Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Sunday, 22 September 2024

 TOUR EUROPEAN EXPERIENCE CỦA TRAFALGAR BẮT ĐẦU TẠI LUÂN ĐÔN.

LHXung
 
Phi trường Heathrow nằm cách Luân Đôn chừng 30 km. Theo sự chỉ dẫn, tôi gặp được nhân viên đại diện hãng du lịch Trafalgar khá dễ dàng. Rồi một  chiếc xe bus nhỏ đưa chúng tôi về khách sạn Paragon. Đến trưa ngày 12/ 9, tôi đã có mặt ở London , nhận phòng và được thông báo lịch trình đi tours ngày hôm sau. Tours có tên là ‘European Experience’, viếng thăm các nước Âu châu: Pháp - Thụy Sĩ - Ý- Áo - Đức và Hoà Lan, trong vòng 12 ngày.

      Tắm rửa qua loa, tôi xuống phố tìm thức ăn và ngạc nhiên thấy quán ‘Ha Long’ nằm cách khách sạn không xa. Bảng hiệu tiệm viết không có dấu nhưng tôi đoán ngay là của người Việt, và quả thật không sai khi tôi bước vào.

      Anh bán hàng nói vài câu xã giao bằng Anh ngữ rồi chúng tôi nhanh chóng nhận tình đồng hương.  Anh cho biết đã có dịp sang Úc một lần đễ thăm bạn ở Sydney . Cửa tiệm rất nhỏ nhưng gọn gàng và khách ra vào thường xuyên. Tôi rất cảm kích khi đến một góc trời xa xăm mà vẫn còn được nói tiếng mẹ đẻ. Nhưng tôi cũng chạnh lòng khi nghĩ đến người Việt mình đang phiêu bạt khắp nơi để tìm một cuộc sống bình dị, trong khi các dân tộc khác đang sống  hạnh phúc và bình yên trên chính quê hương của họ!



                                   * London Heathrow Airport.

      Bữa ăn hôm ấy, tôi cố nuốt nhưng đành bỏ dở, vì trong người cảm thấy mệt mõi. Có lẽ do đường bay dài, xuyên qua nhiều múi giờ nên cơ thể chưa kịp thích ứng giữa ngày và đêm.  Tôi quyết định trở lại phòng ngủ, chỉ muốn ngã lưng một chút. Không ngờ, khi giật mình tỉnh giấc, trời đã tối - quá trễ để có thể đi lang thang ở một thành phố xa lạ!  Tôi không dám mạo hiểm mặc dầu có lẽ London by night không đến nỗi như ở New York về đêm. Thế là tôi đã bỏ lỡ dịp nhìn thấy tận mắt dòng sông Thames, đồng hồ Big Ben, cung điện Nữ Hoàng và nhất là công viên Hyde Park!  Chúng ở đâu và ra sao sẽ vẫn nguyên vẹn mù mờ như những lần tôi “mắc cạn” khi đi vào các bài L'Anglais Vivant ở bậc trung học.



Lỗi tại tôi vì khi book tour Agent cho biết, tour ấy không hướng dẫn ở London, tốt hơn hết nên tới đó trước vài hôm để dạo phố London nếu chưa đến đó lần nào. Thêm 2 đêm khách sạn giá tour sẽ đương nhiên nâng lên. Nên tôi đành bỏ qua đề nghị nầy vì nghĩ rằng tới London sớm thì mình vẫn còn buổi chiều và cả đêm để cỡi Taxi xem hoa London nào ngờ trật lất! Cũng tại vì khi tới Heathrow AP nhân viên Trafalgar phải chờ thêm vài chuyến bay khác nên không được đến khách sạn sớm hơn như dự định.

     Sáng hôm sau 13/ 9, trên đường ra khỏi Luân Đôn, tôi buồn như vừa đánh mất một tặng vật quí giá để được nhìn thấy những gì mà tuổi thơ học hành từ chương qua sách vở. Tôi đã đến tận nơi mà vẫn không chiêm ngưỡng được những thắng cảnh của thành phố sương mù. Tôi rời nó với tâm trạng luyến tiếc, ngẩn ngơ - biết bao giờ có dịp trở lại ?!

