Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 18 September 2024

TRAFALGAR EUROPE TOURS- BẤT ĐẦU TẠI LUÂN ĐÔN QUA PHÁP, THỤY SĨ, ÁO, ITALY, ĐỨC, HÒA LAN, BĨ, ĐAN MẠCH, THỤY ĐIỂN.

(*Hầu hết các đoạn khác đã thất lạc chưa tìm thấy)

*Đoạn 2 - TỪ PHÁP QUA THỤY SĨ.

LHXung

Thông thường, các Tours du lịch đều cung cấp miễn phí  bữa ăn sáng, gọi là Continental Breakfast ngay tại khách sạn, còn bữa ăn trưa và tối thì không nhất thiết. Du khách,  hoặc sẽ đóng tiền cho tours guider để đi ăn chung nhóm, hoặc “xé lẻ” tùy ý.  Vì thế, có nhiều vị ráng “All you can eat”  bữa ăn sáng để “thông qua”  bữa trưa hoặc “thủ” theo vài bánh trái của bữa này để dành “sơ-cua” cho bữa sau! Nhưng đây chỉ là ngoại lệ, xuyên tạc  ý nghĩa của Continental Breakfast !

     Nhân đây, tôi cũng xin đề cập một chút về nguyên tắc chọn chỗ ngồi trên xe bus.  Tâm lý chung, ai cũng muốn ngồi ở phía trước để dễ quan sát hoặc có người ngồi phía sau dễ bị chóng mặt, nhức đầu.  Để tạo phần nào sự công bằng, người hướng dẫn đề nghị: mỗi ngày chúng tôi luân phiên dời lên trên hai hàng ghế theo thứ tự, khi tới hàng ghế đầu thì lại lùi xuống hai hàng và cứ thế… Tuy nhiên, trường hợp những người bị ‘car sick’ cũng có thể nhờ hướng dẫn viên  tìm người hảo tâm hoán chuyển!

     Chúng tôi rời Paris theo đường số 6, hướng Đông Nam. Dọc hai bên là những nông trại trồng củ cải đường, trồng bắp làm thức ăn gia súc hay trồng hoa hướng dương để chế tạo dầu ăn, mênh mông và bát ngát. Chúng tôi đi ngang qua Fontainebleau, nơi đã diễn ra Hòa Đàm Pháp-Việt trước kia (?).  Đến 9:30 sáng tới Auxerre, và 12:30 đến ngả ba Beaune để nghỉ ăn trưa nửa tiếng.

     Sau đó, nếu đi thẳng hướng Nam sẽ tới Lyon, còn nếu đi xuyên rặng Massif Central   sẽ đụng hải cảng Marseille. Đến đây, đề tài về rượu vang Pháp được nêu lênBà hướng dẫn cho biết hầu hết các cánh đồng trồng nho đều nằm ở miền Nam nước Pháp, nhưng thổ nhưỡng khác nhau của mỗi vùng lại tạo  những hương vị riêng:  Nho trồng ở gần Địa Trung Hải, phía hạ lưu Sông Rhône hay quanh khu vực Marseille thường chỉ để sản xuất  các loại rượu thường, giá hạ. Nho trồng ở các vùng khác như Bordeaux,

Alsace, Champagne … thường chế ra các loại rượu thượng hạng. Còn nho trồng ở vùng Tây Nam, phía Đại Tây Dương, được chuyên dùng để sản xuất rượu Brandy.

     Từ Beaune, chúng tôi đi hơi ngược lên hướng Đông-Đông Bắc, xa lộ 36 để đến Mulhouse, thành phố Pháp cuối cùng trước khi qua biên giới Thụy Sĩ. Lộ trình này dài hơn 500 km. Biên giới Pháp - Thụy Sĩ coi như bỏ ngỏ hoàn toàn, không phải dừng lại để kiểm soát như những năm xưa.  Mỗi bên chỉ treo một lá cờ để phân biệt: bên này là cờ tam sắc, bên kia là cờ Bạch Thập Tự ở giữa một nền đỏ vuông, trái ngược với lá cờ của Hội Hồng Thập Tự.

     Qua khỏi biên giới và chui qua nhiều đường hầm liên tiếp, chúng tôi đến thành phố Basel. Đây là một thành phố kỹ nghệ, cửa ngõ giao dịch của Thụy sĩ với các nước phía Tây.  Đối với tôi, tên gọi Basel nghe rất thân quen vì lẽ tôi làm trong ngành Bưu điện IMC 

(International), mỗi tuần đều phải sửa soạn cân ghi, vô bao, dán labels gởi bưu kiện qua Basel, hoặc gởi thư tín đến Zurich.

