giáo dục trưóc đây đã đào tạo ra rất nhiều những con người có năng lực đích thực.
Người trẻ trước mặt lại hỏi bằng mắt kèm theo nụ cười hóm hỉnh. Tôi làm như không biết, chuyển đề tài:
‘ Tôi muốn hỏi em: Với
kinh nghiệm của người sưu tầm sách, em thấy sách của nhà văn Nguyễn Thị
Hoàng có giá trị không và tại sao?’
‘Sách của cô ấy được giới
sưu tập ưa chuộng vì trình bày đẹp, văn vừa quá mượt mà lãng mạn vừa
mang khí vị trí thức, hai điều dường như khó tương hợp.’
Tôi trầm ngâm. Tài là ở chỗ đó. Mượt mà đến mê hoặc.
Trí thức tới đáng ngưỡng mộ. Khi tác phẩm của chị tràn ngập thị trường,
mặc dầu đã tốt nghiệp cử nhân, tôi đọc vẫn thích thú vì mình học hỏi
được nhiều điều về nội tâm bí ẩn và phức tạp
của người phụ nữ. Đọc văn chị tôi thấy tâm hồn mình mới ra. Những
truyện ngắn viết nhân chuyến đi Nhật Bản của chị có thể coi như những
tùy bút tuyệt vời. Tôi thật sự bị cuốn hút trong
vòng tay ma mị đó, theo tôi Nguyễn thị Hoàng là một hiện tượng độc đáo của văn học Miền Nam thập niên 60.’Tôi gật đầu xác định khi thấy người bạn trẻ thích thú về nhận định của chính mình:
‘Nhà văn không phải muốn tạo nên dấu ấn của thời đại mà được. Dấu ấn đó được tạo thành bằng bản sắc cộng với những suy nghĩ đi trước thời đại và được thực hiện bằng quyết tâm chắc nịch.’
Bên ngoài nhà hàng, Đường Sách càng lúc càng vui. Nhiều người xoải chưn, dang tay chụp hình. Nhiều phụ nữ áo quần thời thượng đang tạo dáng đứng ngồi, tạo nụ cười tươi mát huyền hoặc trước máy ảnh. Quày sách bên kia đường hình như có chuyện xin chữ ký khi vài ba khách bước ra tươi cười coi tới coi lui trang đầu một quyển sách cầm tay.
Tôi bỗng có ý ước ao được nói chuyện mặt đối mặt với người học cùng thời với mình cách nay hơn nửa thế kỷ khi thấy rằng lớp trẻ bây giờ dầu hoàn cảnh xã hội đã khác xa với sáu mươi năm trước vẫn có cái nhìn công bằng về toàn bộ tác phẩm của chị. Móc điện thoại ra gọi con số mà một người quen đã trao cho, tôi chờ nghe tiếng chuông reo trong hồi hộp. Thời gian và không gian tạo sự phân cách chăng? Con số lạ sẽ làm chị e dè không bắt máy?
Và tôi rất vui mừng khi nghe giọng nói thân thiện của chị, cái giọng Huế pha Nha Trang dịu dàng như hồi nào dầu tôi chưa sử dụng tới lá bùa là người bạn học cùng thời, nhưng câu chuyện về một thời Văn Khoa xưa cũ từ mấy mươi năm trước thì cứ như mạch trào giữa hai người bạn đã từng tắm chung một dòng sông tuổi trẻ, từng loanh quanh giữa sân trường Đại học hồi nửa thế kỷ qua mà họ chưa bao giờ được dịp đối thoại nhau, dù chỉ một lần.
Gác máy lâu rồi tôi vẫn còn thấy ấm bàn tay, lại thêm một yếu tố đáng cho ta mến mộ, nhà văn nữ có chơn tài nầy qua bao nhiêu bầm dập do bất công của đời và dư luận rỗi hơi vẫn không đánh ngã được chị, ít ra khi nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng trong dòng văn học thời đó, người ta vẫn còn nhớ đến người phụ nữ mảnh mai như liễu rũ mà không yếu đuối ngã rạp trong sóng gió cuộc đời.
Đường Sách Sài Gòn. Nguồn Zing