     Chúng tôi ghé trụ sở chính cũa Trafalgar để rước thêm khách và đổi tiền tiêu vặt dọc đường. Mỗi du khách được đổi tối thiểu 200 Mỹ kim hoặc 200 Úc kim để lấy ngoại tệ tương đương của các nước mình sẽ đi qua. Số tiền lẻ nầy xài trong lúc dừng xe ở các trạm nghỉ ngơi ngắn hạn, mua sách báo, cà phê, bánh kẹo ... hay xử dụng WC (?). Tại hầu hết ở các nước Âu Châu, sử dụng tiện nghi công cộng này đều phải trả tiền. Ngoài ra, các mua sắm lớn đều có thể trã bằng thẻ tín dụng.

     Từ Luân Đôn, đi về hướng Đông Nam chừng 130 km thì đến Dover, chỗ bến phà vượt biển Manche sang Pháp. Chung quanh bến phà là những thành vách đá cao vài mươi thước, bên trên có lâu đài rất cổ xưa. Khung cảnh rất hoang dã và nơi đây cũng là ngoại cảnh trong phim Brave Heart, một phim đã khiến Mel Gibson đoạt giải Oscar năm 1995.

     Chúng tôi từ giã người tài xế lái xe bên trái khi xuống phà. Sang Pháp, chúng tôi sẽ có xe bus khác và tài xế giữ lề mặt, sẽ cùng chúng tôi rong ruổi suốt 12 ngày còn lại. Eo biển Anh - Pháp rộng chừng 30 km và mất độ 1 giờ bằng phà, rộng lớn và tiện nghi, có cả nhân viên Di Trú làm việc trên đó. Trước khi xuống phải trình sổ thông hành nhưng thủ tục cũng sơ sài vì chúng tôi đi theo nhóm.

      Bên kia là Calais, địa điểm đặt chân đầu tiên  lên nước Pháp. Chúng tôi bắt đầu làm quen với anh tài xế mới. Anh tên Mark, người nước Áo, chuyên lái xe cho hãng du lịch. Tôi cũng xin giới thiệu người hướng dẫn, bà Janet, một tours guider điêu luyện với kinh nghiệm 20 năm trong nghề. Chữ viết của bà khá ngoằn nghoèo, nhưng kiến thức phổ thông của bà rất uyên bác. Bà thuộc từng địa danh với nhiều chi tiết rất hấp dẫn. Những dữ kiện Bà nêu lâu đến hàng thế kỷ, hoặc đến mấy trăm năm trước và sau Công nguyên. Rất tiếc, tôi vừa nhìn vừa nghe nên cái đầu óc kém cỏi của tôi chỉ nhớ chừng 10 % . Phãi chi tôi có máy ghi âm bỏ túi, thì, ngoài chuyện học thêm Anh ngữ trong 12 ngày tôi đã có kiến thức sâu rộng hơn về Âu Châu.



Cách Calais không xa, dọc bờ biển về hướng Bắc là bãi biển Dunkerque, nơi quân đội đồng minh đổ bộ hồi thế chiến thứ hai, giải phóng nước Pháp và tiêu diệt quân Đức để kết thúc chiến tranh năm 1945. Trên xa lộ 43, cũng vẫn hướng đông nam, chúng tôi được chỉ cho biết nhiều địa danh và  làng mạc, nơi đã xảy ra những trận chiến ác liệt. Vì là giai đoạn đầu trong cuộc phản công nên hai bên đã tập trung những lực lượng lớn để giành phần thắng. Những trận đánh đẫm máu đều xảy ra quanh đây, trước khi quân đồng minh và Tướng De Gaulle tiến vào được Thủ Đô Paris. Trên những cánh đồng xanh tươi, chúng tôi cũng nhìn thấy một tượng đài kỷ niệm, nơi một đơn vị Gia Nã Đại chịu tổn thất nặng nề vì phải băng qua một cánh đồng trống, dưới hoả lực khủng khiếp của Đức Quốc Xã.

      2:30 chiều, chúng tôi tới Arras, cách Calais hơn 100 km để chuyển sang xa lộ 37 và xa lộ 17 tại Péronne, rồi từ đó đi thẳng xuống Paris. (Calais – Paris : gần 300 km). Gần vào nội thành, xe di chuyến chậm chạp vì phải chen vào lưu lượng xe cộ nhộn nhịp nhất, nhì thế giới. Tới chỗ dừng chân ở Paris lúc hơn 6 giờ chiều, chúng tôi nghỉ tại khách sạn Kyriad, phố La Vilette, quận 19 (?) nằm về hướng Bắc, cách Paris chừng 20 phút xe bus.