     Chúng tôi dừng chân ở đấy khá lâu nên tha hồ ngắm cảnh. Trường Đại Học Basel kỳ cựu nhất trong số 7 đại học khác của Thụy Sĩ, được thành lập từ năm 1460. Nó nổi tiếng không thua gì Yale và Havard của Hoa Kỳ. Tôi cũng ngạc nhiên không ít  khi thấy một cô gái Việt Nam đứng bán cà phê và thức ăn gọn. Thì ra người Việt mình ngày nay còn lang bạt kỳ hồ hơn cả dân Do Thái!

     Chúng tôi được giải thích  tổng quát về nước Thụy sĩ như sau: Đó là một quốc gia nhỏ bé so các nước Âu Châu nhưng định mệnh đã sắp xếp để nó trở thành Thánh Địa Hòa Bình của thế giới. Thụy Sĩ đã chọn đường lối trung lập ngay từ thời lập quốc, hơn 700 năm về trước. Thủ Đô Bern và thành phố lớn nhất Zurich của  nó nằm trong thung lũng mầu mỡ lọt giữa hai rặng núi Jura và Alps kéo dài từ Bắc xuống Nam.  Phong cảnh ở đây xanh tươi, núi đồi hùng vĩ, đỉnh cao có tuyết phủ quanh năm. Dân cư tập trung ở vùng bình nguyên có nhiều hồ rộng bao la và nước trong xanh biếc. Nổi tiếng nhất là hồ Constance ở cực Bắc và hồ Genève  ở phía Nam ăn sâu vào đất Pháp, chỉ cách Lyon hơn 50 km. Nơi đây có nhiều trụ sở quốc tế và thường  diễn  ra những cuộc họp thượng đỉnh. Điển hình là Hiệp Định Genève chia cắt Việt Nam năm 1954. Dân Thụy sĩ sử dụng 4 ngôn ngữ chính Đức, Ý, Pháp và Romance (ngôn ngữ riêng của miền Núi). Công nhân Thụy Sĩ khi tan sở về thẳng nhà, ít khi lê la ở các quán rượu. Do đó ngành khai thác Pub ở đây không phát triển, không như ở Úc chúng tôi, hầu như cứ vài góc đường lại mọc lên một cái Pub!

     Từ Basel, theo hướng Đông Nam dọc xa lộ 35 chừng 100 km  thì đến Lucerne (Luzern). Chúng tôi sẽ ngủ qua đêm tại thành phố du lịch nầy. Lucerne nằm giữa Zurich và Bern, cách mỗi nơi chừng 30 km. Lucerne là thành phố cổ kính (840 AD), nằm ở trung tâm điểm của Thụy Sĩ và Âu Châu và là một trong 6 thành phố có nhiều khách du lịch nhất thế giới.

     Khoảng 2:00 giờ chiều, chúng tôi đi du ngoạn bằng tàu chạy một  vòng  quanh hồ lớn. Trên tàu có phục vụ ăn uống, món ăn thì đơn sơ nhưng rượu uống lại rất đầy đủ. Dọc hai bờ hồ và nằm trên những ngọn đồi thoai thoải là nhà nghỉ mát của những "celebrity”, như tài tử Sophia Loren, Richard Burton và của chủ hãng bia Heineken… Nói là “nhà” chứ mỗi căn trị giá khoảng vài chục triệu Mỹ Kim!  Họ chú trọng đến khung cảnh êm đềm, thơ mộng chứ không đặt nặng tiêu chuẩn tiện lợi về giao thông, chợ búa và trường ốc v.v...

Lên bờ, chúng tôi được hướng dẫn đến cửa hàng Bucherer, một cửa hàng sang trọng tiêu biểu cho Lucerne . Người ta trưng bày toàn vàng bạc quý kim và đủ loại đồng hồ Thụy Sĩ  như Rolex, Gucci, TAGHeuer, Omega, Longines, Raymond Weil … giá mỗi cái  từ vài ngàn đến vài chục ngàn đô. Có điều lạ, kỹ nghệ đồng hồ Thụy sĩ lại tập trung ở vùng núi Jura giáp biên giới Pháp, chứ không nằm trong khu kỹ nghệ của bình nguyên.

