Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label DaiPhatThanhQDVNCH. Show all posts
Showing posts with label DaiPhatThanhQDVNCH. Show all posts

Monday, 21 August 2017

TRUNG TÁ NGUYỄN QUANG TUYẾN TỨC VĂN QUANG VẪN CÒN SỐNG Ở SÀIGÒN 2017./-TCL

Văn Quang và Phạm Hậu, hai ‘linh hồn’ của Ðài Quân Ðội

Quốc Dũng & Ðằng-Giao/Người Việt
Cựu Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, tức nhà văn Văn Quang. (Hình: Nguyễn Quốc Tiêu cung cấp)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 42 năm, nhắc về Ðài Phát Thanh Quân Ðội không thể thiếu tiếng nói của hai vị quản đốc cuối cùng của hệ thống phát thanh nổi tiếng một thời Việt Nam Cộng Hòa, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến (nhà văn Văn Quang) và cựu Trung Tá Phạm Hậu (nhà thơ Nhất Tuấn).
Người gắn bó với đài cho đến ngày mất nước là nhà văn Văn Quang. Hiện ông 84 tuổi và còn ở Sài Gòn, Việt Nam. Còn nhà thơ Nhất Tuấn, thời điểm đó ông là tổng giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã, hiện ông 82 tuổi và ở tại Seattle, Washington.
Văn Quang – người quản đốc cuối cùng
Nói qua điện thoại với phóng viên nhật báo Người Việt, nhà văn Văn Quang gần như không nghe được. “Tai tôi yếu rồi, rất khó nghe điện thoại, thường là ai gọi đến cũng phải nhờ bà xã tôi nghe rồi nói lại,” ông nói.
Vậy nhưng, khi nói về Tháng Tư Ðen, ông cho hay: “Sau 42 năm mất nước, Tháng Tư Ðen lại đang đến gần. Năm nào tôi cũng bùi ngùi tưởng nhớ đến những ngày đau buồn này của dân tộc chúng ta. Có lẽ chẳng phải chỉ mình tôi mà hầu như cả những người ở miền Bắc xưa và người Việt ở khắp nơi trên thế giới cũng mang tâm trạng đau buồn này.”
“Tôi là quản đốc Ðài Phát Thanh Quân Ðội VNCH, nhận thấy mình cũng có một phần trách nhiệm trong trách nhiệm gìn giữ đất nước này. Những ngày cuối cùng là những ngày buồn nhất của chúng tôi. Anh chị em chúng tôi còn làm việc và ở lại ngay tại trụ sở đài cho đến khi những chiếc xe tăng địch kéo qua cầu Thị Nghè, qua cổng đài. Lúc đó chúng tôi mới ngơ ngác đứng nhìn nhau, có người rơi lệ khóc thầm rồi ôm nhau nói lời từ biệt. Ðó là những giây phút tôi chưa bao giờ quên trong cuộc đời mình,” ông kể.
Ông tâm sự: “Bây giờ, nếu có dịp gặp lại những anh chị em cũ của đài chắc tôi không thể nói được điều gì ngoài việc nhìn nhau với những thăng trầm biến đổi trên nét mặt từng người như gặp lại người anh em ruột thịt của mình. Thật ra hồi đó cùng làm việc với nhau, chúng tôi vẫn coi nhau thân thiết như anh em một nhà. Hầu như chưa từng có bất cứ một sự việc đáng tiếc nào xảy ra.”
“Tôi nhớ từng người. Chưa bao giờ tôi quên các bạn dù có bất cứ chuyện gì xảy ra,” ông bùi ngùi nói.
Nhắc lại những kỷ niệm về đài, ông cho hay: “Anh em phóng viên của đài hầu hết có tuổi đời còn rất trẻ. Những ‘ông trời con’ này cũng ngang ngang bướng bướng chứ không vừa đâu. Ăn chơi văng mạng và làm việc cũng hết mình. Anh nào cũng nghèo trơ xương, có khi đi công tác mà trong túi chẳng còn đồng xu teng nào, vậy mà vẫn xách ba lô và máy thu thanh lên đường đến các chiến trường xa. Ðến đơn vị nào cũng ăn đậu ở nhờ thôi.”
