Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VoKyDienCanada. Show all posts
Showing posts with label VoKyDienCanada. Show all posts

Wednesday, 10 January 2024

 Võ Kỳ Điền

 

PULAU BIDONG MIỀN ĐẤT LẠ

BÌNH DƯƠNG, MỘT NGÀY TÁI NGỘ

 


          
Buổi sáng Chúa Nhựt, đầu năm dương lịch 1979, tôi ngồi tiếp chuyện với bà Hai ở phòng khách. Từ Búng lên Bình Dương, bà nôn nả báo cho tôi hay một tin vui. Đó là cô Hà, con gái út của bà, vượt biên thành công qua bức điện tín đánh về từ một phương trời xa. Bà vui mừng nét mặt rạng rỡ. Cầm miếng giấy nhỏ màu xanh lợt trong bàn tay run run, bà nói thì thầm bên tai tôi như sợ người khác nghe được:

-Mầy coi nè, cái con nhỏ thiệt không ý tứ. Chiều hôm qua nhận được dây thép, xé ra đọc rồi tao muốn nghẹt thở, xỉu luôn. Ổng nghe ồn ào, chạy ra coi lại, thì thấy nói nó tới Mã Lai bình yên. Thiệt hú vía ! Mầy biết tại sao không?  Nó hà tiện, viết hai chữ "bình an" dính lại làm một. Tao ba chớp ba sáng, đọc lộn là "bị nạn"... Mấy tuần nay, tao với ổng trông đứng trông ngồi. Có tin, run quá, quáng mắt đọc không ra chữ.

Nói liền một hơi, rồi ngồi thở một hồi, bà chắc lưỡi tiếc cho tôi:

-Phải chi hồi đó mầy tính được, đi chung một chuyến với nó là xong rồi !

Tôi mừng cho cô Hà thành công tới nơi an toàn, trong bụng cũng thấy tiêng tiếc, phải chi liều gan một chút, đi đại thì bây giờ khoẻ rồi. Cô Hà dạy chung trường với vợ chồng tôi và cùng bị cho nghỉ việc một lượt, vì cái tội lúc trước làm hiệu trưởng một trường quận. Cô hiệu trưởng còn trẻ măng chưa chồng.

Có anh bạn đồng nghiệp thầm thương trộm nhớ mà không dám nói ra. Trước khi đi, cô tâm sự từ giã -trách cứ cái anh chàng Thạnh cù lần, đàn ông con trai gì mà nhát như thỏ đế !

-Ờ ờ, anh Thạnh e ngại bị cô từ chối, ở tỉnh nhỏ, người ta nói ra nói vô khó lòng.

"Xưa kia anh ở cùng làng. Bởi anh chậm bước nên nàng đi xa". Bây giờ nhớ tới vụ vượt biên, thấy câu hát đó quá đúng đối với tôi. Cô Hà đã thoát được, còn tôi, tới chừng nào ? Đàn bà con gái, người ta chưn yếu tay mềm còn dám liều mạng như vậy, trong khi đó mình thân dài vai rộng mà cứ do dự, lừng khừng thì bao giờ mới tính chuyện lớn được. Dầu sao thì cô ấy, một thân một mình, cũng dễ tính. Còn tôi thì vợ con đùm đùm đề đề, thằng Tâm Bi mới có mười tám tháng, còn quá nhỏ để dãi nắng dầm sương, vượt qua bao sóng gió, rủi có bề gì thì sao ? Nhiều đêm trằn trọc, nghĩ tới nghĩ lui, tôi bàn với Duyên:

-Vợ chồng mình khó mà sống yên thân. Cái thế bắt buộc phải ra đi, nhưng hoàn cảnh bề bộn của mình, anh tính không ra.

Duyên khuyến khích tôi nhưng vẻ mặt buồn buồn:

-Hay là anh đi trước, mẹ con em ở lại tính sau!

Làm sao mà tôi chịu như vậy. Tôi và nàng mới cưới nhau, vừa có được thằng con trai nhỏ. Cuộc đời đầy bất trắc, quê hương đất nước kể như tiêu tan, cái tình yêu gia đình chỉ còn lại có chút xíu đó, làm sao dám liều lĩnh phiêu lưu, thành ra cứ hẹn lần hẹn lữa, mãi cho đến hôm nay, tôi vẫn còn ngồi thừ trên ghế. Bà Hai trước khi ra về, còn dặn dò:

-Mầy tính gì thì tính lẹ lẹ đi, người ta lấy ghe lấy tàu đi từ từ hết, đến lúc muốn đi thì không còn chiếc nào, khi đó làm sao xoay trở ?

Tôi gật đầu nói nhỏ:

-Ngày nào con xuống Búng thăm hai Bác, là ngày đó con từ giã... Con cũng muốn quyết định dứt khoát nhưng có cái gì níu kéo lại. Phải rời bỏ cái tỉnh Bình Dương nầy, buồn lắm bác Hai ơi !
 

 

Tôi dẫn cái xe đạp ra ngoài, cái xe có gắn thêm cái yên nhỏ để thằng Bi ngồi đằng trước. Nó còn quá nhỏ nên phải ràng buộc cẩn thận. Trên đầu tôi đội cái nón kết đỏ bầm, thứ nón của lính nhảy dù, còn Bi thì đội nón vải trắng có hình mỏ neo của lính thuỷ, có quai để khỏi rớt. Tôi muốn chở con đi một vòng thành phố, để nhìn cho hết, cho kỹ, cái nơi mà tôi đã sống gần nửa đời người. Nơi đó, có buồn có vui, có những hình ảnh thân yêu, có những kỷ  niệm thời thơ ấu. Như có một sợi dây vô hình ràng buộc, trái tim tôi như thắt lại khi phải quyết định xa quê.

Trưa đó, trời nắng gắt, hai dãy phố chợ như bị bỏ vô lò mà hấp. Hơi nóng bốc lên hừng hực từ các mái ngói, mái tôn, mặt nhựa đen mốc, những lề đường xi măng khô cứng.

Trước nhà bây giờ là giang sơn của mấy bà bán gạo lậu. Họ ngồi đông nghẹt, chen lấn nhau, trước mặt là những thúng gạo trắng đầy vun, các đống khoai đỏ, vàng đổ ngổn ngang như đất đá vụn. Rải rác đây đó, gióng gánh vương vãi. Giờ nầy khách mua đã thưa. Có vài cán bộ áo trắng, bộ đội áo kaki màu cứt ngựa xanh đùng đục, mang dép râu. Có người dắt xe đạp treo tòn ten bó rau xanh dờn, đi chen lấn các bà nội trợ, áo bà ba đen, nón lá. Tự dưng nơi đây trở thành cái chợ trời ngang xương. Ban đầu có vài ba người đàn bà lạ mặt ngồi bán các thứ khoai, gạo, đậu, nếp. Họ bày bán trên cái lối đi trước nhà. Chợ thì ở tuốt đàng kia, sát cạnh bờ sông. Từ ngày mấy ổng bỏ rừng về thành phố, toàn dân miền Nam đâm thất nghiệp. Vợ con công chức quân nhân chế độ cũ, chồng cha bị đày đi một nơi khỉ ho cò gáy nào đó, ở nhà túng quẫn, phải bươn chải tảo tần, kiếm kế sinh nhai, hầu sống còn qua ngày. Họ trở thành bạn hàng buôn thúng bán bưng bất đắc dĩ. Tìm chỗ ngồi không được ở đàng kia, thôi thì giành dân lấn đất đằng nầy. Đằng kia là chợ mà đằng nầy là cái hành lang lát gạch bông bằng phẳng của dãy phố nhà tôi.

Phía bên kia là công viên nắng cháy xác xơ, hồ nước cạn khô, đáy đầy đất đá, bãi cỏ loang lổ úa vàng vì không người chăm sóc, chỉ còn trơ lại một cây khuynh diệp cằn cỗi lưa thưa, đứng lẻ loi ở góc sân. Tôi dẫn cái xe băng ngang qua đường, đứng dưới bóng cây, nhìn trở lại bên nhà, nói cho Bi nghe, mặc dầu biết nó không hiểu:

-Con nhớ nghe, cái nhà nầy là nhà của Nội. Cả đời ông nội làm việc cực nhọc vất vả mới tạo dựng được. Ba được nuôi nấng lớn lên ở đây, con cũng vậy. Hồi nhỏ ba ưa đi chơi, bị ông nội lấy dây nhợ cột chưn vô cái cửa sắt. Mỗi khi gần Tết, ba với chú Sáu, chú Bảy con phải lau chùi hết mấy cái cửa đó. Cực lắm mà vui. Mấy chậu sứ Thái Lan đầy bông đỏ để trên lầu, mua ở vườn ương cây bên Thủ Đức, đem về ba chiết ra từng chậu nhỏ, phải chăm
sóc liên tục trong mấy năm mới được xum xuê như con thấy...

Nghe tôi thì thầm, thằng nhỏ có biết gì đâu, u ơ mấy tiếng trong miệng nhỏ xíu. Tôi nhìn cái bảng hiệu tiệm của ba tôi. Những chữ bằng cây to, dầy, sơn trắng, được cưa đục khéo léo, đặt trên nền nâu đậm, vẫn còn sáng sủa nổi bật như cái ngày đầu tiên thợ hồ đến gắn vào tường. Lúc đó tôi vừa mới lớn, ba tôi muốn có một cái bảng hiệu coi cho được. Cái bảng cũ trông thô sơ, quê mùa. Tôi phải bỏ ra một thời gian dài, đi trên các đường phố ở Sài Gòn để ăn cắp kiểu vở. Rốt cuộc chọn kiểu nầy. Tôi đã đặt ông thợ mộc già, người Bắc, điếc tai ở cầu Bình Lợi làm. Nói hoài, ông không hiểu, ra dấu đến mỏi tay, cuối cùng phải dẫn ông đến cái tiệm có bảng hiệu đẹp đẽ kia, rồi xin phép chủ nhà, đo lấy kiểu mẫu. Mỗi năm gần Tết, tôi phải bắt thang leo lên, lấy vải thấm nước lau sạch từng chữ cái. Hiệu tiệm và tên ba tôi rất dài, phải lau cả buổi mới xong. Bây giờ, muốn lau cũng không được. Làm sao còn được cái công tác cực nhọc mà sung sướng đó nữa rồi!

Cha con tôi lần ra tới bờ sông, theo con đường Bạch Đằng nhỏ hẹp, có cái cầu tàu mục nát cạnh chợ cá, những hàng cây dương già gốc nổi u sần sùi, thân ngả nghiêng. Gió từ sông thổi lên nhè nhẹ, mang theo mùi tanh tanh của sông nước. Ánh nắng chói chang lấp lánh trên làn sóng bạc, phản chiếu như hàng trăm hàng ngàn chiếc gương nhỏ lăn tăn. Từng dề lục bình xanh xanh trôi rập rềnh không biết về đâu. Cuộc đời cha con tôi bây giờ sắp sửa trôi dạt như đám lục bình nầy. Trưa nay đứng bên dòng sông chảy ngang qua chợ, trời nóng hừng hực, cảnh vật lờ đờ, lặng thinh không thơ mộng chút nào, vậy mà tôi đâm nhớ cái câu ca dao thời thơ ấu, nghe má đưa em trên võng:

Ra đi là sự đánh liều
Mưa mai nào biết, nắng chiều nào hay.

Cái câu nầy hơi kỳ lạ. Tôi nghĩ quẩn nghĩ quanh. Những hình ảnh vụn vặt, chắp nối. Không hiểu tại sao tôi cứ nghĩ đây là câu hát kể lể tâm sự của một cô thôn nữ nào đó vì tiếng gọi của yêu đương mà dứt khoát ra đi lấy chồng. Theo chồng hay theo trai ? Điều đó đâu có gì quan trọng, cái quan trọng là họ yêu nhau. Đã yêu nhau rồi thì tương lai ra sao cũng mặc kệ! Buổi sớm, buổi chiều, nắng cháy hay mưa dầm, làm sao biết trước ? Giữa tình yêu nồng nhiệt, cuống quít và cuộc sống lạnh lẽo, buồn tênh, phải chọn một. Cô đã chọn trong cái tâm trạng lo lắng, sợ sệt, bồn chồn. Tôi cũng y như cô ta, nhưng cái tình của tôi có khác đôi chút. Phải rồi, khác một chút xíu, ở chỗ cô tự nguyện ra đi. Còn tôi thì ở cái thế bắt buộc phải xa lìa. Tôi cúi đầu nhìn xuống thằng Bi, rồi chỉ cho nó cái cầu tàu bằng cây cũ kỹ đã hư mục, một phần còn gác trên bờ hàng cột xiêu vẹo, một phần chìm sâu dưới nước.

-Con ơi, hồi nhỏ tám, chín tuổi, ba bì bà bì bỏm lặn hụp, tập lội ở cầu tàu, chỗ gần cây dương cụt đầu nầy sâu lắm, có lần hụt chưn tưởng bị chết đuối. Năm mười hai, mười ba tuổi, ba đi chặt trúc làm cần, uốn căm xe đạp làm lưỡi câu để đi câu lươn, không mang dép guốc nên da chưn bị nứt nẻ, đất sình bùn dơ dáy, ăn lở loét, phải nhờ bà nội lấy bã trầu đắp cho mới hết...