     Một sản phẩm địa phương nổi tiếng khác  là Dao Hướng Đạo, một loại dao có nhiều lưỡi và đa dụng (Swiss knife). Du khách có thể đặt mua loại dao này với chữ khắc riêng (engraved) ngay trên xe bus.  Bà tour guider  sẽ ‘order’ tại trạm xăng gần nhất và khi họ đến Bucherer chỉ việc trả tiền để lấy hàng.

     Chúng tôi cũng có vài giờ để mua sắm và ăn uống sơ sài tại một nhà hàng có tên Culture and Congress Centre.  Đúng với tên gọi, ở đây họ có trình diễn dân ca và các điệu vũ truyền thống.  Du khách được mời tham gia  hát hò khiến không khí trở nên vui nhộn và người ta dễ cảm nhận được tinh thần hiếu khách nồng nàn của dân Thụy Sĩ.  Trong số các món ăn, có món cheese được nấu xôi để chấm ăn  với  bánh mì. Lúc đầu thấy lạ miệng và ngon nhưng ăn thêm một vài miếng tôi đành chịu thua. Nếu  có lần sau chắc phải xin hàng!


                                         Chapel Bridge

     Ăn xong, trời mưa tầm tã. Tôi bỏ lỡ dịp không tháp tùng đoàn đi bộ ngang Chapel Bridge , một thắng tích của Lucerne xây cất từ 1333. Dân Bưu Điện chúng tôi thường thấy trên Post Card: những  bông hoa đỏ thắm hai bên cầu có mái che, vắt ngang một con sông rộng, ở  giữa có một tiểu giáo đường hình bát giác, trông thật nên thơ!

     Khi trở về khách sạn, ai cũng cầm trên tay  ít nhất một phong  Chocolate Thụy Sĩ đệ nhất  danh truyền. Có người khệ nệ cả túi để mang về làm quà. Chúng tôi ăn tối ngay tại nhà hàng khách sạn Steghof, nằm giữa trung tâm thành phố lúc 7 giờ. Đêm ấy tôi không tài nào ngủ được vì chiếc giường Thụy Sĩ cũ mèm, nệm lún xuống thật sâu… Sáng ra mới biết ai cũng than phiền về  chuyện ‘cái giường Thụy Sĩ’. Không hiểu có phải dân bản xứ  chỉ chú trọng đến công việc ngân hàng và sản xuất đồng hồ tinh xảo mà  bỏ quên việc chăm sóc giấc ngủ; hay tại khách sạn hạng xoàng, chỉ có 3  sao nên mới ra nông nỗi ?!


SÚYT TAI NẠN TẠI LUCERNE- SWISS

Hôm sau 16/ 9, báo thức 6:50, ăn sáng 7:50, rời khách sạn 9:00, lên đỉnh núi Pilatus, cách Lucerne chừng nửa giờ xe. Mùa Đông, tuyết thường phủ kín từ chân lên đến ngọn nhưng giờ là đầu Thu nên chỉ có tuyết ở trên đỉnh cao 7000 feets. Chúng tôi lên bằng xe lửa 3 rails (Cogwheel railway). Đường rầy giữa có răng cưa  và nghiêng 48° nên được mệnh danh là đường rầy dốc nhất thế giới (Steepest railway in the world). Mỗi bận lên xuống mất 40 phút, điểm xuất phát có tên là Alpnachstad và cửa xe được khoá an toàn từ bên ngoài.  Khi xe lên dốc, tôi có cảm tưởng như đang đu nghiêng theo triền núi. Được chừng 20 phút, gió bỗng thổi mạnh khiến con tàu lắc lư, rồi  tuyết đổ xuống ào ào trắng xóa hết chung quanh. Tôi trông thấy các dây điện đu đưa, chạm vào nhau xẹt lửa và phát ra những tiếng nổ ‘bùm bụp.