“Hồi đó chiến trận ở khắp nơi, có khi đang ở Huế, vừa làm xong công tác bị điều động đến ngay chiến trường Pleiku, Kon Tum, hay Bình Long, bởi vì lúc đó chỉ có chừng hơn 10 phóng viên thôi. Ðôi khi tôi phải nhờ các cô nữ phóng viên đi thay,” ông kể.
Cựu Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến (nhà văn Văn Quang) năm 1964, khi còn là chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng Hòa. (Hình: Văn Quang cung cấp)
Cựu Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến (nhà văn Văn Quang) năm 1964, khi còn là chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng Hòa. (Hình: Văn Quang cung cấp)
“Tình trạng thiếu phóng viên mỗi lúc một gay go nên chúng tôi tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh phóng viên ở ngay tại sư đoàn, gọi là các phóng viên tại đơn vị. Nhờ đó, có tin gì các anh này gọi thẳng về đài mà không phải qua bất kỳ sự kiểm soát nào của Bộ Tham Mưu Sư Ðoàn,” ông kể tiếp.
“Lớp huấn luyện này ở ngay đài do anh Dzương Ngọc Hoán làm giám đốc khóa học và trực tiếp giảng bài. Anh Hoán từng được cử đi học làm phóng viên tại nước ngoài gồm nhiều quốc gia có nhân viên theo học ở đây. Anh là một trong những học viên xuất sắc nhất của khóa học này rồi trở về làm trưởng ban tin tức của đài. Sau khóa học, các phóng viên sư đoàn được Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị cấp giấy chứng nhận là phóng viên chính thức của quân đội. Từ đó chúng tôi giải quyết được việc thiếu phóng viên,” ông kể thêm.
Nói về cơ duyên đến với đài, ông cho hay: “Năm 1960, tôi vừa là trưởng phòng báo chí, vừa làm chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng Hòa và là phụ tá chuyên môn của Khối Kỹ Thuật-Cục Tâm Lý Chiến. Khi đó Khối Kỹ Thuật gồm có năm phòng chuyên môn về các công tác báo chí, phát thanh, truyền hình, ấn họa và phòng văn nghệ.”
“Giữa năm 1969, anh Phạm Hậu được điều động sang Bộ Thông Tin làm giám đốc Ðài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn, tôi được lệnh về thay thế anh,” ông hồi tưởng.
“Cần nói rõ thêm là tình hình chính trị vào lúc đó rất phức tạp vì có nhiều đoàn thể, đảng phái, tôn giáo có những lập trường khác nhau. Vì vậy, việc phổ biến tin tức thời sự cần phải rất thận trọng. Quân đội là của toàn dân và có nhiệm vụ bảo vệ an ninh tổ quốc, không nghiêng theo bất cứ đoàn thể hay giáo phái nào. Phải giữ vững lập trường đó để làm tình hình chính trị, kinh tế ổn định hơn,” ông nhấn mạnh.
Sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975, cũng như mọi sĩ quan Quân Lực VNCH khác, ông bị đưa qua nhiều trại tù từ miền Nam tới miền Bắc trong thời gian dài hơn 12 năm, ở K5 Vĩnh Phú và K2 thuộc Z30 tại Hàm Tân.
Tháng Chín, 1987, ông được thả ra. Trở về Sài Gòn, ông từ chối đi theo diện H.O., và quyết định ở lại Việt Nam.
“Tôi vẫn cho rằng những người bạn tôi đi định cư hầu hết vì lo cho tương lai của con cái, cho cuộc sống gia đình. Họ có lý do chính đáng để ra đi. Còn tôi chẳng có lý do gì. Khi tôi ở trại tù ra, vợ con tôi đã vượt biên rồi. Bốn đứa lớn tôi cho đi học ở Mỹ và chúng nó bảo lãnh cho nhau đi Mỹ hết rồi. Hiện nay tôi có tám người con ở Mỹ và tất cả đều lập gia đình. Chỉ còn mình tôi ở lại đây thôi,” ông kể.
