Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label DoanXuanThuMelb. Show all posts
Showing posts with label DoanXuanThuMelb. Show all posts

Sunday, 14 December 2025

 Mùa Đông ở Bắc và Nam bán cầu khác nhau là điều thú vị để so sánh. 



Ở xứ Mỹ, Tháng Mười Hai, Tháng Giêng, Tháng Hai, trời thường lạnh thấu xương, tuyết phủ trắng đồng cỏ và mái nhà, ánh nắng hanh hao len qua khung cửa sổ, làm người ta thấy rõ khoảng cách giữa người và người khi phải co ro trong lớp áo ấm. 

Còn ở xứ Úc, mùa Đông đến vào Tháng Sáu, Tháng Bảy, Tháng Tám, nhưng sự lạnh lẽo không hẳn giống như ở Bắc Mỹ. 

Mùa Đông Úc đôi khi bắt đầu với những trận mưa dai dẳng, trời xám xịt, mưa rơi lất phất như nhắc nhở con người rằng thiên nhiên luôn biết cách làm trái tim mình se lại.

Tháng Sáu ở quê mình, mùa mưa, trời mưa không dứt. Lúc thì mưa xối xả, lúc lại lất phất. Tuy nhiên nếu trời không mưa anh cũng lạy trời mưa.

Lạy trời mưa chi vậy? Mưa làm Sài Gòn ngập hết ráo, lớn nhỏ phải lội nước dơ, chưn cẳng dính bùn, nồi ghẻ rộ lên, làm sao mấy cô bé khoe chân dài miên man cho được?

Trong cái mưa tầm tã ấy, nhà thơ Nguyên Sa lạy trời mưa; nhạc sĩ Hoàng Phương có dịp xếp thuyền giấy cho người yêu, chiều chiều, để ca sĩ Phương Hồng Huế vọc nước mưa.

Nhớ lại, Tháng Sáu ngày xa xưa ấy, tôi cũng từng xếp thuyền giấy cho một người em gái ngày xưa, thả ra biển Đông, bỏ lại một đống bo bo thời CS, nhưng lòng tôi vẫn rán lò dò tìm em, như thể tìm chim giữa biển cả. 

Em sang xứ Mỹ, còn tôi trôi dạt đến xứ Kangaroo, đất Melbourne lạnh giá, đầy thử thách. Câu hỏi quen thuộc hằng năm vẫn vang lên:

-  “Năm nay trời sẽ lạnh lắm không?”

Mùa Đông Melbourne, người viết biết ngay là sẽ rất lạnh nếu đi chợ Footscray, nơi mà cái lạnh len lỏi qua từng tấm áo, từng bước chân, và cả những cảnh đời thường như một em Úc đang lộ ra phần mông trắng hếu vừa đi vừa kéo quần jean lên, khiến người ta tiếc hùi hụi hè. Dự báo thời tiết kiểu này còn chính xác hơn mấy tay thuộc Sở Dự báo Thời tiết nhiều! Trong vòng 15 năm trở lại đây, năm nay tuyết rơi trắng trời trên núi và cao nguyên, như ngọn Buller, chỉ một đêm mà tuyết phủ trắng làng sơn cước dày tới 8 cm.

Sở thú Melbourne phải dùng đèn sưởi để giữ ấm cho khỉ vượn, cọp beo, sư tử, kangaroo và koala.

Phi trường Tullamarine, nhiệt độ tụt xuống thấp nhất từ năm 1971, tuyết đóng dày trên cánh phi cơ khiến nhiều chuyến bay bị đình hoãn. Vùng Tây Melbourne, nơi tôi cư ngụ, có đêm cột thủy ngân tụt xuống chỉ còn 1 độ C, lạnh nhất kể từ năm 1944, năm mà thiên hạ bắt đầu so sánh cái lạnh qua số liệu thời tiết.

Dĩ nhiên, cái lạnh không chừa ai, nhưng giàu nghèo khác nhau. Giàu thì bay về phương Bắc, tìm mùa Hè rực rỡ; giàu hơn thì bay đến đảo Bali, hay sang Paris thưởng thức mùa Hè ở Khải Hoàn Môn, tháp Eiffel. Còn nghèo, như đa số chúng tôi, thì chịu rét, mở sưởi nhiều tốn điện tốn tiền.

Nên thay vì tốn tiền điện tui tốn tiền Jack Daniel’s. Một chai 700 ml giá 60 đô Úc. Ngày “lỳ một lam.” Làm một ly người ấm lên chui vô mền khò khò tới sáng.

Mùa Đông Úc không chỉ là lạnh, mà còn là bức tranh ảm đạm về kinh tế: giá khoáng sản đi xuống do Tàu ít nhập khẩu, người dân khó sống hơn. Nhiều người mất nhà thành homeless , phải sống ngoài công viên, chịu lạnh thấu xương. May mắn thay, tôi còn có mái nhà, mền điện ấm áp, nhìn qua khung cửa sổ thấy cơn sương muối phủ trần gian. Thỉnh thoảng, đi chợ với em yêu, thấy một gã râu ria xồm xoàm chơi đàn guitar trước cổng siêu thị, tôi bỏ vào hộp đàn vài đồng, lòng thấy vui, lần đầu tiên làm việc thiện, trải nghiệm cảm giác ấm lòng trong mùa Đông xứ Úc đầy khắc nghiệt.