Để trả lời, thằng nhỏ chép miệng ư ư... bàn tay mủm mỉm như củ khoai mì, quơ quơ như muốn chụp lấy vật gì trước mặt. Tôi nhìn lên phía bên kia đường. Ty Bưu Điện cũ kỷ già nua được xây cất từ hồi Pháp thuộc, mái ngói đen mốc đầy rong rêu, tường vôi loang lổ, chỗ vàng chỗ xám, cạnh tường dây leo mọc chằng chịt, đứng trơ trọi bên bờ sông như một ông ký về già lẻ loi, buồn thảm kéo lê cuộc đời quạnh hiu. Tôi còn nhớ rất rõ, lần đầu tiên được sai đi bỏ thơ, ở nhà dặn dò kỹ lưỡng, mua con cò mười lăm cắc để dán lên bao. Tôi đến nơi đây, rụt rè hỏi mua được tới mươi lăm con. Mừng rơn, nghĩ rằng bữa nay nhà nước bán rẻ, sướng quá, le cái lưỡi thiệt dài, thấm nước miếng dán một con vô bao, cẩn thận đem bỏ vô thùng, xong rồi, đem mười bốn con còn lại, về nhà khoe rùm beng. Cũng cái thùng thơ rỉ sét nầy đã chứng kiến cảnh tôi bỏ từng bức thơ màu hồng yêu đương ấm áp, từng bức thơ màu xanh hy vọng tương lai, gởi đến một cô bạn gái đẹp đẽ dễ thương nào đó mà chưa quen, tay run run, trống ngực đập thình thịch, mắt lấm lét ngó trước ngó sau, sợ lũ bạn quen bắt gặp. Cái thơ đã bỏ vô thùng mà còn ngó hoài, cứ lo sợ mất -xa sông cách núi lở vời. gởi thơ sợ lạc gởi lời sợ quên.

Tôi đạp xe vòng qua bên kia chợ. Người buôn kẻ bán lưa thưa. Đúng là cảnh chợ chiều. Mũi tôi ngửi được cái mùi chợ cá quen thuộc. Mùi khô cá mặn, mùi mắm, mùi củ cải muối, muì tro diêm, mùi đường thẻ, mùi thuốc bắc...và hàng trăm thứ mùi khác trộn lẫn nhau, quện lấy nhau, tạo cho không khí nơi đây có một cái gì gần gũi thân yêu. Tôi đã hít thở mấy chục năm qua, từ thưở bé thơ cho tới khi khôn lớn. Cái hơi hướng đó nó đã ăn tận vào buồng tim thớ phổi. Tôi tin chắc rằng nếu phải xa nơi đây, tạm ngụ ở một phương trời vô định nào đó, tôi vĩnh viễn không bao giờ tìm thấy được cái dư vị của những ngày thơ ấu.

Đêm đêm cánh rụng lầu ngà
Một trời ly biệt để già nhớ thương

 (Vũ Hoàng Chương )

Chiếc xe lăn bánh chầm chậm trên đường phố. Bên nầy là đường Nguyễn Thái Học, bên kia là Đoàn Trần Nghiệp. Cũng thời là nhà cửa phố xá ngày xưa, nhưng có vẻ gì tiêu điều xa vắng. Mới bốn năm, mưa nắng đã làm cho gạch vôi ẩm mốc xám đen, tang tóc buồn thảm. Nhìn những bước chưn người đi lại trên hè phố, tôi như thấy được nỗi chịu đựng đầy cay đắng trong cái dáng hấp tấp, vội vàng hay ngập ngừng, đắn đo. Ôi ! Những người dân vô tội đáng thương của một đất nước "anh hùng".

Trên đường Trưng Vương, tiệm vàng Tín Thành cao ba từng bị tịch thâu, được đổi thành Phòng Y tế Thị Xã. Đã gần xế chiều vậy mà bịnh nhơn vẫn còn kiên nhẫn sắp hàng, đứng dài ra tới ngoài sân. Nhiều em bé trơ xương nằm lả người thiêm thiếp trên tay mẹ. Nhiều cụ già khăn áo bạc màu hom hem, còm cõi, nhẫn nhục sắp hàng chờ đợi tới phiên mình.

Qua đường Hùng Vương có trường trung học Nguyễn Trãi thương yêu ngày xưa, tôi hàng ngày hai buổi đi về, với bao thầy bạn thân thương, bao mộng mơ một thời mới lớn, bây giờ trở thành Phòng Giáo Dục. Hàng dừa xanh mát rủ bóng trong sân, đã được đốn đi thay vào đó là sân đánh bóng chuyền, treo cái lưới rách giăng ngang, giành cho công nhân viên chức nhà nước chơi đùa. Rải rác có các cán bộ dép râu nón cối, gương mặt lầm lầm lì lì. Tôi nghe đau nhói trong tim. Có cái gì mất mát tổn thương quá lớn...Như một thứ tình yêu rạn nứt.

Đất đổi hoa màu, nhà đổi chủ
Trâu quên mục tử, ngựa quên chuồng.

(Nguyễn Bính)

Không, cảnh tuy đổi thay, người đổi thay nhưng lòng tôi không thay đổi. Dầu người ta có bắn phá, đập nát, đốt cháy hết cả cái tỉnh Bình Dương nầy nhưng trong tôi vẫn còn hoài, còn huỹ hình ảnh chợ Phú Cường bằng bê tông cốt sắt đồ sộ với cái tháp đồng hồ cao sừng sững, dòng sông Sài Gòn uốn khúc lặng lờ trôi từ thành Săng Đá xuống, mang theo trong dòng vẩn đục từng dề lục bình xanh xanh, trổ bông tim tím, dốc Ông Cò thoai thoải, im mát hai hành cây sao cao vút, dốc nhà thương có trường Nam Tỉnh Lỵ Châu Thành, có nhà thờ bằng đá hoa cương, mỗi khi hè đến, hàng phượng vĩ trổ hoa đỏ rực, rền rền tiếng ve.

Trong đầu óc tôi những ngày tháng ngây thơ đó thần tiên quá. Những hình ảnh như vậy ngàn đời trong tôi không phai nhạt chút nào. Nó đã thấm vào tim óc, vào từng tế bào từ lâu lắm. Chắc từ hồi còn ở truồng tắm mưa. chạy lượm xoài, lượm ổi rụng trong những cơn mưa giông, giành giựt nhau la hét vang rân từ đầu làng cho tới cuối xóm.

Ôi, Bình Dương thân yêu của tôi, chỉ vài ngày nữa thôi, tôi phải bắt buộc đứt ruột mà xa lìa. Ở đó tôi có biết bao nhiêu bạn bè mà gương mặt xanh xao, màu rau nhiều hơn màu thịt cá. Ở đó tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu, bao gắn bó của một thời mộng mơ, bao tin tưởng của một thời thành đạt. Làm sao tôi có thể ra đi mà không bịn rịn, xót xa!

Tôi cũng muốn đi một vòng thiệt xa, để nhìn cho hết những con đường dốc khúc khuỷu quanh co, bùn sình trơn trợt của các hầm đất sét ở Lò Chén, các con đường làng kẻo kẹt tiếng đọt tre đong đưa miệt Xuân Hiệp, những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo im mát bóng cây ăn trái miệt Giếng Máy, Cầu Ông Đành, những liếp rau ngát xanh, những bờ nước đầy rong đuôi chồn trong vắt miệt Phú Văn rồi vòng lên các ngọn đồi cao miệt Bà Lụa để nhìn trở lại dòng sông Sài Gòn chảy uốn khúc lặng lờ qua tỉnh lỵ. Tôi muốn gặp hết tất cả
những người quen biết, tất cả bạn bè thân yêu, để nói câu giả biệt. Nhưng làm sao, làm sao được!

Tôi không thể nói gì hết. Gần trên bốn năm nay rồi tôi sống im lặng, vật vờ thu mình như một cái bóng mờ, lặng thinh câm nín. Một chút động tĩnh cũng không dám. Người ta hoài nghi, xoi mói, rình mò. Tôi không thể nói bất cứ điều gì, dầu chỉ là lời từ giã. Nếu nói được thoải mái thì đâu cần phải ra đi làm gì ! Đúng rồi, nếu nói được thoải mái thì đâu cần phải ra đi !!!

Giờ nầy dưới ánh nắng thoi thóp của buổi chiều sắp tắt, tôi nhìn trở lại Bình Dương của tôi, một lần. Một lần cho thật rõ, thật kỹ những cảnh vật, màu sắc, âm thanh, mùi vị... Tôi muốn ôm hết, thu hết, ghi nhận hết trong tim, trong óc, bởi vì tất cả sẽ vĩnh viễn mất đi khi tôi cất bước lên đường. Mai kia khi tôi đi rồi thì tương lai kể như mù mịt, quá khứ trở thành chiêm bao !

Bình Dương bây giờ, Bình Dương của ai ?
 

 

Chuyến xe đò quốc doanh Đồng Hiệp sơn đỏ, chuyến cuối cùng trong ngày đưa vợ chồng tôi rời khỏi tỉnh. Cái bến xe chật hẹp nằm cạnh trường trung học Bồ Đề của tỉnh lỵ buồn hiu, ảm đạm, dưới ánh nắng thoi thóp của buổi chiều sắp tắt. Màu nắng vàng vọt, lẩn trong làn gió thoảng cái hơi hướm của biệt ly.

Lòng tôi chùn xuống, nhấp nhô theo từng căn nhà, từng miếng vườn, từng khúc quanh của con phố nhỏ. Tất cả đối với tôi quen thuộc quá. Ngang qua nhiều xóm làng hai bên đường, nhà nhà còn treo đầy cờ đỏ sao vàng của ngày lễ vừa qua chưa kịp gỡ. Cũng có thể vì chưa có lịnh nên chưa ai dám lấy xuống.

Chiều nay đâu có giông bão mà sao lòng tôi đầy mây giăng, trời không mưa mà mắt tôi ươn ướt. Tôi cố nhoài người qua khung cửa xe để nhìn cho rõ, cho kỹ, nghe từ trong cõi lòng câu hát ngày xưa: "Ra đi là sự đánh liều, mưa mai nào biết nắng chiều nào hay. " Bây giờ là nắng buổi chiều, tôi sắp phải đương đầu với những cơn mưa giông buổi sáng. Liệu tôi có đủ nghị lực để chống chỏi với gió táp mưa sa chăng ?

Lò dò tôi mở cái xách tay dưới chỗ ngồi, để tìm cái khăn nhỏ. Tôi thấy một hủ dầu cù là lớn, chai Nhị Thiên Đường, mấy gói thuốc cảm, thuốc đau bụng, cùng một vĩ thuốc ói mửa... Như một dòng suối tràn không chặn lại được, nước mắt tôi tự nhiên trào ra, ràn rụa. Những giọt nước mắt chảy dài trên gò má, rơi xuống miệng, mặn đắng. Cũng may tôi có mang cái kiếng đen, nên không ai thấy. Mấy món tôi vừa thấy được đó là của má tôi, hồi sáng nầy, chính tay bà đã để vô.

Chuyến đi quá hấp tấp nên tôi không kịp chuẩn bị gì hết. Lúc gần trưa hai đứa em, Tuyết và chồng nó từ Sài Gòn về. Hai đứa chun vô nhà bằng cổng sau nhanh như một luồng gió, hấp tấp báo cho hay là chuyến vượt biên sắp khởi hành, vợ chồng tôi và các em còn lại ở Bình Dương, phải xuống Sàigòn ngay trong chiều nay để sáng mai đi Bạc Liêu, chuyến xe sớm nhứt trong ngày. Làm sao kịp, tuy đã biết là sẽ đi nhưng cứ tưởng là ít nhứt phải năm, ba tuần nữa. Tự nhiên tay chưn quýnh quáng, tôi chạy ra nhà trước, đứng nhìn cái bàn viết, cái tủ rồi ra sau, vô phòng ngủ, nhìn cái giường, cái tủ áo, rồi chạy lên lầu, tần ngần đứng lặng nhìn cái tủ sách. Dọc theo tường, cạnh bàn thờ tổ tiên giữa nhà, là cái tủ sách bằng cẩm lai thiệt lớn. Đời tôi đó ! Cái tủ sách hằng nâng niu, ôm ấp, giữ gìn, bây giờ nó đã trống trơn. Sách vở bị tịch thu từ những năm trước. Từng đoàn người lạ mặt, thô lỗ, túa vô nhà, lục lọi, bươi móc tứ tung, cuối cùng bưng ra xe từng chồng sách vở, tạp chí, tranh ảnh đủ loại. Họ đã rứt đi từng cõi lòng tôi. Trên mấy ngăn đầy bụi, bây giờ chỉ còn lỏng chỏng năm ba bộ sách chữ nho xưa, vì không đọc được nên họ quăng bỏ lại. Đây đó phất phơ vài màng nhện mỏng, bụi bám giăng giăng. Đời tôi không thể thiếu sách vở. Đi đâu thì đi, làm gì thì làm, cũng phải có một cuốn kế bên. Tại sao không lựa một cuốn đem theo làm kỷ niệm ? Sách gì cũng được. Người ta vượt biên đem theo vàng bạc, ngọc ngà, châu báu, tại sao tôi không đem theo sách ?

Quyết định xong, tôi lướt nhìn một lần chót những tựa sách thân yêu. Bộ Khang Hi tự điển dầy mo để cạnh bộ Tứ Thơ bìa đỏ, in hình cỗ chiến xa ngựa kéo, bên trên có che cây lọng tròn, quyển Dịch Kinh Bạch Thoại Tân Giải, Thi Kinh Bạch Thoại Chú Giải bìa đen, giấy mỏng in thạch bản. Mấy quyển tiểu thuyết Đường Cung Nhị Thập Triều, Thanh Cung Thập Tam Triều, Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, Lục Dã Tiên Tung, Liêu Trai Chí Dị, Đường Thi Tam Bách Thủ nằm đứng ngã nghiêng bên cạnh mấy cuốn Trung Quốc Văn Học Sử Giản Yếu, Cổ Văn Quan Chỉ, Cổ Văn Bình Chú, chữ đồng nhỏ như con kiến. Tôi rờ rẫm từng cuốn, từng cuốn, rồi cầm lên bộ Từ Nguyên. Đó là bộ tự điển được in ở Thượng Hải Tiêu Cục, tôi đã mua ở Chợ Lớn, lúc mới bắt đầu học chữ nho với giá rất mắc, bìa đóng bằng vải dầy, giấy trắng mịn, mỏng tanh. Nhưng lại để xuống. Hai quyển thượng và hạ, mỗi quyển trên cả ngàn trang, nặng quá. Tuy rằng nó quí thiệt, nhưng làm sao ôm xách đem theo.