“Ðời sống kinh tế rồi cũng ổn định, bằng việc học điện toán, rồi ra ‘hành nghề’ đánh vi tính thuê và làm lay-out cho các tiệm sách báo. Hồi đó Sài Gòn có rất ít máy điện toán và người làm được công việc này càng hiếm. Cái may mắn của tôi là ngay khi ở trại tù ra, tôi đã tò mò đi học khóa đầu tiên. Sau khi học xong vài khóa, tôi được các cháu ở Mỹ yểm trợ cho mấy cái máy và máy in laser để hành nghề. Công việc kiếm ăn khá phát đạt. Vì thế tôi thấy không cần phải đi đâu nữa cả. Hơn thế, vợ cũ của tôi và các cháu cũng đã ‘yên bề gia thất’ nên tôi không muốn khuấy động cuộc sống của gia đình mình, gây thêm những thắc mắc vướng bận cho những người thân,” ông kể thêm.
Chia sẻ về cuộc sống hiện tại, ông cho biết: “Cuộc sống của tôi bây giờ cũng ung dung và yên ấm rồi. Chẳng còn gì phải đi đâu nữa. Ở đây còn có nhiều đề tài sống để viết nên tôi ở lại tiếp tục làm công việc mình cần làm. Tuy bây giờ tuổi đã cao, tôi không còn được minh mẫn như ngày nào, nhưng mỗi tuần tôi vẫn cố gắng nắm bắt và phân tích tình hình kinh tế chính trị, văn hóa nhất là đời sống của người dân từ thành thị tới nông thôn để viết một bài tường thuật. Tôi nói lên tiếng nói của người dân không thể nói được những mong ước của đời mình. Những bài nay tôi chỉ gửi ra báo ở nước ngoài thôi.”
“Ðôi khi có một số anh chị em là phóng viên cũ của đài có dịp về Việt Nam ghé thăm tôi, ngồi nhắc lại chuyện xưa. Thú thật, tôi nhớ nhớ quên quên có khi nói mãi mới nhận ra người bạn xưa của mình là ai. Những lúc như thế tôi nghĩ đây là lần gặp nhau cuối cùng trong đời. Khi các anh chị ấy ra về, tôi còn ngẩn ngơ đứng sau khung cửa hẹp nhìn theo bóng dáng người bạn xưa,” ông tâm sự.
Và cũng vì viết bài “gửi ra báo ở nước ngoài” mà cách đây chừng 5-6 năm, ông bị công an Sài Gòn tịch thu hết máy móc nên “tất cả hình cũ không còn cái nào nữa,” ông tiếc rẻ nói.
Bệnh Alzheimer’s không làm gục ngã cựu quản đốc đài
Vợ chồng cựu Trung Tá Phạm Hậu và cựu Ðại Úy Dzương Ngọc Hoán (phải) trong lần gặp mặt năm 2017. (Hình: Dzương Ngọc Hoán cung cấp)
Vợ chồng cựu Trung Tá Phạm Hậu và cựu Ðại Úy Dzương Ngọc Hoán (phải) trong lần gặp mặt năm 2017. (Hình: Dzương Ngọc Hoán cung cấp)
Năm nay, ở tuổi 82, cựu Trung Tá Phạm Hậu phải cố gắng lắm mới ôn được chuyện xưa. Nhiều lúc ông cần có sự trợ giúp của vợ, bà Bạch Thị Hoàng Oanh.
Ông kể: “Tôi về làm việc tại đài năm 1968. Lúc này, đêm nào Cộng Sản cũng pháo kích hỏa tiễn vào Sài Gòn. Tôi liên lạc với Biệt Khu Thủ Ðô để có tin và loan tin cho thật nhanh. Bản tin cũng phải viết cẩn thận, chính xác mà lại không cho địch biết chúng đã pháo trật hay trúng mục tiêu.”