Ngược lại, mùa Đông xứ Mỹ nghe người xưa của tui nói nó mang một màu sắc khác. Tuyết phủ trắng mái nhà, bầu trời hanh hao nắng vàng, người ta hối hả đi làm, học sinh co ro trong áo khoác dày, các sân trượt băng đông đúc, và những khu rừng trọc lá mùa Đông trở nên thơ mộng như trong truyện cổ tích. 

Ở Mỹ, mùa Đông là thời gian để tụ tập gia đình, nướng bánh, uống socola nóng, trong khi ở Melbourne, mùa Đông là thời gian để sống chậm, cảm nhận từng giọt mưa, từng cơn gió lạnh, từng cơn rét cắt da.

Những ngày trời lạnh, tui thường nhớ về người em năm cũ, về quê hương xa xôi, nơi mà mùa Đông chỉ là mưa, là sương mù, là kỷ niệm xếp thuyền giấy và những con đường ướt át. 

Còn ở Mỹ, mùa Đông là tuyết trắng, là nắng vàng, là không gian rộng lớn, nơi con người tìm kiếm sự ấm áp qua gia đình và bạn bè.

Mùa Đông, dù ở đâu, vẫn luôn nhắc nhở ta về sự đối lập giữa giàu và nghèo, giữa có nhà và vô gia cư, giữa ký ức và hiện tại, giữa hy vọng và cô đơn. 

Ở Úc, mùa Đông là cơ hội để thấy những người kém may mắn, là lúc con người biết đến lòng từ thiện và sự sẻ chia; còn ở Mỹ, mùa Đông là cảnh đẹp, là trò chơi, là lễ hội, nhưng cũng không thiếu những người phải vật lộn với giá lạnh và tuyết trắng.

Từ Melbourne, tui thầm nghĩ: cái lạnh mùa Đông không chỉ là nhiệt độ, mà là thử thách, là cảm giác, là nỗi nhớ. Nhớ quê nhà, nhớ người yêu, nhớ những ngày mưa rơi dầm dề bên hiên nhà, nhớ những thuyền giấy trôi trên sóng biển Đông, và cả những mùa Đông Mỹ xa xôi, nơi mà tuyết trắng như mơ, nhưng cũng là nơi người ta tìm sự ấm áp từ nhau.

Đêm Đông, khi nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy sương muối phủ trần gian, tôi vẫn nghĩ về những người không còn quê hương, những người đã vượt biển Đông, những người sống lang thang giữa mùa Đông Melbourne, và cả những người ở Mỹ, đang co ro trong lớp áo dày mà lòng vẫn nhớ về nhà, về gia đình. 

Đêm Đông là lúc lòng người trở nên nhạy cảm, là lúc trái tim nhớ nhung, là lúc cảm giác lạnh giá trở thành nỗi niềm, nỗi thương, và cả niềm hy vọng.

Mùa Đông xứ Úc và Mỹ, hai thế giới khác nhau, nhưng đều nhắc ta về con người: sự nhỏ bé trước thiên nhiên, sự cần thiết của tình thương, và ý nghĩa của những điều giản dị mà ấm áp. 

Một chiếc mền điện ở Melbourne, một ly chocolate nóng ở New York, một chiếc thuyền giấy trên sóng biển Đông hay một sân trượt băng phủ tuyết trắng đều là những cách để con người cảm nhận mùa Đông, để thấy mình đang sống, đang nhớ, và đang yêu.

Đoàn Xuân Thu ( Tác giả ) 

Friday, 5 December 2025

 MỘT CHÚT BẮT QUÀNG LÀM HỌ RẠCH GIÁ- 

TÁC GIẢ LÀ CON CỦA MỘT CỰU TRƯỞNG TY BƯU ĐIỆN RẠCH GIÁ THỜI TT NGÔ ĐÌNH DIỆM- SAU ĐÓ ĐỔI VỀ TRUNG KHU BƯU ĐIỆN (Kế Nhà Thờ Đức Bà)- CỰU HS PETRUS KÝ - THỈNH THOẢNG CÓ CHÚT HƠI HÁM NHƯ NGƯỜI RẠCH GIÁ- Hiện định cư ở Melbourne -Australia./-Mt68

////////////

Thương Nhớ BÀN CỜ (Đ.Văn)