Nhìn những quyển nầy, tôi như thấy được những ngày tháng ở Văn Khoa Nguyễn Trung Trực, ở Sư Phạm Cộng Hoà. Những ngày tháng sống đời sinh viên hạnh phúc biết bao nhiêu! Ở đó tôi có được những bạn thân, những vị thầy quí mến.

Thầy Lê Ngọc Trụ đơn giản trong nếp sống của người học giả, lúc nào cũng thoải mái, cặp kiếng già thường xề xệ trên sóng mũi, cái mũi lớn sần sùi, đo đỏ như trái cà chua. Ngày nhập học, tôi đã lầm thầy với ông tùy phái, đến khi vào lớp mới biết mình đoán người qua cách ăn mặc là ngu ngốc hết sức. Từ đó tới sau, lúc nào tôi cũng nhớ hoài câu " ngọc trụ bình thiên ".

Thầy Nghiêm Toản mập người, lùn thấp, dáng đi bệ vệ, miệng hơi hô, tánh chững chạc, nghiêm nghị mà ôn hoà. Tôi chưa bao giờ thấy thầy lộ vẻ nóng giận. Ngồi dưới bàn học nhìn lên, dáng vẻ thầy từ tốn, thong dong.

Thầy Nguyễn Đăng Thục, ốm cao dong dỏng, lòng bàn tay đỏ như son, càng giảng càng hùng hồn lưu loát. Có điều môn Triết Đông Phương sao mà hơi khó hiểu rồi cuối cùng thành ra không hiểu! Tôi vốn suốt đời nghe tới môn nầy là sợ.

Cụ nghè Nguyễn Sĩ Giác thiệt ốm, thiệt nhỏ và thiệt già. Có thể cụ đã trên chín mươi rồi không chừng, người cụ mỏng manh, nhẹ hửng. Mắt cụ hầu như gần loà, mỗi lần đọc chữ phải dùng kiếng lúp.

Cụ cử Thẩm Quỳnh tuy tuổi cũng đã cao nhưng còn tráng kiện, lúc nào quần áo cũng phẳng phiu. Suốt mấy năm học, tôi chưa bao giờ thấy cụ ngồi. Có anh bạn phụ đề Việt Ngữ -cụ Quỳnh không ngồi vì sợ quần nhăn! Mỗi lần nói chuyện với cụ là phải dùng chữ "bẩm" chớ không nên dùng chữ "thưa" vì như vậy, mới đúng là con nhà gia giáo. Hỏi ra mới biết, có một thuở cụ ngồi Tổng Đốc Hà Đông !

Cụ Vũ Huy Chiểu, đậu Tú Tài kép nhưng tài hoa rất mực, tuy đôi mắt đã lèm nhèm nhưng mỗi lần cụ viết xong một bài văn chữ Hán trên bảng đen, tôi nhìn say mê ngây ngất. Những nét chấm, phết, sổ tung hoành, bay bướm, đẹp như những lá tre đan vào nhau...

Ôi ! tuổi hoa niên thoáng nhanh như cơn gió. Mới đây ngày nào mà đã gần hai mươi năm.

Tôi cầm lấy hết cuốn nầy tới cuốn kia, cuối cùng rồi chọn lấy bộ sách bói của gia đình. Đó là một bộ sách xưa lắm rồi, củ kỷ, tả tơi. Không biết từ đời nào, trong nhà đã có bộ sách nầy, khi lớn lên đã có nó trên bàn viết của ba tôi. Sách gồm có sáu cuốn mỏng nhỏ, in bằng bản cây khắc tay, nét chữ rất thô sơ, giấy bạch mỏng tanh, xếp đôi lại làm một tờ, màu giấy đã ố vàng ngà ngà, mối mọt ăn lủng nhiều chỗ thành những đường ngoằn ngoèo, đen đủi. Đó là quyển " Tăng San Bốc Dịch" của Dã Hạc Lão Nhơn. Tôi bèn cầm xuống nhà dưới, kiếm giấy ni lông bao lại thành nhiều lớp, dùng bàn ủi đốt cho dính khắn các mối ráp, nếu có bị nước biển thấm vào, nó cũng không mục được. Bộ sách đã lâu năm lắm rồi, không thể để cho nó hư rách thêm. Các quyển khác, có tiền có thể mua lại được, ở Hồng Kông, Đài Loan thiếu gì ! Quyển nầy thì không. Cái giá trị không phải là ở nội dung của nó mà là kỷ niệm của gia đình. Đã bao lần ông tôi, bác tôi, ba tôi, đã cầm lên, lật ra coi tới coi lui, ngâm nga từng câu phú câu thơ, ... rồi bây giờ tiếp tục tới tôi nữa. Nếu để lại, mấy trăm trang giấy bạch chỉ đủ cho mấy ông ghiền dùng quấn thuốc hút trong vài tuần!

Lúc đó thì Duyên vừa ở trường về. Tôi bèn cho hay chuyến đi. Nàng nghe tin như từ cung trăng rớt xuống, cũng như tôi ban nãy, nàng không biết lấy gì bỏ gì. Cuối cùng rồi hai vợ chồng gom góp chút đỉnh quần áo, tiền bạc, đồ vật dụng tùy thân cần thiết hàng ngày. Nhiều nhứt là thuốc men cho đứa con trai nhỏ, thằng Tâm Bi mới vừa tập đi lẩm đẩm. Món nào cũng tiếc, muốn mang theo hết. Mà làm sao được, đi trốn chớ bộ đi du lịch sao ! Khi hai cái giỏ xách tay của tôi và Duyên đã đầy, sắp được đóng kín thì má tôi từ trong phòng đi ra, cầm một mớ thuốc nhét vô thêm, miệng dặn dò:

-Hai con rán giữ mấy món thuốc nầy. Đi đường xa, bịnh hoạn lôi thôi, có nó cũng đỡ, hổng có ba mầy với tao theo, rủi tụi bây đau yếu, không biết rồi làm sao xoay trở ?

Má tôi như vậy đó, lúc nào bà cũng coi tôi như còn nhỏ xíu, thấy có bổn phận phải chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ, ngay cả khi tôi đã có vợ có con. Nói xong, bà giằng lấy thằng Bi, ôm chặt nó vào lòng. Tôi nhìn lên trần nhà, mấy ngọn đèn ống trắng hình như không còn song song mà chúng chập choạng đâm xiêng vào nhau. Ba tôi đứng cạnh bên hút thuốc liên miên. Ông bất động như pho tượng, im lìm không nói năng. Có lẽ hình ảnh tôi bồng con đi vượt biên trưa nay, giống y như hình ảnh bốn mươi năm về trước, từ bờ sông Dương Đông của hải đảo Phú Quốc xa xôi, ông đã ẳm tôi theo ghe bầu mà về đất liền để chạy giặc Nhựt Bổn. Tôi nghe đau nhói trong lòng. Căn nhà rộng rinh, từ lâu rồi nó đã trống trơn. Cũng may là còn có anh em tụi tôi, quây quần ấm áp. Bây giờ xúm rủ nhau đi như đàn chim tứ tán, xao xác bay lìa tổ. Cái tổ rộng thênh thang chỉ còn có hai con chim già ngơ ngác, bơ vơ. Rồi đây ai lo cơm nước, ai đỡ đần việc nhà việc cửa, bịnh hoạn ai lo chăm sóc thuốc thang?

Ba má tôi đó, hai ông bà già da dẻ nhăn nheo như vỏ cây sao, cây dầu, lưng còng gối mỏi, sống đã trên bảy mươi năm trong cái cuộc đời đau khổ đầy nước mắt nầy. Bây giờ một lần nữa, chứng kiến bầy con cháu đứt ruột ra đi để đến một phương trời xa xôi nào đó, mà tương lai chưa biết thế nào ?

Tôi bất chợt ôm lầy hai người mà khóc ngất như một đứa con nít lên ba. Những dòng nước mắt trào ra như suối, không kìm lại được. Ba tôi nói trong nỗi nghẹn ngào:

-Để tụi bây đi, tao đứt từng khúc ruột, nhưng biết làm sao bây giờ " -người ta không để cho gia đình mình sống yên.

Ôi! Tình cha mẹ thương con để đâu cho hết. Bây giờ ngồi trên xe, tôi lục lọi trong xách tay để kiếm cái khăn, bất ngờ đụng phải mấy món thuốc mà má tôi đã nhét theo. Bỗng dưng tôi thấy choáng váng quay cuồng, đầu óc lộn xộn, lung tung, rối beng như nùi chỉ. Những hình ảnh chập choạng ráp nối. Thấp thoáng đâu đây, tôi thấy cái nhà cẩn gạch sứ trắng số 16 đường Nguyễn Thái Học, thị xã Phú Cường có ba tôi đeo kiếng già, áo sơ mi trắng ngồi bán thuốc, má tôi áo bà ba trắng, quần lãnh đen, xách giỏ mây đi chợ. Lối xóm có chú tư Vũ Văn Lư, ốm ốm cao cao ngồi trên chiếc ghế tréo bằng da để đóng giày, cô hai Hiệp Thành mập phục phịch mở tiệm cầm đồ, cô hai Hiệu trắng trẻo, dịu nhiễu bên tiệm thuốc tây, ông Mỹ Kiều có tật chưn đứng ẹo mình một bên, uốn tóc cho khách, bác Hai Đức Hoà mập mạp, bán sắt bán đinh. Trên dốc nhà thương, miệt Bưng Cải, có các bạn tôi, anh Hưng, anh Thạnh, anh Phúc, anh On, tất cả quây quần thân ái, kể chuyện buồn vui đời dạy học và những đứa học trò thân yêu nữa, chúng đang học tập nô đùa ở sân trường.

Tôi thấy hết, rất rõ những kỷ niệm của trên ba mươi mấy năm sống yên vui ở cái vùng đất trái ngọt cây lành nầy. Tôi cũng nhìn thấy những chiếc xe thổ mộ già nua chất đầy gióng gánh, lọc cọc, lọc cọc chạy trên những đường đất đỏ ngoằn ngoèo Tương Bình, Bến Thế, Mỹ Hảo, hai bên là ruộng rẫy xanh mát. Những người đàn bà lam lũ tần tảo xuôi ngược, những người dân quê nghèo khổ, dang nắng dầm sương, vun xới những luống rau xanh...

Cuộc đời tôi đó. Nó gắn chặt vào những hình ảnh thiệt đơn sơ, thiệt tầm thường nhưng đầy đủ quá, thân thương quá. Tôi còn ước muốn gì hơn ? Vậy mà đến gần nửa cuộc đời, bắt buộc phải đành đoạn ra đi, để đến hay không đến, một góc biển chân trời xa lạ nào đó, không cha mẹ, không người thân, không bạn bè, rồi sẽ sống chung với những người không cùng màu da, không cùng tiếng nói... Tôi không thể tưởng tượng rồi sẽ ra sao nữa !

Duyên chắc cũng mang tâm trạng rối bời, nàng cũng ủ rủ không kém, từ khi cất bước ra khỏi nhà tới giờ không nghe nói năng. Xe đã qua khỏi quận Lái Thiêu, ngang qua lò đường Vĩnh Phú, những thửa ruộng mía ngút ngàn, xanh ngăn ngắt, mùi nước chè ngào ngạt thoảng vào lòng xe, một tấm bảng to đựng bên đường để làm ranh giới Bình Dương với Gia Định. Bốn chữ sơn xanh đậm nét " Hẹn ngày tái ngộ " đập mạnh vào mắt, khiến tôi bàng hoàng. Duyên nghiêng qua tai, nói thiệt nhỏ:

-Vĩnh biệt Bình Dương phải không anh ?

Bình Dương bây giờ như một cố nhơn, sắp rời xa trong mắt nhưng không phải trong lòng, làm sao có thể dễ dàng phai lạt được, dầu ở chốn nghìn trùng vời vợi.

Chờ trông quê cũ nao nao
Mặc cho tim lụn, dầu hao cũng chờ

Tôi gượng gạo trả lời, giọng yếu hẵn đi:

-Không phải đâu em, anh hy vọng chỉ là tạm biệt.
 

 

Võ Kỳ Điền

(Trích Pulau Bidong Miền Đất Lạ )

 


Monday, 8 January 2024

VÕ KỲ ĐIỀN, KẺ ĐƯA ĐƯỜNG LÃNG TRÍ
Luân Hoán

 

Nhà văn Võ Kỳ Điền

          Trước ngày tôi định cư tại Montréal (1985), tại hai tỉnh bang Québec và Ontario của Canada đã có một số tạp chí Việt ngữ khởi sắc như Dân Quyền, Lửa Việt, Làng Văn, Phổ Thông, Sóng. Trong những năm 1982 đến 1990, Làng Văn đứng đầu về việc qui tụ nhiều cây bút đã thành danh cũ lẫn mới. Nhờ có góp bài, tôi nhận được thường xuyên Làng Văn. Từ tạp chí này, tôi gặp được Võ Kỳ Điền, một cái tên rất mới, qua nhiều truyện ngắn, đọc rất thích. Tác giả là một người gốc miền nam, tôi nhận diện được bởi văn phong của anh. Về sau, biết anh cũng cư ngụ tại Montréal, nên tôi đã định bụng sẽ tìm gặp.