Nói về một chương trình nổi tiếng của đài, ông cho hay: “Chương trình Dạ Lan, một chương trình dành cho lính rất nổi tiếng, cũng phải tạm ngưng một thời gian vì cô Dạ Lan nghỉ việc. Thư lính gửi về đài tràn ngập mỗi ngày, than phiền vì chương trình hay quá mà tại sao không phát thanh đều. Tôi trình với cựu Thiếu Tá Lê Ðình Thạch, khi đó là chánh sự vụ Sở Kỹ Thuật của Cục Tâm Lý Chiến, để coi kỹ lại chương trình này.”
Ông cho hay, chương trình binh vận của đài, Dạ Lan, mới đầu do xướng ngôn viên Hoàng Xuân Lan, tức Dạ Lan 1, phụ trách từ năm 1964 tới năm 1966 thì nghỉ việc. Từ năm 1967 đến 1975, xướng ngôn viên Hồng Phương Lan, tức Dạ Lan 2, còn có tên Mỹ Linh, người từng trông coi chương trình Nhạc Yêu Cầu của đài từ năm 1957, thay Dạ Lan 1 khi cô nghỉ việc.
Những năm làm việc tại đài, kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông là lần được mời ăn cơm chiều tại Dinh Ðộc Lập.
Ông khoe: “Ðây là lệnh trực tiếp chứ không phải thông qua thượng cấp của tôi. Nhóm chúng tôi, có anh Nguyễn Ðạt Thịnh bên phòng báo chí, được ông Hoàng Ðức Nhã, bí thư kiêm tham vụ báo chí tổng thống, đón tiếp. Ông Nhã nói với chúng tôi, ‘Tổng thống nghe tường trình về các anh em, và tổng thống cũng nghe radio, đọc báo thường xuyên, biết các anh em làm việc vất vả, lâu lâu cũng muốn anh em thoải mái một chút. Bữa nay đẹp trời, tổng thống cho mời anh em tới nói chuyện và ở lại ăn cơm chiều với tổng thống.’”
“Chừng nửa giờ thì Tổng Thống Thiệu từ Dinh Ðộc Lập đi ra. Ông bắt tay mỗi người, ngồi xuống nói chuyện với ông Nhã và toán 10 người chúng tôi thật là vui. Vì ông Thiệu ở trong quân đội lâu năm trước khi làm tổng thống, ông dùng ngôn ngữ nhà binh nói chuyện với chúng tôi về đời quân nhân nhiều hơn là chính trị. Bữa cơm chiều từ nhà hàng đem tới khá ngon; hơn nữa, chúng tôi hãnh diện vì được ăn trong hoa viên của Dinh Ðộc Lập với tổng thống,” ông nói.
Nhắc về nhân viên cũ, ông nói rằng ai được nhận vào đài cũng có tài cả. Nhưng có một người đặc biệt là Trung Úy Quách Vĩnh Trường. “Tôi rất phục anh ấy. Anh cụt một tay và một chân vì cứu 30 anh em binh lính trong lúc chuẩn bị hành quân. Sau khi bị thương 170% như vậy, anh vừa làm việc tại đài, vừa là sinh viên trường luật nữa.”
Ông kể: “Giữa năm 1969, vì lý do riêng, tôi nộp đơn xin theo học khóa chỉ huy tham mưu cao cấp trên Ðà Lạt, và bàn giao đài lại cho anh Văn Quang. Sau đó, tôi làm quản đốc Ðài Phát Thanh Sài Gòn. Ðến năm 1971 thì làm giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh (Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam). Và gần cuối năm 1974 tôi về làm tổng giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã. Nhưng chưa làm được bao lâu thì lại có thay đổi nội các. Tôi bàn giao cho anh Nguyễn Ngọc Bích rồi về lại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Và tan hàng!”