 Đoàn Xuân Thu 
       Nói đến Bàn Cờ là nói tới một Sài Gòn “thâm căn cố đế”, nơi từng mét vuông đất đều có dấu chân người, tiếng  con nít cười , tiếng con nít khóc, tiếng rao hàng rong, và hương vị của một thời chưa xa lắm.
       Sáng sớm, trường tiểu học Bàn Cờ đã rộn ràng như chợ nhỏ. Mấy bà bán xôi, cháo lòng, bánh cuốn đứng nép bên lề, vừa bán vừa trò chuyện rôm rả. Trẻ con tay cầm cặp, tay kia cầm gói xôi, cười nói vang trời. Gần trường là khu Cư xá Đô Thành, nếu đi vòng ra quẹo phải ra khỏi cổng Cư xá Đô Thành là tới đường Phan Thanh Giản, rồi Bệnh viện Bình Dân.
(Tại sao gọi là Đô Thành? Vì Sài Gòn là thủ đô của nước VNCH từ ngày 20 tháng Bảy năm 1954 tới ngày 30 tháng Tư năm 1975)
        Từ đây mà băng ngang là trường Văn Học – ngôi trường có nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan từng đứng lớp dạy văn, giọng ông nhẹ như mây nhưng ý tứ thì thâm trầm sâu sắc.
5616 1 BanCoDXThu
(Khu Bàn Cờ – Ảnh tuổi trẻ) 
        Cái xóm Bàn Cờ ấy là cả một mạng lưới hẻm như xương cá – có hẻm đủ rộng cho xe ba gác, có hẻm chỉ một chiếc xe đạp đi lọt, lại có hẻm chỉ người đi bộ mới lọt, đi phải nép mình phải né khi hai đứa ngược chiều nhau. Một trong những hẻm quen thuộc là hẻm cạnh Niệm Phật Đường Huệ Quang. Từ đây có lối băng ngang ra đường Phan Đình Phùng, ngay ngã tư Phan Đình Phùng – Cao Thắng, sát bên ngôi trường mà tụi nhỏ gọi là trường “Ô-Rô.”
        À, cái tên nghe như “ô rô ô rề” ấy hóa ra là Tây là sang lắm: École Aurore, sau đổi tên là Trường Rạng Đông. Trường tư thục dạy chương trình Pháp-Việt, dành cho mấy cô, cậu quý tử được gia đình cho theo học tiếng Tây. Bảng hiệu viết bằng Pháp ngữ, nhưng tiếng ve mùa hè trong sân trường thì vẫn râm ran như mọi trường khác
        Ngay đầu hẻm có nhà thuốc Tây, gần đó là nhà sách Thanh Bình, nhà bảo sanh Hồng Đức, rồi tới tiệm vẽ Văn Phong. Đầu đường phía Phan Đình Phùng có tiệm giò chả Thanh Hương, bên phía Trần Quý Cáp là đồn lính Đại Hàn – mấy chú lính mắt hí, tóc ngắn 3 phân, nghiêm chỉnh như tượng.
        Một hẻm khác gần đó trông như cái hầm, tối tối, ẩm thấp, nhưng lại có người bán đồ ăn trong đó. Hẻm này ăn thông ra một đường khác cũng chạy từ Phan Đình Phùng tới Trần Quý Cáp. Nổi tiếng nhứt là tiệm cá hấp Tám Lọ, lúc nào cũng thơm thơm. Đối diện là trường tiểu học Minh Chánh – tụi nhỏ học xong hay kéo nhau vô tiệm đá banh bàn nhỏ cuối hẻm, có tới 4 cái bàn. Mấy đứa chen nhau vô chơi, tiệm nhỏ mà vui như hội chợ.
5616 2 BanCoDXThu
(Con lộ Bàn Cờ và xóm “nhà cây” ven đường mới mở năm 1958 – Ảnh tư liệu)
        Có một con hẻm kề bên chùa Tam Tông Miếu trên đường Cao Thắng, ăn thông tới tận Cư xá Đô Thành. Hẻm này nhỏ xíu, xe đi ngược chiều là phải lùi, có khúc cua gắt tới độ quẹo không khéo là… đụng tường. Xe máy phải nín thở mà lách.
        Chợ Bàn Cờ thì thôi rồi, hẻm như mạng nhện. Nhiều hẻm thông ra đường Nguyễn Thiện Thuật. Gần đó là Vườn Bà Lớn, trước Tết Mậu Thân là khu nhà vườn, sau trận cháy thời chiến sự thì thành chung cư Nguyễn Thiện Thuật – giờ là một khu dân cư sầm uất, nhưng vẫn còn mang hồn cũ.
        Cạnh khu này là cây xăng, Viện Bài Lao, rồi tới nhà của nghệ sĩ Lệ Thủy – “người đẹp cải lương” của miền Nam một thuở. Cũng gần đó là Kỳ Viên Tự, nằm sát bên trường tiểu học Phan Đình Phùng, ở góc Phan Đình Phùng – Bàn Cờ. Rồi trường Bình Dân Học Hội, chùa Phước Hòa – cả một tam giác vàng của tuổi thơ học trò. (Không phải tam giác vàng thuốc phiện của tướng Vang Pao đâu nhe)
5616 3 BanCoDXThu
(Chùa Tam Tông Miếu – Ảnh flickr)
        Tụi nhỏ tụ tập ngoài hẻm, chơi từ sáng tới chiều. Có hẻm như “đường hầm”, tối thui nhưng đầy tiếng cười. Đi hết hẻm là ra tới công viên Hồng Thập Tự, công viên Đại Hàn – nơi mấy đứa cẳng không đá banh (đá xong đôi dép thằng nào bán ve chai lấy tiền mua cà rem mút chơi). Xa hơn chút là trường Petrus Trương Vĩnh Ký, bùng binh Lý Thái Tổ – Hồng Thập Tự. Khu đó náo nhiệt cả ngày.
        Một con đường nhỏ khác nối từ Nguyễn Thiện Thuật ra Lý Thái Tổ có quán cà phê Năm Dưỡng, đối diện là nhà của nghệ sĩ cải lương Hùng Cường, “quý ông làng vọng cổ”. Gần đó là chỗ tập nhạc của ban Peanut – 4 anh em nhỏ con nhưng máu lửa, đánh trống, chơi ghi-ta ầm ầm, cả xóm nghe mà không ai phiền, vì nhạc tụi nó… hay thiệt!
        Người Sài Gòn sống với hẻm như người miền Tây sống với sông. Hẻm là đường đi, là sân chơi, là nơi mẹ gọi con về ăn cơm, là nơi cha dắt xe đi làm sáng sớm. Hẻm là tiếng rao “Ai ăn xôi hông?”, tiếng ve kêu trưa hè, tiếng mưa lộp độp trên mái tôn.
         Dù Sài Gòn có bị CS đổi tên. Chúng đổi tên đường, bít vài lối nhỏ, nhưng trong lòng người cũ, Sài Gòn vẫn còn đó – ở từng ngóc ngách quen thuộc, từng con hẻm ngoằn ngoèo, từng mùi hủ tiếu mì, bò vò viên rạp Đại Đồng Cao Thắng.
         Bàn Cờ không chỉ là một địa danh. Đó là nơi khắc ghi tuổi thơ, tình người và ký ức – một Sài Gòn của hẻm, của hồn, của thương nhớ không phai.
ĐXT

