Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label HoiKyBaNGODINHNHU. Show all posts
Showing posts with label HoiKyBaNGODINHNHU. Show all posts

Wednesday, 8 March 2023

PHẢI CHI CÓ TÁC GIẢ HAY NGUỒN GỐC SẼ DỄ NHẬN DIỆN MỨC ĐỘ TIN CẨN HƠN ?!./-Mt68
____________

Chuyện về cuộc hôn nhân không hạnh phúc của Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu.
Click image for larger version

Name:	91.jpg
Views:	0
Size:	142.2 KB
ID:	2189087  
Trần Lệ Xuân: 15 tuổi gặp Ngô Đình Nhu và cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Vào năm 1940, ông Ngô Đình Nhu đang tiến gần đến tuổi 30 khi được giới thiệu với cô Trần Lệ Xuân 15 tuổi… Trong những cuộc phỏng vấn về sau với các ký giả Tây phương, bà Nhu thẳng thắn thừa nhận rằng cuộc hôn nhân của bà với ông Nhu là vấn đề thực tế, không phải chuyện yêu đương lãng mạn.

Cuộc gặp gỡ với ông Ngô Đình Nhu
Ngôi trường của bọn trẻ ở Hà Nội nằm kế bên dinh thự của quan toàn quyền Pháp. Tòa nhà màu nghệ tây vẫn còn đến hôm nay nhưng được dùng làm văn phòng và phòng tiếp tân của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào thời Lệ Xuân, ngôi trường được đặt tên theo Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương từ 1911 đến 1913. Mặc dù Sarraut được ca ngợi bởi việc thúc đẩy cải cách giáo dục, động cơ của ông, từ căn để, là một thí dụ khó chịu khác về sự thắng thế của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Ông tin rằng người Việt không thể được khai hóa cho đến khi tư tưởng, phong tục tập quán, và những thể chế của họ được phản ánh theo nước Pháp. Đối với Albert Sarraut, người chiến sĩ tự xưng của công cuộc cải cách giáo dục bản địa, người Việt Nam “sẽ xứng đáng được giải phóng khỏi sự cai trị của Pháp chỉ khi họ không còn khao khát là người Việt, nhưng là người Pháp da vàng”.

Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu.

Trần Lệ Xuân được dạy nói, đọc, viết, và suy nghĩ như một nữ sinh Pháp bé nhỏ. Cô học thuộc thứ tự các vị vua nước Pháp và ngày tháng tất cả những cuộc chiến giữa Pháp và Anh. Cô có thể đọc vanh vách những cánh rừng và những ngọn núi tuyết phủ mà thậm chí chưa từng nhìn thấy chúng. Cô làm bài kiểm tra về thi ca và chính tả tiếng Pháp nhưng không được học về di sản của đất nước mình. Lệ Xuân có bổn phận phải quên cô là người Việt và được khích lệ để tin rằng định mệnh của cô là trở thành một phần của một nền văn hóa khác, ưu việt hơn.

Giờ đây khi gia đình đã trở lại Hà Nội và bọn trẻ bận bịu với trường lớp, người phụ nữ của gia đình, bà Chương, có thể tận hưởng chút ít tự do. Thoát khỏi miền thôn quê truyền thống, áp lực sinh con đẻ cái, và sự can thiệp của mẹ chồng, bà Chương có thể khám phá ý nghĩa của việc là một người phụ nữ Việt trong một kỷ nguyên của sự thể nghiệm và thậm chí buông thả. Là điều không thể tưởng nghĩ chỉ một thế hệ trước, phụ nữ Việt giờ đây có thể đứng cùng chồng ở những nơi công cộng như nhà hàng và vũ trường.

Không phải bó chặt bộ ngực sau tấm áo chùng, bà Chương đã có thể trưng diện sắc vóc của mình. Bà có thể mặc những bộ quần áo đặt may, chạy theo những mốt mới nhất, như áo váy có viền ren. Cửa hàng bách hóa Godard ở góc phố Paul Bert bán bít tất lụa, mũ, và kẹp tóc. Sự thiên vị của người Pháp với gia đình ông Chương mang lại cho họ phương tiện kinh tế để theo đuổi tất cả những thú vui Âu châu ở Hà Nội. Một chiếc Mercedes có tài xế riêng đưa họ đi xung quanh thành phố; họ ăn trong những nhà hàng Trung Hoa trang nhã nhất thành phố và xem những bộ phim Mỹ và Pháp ở rạp xi nê. Rạp Palace hiện đại và đắt đỏ nhất trong số bảy rạp chiếu bóng ở Hà Nội, nhưng ngay cả người Việt nghèo nhất ở thành thị vẫn có thể xem phim. Có một rạp Trung Hoa bên kia thành phố, nơi mọi người ngồi xổm cùng nhau trên những thanh gỗ, vươn cổ ngoẹo đầu để nhìn rõ màn ảnh. Có một loại vé thậm chí rẻ hơn nữa dành cho những ai sẵn lòng đứng ở phía ngược màn hình và xem những hình ảnh lập lòe từ sau ra trước.