Bà Hoàng Oanh, vợ ông, nhắc lại kỷ niệm với đài: “Tôi thuộc ban biên tập. Công việc hằng ngày của tôi là liên lạc với Việt Tấn Xã hoặc gọi điện thoại trực tiếp cho các sĩ quan ở mặt trận để lấy tin nóng hổi nhất. Sau đó tôi viết thành bản tin rồi đợi các sĩ quan trưởng ban như ông Dzương Ngọc Hoán hoặc Nhật Bằng duyệt xong rồi chuyển ra cho các xướng ngôn viên phát thanh.”
Ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi ông Dương Văn Minh đầu hàng, ông Phạm Hậu quyết định đưa vợ vượt thoát ra ngoại quốc.
“Khoảng 2 giờ chiều hôm ấy vợ chồng tôi thoát khỏi Sài Gòn trong đường tơ kẽ tóc. Lúc đó đang ở Nhà Bè, nên tiện đường chúng tôi xuống một cái ghe nhỏ, lái ra đến Phú Quốc. May quá, ông nhà tôi liên lạc được với một người bạn đang ở trên chiến hạm với ông Hoàng Cơ Minh. Biết tin về chúng tôi, ông Minh điều chiến hạm HQ 5 là chiếc đi sau cùng, quay lại đón và đưa chúng tôi đến đảo Guam,” bà cho hay.
Sang Mỹ ở tuổi 40, ông bà cùng làm việc cho chính phủ Mỹ cho đến khi về hưu tại Seattle, Washington.
Trong những năm gần đây, bà luôn sát cánh bên chồng để giúp ông đương đầu với chứng bệnh Alzheimer’s.

Saturday, 12 August 2017

QUẢN ĐỐC ĐÀI PHÁT THANH QUÂN ĐỘI CHO TỚI NGÀY 30-4 LÀ NGUYỄN QUANG TUYẾN- KHÔNG HIỂU CÒN SỐNG HAY ĐÃ VƯỢT BIÊN MẤT TÍCH ???./-TCL


Người ghép bức tranh Ðài Phát Thanh Quân Ðội sau 42 năm

Quốc Dũng/Người Việt


Bà Yến Tuyết (trái) trong chuyến đi Ðà Lạt dự lễ mãn khóa trường Võ Bị Ðà Lạt vào Tháng Mười Hai, 1974. (Hình: Yến Tuyết cung cấp)
FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – “Sau 42 năm trên quê hương thứ hai này tôi mới chợt nhận ra tôi và các anh chị, bạn bè ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội VNCH chưa một lần gặp mặt đông đủ. Bức tranh chung về người Việt Nam tị nạn vốn đã đầy đủ sắc màu, nhưng vẫn còn thiếu một phần của Ðài Quân Ðội, nên tôi muốn được hoàn thiện bức tranh này bằng cách ghép thêm các mẩu chuyện về những cựu nhân viên đài.”
Ðó là chia sẻ của bà Yến Tuyết, cựu biên tập viên tin tức của đài, về buổi họp mặt lần đầu tiên của các cựu nhân viên đài sau 42 năm xa cách, sẽ diễn ra vào lúc 6 giờ chiều Thứ Bảy, 6 Tháng Năm, tại tư gia của một trong những thành viên ở Fountain Valley.
Bà cho hay: “Sau ngày mất nước 30 Tháng Tư, 1975, những cựu nhân viên đài tản mác hết. Một số sĩ quan bị đi tù, một số nhân viên và sĩ quan thì vượt biên và mất liên lạc trong cả một, hai thập niên. Khi qua Mỹ, tình cờ người này gặp người kia ở California và tạo thành một nhóm nhỏ, gặp nhau mỗi năm một lần. Tuy nhiên, họp mặt đầy đủ với sự tham dự của nhiều anh chị em thì chưa có lần nào.”
“Vì vậy trong lần hội ngộ này, tôi mong những ai còn sức khỏe thì nên gặp nhau, ít nhất một lần, bởi vì người trẻ nhất hiện nay nhất cũng ở tuổi lục tuần. Tình cờ buổi họp mặt cũng ngay sau ngày tưởng niệm Tháng Tư Ðen. Ðây là dịp để chúng tôi chia sẻ những kỷ niệm, tuy chỉ là chuyện từng đời sống riêng của mỗi người, nhưng hy vọng sẽ góp vào bức tranh chung của người Việt Nam tị nạn để nó phong phú hơn,” bà nói thêm.