Saturday, 1 June 2019

THÂN PHỤ CÓ LÚC LÀM TRƯỞNG TY BƯU ĐIỆN RẠCH GIÁ THỜI NGÔ ĐÌNH DIỆM./-TCL

Nhớ Trà Vinh!

Đoàn Xuân Thu

Trà Vinh, thời mình gọi là Vĩnh Bình, nằm bên bờ sông Tiền, cách Sài Gòn khoảng 202 km và cách Cần Thơ khoảng 100 km, cách Biển Đông khoảng 40 km. Đất Trà Vinh chia cắt bởi sông rạch chằng chịt. Trên đất liền là gò, là giồng, lan ra tới cửa biển. Có nơi độ cao, so với mực nước biển, chưa tới một mét, nên năm mười hai tháng, Trà Vinh ngập mặn tới nửa mét trong vòng từ ba tới năm tháng. Nước mặn tràn vào sông thành nước lợ. Nước ngọt thiếu, dân muốn xài, phải đào giếng! 

Và ‘Gánh nước đêm trăng’ của Viễn Châu do Út Trà Ôn ca ra đời như vậy đó!

***

Hồi xưa đất Kampuchia gồm Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp, (tức cái đồng bằng sông Cửu Long mình bây giờ). Và truyền thuyết ra đời rằng: Préah Trapéan (tiếng Khmer), Trà Vinh (âm tiếng Việt), có nghĩa tìm được tượng Phật đá trong ao mùa nước lụt năm đó, dân rước tượng Phật về Chùa thờ phượng! Sau nầy cứ mỗi lần ông nầy lên ông kia xuống, thay tên đổi họ vùng đất nầy hoài, nhưng người dân vẫn gọi đất Trà Vinh.

Đất Trà Vinh là một đất đa sắc tộc. Cứ mười người là có bảy người Việt, hai người Khmer và một người Tàu. Rồi yêu nhau ‘sa cạ’! (Khoái là yêu hè! Không phân biệt chủng tộc gì hết ráo) Rồi sanh con đẻ cái, nên Trà Vinh có đầu gà đít vị, Tiều lai Miên (!), hoặc Miên lai Việt nên con lai, nhứt là con gái, thừa hưởng của Tía mình một chút, của Má mình một chút,. tổng hợp toàn tinh hoa, nên em nó đẹp não nùng. Đẹp đến nỗi mấy anh xứ Nẫu quê mình, tuốt tự Quảng Nam, phiêu bạt vào, dẫu còn nhớ con ‘ghệ’ mình ở quê xưa, mà vẫn thấy con tim mình tan nát!

Chẳng hạn như nhạc của Đinh Trầm Ca, qua giọng hát Thái Châu: “Sông quê nước chảy đôi bờ! Để anh chín dại mười khờ thương em! Chiều nay bỗng nhớ cây mù u. Dòng sông in bóng em chiều thu! Về đây mới biết bên sông không còn mái nhà ngày xưa” Té ra em đi lấy Đài Loan mất rồi! 