     Đột nhiên xe ngừng lại ngay lưng chừng núi và đong đưa như con lắc trên đáy vực sâu. Tôi nhìn ra phía sau thấy nguyên một dàn sắt đang bị treo lơ lửng trên sợi dây cáp. Nhìn kỹ lại tôi mới nhận ra đó là bộ phận tiếp nhận điện thường gắn trên mui xe để khiến xe lửa chạy. Nó đã bị gió đưa dây điện dính vào và giựt văng nó rời ra ngoài. Ai cũng đứng tim khi nghĩ thảm họa sắp xảy ra trong gang tấc! Chỉ cần xe tuột khỏi đường rầy một chút là nó sẽ lao xuống vực thẳm và sẽ không còn  một ai sống sót.
     Lúc đó là 9:55 am. Chừng 10 phút sau, cơn giông dịu bớt và  người tài xế mới dám ra ngoài quan sát. Mãi một chập sau, xe cấp cứu chạy đến, ủi chiếc xe hư của chúng tôi lên đỉnh núi. Bước ra khỏi xe, chúng tôi mới hoàn hồn, có người ngồi ì luôn trong ‘shop’ ga nhâm nhi cà phê nóng để lấy lại bình tĩnh và quên cả ngắm cảnh! Tôi cố chui ra chụp vội vài tấm hình nhưng trời đầy sương tuyết mờ mịt, không thấy đâu là đâu! Tôi vẫn còn giữ tấm hình chụp bộ phận tiếp điện bị tách rời, dính đong đưa trên dây cáp, nhìn mà phát ớn.

     Chúng tôi xuống núi an toàn lúc xế trưa, ai cũng thở phào nhẹ nhõm và tin rằng sống chết là do số mệnh! Sau đó chúng tôi tiếp tục lên đường đi thăm Lion Monument, di tích từ năm 1792 khắc hình con sư tử trúng lao đang nằm chờ chết tại  một hang đá thiên nhiên. Tượng này dành để tưởng nhớ những Anh hùng Thụy sĩ đã hy sinh ở Tuileries, Paris. Nhà văn hào Mark Twain đã gọi bức tượng "The dying Lion of Lucerne" là  "the saddest and most moving piece of rock in the world".

Chúng tôi ăn trưa “cầm tay”, vội vàng lên xe giã từ Lucerne đến chặng dừng chân kế tiếp là Milan, nước Ý, thành phố nổi tiếng về Opera và y phục thời trang.  Lúc đó đã 2:30 chiều. Hy vọng khi đến nơi trời không quá tối để có thể nhìn ngắm Milan lúc hoàng hôn.

*ĐỌAN TRÊN TRƯỚC KHI ĐẾN MILAN.

ROME-VATICAN CITY

LHXung.

Thứ hai, 17/ 9. Dậy sớm, ăn sáng tại khách sạn và khởi hành lúc 7:30 để xuống đến Rome. Từ Milan tới Rome gần 600 km. Chúng tôi vẫn di chuyển theo hướng Đông Nam và cũng trên xa lộ 35, con đường chính nối liền Bắc Nam, nên xe cộ ngược xuôi lúc nào cũng đông đảo, kẹt xe nhiều lần ở nhiều đoạn, nhất là lúc gần vào Rome .


Ý được mô tả như là một nước dẫn đầu về du lịch của Âu Châu. Rome là Thủ Đô, là thành phố lớn nhất của Ý, tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại và dấu tích hưng thịnh một thời của Đế Quốc La Mã (Roman Empire). Sau hơn 2000 năm thay đổI qua nhiều biến cố lịch sử, ngày nay Rome còn lại nhiều dấu vết đổ nát, hoang tàn, cổ xưa của nhiều thế kỷ nguy nga tráng lệ. Những tượng đài, những nhà thờ uy nghi, những hoàng cung lộng lẫy; cùng vớI Tòa Thánh Vatican, cái nôi của Thế GiớI Công Giáo. Tất cả những kiến trúc “trơ gan cùng tuế nguyệt” ấy đã làm cho Rome luôn trở thành một bến hẹn, du khách chỉ mong một lần được đến đấy cho tròn ước mơ !

Từ Milan, một trong 3 thành phố lớn phía Bắc, cùng với Turin và Genoa, nằm trong vùng bình nguyên Po Valley, trù phú và phát triển kỹ nghệ của Ý. Càng đi xuống phía Nam, đất đai càng sỏi đá, đời sống cằn cỗi và khổ nhọc hơn! Dân cư chỉ sinh sống bằng trồng trọt, đánh cá biển là thịnh hành hơn cả.