Bà tâm sự: “Ðây cũng là dịp để nhiều người và thế hệ sau biết thêm về những tin tức liên quan đến sinh hoạt của một đài quân đội trong thời gian chiến tranh. So với Ðài Phát Thanh Sài Gòn thì Ðài Quân Ðội nhỏ hơn, do nhiệm vụ của đài chỉ là binh vận, tức hỗ trợ tinh thần binh sĩ, dưới sự quản lý của Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.” 
Nữ phóng viên duy nhất
Kể về cơ duyên làm việc với đài, bà nói: “Khi tôi học báo chí tại Ðại Học Vạn Hạnh vào đầu năm 1970 thì ba tôi về hưu, do vậy mà tôi muốn tìm một việc làm thêm để có tiền ăn học, nhưng nó phải liên quan đến ngành truyền thông. Lúc đó anh rể tôi làm bên Cục Tâm Lý Chiến cho biết bên Ðài Quân Ðội cần nữ phóng viên. Tôi xin việc và được nhận làm nữ phóng viên duy nhất vào lúc đó của đài.”
“Thời gian đầu, tôi làm việc dưới thời Trung Tá Phạm Hậu, nhưng chỉ vài tháng sau, ông được bổ nhiệm làm quản đốc Ðài Sài Gòn. Khi ông đi thì Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến về làm quản đốc đài cho đến ngày mất nước,” bà nói.
Bà cho hay, trở thành phóng viên lúc mới 20 tuổi nhưng do còn đi học toàn thời gian nên bà xin đổi qua làm biên tập viên tin tức vì được làm theo ca, bởi vì làm phóng viên thì phải đi rất nhiều và có khi phải đi cả ngày để thực hiện phóng sự thu thanh, phỏng vấn.
Theo bà, thời đó kỹ thuật phát thanh của đài còn rất thô sơ. Trong khi Ðài Sài Gòn có hệ thống phòng thu rất tốt, thì Ðài Quân Ðội hầu như làm thủ công ở mọi công đoạn. Sau khi thu bản tường trình của phóng viên qua điện thoại vào máy cassette, người biên tập còn phải viết lời mở đầu, chẳng hạn: “Ðây là bản tường trình từ mặt trận An Lộc do phóng viên Trần Ðạm Thủy gửi về,” rồi sau đó phải viết bao nhiêu chữ để đọc trong thời gian bao lâu, một phút, hai phút, hay nhiều hơn.
Nhiều khi, lúc thu thanh, tường thuật, các phóng viên hay lặp lại những chữ như “ờ, mà, là, thì” hay thu có quá nhiều tiếng động ở sau; rồi đôi lúc, phóng viên và người được phỏng vấn nói không rõ nghĩa, người biên tập phải dùng kéo cắt đoạn băng rồi dán lại, nghe lại trước khi đem lên phòng thu âm. Ðó là những phương cách rất thô sơ trong giai đoạn đó.
Bà cho hay: “Sau khi biên tập viên làm xong bản tin thì đưa sang cho trưởng ca tin tức kiểm soát. Người trưởng ca, là một sĩ quan, sẽ xét lại tin chúng tôi chọn có đúng không, tin nào nên hay không nên loan… Có những tin quan trọng đã loan giờ đầu thì giờ thứ hai có thể loan lại hay không? Người trưởng ca phải kiểm soát tin tức rất kỹ trước khi đem lên phòng thu để xướng ngôn viên đọc.”
Bà tâm sự: “Lương ở đài rất khiêm nhường nên vào năm 1972, bên Ðài Sài Gòn có tuyển phóng viên, tôi thi và được nhận. Vậy là tôi làm song song hai đài từ năm 1972 đến ngày 30 Tháng Tư, 1975. Tôi là một trong những nhân viên cuối cùng bước ra khỏi Ðài Sài Gòn sau khi lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh được loan báo.”