Cơ hội gặp Võ Kỳ Điền thật tình cờ. Mùa đông 1985 chưa dứt hẳn, tuyết vẫn còn lai rai, nhưng tôi đã gặp được một người bạn học cũ thời trung học, anh Mai Bá Trác (bố một vài đứa con của ca sĩ Khánh Ly). Trác đang làm chủ một tiệm ăn nằm trên đường Rosemont, quán Huế. Tôi được Trác mời đến gặp mặt một số bạn người Việt vào một đêm tối. Tuy rất ngại, nhưng có cơ hội trình diện cùng đám đông, tôi ham vui, nhận lời.

Được chỉ dẫn rõ ràng. Nhưng cái lớ ngớ cố hữu cộng với đêm tối mù mù tuyết bụi, đã đẩy tôi lên chuyến buýt ngược chiều đường nơi cần đến. Con đường Van Horne nối dài với đường Rosemont. Hướng tôi đang đi không có hàng quán nào cả. Ngồi lâu, mới biết mình lầm, phải xuống xe, đứng đợi chuyến đi ngược lại. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy mặt mũi cái quán Huế. Một quán ăn chuyên bán những món ngon của đất cố đô Việt Nam. Tôi gặp được khá nhiều bè bạn của anh Trác, và hầu hết đối với tôi đều xa lạ. Tuy vậy buổi gặp gỡ khá vui. Đa số những người bạn này đều có tửu lượng cao, và rất khoái hơi men. Buổi nhậu do vậy kéo rất khuya. Khi ra về tôi được một anh bạn tình nguyện đưa đường. Người bạn này, hình như tôi đã thấy mặt một lần, hôm ở nhà anh chị Đỗ Quý Toàn. Anh chính là Võ Kỳ Điền, người đã viết các truyện ngắn: Cây Sầu Riêng Vườn Cũ, Bác Năm Hớt Tóc, Một Thời Để Yêu, Có Những Cơn Sóng

Võ Kỳ Điền hơi nghiêm nghị, rất tiết kiệm lời nói. Tôi cũng vậy, nên ngồi trong xe, chúng tôi cùng im lặng. Đêm về khuya trời rất lạnh. Cái sưởi trong xe của anh Điền chưa kịp ấm, xe đã ngừng ngay trước cửa trạm métro Rosemont. Tôi hấp tấp cảm ơn anh Điền rồi rời chiếc Nisan của anh. Anh Điền lái xe vụt đi. Đường vắng tanh. Ánh điện trước cửa métro bình thản chiếu sáng. Tôi từ tốn bước đến, đặt tay lên tay nắm cánh cửa, đẩy nhẹ. Cánh cửa kính không nhúc nhích. Tưởng chưa đủ sức, tôi đẩy mạnh hơn. Vô ích. Đã hết giờ đón khách. Một thoáng băn khoăn, tôi nhìn quanh không thấy ai, đành thắc thỏm, chờ một chiếc taxi. Tôi kéo lại cổ áo. Cái lạnh mỗi lúc một đậm đặc hơn. Tôi tự giận mình đã quá ham vui, khi chưa rõ đường đi nước bước, giờ giấc của những phương tiện chuyên chở. Sau cái đêm hôm ấy, tôi không được gặp Võ Kỳ Điền trong một thời gian khá dài, tuy vẫn đọc truyện ngắn của anh trên các báo.

Tôi chợt gặp lại Võ Kỳ Điền tại trụ sở Cộng đồng Người Việt tại đường Victoria, khi cùng tham dự buổi họp sơ khởi, để bàn chuyện thành lập Văn Bút ở Canada. Trong buổi họp chúng tôi không ngồi gần nhau. Tôi im lặng theo dõi. Hình như Võ Kỳ Điền làm thư ký cho buổi họp hôm ấy. Anh cũng có đóng góp ý kiến nhiều lần. Tôi có bệnh thiếu tập trung khá nặng, nên dù ngồi im, những câu chuyện của các bạn chung quanh, vẫn bình thản đi ngang qua hai lỗ tai tôi. Sau buổi họp, tôi được bắt tay từ giã Võ Kỳ Điền khi cùng ra gần đến cửa métro Plamondon.

Có lẽ vào thời điểm này, Võ Kỳ Điền sinh hoạt tích cực nhất. Anh khởi sự viết văn bằng truyện ngắn Bác Năm Hớt Tóc, đăng trên tạp chí Dân Quyền. Truyện ngắn này, anh cho biết, đã viết trong ngày rằm tháng giêng năm 1991. Trong văn chương Việt Nam, tôi vốn rất thích những nhà văn xuất thân từ miền Nam. Tôi đã từng theo chân ông Hồ Hữu Tường, Phi Lạc Sang Tàu. Rồi cùng ông Sơn Nam nằm đọc Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư, hoặc đánh rơi chiếc lược chải đầu, gẫy răng trong một tiệm sách. Những lúc buồn buồn, tôi nhảy lên Đò Dọc của ông Bình Nguyên Lộc dạo chơi miền sông nước. Tôi cũng không xa lạ với lòng dạ các ông Hồ Biểu Chánh, Phi Vân. Những buổi hẹn hò dưới trăng thanh gió mát của Chú Tư Cầu Lê Xuyên, tôi cũng rất thích thú rình rập, học hỏi. Cái thú khi đọc văn của tác giả miền nam là nghe họ đối đáp. Lời lẽ giản dị, bộc trực. Cái vui thường lấn chân cái buồn trong nhiều tác phẩm. Võ Kỳ Điền có cái duyên riêng của anh. Muốn biết cái duyên hấp dẫn thế nào thì phải đọc. Tôi không giải thích, dẫn chứng. Dĩ nhiên để đứng được trong làng văn, làng báo, Võ Kỳ Điền phải có những nét khác người, hơn người nào đó. Điểm này tôi có thể minh chứng bằng những nhận xét của nhiều cây bút đã thành danh, đang sinh hoạt rất tích cực cho nền văn chương hải ngoại.



Luân Hoán, Trần Gia Phụng, Võ Kỳ Điền, Song Thao, Toronto 2005
 

Trước nhất, hãy nghiệm những lời nhận xét của ông nhà văn cùng cư ngụ với tác giả Kẻ Đưa Đường, tại Montréal:

“…Võ Kỳ Điền là nhà văn sinh trưởng ở miền Nam. Cái ‘chất’ đôn hậu, thật thà, thẳng thắn của Nam Kỳ không ít thì nhiều đã đi vào cõi văn chương của ông. Võ Kỳ Điền là một người kể chuyện có duyên, mạch lạc và ít làm dáng. Văn chương, nó chỉ là yếu tố phụ nhằm giúp nhà văn Võ Kỳ Điền vượt qua những trở ngại tẻ nhạt vướng víu trong khi trình bày câu chuyện, biến nó thành linh động hơn. Pulau Bidong có thể xem là một cuốn hồi ký hay là tự truyện? Thoạt đọc thì ngỡ là đều đặn, đơn giản một giọng kể, nhưng xem qua rồi mới thấy sôi động và lôi cuốn biết chừng nào. Buộc phải theo chân nhân vật xưng ‘tôi’ đi từ Việt Nam sang tuốt Mã Lai một hơi không ngừng nghỉ. Và giữa lộ trình gian nan đó, tác giả đã khéo đưa ra, gài vào những chuyện vui buồn làm ta bâng khuâng chia xẻ.” (Hồ Đình Nghiêm)

Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ thường được gọi là đài VOA có mục điểm sách rất ăn khách. Ký giả lỗi lạc Bùi Bảo Trúc giữ mục này, khi đọc xong tác phẩm Kẻ Đưa Đường do Việt Publications ấn hành năm 1986, ông đã viết:

“… Tập truyện Kẻ Đưa Đường mặc dầu là tác phẩm đầu tay, đã được rất nhiều độc giả yêu mến, và giới văn học Việt Nam hải ngoại coi ông là một tác giả có thực tài với lối viết giản dị, gọn gàng và trong sáng, những tình tiết được trình bày mạch lạc và chừng mực, chân phương như con người mô phạm của ông”. (Bùi Bảo Trúc)

Một cái tên rất nữ nhi, nhưng vốn là giống đực, từng hành nghề dạy học, qua xứ người mở quán sách Việt ngữ, vừa bán, vừa đọc, vừa viết, không phải lai rai, nhưng cũng chưa hẳn chuyên nghiệp, đọc Võ Kỳ Điền, đưa ý kiến:

“… Thông thường những tập truyện ngắn không thể có tính chất luận đề, trừ phi tác giả của tập truyện được viết theo một mục tiêu chung của cả nhóm; thí dụ Nhóm Tự Lực Văn Đoàn chẳng hạn; nhưng dù thế nào thì chỉ truyện dài mới có đủ khả năng để hàm chứa tính chất luận đề. Nhưng với Kẻ Đưa Đường, một trường hợp rất lạ lùng đã xảy ra đối với lịch sử tiểu thuyết của Việt Nam…

“… Nhìn chung toàn bộ tập truyện ngắn, với ngòi bút bình dân, đôi lúc hàm chứa tính chất hoạt kê, cộng với tính chất luận đề đã nói lên tâm thức của một nhà văn trong thời loạn, chúng tôi nghĩ rằng độc giả sẽ hòa điệu và cảm ứng được khía cạnh thiên chức của nhà văn Võ Kỳ Điền qua tác phẩm ‘Kẻ Đưa Đường”
 (Nguyễn Thị Sông Hương).

Hơi khác với tác giả trên, một tu mi nam tử rất ngon lành, có cả hơi đẹp trai, nhưng có phần nào đó rất yểu điệu thục nữ, đã viết về nhà văn cùng một miền đất phương nam với mình:

“… Võ Kỳ Điền là một nhà văn gốc miền Nam, nên anh áp dụng văn phong miền Nam triệt để. Đó là lối văn bộc trực, chân tình, gợi cảm, nhất là ở những câu đối thoại. Văn phong miền Nam thường dí dỏm, hoạt bát. Cái dí dỏm của Võ Kỳ Điền rất chừng mực, cái cay cú của anh cũng rất mực thước và cái hoạt bát thì là cả một không gian rộng như những cánh đồng ‘cò bay thẳng cánh’

… Võ Kỳ Điền viết lách khiêm nhượng, làm văn chương từ tốn, diễn tả đơn giản, trong suốt mà không nguội lạnh. Từng dòng chữ, từng trang sách thoảng nhẹ lên chút men nồng ấm tình người”
 (Hồ Trường An, tạp chí Văn)

Một người đẹp chính hiệu giầu nhan sắc, một đồng nghiệp của cả hai nghề, một người vốn ‘có tiếng mà không có miếng’ ở lãnh vực tình cảm với Võ Kỳ Điền, ưu ái ông không kém ai:

“… Học với nhau từ nhỏ, tôi vẫn thấy bên ngoài Võ Kỳ Điền có cái vẻ hiền lành như dòng sông Tiền sông Hậu êm đềm xuôi chảy. Nhưng ai biết được dưới đáy sông kia chứa đựng biết bao điều kỳ bí, sôi nổi thiết tha và mãnh liệt. Văn phong Võ Kỳ Điền cũng thế, sau cái vỏ bề ngoài dung dị, dễ dãi, bên trong là những chất chứa dồi dào cảm xúc, những đam mê sâu thẳm của một trái tim rộng lớn. Có lẽ cái đam mê lớn nhứt của Điền là đam mê về giá trị của con người và cuộc đời” (Nguyễn Thị Hoàng Bắc).

Một Bùi Giáng của miền nam trong bộ môn văn, một người ham chơi và biết chơi tới bến, một người rất lành tánh như tre trúc, viết về Võ Kỳ Điền rất xác thực:

“… Trong trí tôi nếp sống hồn nhiên, tình thân mật, lời ăn tiếng nói thật thà chất phác, một cách sống nào đó như bạn đã sống, đang bị tuyệt chủng. Đọc Võ Kỳ Điền lại thấy quả có y chang như vậy và càng thêm tiếc thương. Những cách nói, những cách cư xử của nhân vật Võ Kỳ Điền nghe qua, ngó vô tưởng như vặn lại hồi ký trong đầu hay dở quyển lưu bút ở trường học hồi còn bận quần xà lỏn, đi cẳng không. Giản dị, nhớ hoài, sướng ran. Văn của Võ Kỳ Điền thẳng và chân thành, không hoa hoè hoa sói, kết cục có những bất ngờ” (Kiệt Tấn)

Có lẽ đây là một đặc biệt, một ngoại lệ của nhà thơ kiêm nhà văn Thanh Tâm Tuyền khi ông nhận xét về một nhà văn sau 1975 tại hải ngoại. Dù những ý kiến này được gói ghém trong một lá thư đầy chân tình:

“… Tôi thật không ngờ đã viết nổi một bức thư dài đến chừng nầy. Từ ngày sang đây, tôi thật ngại cầm đến bút, kể cả khi viết thư về nhà. Điều nầy chứng tỏ, ít nhứt đối với riêng tôi, quyển sách anh viết đã thành công. ‘Chữ đã đẻ ra chữ ‘ nó đã không đẻ ra được cơm gạo cho người ta qua cơn đói lòng nhưng nó cũng không đẻ ra những phù chú, pháp thuật nhằm ‘mà’ mắt người hầu thủ lợi (ở đây cũng như ở kia). Người ta đã không thể ‘nhá chữ’ mà sống, thì người ta cũng không thể ‘nuốt chữ’ để say sưa quên đời và chết một cách ngu xuẩn. Chữ chỉ dùng để đọc thôi..

Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh vui vẻ, luôn có hứng thú tuôn thành chữ để cho những ai thích đọc anh, được đọc chữ nghiã của riêng anh.”