     Đọan đường Milan - Bologna 200 km, xa lộ khá thẳng tắp và tương đối bằng phẳng, vì vẫn còn nằm trong vùng bình nguyên. Chúng tôi đi ngang qua Tượng Thánh Módena, rồi vào thành phố Bologna, lúc 11 giờ trưa. Chỉ có đoạn gần tới Bologna mớI có đồi núi và thành phố nằm trên thế đất cao thấp khác nhau, hiếm có bóng cây, toàn nhà với nhà, cổ kính và tân kỳ lẫn lộn.  Đại Học Bologna rất nổi tiếng của Ý, nơi đây có cả ngành Y mà hầu hết các Đại Học khác thì không. Có hơn 60 ngàn sinh viên qui tụ về đây, họ toàn dùng xe đạp để  làm phương tiện đi lại quanh quẩn.  Nên mật độ xe đạp ở Bologna không thua gì ở một thành phố trung bình nào đó của Hoa Lục

Bên ngoài Bologna, trên một ngọn đồi khá cao, có một nhà thờ lớn. Theo như tin truyền khẩu, có một thương gia có thừa quyền thế tên là Marconi, Ông ta định chơi hỗn, bằng cách sẽ xây cái nhà thờ trên đồi bề thế và nguy nga hơn St. Peter. Nhưng bị Đức Giáo Hoàng ngăn cản, nên nhà thờ nay có to lớn nhưng chỉ vừa phải thôi, không thể tranh đua ngôi vị với St. Peter của Tòa Thánh!

     Dọc đường tôi còn nhớ một vài chi tiết nho nhỏ khá vui, nhưng lúc đó làm cho tôi không kém phần lúng túng. Khi xử dụng WC phải trả 200 lires, tôi đưa tờ lớn hơn 200, chờ hoài không thấy thối, khiến các người đứng sau khó chịu ra mặt. Cuối cùng đành bỏ luôn, đi vào nhanh cho xong chuyện. Sau nầy có dịp kể lể chuyện bên lề, mỗi người đồng hành thêm vào một chút, thiên hạ mới hay khi tiền xài còn dư không quá 200 lires thì kể như tự động ‘Keep your changes’.
     Chuyện thứ hai là khi vào các tiệm bán thức ăn dọc đường, mình phải đi thẳng lại quầy trả tiền trước, lấy biên lai đưa lại chỗ khác để lấy các món mình mua.

 Đa số các quán bán thức ăn cầm tay đều áp dụng thủ tục nầy; nhưng rất trở ngại cho du khách không biết tiếng Ý. Không biết nói mình muốn mua thứ gì, làm sao họ tính tiền cho được và nhất là thường thì cỡ tiệm loại đó, ít có người nói tiếng Anh. Cho nên du khách cứ xài nhất dương chỉ, cứ đứng đó chỉ các món thật xa, nên lắm lúc trả tiền không đúng món mình chọn, đành chịu thua cho qua mau còn hơn lại sắp hàng chờ tới phiên mình phân bua, khiếu nại.

     Chuyện thứ ba, chuyện nầy phải đợi khá lâu mới giải tỏa được, vì Ông Tài Xế cứ lái xe trong im lặng hòai, chỉ thỉnh thỏang có một vài câu loan báo cần thiết gì đó rồi thôi. Chỉ nghe một mình Bà Hướng Dẫn  nói riết rồi cũng chán! Chúng tôi có cảm tưởng Ông Tài Xế nầy thuộc típ ngườI tiết kiệm ngôn ngữ. Không ngờ mấy hôm sau có ngườI than phiền thử, mớI hay: Các Tài Xế ở Âu Châu, theo nguyên tắc an toàn, nên giới hạn lời lẽ sợ bị phân tâm, dễ gây ra tai nạn. Trái lại theo thói quen, người tài xế thường hay được ngườI ngồi gần gợi chuyện để khỏi buồn ngủ trong lúc lái xe.

     Qua khỏi Bologna, chúng tôi chạy thẳng xuống hướng Nam, chạy dọc theo chân núi, kéo dài tớI tận cùng nước Ý. Từ Bologna, chỉ 100 km là tới Florence; thế mà có đến 21 đường hầm, đoạn nầy không thua gì Thụy Sĩ, cho nên dù cho nằm nhà cũng tưởng tượng được, miền trung Ý đồi núi và sỏi đá đến độ nào ?! 12 giờ đến Florence, nghỉ ngơi một chút rồi lại tiếp tục xuôi Nam.

     Từ Florence, chúng tôi còn hơn 250 km nữa mới tới Rome. Con sông Arno quanh co chảy ngang qua thành phố Florence, hóa giải được một phần nào cho nhu cầu, cần có chút hoa lá thắm tươi. Bên ngoài Florence có một nhà thờ kiến trúc theo lối tân kỳ nhất, trái ngược với hàng ngàn nhà thờ cổ kính của Ý. 