      Chúng tôi nghĩ ngơi một chút rồi xuống tập họp ở tiền đình khách sạn để chờ xe bus đưa đi ăn tại một nhà hàng có ca nhạc giúp vui. Tối đó ngoài những món ăn truyền thống địa phương, có rượu ngon và đặc biệt là món Sea Snail, quốc vị khoái khẩu của dân Pháp, chúng tôi còn được nghe những bản dân ca nổi tiếng và nhạc phổ thông của Pháp. Bữa ăn thật vui vẻ và không khí náo nhiệt,  khác xa sự trầm lặng cố hữu của các nhà hàng Ăng lê. Cá nhân tôi như được sống lại những buổi chiều ở Sàigòn - Chợ lớn xa xưa, đi ăn mỗi nơi một món đắc ý rồi lại đi chỗ khác … Rời nhà hàng, chúng tôi đi chầm chậm qua các đường phố chính của Paris, dọc theo đại lộ Champ Élysée và cảm nhận được ý nghĩa của danh tặng: Paris, kinh đô ánh sáng! (la Ville Lumière)

Sau đó, chúng tôi được hướng dẫn đến khu Moulin Rouge, một khu “Chị Em Ta”, được kể là nhộn nhịp và lớn nhất thế giới trước đây.  Bây giờ, nó đã ‘xuống cấp’ từ dưới thời Tổng Thống Francois Mitterand (1916 -1996) nên chỉ còn đứng hàng thứ 2, sau khu vực đèn đỏ ở Amsterdam, Hòa Lan ngày nay.


Moulin Rouge nổi tiếng, không những ở Âu Châu mà còn cả Thế giới. Năm 2001, Nicole Kidman đã làm cho Moulin Rouge càng vang danh hơn nữa với một phim mang cùng tên. Chúng tôi từ xe bus chuyển qua một loại xe đặc biệt có đầu máy kéo  theo nhiều toa, chỉ dành riêng cho du khách ngoạn cảnh. Xe chạy chậm và ngườI tài xế liên tục trình bày những đặc điểm của từng đường phố. Hầu hết những cửa hiệu trong phạm vi chung quanh Moulin Rouge đều là những ‘X. Shops’. Họ lộng khung có đèn chiếu hậu, làm nổi bật các hình ảnh rất ‘cởi mở’ và sống động, cộng thêm đầy đủ những dụng cụ ‘hữu nghị’, được trưng bày một cách rất ư là ‘bật mí’.  Chúng tôi vừa theo dõi vừa nghe những lời bình luận dí dỏm của bác tài, khiến bầu không khí thưởng ngoạn thêm vui tươi và ghi lại những nét đậm đà trong lòng mỗi người.

      Khi xe đi qua phía đối diện giải trí trường Moulin Rouge, tôi để ý thấy một Nhà Hàng Việt Nam, cao 2 tầng, có cái tên ngộ nghỉnh, có lẽ độc nhất vô nhị đối với cả trong lẫn ngoài VN, là Nhà Hàng ‘CHAO BA’ ! Phải chi, nếu bên cạnh họ chua thêm chữ ‘Bonjour Madame’ thì tôi đỡ thắc mắc! Đằng này, không hiểu chủ nhân có hàm ý sâu sắc và thầm kín nào mà lại trưng bảng hiệu độc đáo đó ?!

      Ngày hôm sau 14/ 9, theo lịch trình, chúng tôi sẽ có một ngày thật bận rộn. Chúng tôi rời khách sạn lúc 8:30 sáng, chạy đến điểm hẹn phía sau nhà thờ Madeleine, đón người hướng dẫn địa phương để đi thăm một số nơi  nội thành. Hướng dẫn viên nầy am hiểu từng đường tơ, kẽ tóc của Ba Lê. Ông bắt đầu giải thích và chỉ dẫn nhiều chi tiết về các lâu đài, dinh thự cùng lịch sử của chúng khi đi trên các đường phố dẫn đến Nhà Thờ Notre Dame.

      Nhà Thờ Đức Bà là một Nhà Thờ lâu đời và nổi tiếng nhất Paris. Du khách ghé đây mà không viếng Notre Dame coi như chưa đến!  Notre Dame tọa lạc trên một cù lao, lấy tên Ile de la Cité, nằm ở giữa Sông Seine, xây cất xong vào năm 1250. Chính nơi đây, Nã Phá Luân làm lể cưới với Joséphine, và cũng là ngoại cảnh trong phim Thằng Gù ở Nhà Thờ Đức Bà "The Hunchback of Notre Dame,".



 Notre Dame Paris cũng là tiền thân của Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn; chỉ khác một chút là Notre Dame không có mái nhọn ở hai tháp phía trước. Người mình vốn quen mắt với Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn, nên khi thấy Notre Dame cứ ngỡ rằng việc xây cất ở đây hãy còn dang dở!