Thanh Tâm Tuyền: (St- Paul / ngày 18-1-92)

Một lá thư khác, giữa hai người bạn văn với nhau, cũng có một câu nhắc về Võ Kỳ Điền:

“… Chiều nay vừa đọc lại văn Võ Kỳ Điền mà Mai Thảo đăng lại trong Văn, lại thấm thía cái hay thâm trầm của người miền Nam. Có lẽ Võ Kỳ Điền là người viết văn giọng Nam hay nhất đó, chớ chẳng chơi”
Vi Khuê: (thơ gởi Hồ Trường An , 6 – 10 -1985)

Tôi chẳng thể nào trích dẫn thật đầy đủ những nhận xét tính tế của những vị vừa kể trên, dành cho nhà văn Võ Kỳ Điền. Họ đã rất tỉ mỉ phân tích nội dung, bút pháp qua từng truyện một, đưa ra cái tài cụ thể của Võ Kỳ Điền. Theo Hồ Trường An, tác giả Kẻ Đưa Đường có tài khi chưng ra những chân dung nhân vật đồng thời hoàn tất các tiêu chuẩn nhân đạo, nhân tính cần thiết cho cái đẹp của một tác phẩm văn chương. Với Bùi Bảo Trúc, rất tâm đắc với những truyện tình, vốn hiếm hoi trong Kẻ Đưa Đường. Ông thuật lại vắn tắt nội dung từng cốt truyện, để đi đến kết luận: ba truyện tình là những truyện hay nhất trong tập truyện. Tôi không may không có tác phẩm in thành sách của Võ Kỳ Điền. Tôi đọc văn anh lắt nhắt qua các tạp chí, chẳng nhớ rõ truyện nào ra truyện nào. Nhưng những mẩu chuyện trong đời thường từ ông Năm hớt tóc, đến ông thợ rèn, với lối chuyện trò, bày tỏ tâm tình của họ, tôi rất khoái. Lồng vào đối thoại những chữ Tàu khá quen thuộc cũng là một ưu điểm của văn phong Võ Kỳ Điền. Bàn chuyện văn chương sẽ không cùng. Sợ sẽ quên một phần quan trọng, nên tôi xen ngay vào đây phần tiểu sử tác giả.

Võ Kỳ Điền tên thật Võ Tấn Phước, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1941 tại Dương Đông, Phú Quốc, trong một gia đình khá giả, Thời niên thiếu theo học tại tỉnh nhà, về sau cha mẹ thương cho lên ăn học tại trường Nguyễn Trãi Sài Gòn. Đời học sinh trung học, Võ Kỳ Điền đã được làm học trò những người danh tiếng như nhạc sĩ Lê Thương, nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng, nhạc sĩ Lê Xuân Khoa, họa sĩ Ngọc Dũng, nhà thơ kiêm nhà văn Thanh Tâm Tuyền. Tuy vậy anh không nghĩ đến mai sau sẽ sinh hoạt văn học nghệ thuật. “Học gạo” là chủ yếu và anh đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, ban Việt Hán, cùng khóa với các nhà văn Hoàng Chiều Nhân, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lữ Phương. Ra trường Võ Kỳ Điền được điều về dạy Việt văn tại Trung học Hoàng Diệu ở Ba Xuyên rồi đổi về Trịnh Hoài Đức ở Bình Dương, nơi có mặt của Lê Tấn Lộc (Hiệu Trưởng, anh nhà văn Kiệt Tấn), Lê Vĩnh Thọ, Phạm Ngọc Em… Sau tháng 4 năm 1975, Võ Kỳ Điền vội vã thành hôn với một nữ giáo sư cùng trường, chị Duyên. Cô giáo hoa khôi này cho anh một cậu ấm duy nhất. Năm 1979, gia đình Võ Kỳ Điền vượt biên đến đảo Pulau Bidong Mã Lai, rồi định cư tại thành phố Laval, Canada. Cũng như nhiều vị giáo chức khác, Võ Kỳ Điền mất bục giảng, anh trở thành công nhân của hãng điện tử Phillip trong nhiều năm.

Lao động chân tay cũng có ưu điểm của nó. Ngoài giờ vất vả ở sở, Võ Kỳ Điền trở lại thú vui đọc sách. Từ một nhận xét trong bài phú tả A Phòng của ông Đỗ Mục bên Tàu, đại ý “Không ai diệt được Yên, Tề, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, chính lục quốc này tự diệt mà thôi”, Võ Kỳ Điền cho rằng miền nam Việt Nam đã tự diệt, một phần vì sự hiểu biết hời hợt về chế độ cộng sản, một phần vì thái độ bàng quan của giới có học vấn. Anh viết: “… Thời đó tôi còn nhớ rất nhiều người sách nào chống cộng thì không thèm đọc, kịch nào chống cộng thì không thèm coi. Họ đồng hoá hễ tiểu thuyết chống cộng thì đương nhiên không hay. Chuyện chống cộng là việc làm của các ông công chức bộ Thông tin hoặc các cơ quan Tâm lý chiến của bộ Quốc phòng. Tiểu thuyết hoặc thơ, kịch muốn hay phải có yêu đương gay cấn, mùi mẫn kia…

Không biết có phải vì điều này Võ Kỳ Điền đã nghiêm chỉnh viết văn, và tuyên bố một câu chắc nịch: “…Nếu bài nào của tôi mà không có một ý, một câu đả kích cộng sản thì tôi không viết nữa…
(trả lời Tưởng Năng Tiến, Làng Văn số 30 tháng 2-1987)

Võ Kỳ Điền thành danh cùng thời với những Nguyễn Ngọc Ngạn, Bắc Phong, Vũ Kiện. Tác phẩm đầu tay, Kẻ Đưa Đường, gồm 15 truyện ngắn ăn khách, đã giúp cho Võ Kỳ Điền có cảm giác đầu tiên, khi nhận tiền tác quyền 10% từ một nhà xuất bản của ông chủ bút Làng Văn, Nguyễn Hữu Nghĩa. Số tiền không mấy lớn. Sáu trăm tám mươi tám đô la Canada cộng thêm 80 xu lẻ. Tôi không rõ Võ Kỳ Điền có đãi cà phê cho bè bạn không ? Anh là người không mấy thích la cà quán cóc. Bạn bè họp mặt đãi nhau, hú anh đến cũng rất khó. Với một vóc dáng có da có thịt, cùng khuôn mặt vuông vức đầy đặn, không biết có ảnh hưởng đến bản tính ngại trà, sợ rượu của anh không ?



 

Chuyến vượt thoát khỏi tổ quốc cùng những ngày tháng tỵ nạn trên đảo, đã giúp Võ Kỳ Điền hoàn tất cuốn bút ký dày 420 trang: Pulau Bidong – Miền Đất Lạ vào đúng ngày 30 tháng 4 năm 1991. Sách được nhà xuất bản Xuân Thu tại Hoa Kỳ ấn hành cùng năm. Cuốn sách này Võ Kỳ Điền ký tặng tôi hẳn hoi. Qua đó tôi hiểu biết được khá nhiều về cuộc đời thuyền nhân. Một nhân vật của anh làm tôi nhớ hoài là bạn “Dân…gì đó”. Một cái tên và một thói quen, được anh ghép thành tên gọi, với rất nhiều đức tính, thói quen ngộ nghĩnh.

Võ Kỳ Điền không thích đàn đúm nhưng anh thường có mặt trong các cuộc sinh hoạt chữ nghĩa. Hơn thế nữa, anh còn là một trong những diễn giả thường xuyên, có uy tín của cộng đồng người Việt tại Montréal. Anh đã từng đăng đàn giới thiệu tác phẩm của nhiều bạn văn. Những bài phát biểu của anh thường được viết rất tỉ mỉ, súc tích. Nghề dạy học cũng đã giúp anh tự tin, linh hoạt trong khi trình bày trước đám đông. Tác phẩm của tôi, của Lưu Nguyễn, của Phan Ni Tấn, của các nhà văn Nguyễn Văn Ba, Song Thao, Trà Lũ, Nguyễn Tấn Hưng, Trang Châu…cũng từng được anh giới thiệu chí tình đến bạn đọc.

Viết lách nói năng đề huề chuyên nghiệp như vậy, nhưng Võ Kỳ Điền rất khiêm nhường và thành thật khi nói về cái nghề tay trái “viết văn” của mình. Trong tác phẩm đầu tay, Võ Kỳ Điền tự viết lời tựa cho sách mình:

“ Cả đời cho tới giờ phút nầy, tôi vẫn nghĩ thành thực rằng mình chỉ là một nhà giáo – một thầy giáo ở tỉnh lẻ mà thôi, khó thể làm bất cứ nghề nghiệp gì khác mà coi cho được, nói chi tới chuyện viết văn làm thơ. Theo trí tưởng tượng, theo sự hiểu biết qua sách vở, báo chí, cùng hình ảnh các vị thầy khả kính, tôi cho rằng nhà thơ, nhà văn phải là những người tài hoa, phong lưu và giỏi giắn rất mực…

Nhà báo Bùi Bảo Trúc đã thuật lại lời Võ Kỳ Điền phát biểu trong một cuộc nói chuyện tại Đàm trường Văn Bút Canada vào tháng 6-1987:

“… Võ Kỳ Điền đã khiêm tốn không xem những gì ông viết là văn chương. Ông không coi việc ông có những tác phẩm đăng báo là văn chương và việc cầm bút của ông không phải là “viết văn” mà chỉ là ” viết”, để nói lên những điều ông trông thấy, nghe thấy hay đã sống qua, trên mặt giấy, một thứ phản ứng của một người bị đè nén, ức hiếp thì phải vùng dậy, một người bị lăng mạ thì phải nói lại.

Văn chương, theo Võ Kỳ Điền, phải là tiếng nói của kẻ yếu đấu tranh chống độc tài, áp bức, bạo lực và bất công bất cứ từ đâu tới. Trong bài tựa của cuốn “Kẻ Đưa Đường” Võ Kỳ Điền viết tiếp, văn chương phải chống bất cứ hình thức nô lệ nào, chống sự ngu xuẩn, hầu đưa con người vươn lên từ tối tăm, đổ vỡ…”


Qua bài viết của Bùi Bảo Trúc, chúng ta cũng nhận ra được quan niệm sáng tác của Võ Kỳ Điền. Chuyện cầm bút và quan niệm sáng tác, còn được anh xác nhận khi trả lời phỏng vấn của nhà văn Tưởng Năng Tiến:

“…Tôi chỉ là thầy giáo – một thầy giáo ở Sóc Trăng với Thủ Dầu Một thôi. Khó mà làm một nhà văn tầm thường, nói chi mộng làm một nhà văn lớn. Do đó cái nhìn của tôi bị giới hạn, và đã vào khuôn. Câu văn thì phải có động từ, chủ từ, túc từ. Bài viết phải có nhập, thân, kết. Nguyên tắc của tôi đặt ra giản dị trong sáng trong câu văn, thiệt thà chất phác trong ý tưởng, nội dung. Dễ đọc, dễ hiểu…Cái mục tiêu tôi nhắm tới không phải để trở thành một nhà văn tên tuổi…Nói cho rõ, tôi viết để chống cộng…”

Chủ trương viết “dễ đọc, dễ hiểu” nhưng không phải bê nguyên cái sự thật ngoài đời vào trong bài viết. Võ Kỳ Điền chú trọng đến sự sáng tạo trong tác phẩm. Từ cái không-thật trở thành cái thật, theo anh là một nghệ thuật cần có khi viết văn.

Thành phố Montréal qui tụ khá nhiều người sáng tác. Không khí sinh hoạt khá sôi nổi, đẻ ra nhiều thân tình. Tôi và Võ Kỳ Điền cũng nương theo sự phát triển tốt đẹp này mà đến với nhau nhiều hơn. Trong một lễ vu qui của con gái tôi, anh đã có mặt và đóng góp phần giúp vui của mình với một tiết mục đặc biệt. Anh đọc thơ. Bằng một giọng chậm rãi, dễ nghe, anh dẫn thực khách có mặt trong buổi tiệc, ghé qua một dòng sông nổi tiếng trước đây cả ngàn năm. Bên nguồn nước bao la ấy có sự hiện diện của cô gái xinh đẹp tên Hà. Một khởi điểm thi hứng cho một người si tình, đã làm thơ loạn cả một góc trời, đủ để cho dòng sông mang tên Thương Hà. Điển tích này được gói gọn trong bốn câu thơ sống mãi trong Kinh Thi nước Tàu: “Quan quan thư cưu / Tại Hà Chi Châu /Yểu điệu thục nữ / Quân tử hào cầu”. Dĩ nhiên đọc xong, Võ Kỳ Điền không quên giải thích. Dù trên sân khấu, dưới ánh đèn không đủ sáng, tôi cũng nhận rõ nét mô phạm nghề nghiệp của Võ Kỳ Điền hiện ra. Anh say sưa nói một cách chân tình. Trước mắt anh có thể đang có một con chim cưu kêu quan quan thật. Sự thiết tha và lãng mạn làm phong phú và rực rỡ tình yêu. Dùng những câu thơ đẹp để chúc mừng một cuộc hôn nhân, Võ Kỳ Điền quả thật tế nhị, thông minh. Anh đã tỏ ra một người khéo chọn quà, đồng thời giới thiệu được cái Hán rộng vốn có của mình.