***

Đất Trà Vinh nầy cũng tự mình sản sinh ra rất nhiều người nổi tiếng như nhạc sĩ Trúc Phương, tên thật là Nguyễn Thiên Lộc, sanh năm 1932, tại Mỹ Hòa, Cầu Ngang, Trà Vinh. 

Đằng sau đôi mắt kiếng cận thị dày cui, nặng độ, Trúc Phương rất tài hoa với điệu Bolero và tui khoái nhứt là bài ‘Thói đời’ mà mỗi lần ngà ngà say, tui thường rên ư ử, đến nỗi em yêu tui phải tán thưởng nhiệt liệt.

Rồi sau 75, kiếp con tằm không được phép nhả tơ, buồn quá, tâm bệnh rồi lâm bệnh nên đời Trúc Phương khá ngắn ngủi! Trúc Phương đã đi chuyến đò chiều cuối cùng vào miền vĩnh quyết, đêm 20, Tháng Chín, năm 1995.

***

Đó là tân nhạc, bên cổ nhạc, đất Trà Vinh cũng sản sinh ra một nhân vật kiệt xuất là nhạc sĩ Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu, người đã từ trần vào trưa mùng Một, tháng Hai, năm 2016, tại Sài Gòn, hưởng thọ 92 tuổi.

Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sanh năm 1924, tại Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh. Con thứ Bảy nên thường được gọi là Bảy Bá. 19 tuổi, ông vác cây đờn tranh lên Sài Gòn lập nghiệp, xa mãi Đôn Châu nên lấy bút hiệu là Viễn Châu.

Xa quê Đôn Châu, Viễn Châu nhớ nhà quá xá… Nhớ em yêu nên xúc cảm nhiều, bài ‘Gánh nước đêm trăng’ của ông thiệt là hết ý! “Gìn lòng hai chữ ngỡi nhân, yêu ai yêu chỉ một lần mà thôi. Em cười em bảo với tôi, thề có đất trời em không phụ anh đâu…”

***

Về Trà Vinh, vùng đất thương mến thương, đêm nay nhớ quê, nhớ cửa Cổ Chiên, ngày xưa, ngày vượt biển! Nhớ Trúc Phương, nhớ thời giày sô áo trận, nhớ ông thầy đờn Bảy Bá với ‘Gánh nước đêm trăng’. Nhớ đủ thứ, những hồi ức êm đềm của ngày tháng cũ.

Cải lương trong nước giờ đang giãy giãy… chết! Nhưng ‘Gánh nước đêm trăng’ vẫn còn là đêm trăng đi gánh nước ở Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh.

Vì gánh nước là phụ; mà hẹn hò với anh là chính! Trao cho anh chiếc khăn tay; rồi tiện chưn quất anh một đá! Đau quá xá! Hỡi người con gái Trà Vinh!

***

Footscray có một cái tiệm hủ tiếu mì Trà Vinh. Té ra ông chủ quán là người dân miệt Trà Vinh đây mà! Xa quê, và nhớ quê nên ông mới đặt tên quán như vậy chớ. Mà nói tới Trà Vinh, cha, tui cũng có nhiều kỷ niệm lắm nha bà con.

Nhớ gần Tết năm 1989, khi các nước vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương hăm he sẽ đóng cửa Trại tị nạn vào Tháng Tư, theo lời xúi biểu của thằng em đang ở Adelaide, tui vội vã xuống thuyền giong ra biển mà không kịp ăn Tết với vợ con. 

Chiều 28 Âm lịch nè, đúng 30 năm về trước, bãi đáp ở Lò đường, Kinh Ngang, Mỏ Cày, Bến Tre, cái máy Ray 6 ù ù ra biển. Tài công sợ chạy gần bờ, du kích bắn sảng, nên cứ giữa dòng mà bường tới. Nước ròng, sát cửa biển có cái cồn cát, lé đé mặt nước. Trời tối hù ai thấy, thuyền lủi vô cái ịch, mắc kẹt sình, hết nhúc nhích, phải chờ nước lớn. Tui ló cái bản mặt của mình lên khoang, vừa nhìn mấy đứa nhỏ dân địa phương, trần truồng, mặt mày lấm lem bùn đất, đi bắt sò, bắt hến trên cồn, vừa hút thuốc nhìn trời hiu quạnh…Chắc xuân nầy anh hông về! Thôi phần số tới đâu hay tới đó! Cá chui vô rọ, chỉ biết chờ chiếc vỏ lãi của công an biên phòng ra xúc về, nhốt Khám Lớn Vĩnh Bình. 

Nhưng may thay cha con nó mắc lo ăn Tết, bận nhậu nên hổng có đứa nào rảnh mà đi ruồng bắt đám vượt biên. Mười hai tiếng sau, chiều tàn, đêm bủa lưới, bóng tối lan tỏa mặt sông đầy, nước lên, thuyền ra hàng đáy ngoài cửa biển, trái giờ, ngược gió. Sóng nó đánh đùng đùng. Thôi chạy trở vô!