Gọi là Modern Church, cấu tạo bởi nhiều mái xéo, ngược xuôi đâu lại, thành một nhà thờ quái lạ; có lẽ phải đợi đến vài thế hệ sau mới quen mắt với người qua lại! Florence cũng là nơi nổI tiếng về rượu vang đỏ của Ý. Chúng tôi phải vào, ra thêm 6 đường hầm nữa mới bắt đầu vào xa lộ vòng đai của Rome. Con đường nầy như một vòng tròn lý tưởng, bao quanh Rome; xe phải chạy vòng quanh để theo ngõ  vô, ra chính của thành phố. Chứ không thể qua nhiều ngõ như những thành phố lớn khác.

     Rome, nằm cách bờ biển phía Tây Địa Trung Hải, chừng 20 km. Con Sông Tiber chảy giữa thành phố, dẫn thông ra biển. Tiber của Rome, giống như sông Seine của Paris. Nhưng mùa khô thì dòng sông qua Rome như một suối cạn. Có nhiều cây cầu cổ kính, bắt ngang; hai bên bờ là thành vách cao, xe chạy trên đường nhìn xuống nước sâu 5, 7 thước phía dưới.

     Chúng tôi tớI Rome lúc 5:45 chiều. Nghĩ tại khách sạn Ergife Palace, bên cạnh trường cảnh sát của Rome. Chúng tôi có không đầy một giờ để tươi tỉnh và bắt đầu đi ngay vào

chương trình ngoạn cảnh Rome lúc về đêm.

     Đặc biệt viếng Piazza Navona, dừng lại khá lâu ở Trevi Fountains; nơi mà du khách quăng các đồng tiền vô hồ nước và cầu nguyện điều mình mong

ước. Theo truyền thuyết, tùy mức độ thành khẩn lúc nguyện cầu, tỉ lệ hiển linh không phải lúc nào cũng cao. Nhưng hầu như ai đến đấy, cũng tâm nguyện vì ai cũng có những điều ước mơ!

     The Trevi Fountains, là vòi phun nước nổI tiếng nhất của Rome. Các hình tượng điêu khắc nhằm diễn tả một cảnh trí, Ông Thần Neptune là Thần Biển đứng trên xe ngựa, được kéo bởi các con hải mả và ngư nhân; Tượng được tạo dựng từ  năm 1762. Theo như huyền thọai, nếu mình liệng 3 đồng tiền xuống hồ thì hy vọng có ngày được trở lại Rome. Nhưng bây giờ thì sự tin tưởng có phần biến đổi hơi khác; theo thông lệ thích ứng mới: như liệng 1 đồng cho cầu được yêu, 2 đồng cho được cưới, 3 đồng mong cho được ly dị. Cách thức liệng đồng tiền phải cho đúng: đứng quay lưng lại, tay phải cầm đồng tiền đưa tréo qua vai trái và giục ra phía sau, cao khỏi đầu cho rớt xuống hồ nước. Có ngườI hỏi tôi, giục mấy đồng vậy? Tôi ngại ngùng vì không dám  dối, đành cười trừ bỏ lửng!!

     Đối diện vớI Fountains là Rome’s Piazza Navona, một trung tân thương mại, nhộn nhịp và sang trọng nhất của Rome. Quý Bà vào đấy nhất định sẽ bị phỏng tay, nặng nhẹ còn  tùy vào mức độ thành công của các đấng phu quân !

     Chúng tôi rờI Fountains lúc gần 9 giờ đêm, đi bộ một đoạn ngắn thì đến nhà hàng có tên là Mangrovia, nhà hàng chuyên về đồ biển. Tiệm ăn nầy rất nổI tiếng về các loại cá và hải sản còn tươi. Chúng tôi ăn các món, đã được Bà Hướng Dẫn đặt trước vớI nhà hàng, nên đỡ cho mình khỏi mất thờI giờ phân vân chọn lựa. Ngồi vào bàn, uống một chút khai vị là có thức ăn ra ngay. Chúng tôi may mắn có được những món ăn đều khoái khẩu, và nhất là chương trình ca nhạc giúp vui rất  sống động. Có đến 4 ca, nhạc sĩ cỡ  4, 5 sao; tạo một không khí giải trí hấp dẫn từ đầu đến cuối. Ai cũng vui tặng ‘tiền tip’ một cách thoải mái và trên xe về khách sạn, đa số các ông đều ‘half drunk’, ồn ào huyên náo giống như một công dân La Mã thứ thiệt của một thời Đế Quốc xa xưa .