Cuộc sống sẽ mỗi ngày một đẹp hơn, nếu không có những đố kỵ, nhỏ nhoi chen chân vào. “Một cơn bão trong tách trà” đã manh nha mở đường đi xuống cho những sinh hoạt văn học nghệ thuật, vốn rất phong phú tại thành phố tráng lệ, nhiều người Việt, Montréal. Phòng triển lãm tranh sơn dầu của họa sĩ Võ Đình ngày 27 tháng 6 năm 1992 tại Les Jardins Du Boisé Montréal, đã chịu tiếng oan cho sự bắt đầu không đẹp này. Võ Kỳ Điền vô cớ bị lôi vào những tin đồn thất thiệt, những lá thư nặc danh đầy ác ý. Chuyện tưởng chơi nhưng không ngờ đã kéo đổ hạnh phúc của một nhà văn đang sung sức. Ngọn bút của Võ Kỳ Điền cũng theo đời sống chăn gối mà chựng lại. Anh xuống tinh thần khá nhanh. Có một khoảng thời gian ngắn anh gần như biệt lập, không giao tiếp với bè bạn, không viết. Nhưng rất mừng, giai đoạn khủng hoảng tinh thần chóng qua. Võ Kỳ Điền vui vẻ trở lại với một nghề tự do, vốn đã có căn bản vững vàng. Anh trở thành một chiêm tinh gia với nhiều tiếng tốt đồn xa.

Không nhớ vì nguyên do nào chúng tôi có vẻ khá thân với nhau. Lúc bấy giờ Võ Kỳ Điền thuê nhà ở số 9175 đường Saint Michel. Tôi ghé lại thăm anh nhiều lần. Tuy chỉ có hai cha con, Võ Kỳ Điền đã thuê một căn nhà khá lớn. Phòng làm việc của anh thoáng mát. Ngay sau bàn viết của anh là một tủ sách choáng cả bề ngang vách tường. Sách nhiều, đủ loại. Nhìn những cuốn sách nằm chỉnh tề, ngăn nắp trong tủ sách của Điền, tôi chợt thấy thương những cuốn sách được tôi làm chủ. Từ năm dãy cho một tủ sách, tôi chế thành mười dãy. Tủ này nối tủ kia bốn lần giáp mí. Nạn mãn sách vẫn không được giải quyết. Tính tôi hình như có hơi lười nên sự lộn xộn càng gia tăng.

Từ bàn viết của Võ Kỳ Điền nhìn ra, tôi gặp ngài Bố Đại vui vẻ cười với cái bụng tròn vo. Nhờ Võ Kỳ Điền giải thích, tôi mới biết sự khác biệt giữa hai ngài Bố Đại và Thổ Địa. Thiền sư Bố Đại xuất thân từ Trung Hoa vào thế kỷ thứ 10, thời Ngũ Đại. Ngài mập mạp nên không được cao. Áo vận vào người nhưng không mấy khi cài nút. Cái bụng hở gió cứ thế mà lớn lên. Không chừng những phép màu được thiền sư chứa trong cái bụng dễ thương này. Thiền sư Bố Đại đi đứng nghênh ngang, chân tay thoải mái. Đó là tôi nhìn ngài mà suy đoán ra vậy. Không tin bạn có thể nhìn nụ cười vô cùng hoan hỷ của ngài. Ăn ngủ tùy nghi, nói năng tùy hứng nhưng được mọi người kính trọng thương yêu. Trước đây tôi vẫn tưởng cái túi vải bố to tướng trên vai ngài dùng để đựng quà cáp, vàng bạc mà ngài sẽ mang đến phát tận nhà những người có lòng, nghèo khó. Hóa ra không hẳn vậy. Túi vải bố của ngài có thể đựng lương thực, có thể đựng năm bảy người ngài cần đưa qua những khó khăn, tai nạn. Ngài Bố Đại ở với dân, vui với dân. Lúc ngài lâm chung người đời mới được biết ngài là hiện thân của đức Phật Di Lặc. Sau khi đến chơi nhà Võ Kỳ Điền về, tôi xuống phố Tàu Montréal thỉnh ngay một ngài Bố Đại được đúc bằng nhựa cứng, có màu xanh như ngọc. Ngài Bố Đại này ở với tôi chừng năm bảy tháng. Trưởng nữ tôi sinh sống tại Hoa Kỳ về thăm, tỏ ý thần phục ngài, thế là tôi làm quà tặng. Một ngài Bố Đại khác hoành tráng hơn, phương phi hơn lại được tôi thỉnh về . “Di Lặc, Chân Di Lặc / Phân thân thiên bách ứng / Thời thời thị thời nhân / Thời nhân tự bất thức…” Thật ra tôi chẳng cần thông suốt triết lý hành động của ngài. Có ngài cùng ở chung một nhà là vui rồi. Nếu có dịp bạn đến thăm nhà tôi, đừng ngạc nhiên khi gặp Phật tổ, Phật Quan Âm, ngài Quan Công, ngài Phúc, Lộc, Thọ vân vân. Ở nhà Võ Kỳ Điền, tôi còn thấy mẹ con của một bầy cá hóa long bằng gỗ chạm khắc tinh vi, giàu nghệ thuật. Tôi rất thích cái tượng này, Tượng rất lớn, nặng, và quí nên tôi không dám hỏi xin. Dĩ nhiên dù có xuống giọng năn nỉ, Kẻ-Đưa-Đường-một-lần của tôi cũng không cho. Đến chơi cùng Võ Kỳ Điền, tôi biết thêm anh có một cái thú rất giống tôi: thu phim. Nếu tôi nghiêng về phim du lịch. (Xem như mình đi tham quan đây đó mà không mất nhiều tiền) thì Điền thu được rất nhiều bộ phim Tàu. Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long, Hoàn Châu Cát Cát, Dòng Sông Ly Biệt, vân vân và vân vân, đầy ứ mấy tủ lớn của Võ Kỳ Điền. Anh giới thiệu và cho tôi mượn một lúc nhiều bộ, xách nặng muốn rớt cánh tay. Nhân chuyện thu phim, tôi hỏi thử anh có phim sex ? Anh lắc đầu. Tôi gợi ý, nếu anh muốn xem tôi cho mượn. Điền chối từ, Anh nói: “Ở một mình, sợ cái chuyện đó lắm”. Tôi ngẫm nghĩ không hiểu vì sao anh sợ. Thật ra, nếu Điền cần, tôi chạy lên Saigon Video mướn làm quà cho anh vài cuốn, xem giải sầu. Nhưng Võ Kỳ Điền, nhà mô phạm vẫn giữ được bản chất nhà giáo. Hoan hô. Nghề chính của anh lúc này là chấm tử vi, xem hướng nhà…đủ thứ chuyện của nghề bốc tử. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi nhờ Điền soạn cho tôi một lá tử vi. Anh sốt sắng làm ngay, dù không nhận một đồng xu nào. Điền nói về tôi, về cái đuôi của một con rồng, giàu một đời nhào lộn. Anh cho tôi biết tôi không có số làm giàu, nhưng rất mực thong dong. Thuở nhỏ ỷ vào cha mẹ; ra đời cậy vào bạn bè, đệ tử; hiện tại nhờ vợ quanh năm. Đúng hết chỗ chê. Điền cùng tuổi với tôi, như Thái Tú Hạp, Hồ Thành Đức, Châu Văn Tùng…nhưng mỗi người một hoàn cảnh khác nhau tùy theo cái giờ, cái khắc biết khóc lần đầu tiên. Cuối bài viết này là lá số tử vi của tôi do Võ Kỳ Điền chấm quẻ. Bạn nào có nghề cứ thử suy đoán chơi. Phát giác gì thú vị có thể gọi đến tôi, không mất tiền qua số điện thoại 514-325-6409 hoặc 514, 588-6409.

 

4cặp: VKĐiền, SongThao, LHoán, PhanNiTấn


Võ Kỳ Điền đang là người ‘độc thân dễ tính’ nên hình như có nhiều o sồn sồn ngấm nghé. Quán bánh mì trên đường Jean Talon, nơi Điền thường ghé mua thức ăn, hình như muốn dạm mối cho anh. Không rong chơi, ngừng viết lách, Võ Kỳ Điền tiêu vào đâu khoảng thời gian thiếu người mê tín ? Tôi cứ ái ngại cho anh cái vụ ‘chào cờ’ bất tử. Nỗi lo bao đồng của tôi quả là ‘lo bò trắng răng’. Đùng một cái anh hỏi: “Ông có đi dự đám cưới của tôi không ?” Tưởng giỡn, hóa ra thật. Một nữ dược sĩ, nhan sắc mượt mà, có cơ ngơi làm ăn khang trang quyết định mời anh về dinh ở tận thành phố Toronto hiện đại.

Hôn lễ giữa anh và chị Trần Ngọc Điệp được cử hành vào ngày 03 tháng 8 năm 2002 tại tỉnh bang dùng tiếng Anh, Ontario, Canada. Tôi vắng mặt, lý do quen thuộc: nhức chân, nhức đầu, sổ mũi. Bạn văn tham dự chia vui cùng anh kể lại, đám cưới lớn và trang trọng lắm. Cuộc đời quả thật có nhiều cái bất ngờ. Cùng một tuổi, Điền hơn tôi hay tôi hơn Điền chưa rõ. Nhưng hơn cái gì đây, chẳng lẽ hơn một cái…phù du !



Võ Kỳ Điền đã bỏ Montréal mà đi, như Đỗ Quý Toàn, Bắc Phong, Phạm Nhuận…Dù không thắm thiết tình bè bạn tôi vẫn thấy buồn. Thành phố thân yêu mất thêm một tay viết, một diễn giả, một kẻ lừng khừng thơ ngây, đưa đường không đến nơi đến chốn. Nhưng tôi cũng rất mừng cho anh, tình yêu làm anh hồi sinh. Anh viết lại. Những trang viết chưa là truyện ngắn, truyện dài, nhưng bút ký đã có sau những chuyến du lịch gần khắp thế giới của cặp uyên ương, vừa tìm lại tuổi thanh xuân. Những bài điểm sách, giới thiệu tác giả cũng đã trở về với Võ Kỳ Điền. Tôi lại được hân hạnh anh đảm nhiệm lời trình làng “Luân Hoán Một Đời Thơ” tại Mississauga. Nhà văn Song Thao cũng được anh ngưỡng mộ nhắc tới trong bài nói chuyện về Phiếm của nhà văn Trà Lũ. Anh vẫn nhiệt tình, bài viết vẫn đầy một tấm lòng. Chân thành cảm ơn chị Ngọc Điệp đã cho anh bạn hơi cù lần của tôi trẻ lại hơn mười tuổi. Trẻ lại hơn tôi rất nhiều. Tôi rất yên tâm đóng vai một ông anh, dù thân thể có phần khiêm nhường hơn. Làm anh nên vẫn thường lú lẫn. Có gì quên nhờ ông em, mướt rượt tình yêu chịu khó làm một kẻ đưa đường, nếu tôi xuống chơi Toronto mà nổi hứng muốn đi lạng quạng nhé. Trả công trước cho “chú” mấy câu thơ đây:

“ Đang hiền như Phật đất / bỗng nhiên có người yêu / gieo quẻ gì hay vậy / ông nhà giáo cao siêu / Kẻ Đưa Đường ngày nọ / Hán rộng đến bao nhiêu / xem giùm trong bồ chữ / còn thừa mấy chữ yêu ?” (LH)

 

Luân Hoán



Nguồn : https://trunghoctrinhhoaiducbinhduong.com/trang-nha-trinh-hoai-duc-2/bai-cua-thay-tro-trinh-hoai-duc/van/thay-vo-tan-phuoc/vo-ky-dien-ke-dua-duong-lang-tri/

Sunday, 7 January 2024

 NHÀ VĂN VÕ KỲ ĐIN

VÀ DÒNG Ý-THC XUYÊN-SUT

TRONG TÁC-PHM

Nguyn Vy-Khanh

 

 

 

 

 

 

Nhà văn Võ Kỳ Điền sinh ngày 30.10.1941 tại Dương Đông, Phú Quốc, trưởng thành và hành nghề dạy học ở Bình Dương (và một thời gian ở Ba Xuyên) sau khi tốt nghiệp ban Việt Hán Đại học sư phạm Sài Gòn. Vượt biển đến Mã Lai năm 1979 và định cư ở Montréal rồi Toronto. Võ Kỳ Điền bắt đầu viết văn khoảng năm 1980, những truyện ngắn đầu tay của ông xuất hiện trên tờ Dân Quyền ở Montréal và Làng Văn ở Toronto (Canada) trước khi trở thành một trong những nhà văn góp phần đánh dấu một giai đoạn văn học lưu vong nặng chính trị nhất của người Việt. Tờ Dân Quyền số 1 ra đầu tháng 2-1978 đến năm 1987 ngưng mặt báo chí, thông tin văn nghệ để tham gia các liên minh và mặt trận đấu tranh trên các diễn đàn hải ngoại - nay đi vào quên lãng đối với các thế hệ sau. Những cây viết của nhóm như Bắc Phong nay ngưng làm thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy, nhà thơ Vũ Kiện đã mất ở Québec, Nguyễn Ngọc Ngạn từ bàn đạp tiểu thuyết chống Cộng trở thành nghệ sĩ nói, một số khác (đã) đi vào đấu tranh và số khác nữa sử dụng 'lý tưởng' để hợp tác với 'kẻ thù' theo ... thời. Phần tư thế kỷ sau, thời gian và chính trị thế-giới đã xoay chiều. Cuộc chiến tranh lạnh đối với nhiều nước và chiến-tranh Việt-Nam đối với Hoa-Kỳ đã là chuyện ... tiền kiếp, với người Việt thì vết thương chiến-tranh đó có khi vẫn chưa thành sẹo. Dĩ nhiên nếu không nuôi ... sẹo như Triều Sơn thời tha hương đi lính cho Pháp thì cũng không thể quên vết sẹo nhiều lúc vẫn làm ngứa tâm can, một loại sẹo "thế hệ" không dễ gì quên. Nhưng, đời sống vẫn theo dịch lý tuần hoàn và nước vẫn chảy dưới cầu, mùa Đông cực Bắc Mỹ có đông giá nhưng nước vẫn âm ĩ chậm trôi ngầm bên dưới những tảng băng. Cũng chính thời gian đã cho thấy Thiện Ác và nhân quả nhãn tiền. Riêng Võ Kỳ Điền, sau những trận ... chiến Văn Bút và nghiêng ngã tình đời, tình người, ngưng sáng tác một thời gian, nay hình như đã ổn định cuộc đời và gần đây sáng tác trở lại và thiên về bút-ký. 