Chín giờ đêm, tui nhảy cái tùm xuống bến sông, xã Mỹ Long, Cầu Ngang bì bõm, nước ngang cần cổ, chòi chòi leo lên bờ, rượt theo một em vợ xuân thì của thằng tài công về nhà em là quán cà phê trong xã trốn. Quần áo ướt nhẹp, em giấu tui trong cái mùng của em, sao mà ấm quá trời! Be he!

Rạng sáng sớm hôm sau, em đưa tui bằng xe Honda ôm ra bờ rẫy, đất giồng, cách bến xe chừng hai, ba cây số, để tui đón xe về Sài Gòn. Sau khi gom cả trăm ngàn đồng tiền dằn túi, tui đền ơn em. Em cười hí hí, mà rằng: “Đi chuyến sau… Xuống tìm em… để em lo…! Đừng có thối chí nhe anh hai! Có người đi tới chục lần mới được. Anh hai mới có năm, ba lần mà nhằm nhò gì… Lần tới lại đi với em nhe! Em chờ!”

30 năm! Giờ người xưa của tui chắc đã thành bà Ngoại! Xin hẹn Ngoại Trà Vinh kiếp sau ta tìm thấy nhau nhe!

Đoàn Xuân Thu 
Melbourne

Thursday, 10 August 2017

HỌP MẶT KHOA HỌC GIA BÊN MELBOURNE- ÚC CHÂU./-TCL

***Mt68 Nhắn Chuyển: Mấy chục phút sau khi post, chúng tôi nhận được ý kiến "Xin nhắn hỏi giùm: Bộ các khoa học gia bên Úc tòan đa số là  NỮ sao? Các bà khoa học gia sao không chia cho Mỹ chúng tôi ké ... chụp cho vui? 1SPCN 66" ./-TCL

================= 

Tường trình buổi họp mặt cựu SV Đại học Khoa học Sài Gòn từ Footscray!