     Chúng tôi chấm dứt ngày đầu tiên ở Rome bằng một bữa ăn vui nhộn và một giấc ngủ ngon lành, lăn quay ra đi thẳng một lèo cho đến khi được điện thoại reo báo thức.

     Hôm 18 / 9, ăn sáng tại khách sạn, được báo trước là rất bận rộn và sẽ rất mỏi mệt vì chương trình rất nhiều đề mục. Sáng sớm đi thăm Toà Thánh và Viện Bảo Tàng Vatican, từ 8 giờ đến 12 giờ trưa.

     Vatican City nằm trên ngọn đồi, thuộc hướng Tây - Bắc của Rome, bên Tây Ngạn của Sông Tiber. Thành phố Vatican được bao quanh bởi các tường đá thật cao, ngăn cách biệt lập hoàn toàn vớI Rome. Vatican City chỉ rộng chừng 0.4 Km2 (400 ngàn m2), bên trong có nhiều sân lót đá rộng lớn, nhiều công viên và nhiều con đường thật yên tịnh. Nhà thờ St. Peter phải nói là to lớn nhất, vớI ngọn tháp mái vòm  hình bán cầu, nhô cao đánh dấu vị trí nhà thờ, được nhìn thấy từ rất xa.

     Người ta hay gọi Vatican City, đó chỉ là cách bỏ chữ cho ngắn gọn theo thói quen, nhưng chính thức phải gọi là Nước Vatican City (The State of Vatican City). Bằng Hiệp Ước Lateran, được ký kết giữa Chính Phủ Ý và Đức Giáo Hoàng Pius XI vào năm 1929. NộI dung Chính Phủ Ý nhìn nhận Vatican City trở thành một Quốc Gia Độc Lập, ngược lại Đức Giáo Hoàng từ bỏ chủ quyền trên những phần đất ở Miền Trung Ý, kể cả Rome; Các phần đất nầy được gọi là Papal States, thuộc quyền kiểm soát của Đức Giáo Hoàng từ năm  756 đến 1870, mớI bị chính quyền Ý tranh giành .

     Nước Vatican City được lãnh đạo bởi Đức Giáo Hoàng, đứng đầu một chính phủ có đầy đủ chủ quyền của một nước độc lập. Ngoài phạm vi nộI thành Vatican City, chính quyền Vatican City còn có thẩm quyền trên  các cơ sở nằm bên ngoài như các nhà thờ: St . John Lateran, St. Paul, St. Mary Major ở Rome; Biệt Thự Hè của Đức Giáo Hoàng và Đài Thiên Văn ở Castel Gandolfo.

     Chúng tôi đi vào Vatican City bằng Cửa Bắc, tường 7, 8 thước cao với nhiều tượng khắc  chung quanh bờ thành , hai cách cửa vào thành thật kiên cố , như những cửa thành trong các phim La Mã. Chúng tôi được hướng dẫn bởi một Cô Hướng Dẫn Viên ngườI Ý, có sắc diện giống như một cô Tây Ban Nha thật đẹp. Cô nói Tiếng Anh dĩ nhiên lưu loát nhưng có pha thêm giọng Ý nên dễ làm cho mình cảm thấy mình là du khách hơn! Trong lúc đứng đợi giờ mở cửa, cô ta phát cho mỗi người một cái Radio bỏ túi, có dây nối vớI một ear phone máng dính vào vành tai. Vì vào bên trong, cô hướng dẫn chĩ diễn giãi thật nhỏ qua máy phát âm, mọI người có thể nghe mà không làm ồn.  Nhất là cùng một lúc đôi khi có nhóm khác lại cùng đến một chỗ cùng một khoảnh khắc với nhóm mình, nên mạnh ai cứ nói và mỗI nhóm chỉ nghe riêng tần số của người hướng dẫn mình thôi.

     Trong nội thành Vatican, gồm có nhiều toà nhà nối liền vớI nhau, có cả ngàn phòng dùng vào nhiều việc khác nhau. Nào các nhà thờ, các văn phòng của chính phủ, của

ĐGH.  Đặc biệt Viện Bảo Tàng của Toà Thánh, Văn Khố và Thư Viện là chiếm nhiều chỗ rộng lớn hơn cả.