 

1.

"Biến cố đau thương 30.4.1975 đổ ập xuống đầu dân chúng miền Nam như trời sập. Trong cái biển đau khổ tột cùng người người bị dập vùi như cọng rác trong cơn sóng lớn" (Lời Tựa Kẻ Đưa Đường, tr. 6). Biến cố đến như một tai họa bất chợt; lịch-sử như bị cắt đứt, hiện tại với quá khứ như không còn liên hệ, ít ra là kẻ cưỡng chiếm miền Nam cũng muốn như vậy. Viết lại lịch-sử giai đoạn này cũng là một vấn nạn vì phe nào cũng có những chủ quan và thị-kiến riêng. Người viết sử chân chính có những khó khăn khi đụng đến thời đại vừa mới qua, quá gần. Nhà văn ngược lại, tương đối không bị những trói buộc khách quan đó. Tác-phẩm trở nên công cụ của chứng giám lịch-sử, với những hình thức và kỹ thuật tự truyện, bút ký và tiểu-thuyết : nhà văn và người đồng thời là những chất liệu sống động. Văn bản, tác-phẩm văn-chương trở thành bằng chứng, là kết quả của chứng giám, của những gì được nghe, được nhìn thấy. Sự việc tự nó không là bằng chứng nếu không được trãi qua tiến trình ghi nhận. Nhân chứng trở thành phát-ngôn viên của một chân lý, tường trình cái đã sống, đã để lại dấu vết, đã còn nhớ lại. Sử gia sẽ đến sau, lúc tro tàn đã lắng xuống và từ những chứng giám đó mà khai triển, cân nhắc đánh giá sự kiện và chân lý trên là chân lý kiến thức hay chân lý của lòng tin, hay cả hai.

Mặt khác, nhân chứng tự bản chất là dấn thân, muốn nói lên, muốn trả lời về sự thật, trước tha nhân - những người đang nghe đang đọc, hoặc hậu thế. Lời chứng như vậy nhập vào một hệ thống diễn-văn, nơi biến cố và ngôn-ngữ gặp nhau; khiến hiện thực và ngôn-ngữ có mối liên hệ mật thiết, nối kết chứng giám sự kiện và chứng giám ý nghĩa. Võ Kỳ Điền đã nhận vai trò làm nhà văn chứng giám, một nhân chứng và là một người dân Việt muốn sống yên cũng đã không được nữa, khi 'trời đất nổi cơn gió bụi', 'đất bằng nổi sóng', các biến cố lịch-sử đã ùa đến phủ lên người những tai ương, bất hạnh, ... Từ thân phận nhà giáo, ông thầy Võ Tấn Phước (tên thật) bị lửa loạn lịch-sử cuốn hút, thoát ra đến hải-ngoại trở thành nhà văn nhân chứng Võ Kỳ Điền. Trong Lời Tựa tập truyện Kẻ Đưa Đường, ông cho biết lý do viết : "văn-chương đích thực phải là tiếng nói của kẻ yếu dad61u tranh chống độc tài, áp bức, bạo lực, bất công bất cứ từ đâu đến. Nó phải chống bất cứ hình thức nô lệ nào, chống sự ngu xuẩn, hầu đưa Con Người vươn lên từ tăm-tối-đổ-vỡ" (tr. 8). Khi viết Pulau Bidong, Miền Đất Lạ (1992), ông cho biết đã quyết định phải viết cho con cháu sau này "hiểu tại sao cả nhà phải liều chết ra đi ăn đậu ở nhờ xứ người". 

Với tập truyện Kẻ Đưa Đường (Viet Publications, 1986), Võ Kỳ Điền đã nói lên tiếng nói chống độc tài và ngu xuẩn của một loại 'con người' (Lời Tựa). Phần lớn là những chuyện đổi đời sau 1975 qua các nhân vật chân chất quê mùa, ở tỉnh nhỏ nhưng tinh thần chống áp bức lộ rõ, như bác Năm hớt tóc, ông Bảy thợ rèn, chú Bảy Cò, qua nhân-vật các cán bộ từ bưng biền ra và từ Bắc vào tiếp thu trường học, cơ sở, "tiếp thu" cả ... con chó của Ty giáo dục; qua các chuyện trả thù cán bộ, "sửa lưng" cán bộ quá thuộc lòng những bài bản tuyên truyền, v.v. Nói chung, những bức tranh bi hài về con người và xã hội "mới" cùng những ngậm ngùi cho nếp sống nhân bản vừa mất!

Chốn học đường thân yêu của tác-giả đã là sân khấu 'giải phóng' và 'cách mạng' : chuyện Quì, một anh học trò cũ vô bưng nay trở về tiếp thu ngôi trường cũ : "Quì thay đổi hẵn ra. Đầu đội nón tai bèo, chân mang dép râu, bên hông đeo khẩu súng ngắn, vai mang chiếc bóp da.  Nó ngồi tại cái bàn của ông Hiệu Trưởng, thân thể có hơi ốm hơn lúc trước, cộng thêm nét dày dạn, đen đúa, phong sương. Duy cặp môi và ánh mắt thì khác nhiều. Cặp môi thâm hơn. Vẻ trưởng thành, già giặn hiện rõ trên khuôn mặt.  Những ngày đầu tháng năm, biểu ngữ cờ sao đầy phố.  Trường tôi cũng đỏ rực một màu cờ máu.  Ông Hiệu Trưởng, vốn đã nhỏ con, bây giờ gầy tóp lại.  Cái cà-vạt thường ngày không còn. Ông lại bỏ áo ra ngoài, chưn mang dép, coi cũng có vẻ giác ngộ cách mạng" (Đá Hoa-Cương, KĐĐ tr. 80-81). Nhưng theo 'cách mạng'  thì sao đọ được với 'chuyên chính' : vài tháng sau, Quì bị một cán bộ "ở ngoài Bắc vô, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Thanh Hoá, mười mấy tuổi đảng" vào thay thế. Ông thầy, thuộc phe 'thua', an ủi học trò cũ : "... Đừng mong làm hoa hướng-dương, suốt ngày ngước mắt nhìn mặt trời hoài mỏi cổ lắm. Cũng đừng thèm làm đá xanh cứ phải lót đường cho người ta đi. Em phải nhớ một điều, vì lý tưởng cao cả, chúng ta có thể chấp nhận hy sinh thân xác để bón lúa, chớ đừng bao giờ dùng nó làm phân để bón cho thứ cỏ dại sinh sôi nẩy nở..." (KĐĐ tr. 84).

Trong Con Chó Đi Lạc, trong một thời gian mà đổi hiệu-trưởng đến ba lần, người cuối cùng là 'anh Chín', đảng viên, nói nhiều chữ khó hiểu như "cái gì mà 'đại bộ phận' 'hạ quyết tâm' 'chủ yếu' 'động viên' 'quản lý',...". 'Anh' Chín hiệu trưởng nói láo để giựt cho bằng được con chó" mà 'chú Cân' tùy phái đã tình cờ bắt được, trước phản ứng lật tẩy của người tùy phái, 'anh' Chín bèn toa rập với Sáu Việt trưởng Ty Giáo Dục đế cướp con chó để cùng chén chú chén anh. Những thứ con người 'siêu việt' ... chiến thắng đớp chả chó mà còn tự đề cao: "-Đúng đấy, con chó béo bở như thế nầy, phải dành cho dân cán bộ Hà Nội chính cống bọn mình bồi dưỡng mới đúng. Chứ để cho bọn Nam bộ ấy mà thịt con cầy nầy thì phí lắm. Tụi nó có làm ra trò trống gì. Giá mà không có mưu kế của chúng mình thì nó đã lọt vào tay cái thằng gì... gì ấy nhĩ, ôi chao hỏng bét !  Cứ kể như là vất đi" (KĐĐ tr. 108).

Một nhân-vật khác, ông Bảy thợ rèn, người chỉ tin những gì trông thấy, nên đã không tin trái đất tròn và không tin lời bác Cơ bán phở, một người Bắc di cư vô Nam sau hiệp định Genève, vì bác kể “ngoài Bắc người dân sống khổ cực. Công an kìm kẹp, theo dõi, bắt bớ. Dân chúng làm quần quật mà không có ăn. Nhà cửa, đất đai, xe cộ gì cũng bị tịch thâu hết. Sống thua con bò, con heo !”. Ông Bảy hùng hồn phản bác và cho rằng "Người làm cách mạng, cũng như tao rèn cục sắt, chỗ nào cao phải đập cho dẹp xuống, chỗ nào thấp phải gò cho cao lên. Như vậy mới gọi là cách mạng. Nếu cách mạng sai lầm, sao tao với ông ngoại mầy cho chú Út với cậu Bảy mầy đi ra Bắc ? ... Cộng sản là công bằng” (KĐĐ tr. 40, 41). Nhưng sau biến cố năm 1975, Ông Bảy thất vọng về ‘cách mạng’ của Hà-nội: “Ông Bảy cuời mỉa : -Hứ, rèn cái kiểu cộng sản. Tụi nó nhắm mắt lại mà đập. Chỗ cao xẹp xuống đã đành, chỗ thấp cũng dẹp lép. Tao già như vậy mà hôm trước còn bị giáo dục. Ngày lễ mừng sinh nhựt cụ Hồ có lịnh phải treo cờ trước nhà. Nhà tao bây giờ thục tuốt phía sau, nó là cái garage, có phải là cái nhà đâu. Vậy mà thằng công an khu vực đi sồng sọc vào giữa nhà, hăm he đủ thứ. Tao đành phải đi kiếm mua để treo...". Tác-giả kết truyện : " Ông Bảy nói tới đó, ngồi thở dốc. Nỗi bực tức làm ông mệt nhòai. Không giận sao được, cả đời ông đầu tư trọn vẹn tình yêu vào cách mạng, nghĩa là trong đó có thằng con trai út của ông. Nào ngờ ông đã lỗ vốn nặng. Cách mạng về ấm no hạnh phúc tìm hòai không thấy. Chung quanh chỉ có khóc than đói khổ, tức tưởi, căm hờn. Riêng chú Út mặt mày giống hệch ông nhưng tình cảm và ý nghĩ giống Bác và Đãng. Cái giây liên hệ cha con mong manh quá. Ông Bảy phải trên hai mươi năm mới thấy điều đó. Ông đã trồng cái cây “cách mạng” thật là công phu, bây giờ lại hái cái trái đắng nghét” (Ông Bảy Thợ Rèn, KĐĐ tr. 44). Thì cũng có khác nào các Năm hớt tóc, sau 1975, "cuộc đời bác biến đổi từ đủ ăn xuống nghèo, từ nghèo xuống tới mức mạt rệp. Thời gian để phấn đấu được tới nghèo đói là năm mươi năm làm việc cực nhọc (...) Cuộc cách mạng bây giờ quá to tát, vì phải nhân danh nhiều thứ nên hiện tại bác Năm còn được cái quần xà lỏn đen, ở trần phơi xương sống xương sườn mà đứng hớt tóc nơi cái xóm bình dân hẻo lánh nầy" (Bác Năm Hớt Tóc, KĐĐ tr. 20). 

 

2.

Trời đất đã nổi cơn gió bụi, đất lành thành hang cọp, lòng người hiền hoà đất miền đông và cả miền Nam một sớm một chiều thành lòng lang dạ thú; con người đành bỏ quê nhà mà đi, ra biển, về nơi vô định. Trong truyện dài Pulau Bidong, Miền Đất Lạ, viết từ năm 1981, 10 năm sau đăng từng kỳ trên Tập-san Y Sĩ (Montréal) trước khi nhà Xuân Thu ở Cali xuất bản năm 1992, Võ Kỳ Điền tả cuộc ra đi đầy bất trắc và bi thương của những người dân bình thường không thể sống chung với con người cộng-sản. Truyện dài này cho người đọc nhận ra một tình thâm thắm thiết nơi tác giả đối với người thân của ông cũng như với những con người đồng cảnh ngộ thuyền nhân. Truyện đánh dấu biến cố lớn đồng thời cũng là vết thương tích đối với lương tâm nhân loại : thuyền nhân (boat-people)!

Cuộc sống tị nạn, lưu vong ở xứ người (Bóng Nguyệt Lòng Sông, Một Thời Để Yêu, Rêu Phong Mấy Lớp, ...), từ căn bản đã là biến thiên, nương chiều theo cuộc đổi thay, ngon thì oai hùng vẫy vùng (thật sự), tệ thì cũng lo cho cái sống còn lẽo đẽo theo kiếp người; tuổi già và tàn tạ nhân sinh thì ở đâu cũng không thể tránh!