      Hơn 10 giờ, chúng tôi đến Viện Bảo Tàng Louvre. Louvre là một Viện Bão Tàng rộng nhất thế giới, xây cất từ 1200, được trùng tu  năm 1852 và trải dài chừng nửa dậm Anh dọc theo hữu ngạn sông Seine.  Du khách muốn hiểu tường tận về Louvre, chắc phải vào đấy mỗi ngày và mất cả tháng mới đáng gọi là "biết"  vế nó. Viện tàng trữ rất nhiều tác phẩm nghệ thuật quí giá, từ khắp các lục địa. Nào là họa phẩm Mona Lisa của Leonardo de Vinci, tượng Venus de Milo của Hy Lạp, Tượng Sphinx Sư tử mặt người, bằng đá thật to và nặng của Ai Cập, cùng nhiều danh phẩm khác. Chúng tôi mỗi nơi dừng lại một chút cho biết sơ qua, nhưng cũng coi như mình đã ghi lại dấu chân cùng với hàng trăm triệu người khác. Bên ngoài cổng ra vào, có một góc nhà bằng kiếng hình kim tự tháp (Pei Pyramid). 



Khi nước sôi bọt nhấp nhô, từ xa trông lại giống như một toà nhà đang chìm xuống nước, chỉ còn một góc nhọn nhô lên. Công trình nầy được khánh thành dưới thời TT. Mitterant. Ông muốn làm một cái gì lưu lại hậu thế. Kế đến là Cổng La Grande Arche, thuộc khu La Défense, nằm gần cuối đường Charles De Gaulle, nối dài của đại lộ Champs Élysées.

      Ra khỏi Louvre đã gần 3:00 giờ chiều, chúng tôi ăn la-sét thật nhanh tại các cửa hàng rất nhộn nhịp, có cả quán của người Việt. Sau đó, chúng tôi đến Tháp Eiffel.


 Tháp Eiffel nằm bên bờ tả ngạn sông Seine, thuộc khu Trocadero, bên kia sông là Công Viên Boulogne. Công viên quá rộng nên người ta hay gọi là rừng Boulogne, bên trong có nhiều hồ, đường mòn cỡi ngựa, quán ăn và cả sở thú; mùa Thu cây lá đổi màu tuyệt đẹp. Đơn giản mà nói, Eiffel là biểu tượng của Paris từ năm Expo 1889, cao 300 thước, chia làm 3 tầng; du khách lên tầng 2 và 3 phải trả lệ phí khác nhau. Hầu như ngày nay, mỗi thành phố lớn trên thế giới đều có những tháp cao, biểu hiện nét đặc thù của thành phố mình, như Seattle, Toronto và Kyoto ... Nhưng có thể khẳng định tháp Eiffel vẫn chiếm địa vị độc tôn và là khôi nguyên của tất cả!

      Từ Tháp Eiffel đến Nhà Thờ Sacré Coeur, chúng tôi chạy ngang đường hầm, nơi Princess Diana bị tai nạn. Cột trụ bị xe đụng vẫn còn dấu vết  và chúng tôi cũng đi qua nhà hàng nơi Dodi và Diana ăn tối trước khi lâm nạn (Aug 31st, 1997). Hai nơi này cách Tháp Eiffel không xa. Khi đến Opera, chúng tôi lưu luyến chia tay với người hướng dẫn. Ông rất nhiệt tình, giải thích cặn kẽ từng di tích lịch sử một, như muốn dồn hết Paris vào trí nhớ hạn hẹp của chúng tôi! Chính ông đã làm cho “hành lý tình cảm” của chúng tôi thêm nặng nề khi rời Paris. Xin cám ơn ông Dumarque thật nhiều nhá!


Nhà Thờ Sacré Coeur màu trắng, nằm trên đỉnh đồi Montmartre, cao 129 thước, cao nhất vùng Paris. Nếu đứng trên đó nhìn xuống thành phố lúc về đêm, cả một vùng ánh sáng rực rỡ sẽ còn tồn động mãi mãi với người về muôn phương. Ngoài khuôn viên nhà thờ toàn là các tiệm bán tranh ảnh và đồ kỷ niệm. Đặc biệt tại một góc nhỏ, tập trung rất nhiều họa sĩ vừa vẽ vừa bán tranh. Trong số những nghệ sĩ “cơm gạo” nầy có một vài người Việt. Họ đang thảo luận sôi nổi về đề tài 11/ 9 bằng ngôn ngữ ‘Nam kỳ’ đặc. Sau vài câu xã giao và sau khi biết tôi từ Úc sang, họ hỏi tôi có biết Lê Thành Nhơn ở Melbourne không? Dĩ nhiên họ là dân Mỹ Nghệ Gia Định mí nhau!