Thưa đời không như là mơ! Vì mơ là một chuyện; thực tế trần truồng là một chuyện khác!
Mơ học báo chí thì những năm 70s chỉ có Viện Đại học Đà Lạt. Nghèo sặc gạch như người viết, đi học chứng chỉ Toán lý Đại cương (MGP) ở Đại học Khoa học Sài Gòn mà má, ba còn lo không xuể thì cách chi mà lên Đà Lạt để ‘mùa xuân sang có hoa anh đào!’ Thôi đành: ‘Em ơi! Nếu mộng không thành thì thôi!’
Mãi đến khi phiêu bạt quê người mới có dịp làm báo...''đời".  Mà làm báo coi như móc bọc, nghèo; nhưng nghèo mà sướng lắm nhe: Được độc giả rủ rê đi nhậu hoài hè... làm con vợ tui nó rầy tui quá xá!
Chẳng qua bạn hiền Lê Trung Thụy, tốt nghiệp Đại học Khoa học Sài Gòn năm 1967, nhà anh chỉ cách nhà em cái giậu mồng tơi xanh rờn, 2 căn,...cảm tình  nhà báo kiêm nhà nghèo, cực kỳ  ái mộ mấy đứa làm báo hay nói láo, nên 'hú u':  
"Ê! Lại chơi nhe chú em! Dẫu gì anh em mình cũng cùng trường ĐHKH Sài Gòn mà!"
"Ai kêu tui đó?" Nghèo mà ham vui. Vui thì phải nhậu! Mà nhậu thì cần rượu. Ngặt cái hỏng có tiền mua! Nên chiều chiều dạo quanh trong xóm để ‘Ai kêu tui đó?’
Anh Lê Trung Thụy nói rằng: "Tưởng chuyện gì? Rượu đỏ là chuyện nhỏ! Chú em khỏi mang đồ ăn gì hết ráo; với điều kiện là sau đó chú em viết một bài tường trình về Lễ Sinh nhựt mười năm, một thập niên, của nhóm Cựu Sinh viên Trường ĐHKH Sài Gòn ở Melbourne của tụi mình đi! OK?
Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Mậu lúi mà được huynh trưởng mời cho ăn, cho nhậu miễn phí ...thiệt là quá đã!
Chỉ xin vài chữ. Chuyện nhỏ! Chữ mình một bụng; nhưng bán chẳng ai mua. Thôi thì ‘ế!’ Đem đổi rượu cũng được!
Người Việt mình, Bắc, Trung, Nam kể cả người Việt gốc Hoa, dù khác mẹ, khác cha nhưng con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh.
"Không ăn đậu không phải là Mễ; không đi trễ không phải Việt Nam!’ Úc thì có khác hơn một chút!
Ba giờ chiều ngày 6, tháng Tám, năm 2017, đồng hồ khỏ bon bon chỉ có vài đứa đến đúng giờ để dọn bàn dọn ghế, trang trí hội trường, cắm điện cho cái đàn organ, để ban nhạc một người, tò loe tí loe cho xôm tụ!
Còn mấy huynh trưởng khác không muốn đến sớm chắc ngại sợ thiên hạ nói mình ham ăn; nên bà con mình cứ lè phè, lai rai mới tới.
Ông thì nhà ở xa, bà thì lo cho cháu nội, cháu ngoại! Vì ba má sắp nhỏ mắc bận đi nhẩy đầm nên gởi cho ông bà nội ngoại làm 'child care!' Chủ nhựt mà!
Chuyện đâu còn có đó việc gì mà gấp chớ! Chúng ta ra đi mang theo nền văn minh lúa nước nông nghiệp rất đáng yêu (và rất đáng quạu)!
Ai tới trước thì ngồi đó, nghe tiếng khỏ cửa là ra chào mừng quý quan khách đã tới nơi an toàn trên xa lộ! He he! Vì có anh chị ở miền Đông Melbourne tuốt dưới Springvale hay Burwood cách Footscray tới 40 cây số đường chim bay cánh mỏi.
***
Mùa Đông xứ Úc ngày dài đêm vắn, mới 5 giờ thôi mà trời đã sụp tối!
(Bà con biết mà: Cái gì nóng là nó nở ra hè! Mùa Hè nước Úc cũng vậy, gặp nóng là ngày nó nở rộng kinh luôn, mà không cần tới 'viagra'. Ngày dài...dài  ra.
Mùa Đông nước Úc cũng vậy, gặp lạnh, là ngày nó thun lại! Ngày vắn...vắn lại)
Thôi tối hù rồi mình khai mạc đi! Đói bụng rồi nhe!
Mấy chị vừa dọn thức ăn lên, chất đầy cả hai bàn dài, vừa nói: "Tụi nầy toàn là đọc Việt Luận không hè!"
Ông Chủ nhiệm Phạm Hoài Nam mà nghe được câu tuyên bố như đinh đóng cột nầy chắc vui lòng lắm lắm!
***
Người viết có cái ngạc nhiên là qua đây có rất nhiều hội cựu học sinh các trường Trung học! Nhưng trường Đại học lại hơi bị... ít!
Thế nên nhóm cựu sinh viên trường ĐHKH Sài Gòn chơi với nhau đã 10 năm, một thập niên dài đăng đẳng mà cho tới nay tui mới biết!  (Thiệt là hụt ăn 'chực' tới 9 lần nên tiếc hùi hụi hè!)
Ôi nhớ xưa: Con trai sau khi đậu tú tài hai, đứa nào theo Ban B là qua trường Đại học Khoa học mà ghi danh vô chứng chỉ MGP (Toán Lý Đại Cương) tính làm Albert Einstein hay chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa) để làm kỹ sư đào mỏ.
Còn con gái, vua gạo bài, đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Đại học Y Khoa, học ra làm Bác sĩ để chích 'đít' anh chơi!
Mấy chú MGP và MPC nầy học không lo mà con mắt cứ liếc đưa tình với mấy em SPCN, thôi đẹp não nùng như cô đầm Brigitte Bardot vậy!
Hậu quả là sau hai kỳ thi cuối năm, rớt hết ráo. Đậu chỉ có từ 5 tới 10 % là hết mức! Cả 3, 4 ngàn đứa, còn trụ lại được trong cơn sóng gió ba đào, tan mùa thi là anh đi lính, giỏi lắm chỉ còn được 1, 2 trăm!