     Viện Bảo Tàng Vatican, chứa đựng nhiều sưu tầm vô giá, những tranh vẽ và cổ tượng như: Apollo Belvedere. Apollo Belvedere là một tượng điêu khắc cổ xưa, nổI tiếng nhất của Hy Lạp; là vị thần Ánh Sáng. Tượng tạc một thanh niên được nhìn nhận như một người đẹp trai, tuyệt hảo nhất về tinh thần lẫn thể chất. NgườI Hy Lạp và Người La Mã đều coi Apollo là một biểu tượng về mẫu ngườiI thanh niên lý tưởng, bao gồm cả đẹp trai, thành thật, thông minh  và cường tráng. Có người cho rằng; Các Bà, các Cô khi thấy tượng Apollo; dù cho không mang giày cao gót, nhưng cũng sẽ thấy mình nghiêng ngả đến vài phân!    

      Tượng thứ 2 mà du khách phải biết là Tượng Laocoon, từ A.D. 100 của Hy Lạp. Theo cổ tích Hy Lạp là khi mà ngườI Trojan  và Hy Lạp đánh nhau tại thành Troy. Bên trong thành Troy là người Trojan đang bị Hy Lạp bao vây. Người Hy Lạp gỉa bộ không tiếp tục bao vây nữa, bằng cách để nhiều ngựa gỗ làm quà trước cửa thành. Tu sĩ Laocoon cảnh cáo người Trojan bằng câu: ‘Tôi sợ người Hy Lạp, ngay cả khi biếu quà’ ( I fear the Greeks, even when bringing gifts). Ông tu sĩ khuyên không nên lấy ngựa gỗ vào thành, nhưng người giữ thành không nghe; nên thành Troy bị thất thủ, vì bên trong các ngựa gỗ là binh lính Hy Lạp. Sau nầy Ông tu sĩ và 2 đứa con trai bị rắn biển giết chết. Theo dân Hy Lạp thì Ông tu sĩ và hai con bị rắn giết là sự trừng phạt cũa thần thánh, vì đã chống lại Hy Lạp. Tượng Laocoon điêu khắc 3 cha, con vị tu sĩ Trojan đang lúc bị rắn biển tấn công.

     Hơn 2 giờ mới ra khỏi Viện Bảo Tàng Vatican, có rất nhiều tranh vẽ ghi lại những điển tích về các biến cố của các tôn giáo, kể cả các tín ngưỡng ngoài Công Giáo, có cả các tranh ảnh về Ai Cập và các xứ khác. Quan trọng và được nghe thấy nhiều hơn cả là về danh hoạ kiêm Điêu khắc Gia Michelangelo. Ông ta là người được một Đức Giáo Hoàng trước kia mời vẽ những tranh ảnh trang trí trên trần nhà thờ Sistine, nay là Viện Bảo Tàng. Theo tài liệu kể lại Ông ta phải nằm  và ngước cổ lên vẽ ngược trên trần, ngày nầy qua ngày khác đến cả chục năm mới xong. Sau nầy ông ta mắc chứng bịnh ngưỡng cỗ lên trời, không sao chữa khỏi.

     Michelangelo, một danh họa kiêm điêu khắc gia nổI tiếng của Ý vào cuối thế kỹ 15 và đầu thế kỹ 16. Sở thích của Ông ta là tạc các tượng người trên đá cẩm thạch, giàu sức sáng tạo, làm ông trở thành người nổI danh nhất ở thế hệ của Ông. Ông còn là một nhà kiến trúc và một nhà thơ còn lưu lại nhiều sáng tác vô giá.

 


Như tượng David là một trong nhiều danh tác bất hủ của Michelangelo.  Bức tượng mà gần đây các bà chê  cái ấy hơi nhỏ, không cân xứng với một thân thể đường bệ của một lực sĩ đầy sức tráng kiện!  Michelangelo made big mistake! One said.

     Chúng tôi đi đến trước phòng của Đức Giáo Hoàng, ngày thường chỉ cần gõ cửa là có người ra hỏi, ‘Ông, Bà là ai? Có được hẹn gặp Đức Giáo Hoàng không? ... Rất tiếc hôm ấy ĐGH đang đi nghỉ ngơi ở Biệt Thự Hè , nên không thấy cảnh tượng những nhân vật tên tuổi chờ đợi được Ngài tiếp kiến; dù chỉ đôi ba phút nhưng được ảnh hưởng giáo quyền không nhỏ và một cơ hội hiếm có trong đời./-

No comments:

Post a Comment