      Rời Sacré Coeur lúc chạng vạng tối, chúng tôi đi về phiá tháp Eiffel để xuống Batobus dạo cảnh ban đêm dọc bờ sông Seine. Chúng tôi dùng phà, đi từ tháp Eiffel xuống tới Notre Dame rồi quay trở lại mất hơn một giờ. Những đèn pha ở hai bên hông phà cực mạnh, chạy đến đâu rọi sáng rực đến đó để du khách có thể nhìn thấy các kiến trúc thật đẹp dọc hai bên bờ. Chúng tồn tại từ mấy ngàn năm và đã trở thành những kiệt tác nghệ thuật vượt thời gian. Đặc biệt là các cây cầu bắc ngang sông Seine . Mỗi chiếc cầu là một công trình xây dựng siêu đẳng phản ánh trình độ văn minh và tiến hoá của thời đại bấy giờ.

      Mãi hơn 11 giờ đêm chúng tôi mới trở về khách sạn. Tắm rửa tỉnh táo xong tôi bắt đầu ôn lại  về Paris: Công Trường Concorde với một cột tháp đá Ai Cập (obelist) cao 23 thước. Hồi cách mạng Pháp 1789, vua Louis XVI và Hoàng Hậu Marie Antoinette đã bị xử trảm tại đây. Không đầy 1 cây số về hướng bắc là Công Trường Opera, nhộn nhịp nhất so với hơn 130 công trường khác của Paris. Bùng binh nầy là tụ điểm của đai lộ Capucine và nhiều đường khác. Xe cộ luôn ứ đọng vì quanh đây tập trung các văn phòng thương mại, cửa hiệu thời trang, nhà hàng, hí viện và các quán cà phê dọc vĩa hè. Opera là toà nhà nổi bật trước công trường. Nghe nói Nhà Hát Lớn ở Hà Nội cũng được xây cất giống hệt nhưng kích thước nhỏ hơn Opera Paris.




      Hôm trước, chúng tôi cũng có dịp thăm viếng Khu Đại Học Quartier Latin, thiết lập từ những năm 1100, nằm bên tả ngạn. Sở dĩ có tên gọi như thế là vì từ thời trung cổ, các sinh viên và giáo sư sống ở khu vực nầy đều nói chuyện với nhau bằng tiếng La Tinh. Trong khu nầy có Đại Học Sorbonne, Trường mỹ nghệ École des Beaux-Arts, Trường kỹ thuật Polytechnic và thư viện quốc gia Nationale Bibliothèque, một thư viện lớn nhất Tây Âu chứa khoảng 9 triệu sách quí. Ngoài ra chúng tôi cũng đi ngang nhà mồ Napoléon I, nằm kế Viện bão tàng quân đội, lớn nhất thế giới. Cả hai cùng nằm trong khu Hôtel des Invalides,

trụ sở thương phế binh. Kế đó là trường quân sự École Militaire, nơi Nã Phá Luân khởi đầu binh nghiệp.

      Có thể nói tổng quát, Paris là một thành phố nổi tiếng lâu đời về nghệ thuật. Hàng ngàn diễn viên kịch nghệ, nhạc sĩ, danh họa, nhà điêu khắc, sáng tác gia … đến từ khắp nơi trên thế giới. Họ bị quyến rũ bởi sinh hoạt tự do trong mọi ngành và khuynh hướng nghệ thuật, không bị gò bó bởi bất cứ một khuôn khổ tiên định nào! Không lạ gì các tên tuổi lớn như Picasso, Albert Camus, André Gide, Victor Hugo, Marcel Proust và Jean- Paul Sarte … đều đã chọn Paris làm nơi sống và chết cho nghệ thuật, lưu lại tên tuổi với thời gian!

       Sau vài giờ ngủ vùi, chúng tôi dậy sớm ăn điểm tâm Continental Breakfast trong khách sạn. Xe khởi hành lúc màn sương chưa tan để sang Thụy Sĩ, bỏ lại thành phố Paris lùi dần về phía sau. Hôm đó là ngày 15/ 9/ 01, dư luận vẫn còn xôn xao bàn tán về chuyện Bin Laden./-

LHXung , Australia

No comments:

Post a Comment