Trong Rêu Phong Mấy Lớp, Võ Kỳ Điền kể chuyện ông bà Năm, một cặp vợ chồng già đình cư ở Montréal (!) mà lúc nào cũng cứ ngỡ còn trong tầm mắt thấy "nhà mình" nơi quê-hương xa xôi. Khi gặp lại người quen mới qua định cư hỏi thăm mới biết cơn gió bụi đã đến với cả "nhà mình" : những cây nhãn, cây mận và cả cây mai già giữa sân đã bị con người chế độ mới đốn ngã để làm hợp tác xã:

" ... Ông Năm ngồi dán người xuống ghế, lỗ tai lùng bùng. Ông thấy những biểu ngữ giăng giăng, những rừng cờ đỏ sắt máu, những đoàn người mặt đầy hận thù tràn vào tỉnh lỵ, tiếng nhạc đập đùng đùng chói tai. Ông thấy rất rõ những đứa con ông, những đứa cháu ông lần lượt bị bắt giam. Ông thấy tận mắt người ta bị bắt giết, đánh đập, giam cầm... Ông thấy những cảnh chia ly, đầy đọa, tang tóc, khổ đau. Ông thấy được những việc, những người mà cả đời chưa bao giờ được thấy qua. Tất cả đều quá lạ lùng, không thể nghĩ đến nổi. Xã hội mới, đất nước đổi mới là vậy đó sao ? Ông có quá lỗi thời, cũ kỹ, già nua ? Cái nhà bê tông cốt sắt trong đầu quay mòng mòng, tấm hình trong tay rơi xuống đất nhẹ đến nổi không nghe tiếng. Bên tai, ông nghe tiếng vợ móm mém, nói văng vẳng khi gần khi xa:

- À, nó nói cái năm mà vợ chồng mình hiến nhà cho nhà nước để được đi đó, hồi chưa bị chặt thì cây mai trổ bông nhiều lắm, rụng vàng cả đường đi!

Ông Năm bất động, hồi lâu tỉnh lại nói nho nhỏ:

-Tại sao mình đi mà nó lại không biết, trổ bông chi cho nhiều vậy! Tại sao vậy ? Nó không biết thương tôi với bà sao mà... Hay là nó chưa biết nhà đã đổi chủ từ lâu!".

Trong Câu Hỏi Kiếp Người, người tình đầu đời gặp lại nơi xứ người khi đôi bên đã yên bề gia thất, câu hỏi 'anh có hạnh phúc không?' trở thành cái nợ đời mà nhân-vật Hoàng 'tưởng sẽ không bao giờ trả được và mãi mãi'! Truyện Bếp Hồng (còn có tựa Bếp Lạnh) là một trong những sáng tác thuộc giai đoạn sau này. Nơi đây là một Bếp Hồng tức không phải là Bếp Lửa như đối với Thanh Tâm Tuyền thời tuổi đôi mươi; mà ở đây, nơi xứ người, cái làm ấm cuộc đời vẫn là những tình thâm dù hệ lụy. Ngọn lửa không những cần cho những món lương-thực trần-gian, mà còn là cái không thể thiếu cho con người, cái làm sống và đem hương vị đến cho đời !

Ở tác-phẩm dù không nhiều của Võ Kỳ Điền, người đọc sẽ khám phá một số mảnh đời của người Việt-Nam sau biến cố tháng 4-1975, những cuộc phiêu lưu tìm sự sống và tự do của thuyền nhân cũng như đời sống ở xứ người, trẻ có, già có và có một số rất riêng nhưng đa số là phận chung.

 

3. Ý-thức xuyên suốt tác-phẩm

Nói một cách tổng quát, văn phong một tác-giả thường theo một đơn chất hay nhất quán : nhất quán về hành văn, giọng văn, về văn bản; đơn chất của tác-giả và của cả độc giả - độc giả nào, tác-giả nấy! Đây có thể gọi là ý-thức hệ của văn bản. Một tin tưởng nhân bản, một cốt-lõi làm một, làm nền cho văn bản. Viết, đối với Võ Kỳ Điền là để dóng lên một tiếng nói cố vạch rõ (nhắm tố cáo, dù có thể không nói ra) những hành động và lời nói lừa lọc, phỉnh gạt người dân, những lừa dối 'nguyên chất' (không thể có biện minh). Qua các tác-phẩm-chứng-từ, tác-giả đã vẽ lại những mẫu, những nét, những mảnh đời dở dang. Ông đã trở về quá-khứ để thấy rõ quá-trình của nhân-vật và để biện minh tâm lý các nhân-vật và như vậy, đưa ý thức vào văn phong sử dụng để kể lại những tàn bạo và bất nhân của những con người (thắng một trận chiến) đã xảy ra trong một lịch-sử gần. Giọng văn Võ Kỳ Điền mang nét phúng thích,  phúng thích những cái gọi là khách quan của 'chân-lý' (áp đặt!).

Sau tháng Tư 1975 (và cho đến 30, 35 năm sau), miền Nam bị người Bắc phương biến thành địa ngục và hầu như mọi người đều là nạn nhân, bất kể tuổi tác: "Chị Sáu ơi, trong các thứ định mạng ở cái cõi đời nầy, thì Cộng Sản là cái thứ định mạng khắc nghiệt nhứt.  Nó là chén thuốc độc cuối cùng bắt cháu Thuỷ uống từ giọt, từ giọt,..".(Bóng Nguyệt Lòng Sông, KĐĐ tr. 150). Trí thức hay dân thường đều trở thành nạn nhân, tài sản, sự nghiệp có thể bị tước mất, nhưng nạn nhân vẫn còn khí giới lý-trí và ngôn-ngữ qua những lời nói đùa, nói đía, châm biếm, trào phúng, nhại, nói ngược, nêu đích danh, nói thẳng thừng, thách đố, vạch mặt láo là láo, hứa hão là hão, là gian, ... trước những tình cảnh bất bình, tình thế tréo cẳng ngỗng. Bi quan, thất vọng, mất tin tưởng, bất hạnh vì trớ trêu của con Tạo, lời nói trong tình cảnh đó có thể lật ngược tình thế, một gỡ nút bất ngờ.

Con chữ bóng gió hay thẳng thừng, tất cả, trong một hoàn cảnh nào đó, đã muốn sự thật sáng tỏ, ngầm muốn đặt lại tôn ti cao thấp dù đang bị kẻ 'thắng' cưỡng chế lập lại bảng giá trị (kẻ thắng, người thua, kẻ 'giải phóng', người thuộc về ngụy, địch, cán bộ 30, nằm vùng nay ra mặt, ...). Tả cán bộ Việt cộng thì : "... cán bộ áo trắng, bộ đội áo kaki màu cứt ngựa xanh đùng đục, mang dép râu"(PBMĐL tr. 14).  Hay những cảnh sống :

- "Cho đến một ngày mà người ta nuôi heo trong dinh Độc Lập hoặc xúm nhau cởi trần bửa củi ở trước sân tòa Đại sứ Anh thì tôi quay trở về tỉnh cũ với một tâm sự rối bời. Ngoài đường xe phóng thanh chạy rầm rộ khắp phố. Những điệu nhạc lạ lùng khó nghe, chói tai vang dội, nửa như vui mừng chiến thắng, nửa như đe dọa..." (KĐĐ, tr. 19)

- "Từ ngày mấy ổng bỏ rừng về thành phố, toàn dân miền Nam đâm thất nghiệp. Vợ con công chức quân nhân chế độ cũ, chồng cha bị đày đi một nơi khỉ ho cò gáy nào đó, ở nhà túng quẩn, phải bương chải tảo tần, kiếm kế sinh nhai, hầu sống còn qua ngày.  Họ trở thành bạn hàng buôn thúng bán bưng bất đắc dĩ". (PBMĐL, tr. 14).

Văn-chương trở thành chứng-từ, Võ Kỳ Điền đã tấn công mưu đồ giấu sau những mỹ từ, vạch mặt lời và cách nói vẽ rồng vẽ rắn, so với thực tại tệ hại, sự thật đau lòng trước mắt. Phúng thích ở Võ Kỳ Điền và hoàn cảnh miền Nam sau 30-4-1975, còn mang tầm vóc lịch-sử quan trọng của một tập thể dù bị 'thua'. Nhìn nhận phúng thích như khí giới còn lại và sử dụng tài tình tùy hoàn cảnh, đó là đặc tính chính-trị nhân bản có từ xa xưa, trước cả thời Khổng-tử. Phúng thích không chỉ là một phương tiện của lý trí, trí thức, mà còn là một tham gia nhập cuộc vào cuộc tranh đấu chung có tính chính-trị - tức liên hệ giữa người với người, một cuộc đấu tranh có chiều sâu và viễn tính. Những ca dao, văn vè truyền khẩu đã là những khí giới còn lại, không bạo lực nhưng hiệu quả, của người bị trị chống toàn trị và tàn bạo, những phê phán của 'miệng đời', của kho tàng văn chương truyền khẩu dân gian, tất cả sẽ ở lại cùng lịch-sử:

- Nam-Kỳ Khởi-Nghĩa tiêu Công-Lý

   Đồng-Khởi vùng lên mất Tự-Do.

- Vẹm vào, vênh váo, vơ vét, vội vù !

- Miền Nam nhận Họ, miền Bắc nhận Hàng

- Đôi dép-râu dẫm nát hồn son-trẻ

  Chiếc nón tai-bèo che khuất nẻo tương-lai. v.v.

Nhà văn nhân-chứng Võ Kỳ Điền đã sống, đã là nạn nhân và đã nhìn thấy, đã hiểu chế độ mới áp đặt, khi đặt bút viết, ông đã làm công việc một sáng tạo ngữ pháp: con chữ phản ảnh thực tại mới, phản ảnh nhận thức và ý tưởng và những cái 'Tôi' và 'chúng ta' nhập trùng làm một. Cái 'Tôi' biến mất, bị chối bỏ, bị vô hiệu hóa, nhường chỗ cho cái 'chúng ta' tập thể trong một xã hội mà cá nhân (và tập thể phe 'thua') bị thu hẹp, bé nhỏ, vô nghĩa một cách cưỡng bách trong khi cái thậm xưng 'chúng ta' có mặt khắp nơi, cưỡng chiếm hết mọi của cải, tiện nghi và ngay cả bóng cây, hơi thở hay riêng tư thầm kín (tiếp thu, tố cáo, kiểm thảo, tự kiểm thảo). Cái 'chúng ta' mới này không có mặt những 'cái Tôi' của phe thua, 'thua' nhưng là chủ nhân chính thức của miền đất do tổ tiên để lại, 'thua' dù không tham gia chiến-tranh, phe phái! Trở thành số không suốt bốn năm trước khi tác-giả cực chẳng đã, phải quyết định bỏ quê-hương mà đi tìm sự sống con người : "Gần trên bốn năm nay rồi tôi sống im lặng, vật vờ, thu mình như một cái bóng mờ, lặng thinh câm nín. Một chút động tĩnh cũng không dám. Người ta hoài nghi, xoi mói, rình mò ..." (PBMĐL tr. 20). Như ông giáo Hưng trong Một Thời Để Yêu: "Đi đâu cũng được, miễn là khỏi phải sống một cuộc đời cực nhục, khổ sở, dưới bàn tay sắt máu, của bọn người vô tâm" (tr. 135).

Đến được các đảo tị nạn chưa hẵn đã thoát đau khổ, như chỉ mới chực ra tới bậc cửa địa ngục. Hoàng, một nhân-vật trong Bóng Nguyệt Lòng Sông đã kể lại: "Ở đây mỗi ngày tôi được chứng kiến hàng bao nhiêu thảm kịch mà đồng bào phải gánh chịu. Chết chóc, đói khát, bịnh tật, bão tố, hãm hiếp, giam cầm, đánh đập, con mất cha, vợ lạc chồng, người nào người nấy xơ xác như trái mướp phơi khô, tàn tạ, ủ rũ như cây cãi hết nước.  Nỗi bất hạnh của gia đình chúng tôi có thấm thía gì với cái bất hạnh của cả một dân tộc bị đọa đầy". (KĐĐ tr. 151).

Người ra đi vì không còn lựa chọn, như 'chú Hai thợ bạc, quê ở Sóc Trăng' trong truyện Cây Sầu Riêng Vườn Cũ: "Tại bên mình khó sống quá, vừa nhức đầu, vừa nghẹt thở, nên phải đi. Chớ vui vẻ gì. Tôi đâu có muốn nhưng hoàn cảnh bắt buộc. Thầy tư nghĩ coi, cái tiệm thợ bạc nhỏ xíu cũng bị tịch thâu.  Thôi đành dẹp kềm, dẹp búa. Tôi làm đơn xin về quê làm ruộng. Nhà nước cũng không cho, bắt phải đi xây dựng kinh tế mới.  Cái chế độ gì có mắt không được nhìn, có tai không được nghe, có miệng không được nói, thì ở lại làm gì.  Nói thiệt với thầy tư, tôi ngồi đây mà đầu óc vẫn nhớ Bãi Xàu. Trước nhà tôi có cái rạch nhỏ, chiều chiều ra đằng trước câu cá, cũng đủ vui.  Lớn tuổi rồi, đâu còn ham muốn gì nữa!"(KĐĐ tr. 64-5).

Trong các tác phẩm ở giai đoạn đầu, nhất là trong các truyện ngắn, Võ Kỳ Điền tỏ lộ một văn phong miền Nam đặc biệt, không quá "miệt vườn" như Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Đức Lập, cũng không quá ... 'nóng' như văn Kiệt Tấn, Cao Bình Minh, nhưng gần với Nguyễn Văn Sâm - có thể vì cùng gốc mô phạm! Các truyện viết về sau của Võ Kỳ Điền mang chất ký, nhiều hoài niệm và triết lý nhẹ nhàng, tức là ông theo khuynh hướng tự-sự trội bật của mảng văn học hải ngoại những năm cuối thế kỷ XX và đầu một thiên niên kỷ mới. Ngòi bút Võ Kỳ Điền trước sau luôn đi sâu thám hiểm tình người, ông muốn chạm những ngõ ngách bí hiểm mà chỉ có cuộc đời kinh qua mới nhận ra được! Giọng văn Võ Kỳ Điền mang tiếc nuối, nhung nhớ, ... ngay cả ở những hoàn cảnh phải phản ứng, đối kháng, phẫn nộ, giọng văn vẫn không hề tàn độc, thâm hiểm! Với ông, hình ảnh, chứng từ là đã quá đầy đủ !

 

Nguyễn Vy Khanh

2-2008