Mấy đứa rớt: Con gái thì lên xe bông, đi lấy chồng; con trai đi thi vào trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt hay theo tiếng gọi của núi sông, 'dông' vô trường Bộ Binh Thủ Đức.
Giờ già nhớ lại, đúng là cái thời tập tểnh từ học sinh ở với Tía Má rồi phải chuyển qua đời sinh viên xa nhà lại là khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người.
Đi chơi líp ba ga mà không sợ Tía má rầy la hay cho ăn cái chổi chà!
Tui nhớ trường Đại học Khoa học Sài Gòn năm ấy, năm 1970, nằm trên Đại lộ Cộng Hòa vốn là ở ké đất của trường Trung học Petrus Ký do Giáo sư Nguyễn Chung Tú làm Khoa trưởng.
Trong sân trường có mấy cây điệp Tây, cuối mùa Hạ, sơ thu, trường đã tựu, vẫn còn bông vàng lác đác. Nhớ đám sâu đo, nhỏ như sâu gạo, từ cành lá thả tơ, buông mình sâu xuống đất để nhát mấy em học SPCN.
(Anh bạn nhậu của tui, cưới vợ rồi chỉ ước mình được làm con sâu để vợ ảnh mới sợ mà thôi!)
Người dẫn chương trình là anh Trương Như Tuấn (nk 1973) đã bỏ nhiều công sức ra tổ chức Lễ Sinh nhựt 10 năm của nhóm cựu sinh viên ĐHKH Sài Gòn ở Melbourne ; nên được anh em mình tấn phong là ông Cả, theo kiểu miền Nam; dẫu anh là dân Huế của mình ơi; vốn dòng Tôn Thất...
Thưa quý anh chị em cựu sinh viên ĐHKH Sài Gòn! Lần gặp mặt trường xưa bạn cũ sắp tới xin mời đến chung vui, (đông nhưng hỏng có hao!)
Xin gởi điện thư về: Trương Như Tuấn <tuannhu50@gmail.com>
Cũng nhờ nhiệt tình của nhạc sĩ Lê Nguyên Trúc (nk 1968)  và nhất là Điệp viên không không thấy: 'Chieu T Nguyen' đã bận rộn suốt buổi để chụp...hình kỷ niệm!
Cũng xin cám ơn quý chị đã trổ tài làm bếp! Toàn là những món ngon, vật lạ Nam, Trung, Bắc lẫn của người Việt gốc Hoa.
Từ bánh khọt, miến xào kiểu Singapore cho tới bánh củ cải Triều Châu...
Ngon quá! Mà tui khờ thôi hết biết, mãi lo tán dóc, quay qua quay lại hết sạch bóc (chứng tỏ nó ngon) Hu hu! Lần sau tui sẽ nhớ không dám khờ như vậy nữa!
***
Quý anh mình xuất thân Cử nhân từ trường Đại học Khoa học  Sài Gòn vượt biên qua đây, định bằng lại rồi tiếp tục học thêm lấy Tiến sĩ, làm Giáo sư trường Đại học Monash của Úc. Hãnh diện nhe!
Bằng hữu Lê Bình, Little Sài Gòn, nói: "Mừng cho mấy anh có bằng Ph. D; còn tui có bằng Ph. O!"
Hỏi cái bằng gì nghe lạ quá hè? Lê Bình nói: "Ph.O là Phở ...vì Bình qua đây chuyên bán Phở...Dzũng Tân Định!".
Hèn chi giọng hát của Lê Bình rất ngọt ngào như nước lèo của phở tái nạm gầu bỏ thêm chút hành trần và có chan thêm nước béo!
Vô bàn, đặt mâm, kế bên của người viết là Quách Vũ Uối, Hội trưởng hội TQLC Úc Châu,  một bạn hiền ‘tu’, cữ rượu, uống ít, nhưng ảnh nói còn cái vụ ‘kia’ thì từ từ sẽ cữ!
Còn bên phải là Lê Bình: "Tui có chai Penfold 1993 đây; rót cho ông một ly! Lại vô mánh! Luật sư nói là có tiền; còn mình nhà báo nói là có rượu!
Lê Bình là người chịu chơi, thích sưu tầm các loại nhạc khí, nhạc cụ và rất nhiều các loại đàn…từ đàn đá …tới cả…‘đàn…bà!
Rượu được vài tuần, Lê Bình chiếm đài phát thanh, cầm 'mi- cà- rô', hát bản Khúc Thụy Du, thơ Du Tử Lê, nhạc của Anh Bằng, để thương mến trao về anh Lê Trung Thụy, chủ nhà, đã có nhã ý cho anh chị em mình họp mặt đêm nay vì ảnh tên là Thụy.
(Tuấn Ngọc mà nghe Lê Bình hát thì chỉ còn có nước ‘mộng du' chớ không phải khúc Thụy Du (Ngủ mà mớ... vẫn nhớ hoài chim bói cá!)
Tui e rằng anh Thụy sẽ bị bà xã của ảnh là Chị Diệp Gò Công nhéo cho bầm tím bắp đùi tối nay vì Khúc Thụy Du cho mà coi nhe!
Vì đây là bài hát khóc cho một mối tình tan vỡ với ai kia: 'Em là chim bói cá'. He he!
Rồi tắt bớt đèn, trong cái mờ mờ ảo ảo, chương trình dạ vũ bắt đầu. Slow với lại Rumba cộng với Cha cha cha!
Việt Nam, chồng hay ‘quánh' vợ nên gọi là vũ phu. Qua đây, đất của Nữ Hoàng, vợ ‘quánh’ chồng gọi là ‘vũ nữ’. Khi hai vợ chồng ‘quánh’ nhau thì ta gọi là vũ ‘sexy’!
Còn vợ chồng đồng lòng đi họp mặt cựu sinh viên trường ĐHKH Sài Gòn thì mình gọi là 'luân vũ'! Tức là em sẽ 'nhảy' với anh!
Đêm vui nào cũng phải tàn. Thôi gặp nhau đây rồi chia tay! Hẹn lần sau nha quý bạn hiền!
Về tới nhà, mới bước vô là thấy em yêu của tui đang cầm cái chổi chà, núp sau cánh cửa.
"Em ơi! Anh đây mà!"  Nhém chút nữa, hỏng mở miệng ra báo động là Má tui sẽ hỏng nhìn ra tui rồi! Hi hi!"
Đặc phái viên tuần báo Việt Luận tường trình từ Footscray, Melbourne.


đoàn xuân thu.
melbourne.