Tiệc mừng các tân sĩ quan trong phòng thu âm Ðài Phát Thanh Quân Ðội ngày 3 Tháng Hai, 1970. (Hình: Quách Vĩnh Trường cung cấp)
Tiệc mừng các tân sĩ quan trong phòng thu âm Ðài Phát Thanh Quân Ðội ngày 3 Tháng Hai, 1970. (Hình: Quách Vĩnh Trường cung cấp)
Theo bà, vì tin tức bên Ðài Quân Ðội phần lớn lấy tin của Việt Tấn Xã, chỉ có phần phóng sự chiến trường hay tin tức quân sự mới đặc biệt, nên buổi sáng bà đi họp báo để lấy những tin tức cho Ðài Sài Gòn, chiều đó, đôi lúc bà có thể dùng tin đó cho Ðài Quân Ðội.
Do làm hai việc nên bà phải sắp xếp thời khóa biểu ở trường và ở cả hai đài sao cho phù hợp. “Buổi sáng tôi làm bên Ðài Sài Gòn, còn buổi chiều thì làm ở Ðài Quân Ðội theo ca. Cũng may là hai đài nằm gần nhau, nên đi qua, đi lại dễ dàng. Thì giờ còn lại tôi đi học và tốt nghiệp cử nhân báo chí năm 1974,” bà cho hay. 
Chứng nhân giây phút lịch sử
Bà kể: “Ngoài phần tin tức thì đài còn có nhiều chương trình khác nhau như chương trình nhạc yêu cầu, trong đó có chương trình Dạ Lan rất nổi tiếng, lấy âm nhạc làm phương tiện chính, góp phần rất lớn trong việc hỗ trợ tinh thần cho người chiến sĩ vào giai đoạn đó.
“Chương trình Dạ Lan nổi tiếng là vậy nhưng tôi chưa có dịp gặp hay nói chuyện với chị Dạ Lan, tức Hoàng Xuân Lan, vì lúc tôi vào thì chị đã nghỉ để chuyển về Ðài Phát Thanh Ðà Lạt. Vậy mà tối 29 Tháng Tư, 1975, sau khi tôi làm xong ca biên tập viên cuối cùng ở Ðài Quân Ðội, ghé qua Ðài Sài Gòn thì tôi gặp chị,” bà kể tiếp.
“Sở dĩ tối đó tôi qua Ðài Sài Gòn vì người yêu tôi là nhà báo Vũ Ánh, khi đó giữ chức chánh sự vụ Sở Thời Sự của đài, còn làm việc ở đây, và ngay thời điểm đó Việt Cộng pháo kích dữ lắm nên tôi muốn ở bên cạnh anh. Tình hình nguy hiểm khi nghe súng đạn nổ khắp nơi, mọi người ngồi núp dưới chân cầu thang. Tôi ngồi kế bên chị Dạ Lan, đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi gặp chị. Lúc đó ai cũng run sợ nên tôi và chị không có cơ hội nói chuyện nhiều với nhau. Sau tôi mới biết khi đó chị trở lại làm ở Ðài Sài Gòn,” bà nhớ lại.
Bà nói: “Sáng 30 Tháng Tư thì anh tôi ở trong Hải Quân ghé nhà và nói nên kiếm đường đi, nhưng vì tôi biết anh Vũ Ánh còn ở đài nên tôi không đi với anh tôi, mà lấy xe đến đài. Mặt khác, anh Ánh cũng có đường đi nhưng chỉ được đi một mình, vì vậy anh không đi. Vào thời điểm đó, nhiều vị chỉ huy đã không vô đài rồi vì đang kiếm đường thoát khỏi Việt Nam.”
“Khoảng 9 giờ sáng tôi đến đài thì có lệnh bên Phủ Tổng Thống. Ông Dương Văn Minh đòi anh Ánh phải gửi phóng viên qua để thu âm lại một tin rất quan trọng. Thời đó, những tin tức gì bên Phủ Tổng Thống đều do hai phóng viên đặc trách. Hôm đó, anh Lê Phú Bổn và một người nữa là kỹ thuật viên âm thanh được giao trọng trách này,” bà hồi tưởng.
Theo bà, sáng đó, ông Vũ Ánh vẫn cho phát thanh những chương trình tin tức như thường lệ. Khoảng 10 giờ 30 phút đến 11 giờ, bà cùng ông Ánh từ trên lầu nhìn xuống thì thấy ông Lê Phú Bổn và người kỹ thuật trở về. Ông Bổn đưa cuốn băng thu lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh và nói Phủ Tổng Thống ra lệnh phát thanh nhiều lần.
“Nhận được tin đó chúng tôi sững sờ, tay chân rụng rời. Ai cũng muốn khóc mà không khóc được. Thật là một cảm giác kinh hoàng vào giây phút đó vì không ngờ chiến tranh chấm dứt lại là sự đầu hàng của miền Nam. Anh Vũ Ánh cho phát thanh hai lần lệnh đầu hàng và xúc động nói với tôi: ‘Em ơi, như vậy mình phải rời đài phát thanh vì hết nhiệm vụ rồi. Tổng thống ra lệnh đầu hàng rồi,’” bà hồi tưởng.
“Khi chúng tôi vừa bước ra khỏi cổng đài thì thấy nhóm người mặc quần áo Việt Cộng đi cùng ông Dương Văn Minh vào đài, và lúc đó ông cựu giám đốc đài tên Th. cũng lái xe tới. Tôi không biết giờ cuối cùng ông còn vô làm gì nữa, có lẽ ông không nghe lệnh đầu hàng trên đài hay sao đó. Rồi ông bảo hai chúng tôi leo lên xe và dự định kiếm đường đi khỏi Sài Gòn,” bà kể.
Giọng bà chùng xuống: “Chúng tôi tính đi xuống Cần Thơ nhưng nghe người ta nói pháo kích và người chết dữ lắm, nên chúng tôi ra bến tàu, nhưng không được vì đường sá đông quá, kẹt xe. Chúng tôi bèn chạy về hướng Chợ Lớn thì bánh xe bị bể, đang thay bánh xe thì thấy xe tăng của Cộng Sản xuất hiện trên đường Trần Hưng Ðạo. Chúng tôi nhìn nhau và nghĩ thôi hết rồi, không có đường nào để thoát vào giờ phút đó nữa.”
“Sau đó anh Vũ Ánh đi tù đến 13 năm, còn tôi phải đi thủy lợi, đi bán chợ trời,… Sau khi anh đi tù được khoảng hai năm thì tôi mất tin tức của anh. Vì không thể sống dưới chế độ Cộng Sản nên tôi vượt biên năm 1981, được tàu Panama vớt sau 14 ngày lênh đênh đói khát trên biển và cuối cùng anh tôi bảo lãnh qua Mỹ vào Tháng Tư, 1982,” bà nói.
“Năm 1992, tôi biết tin anh Ánh còn sống và qua Mỹ diện H.O.12. Chúng tôi gặp lại nhau sau 16 năm xa cách. Hai năm sau, chúng tôi lập gia đình, sống với nhau được 20 năm thì anh đột ngột qua đời vào năm 2014,” bà bùi ngùi kể.
Trong thời gian 35 năm sống ở Mỹ, bà Yến Tuyết cộng tác với các đài phát thanh như Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), Ðài Á Châu Tự Do (RFA), Văn Nghệ Truyền Thanh, VNCR, Mẹ Việt Nam. Bà cũng giữ cột báo “Medicare Hỏi và Ðáp” trên nhật báo Người Việt với tư cách là cố vấn Medicare thuộc chương trình HICAP (Health Insurance Counseling and Advocacy Program) của cơ quan tư nhân vô vụ lợi Council On Aging – Southern California.
—————–
Liên lạc tác giả: truong.dung@nguoi-viet.com