Vào những chiều thứ Ba, bà Chương mở tiệc chiêu đãi ở nhà. Khách là người Việt và người Pháp – và sau năm 1939 là người Nhật. Đàn ông và đàn bà thoải mái trộn lẫn vào nhau sau những tuần bánh và rượu cốc tai trong phòng khách. Tất cả những nhân vật quan trọng, hoặc một ngày nào đó sẽ quan trọng, đều tham dự. Tiếng cười và trò chuyện trôi lơ lửng trên những ngọn đèn chùm pha lê và cuộn lên cầu thang đến chiếu nghỉ nơi những đứa trẻ đang thu mình, nghe lỏm chuyện người lớn bên dưới.

Bà Chương đang thích nghi với truyền thống, có từ thời Cách mạng Pháp, của những phụ nữ tinh anh chủ trì những cuộc họp xa lông, nơi khách khứa có thể tham gia vào những cuộc tranh luận đầy trí tuệ về nghệ thuật, văn chương, và thậm chí chính trị. Những người đàn ông quyền thế luôn luôn có mặt trong những cuộc hội họp tại nhà bà Chương, nhưng những quan điểm về bình đẳng nam nữ và nữ quyền đã trở thành phương tiện biểu đạt để tranh biện về một đề tài khác, một đề tài quá nguy hiểm để bàn luận công khai: Giải phóng Việt Nam khỏi chủ nghĩa thực dân Pháp. Ở đó những cuộc tranh luận sôi nổi về vai trò thích đáng của phụ nữ, giá trị của giáo dục đối với nữ giới, và sự cân bằng giữa tổ ấm gia đình và đời sống công cộng, nhưng tại căn để của tất cả những câu hỏi này là một vấn đề lớn lao hơn nhiều: Làm thế nào để Việt Nam có thể trở nên hiện đại và tự do?

Tôi [1] đã kỳ vọng tìm được nhiều thông tin về những cuộc họp mặt thứ Ba của bà Chương trong những văn khố của French Sureté, hay mật vụ Pháp lừng danh, nhưng thay cho tin tức tình báo về những con người nguy hiểm bà đã tiếp đãi và những tư tưởng nguy hiểm đã luận bàn, tôi tìm thấy một sự mô tả thô tục về cuộc sống của vợ chồng ông Chương.

Không có gì trong những tập hồ sơ tiếng Pháp xác nhận ý tứ về “sự vinh quang” mà bản cáo phó của ông bà Chương mô tả rất nhiều năm sau. Sự thực hoàn toàn trái lại. Tướng quân đội Pháp Georges Aymé miêu tả cha bà Lệ Xuân, ông Chương, là “người khá còi cọc,” một khí lực ẻo lả không làm thỏa mãn được vợ mình. Lời tử tế nhất tôi có thể tìm thấy về ông Chương trong văn khố miêu tả ông “thông minh, đúng hơn là tinh tế”. Điều đó có vẻ khác xa bức chân dung về một nhà ngoại giao lỗi lạc vào lúc chết.

Nhưng mô tả về bà Chương làm tôi sốc nhất. “Vợ ông Chương đẹp và rất hấp dẫn. Giữa người An Nam với nhau, người ta biết rằng bà là người chỉ huy, điều khiển chồng mình”. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Ngay khi hai bên thái dương đã điểm hoa râm, bà Chương luôn trông có vẻ vương giả và tự chủ trong những tấm hình mà tôi đã xem. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy một tấm hình nào lột tả khía cạnh hoang dại trong tính cách của bà – mà theo mật vụ Pháp, “nổi tiếng khắp Đông Dương”. Bà cũng nổi tiếng không kém với “tham vọng lì lợm cũng như tính cách coucheries utilitaires – lang chạ với những người có uy thế thuộc bất kỳ quốc tịch nào”.

Những báo cáo tiếng Pháp đã điểm danh những tình nhân của bà, bao gồm một con người xuất chúng và nguy hiểm nhất. Một thời gian sau khi đến, vào năm 1939, nhà ngoại giao Nhật Bản Yokoyama Masayuki đã phản bội người vợ Pháp của ông vì bà Chương; đổi lại, bà đã được miêu tả là còn hơn cả nhân tình của ông. Bà Chương đã trở thành “cánh tay mặt” của lãnh sự Nhật ở Hà Nội. Đối với người Pháp, việc một phụ nữ thông minh và tham vọng như bà Chương lựa chọn người Nhật thay vì người Pháp là một dấu hiệu đáng ngại. Bà đang làm những gì có thể để giúp giữ vững vị thế tốt đẹp của gia đình trên cồn cát chính trị biến động không ngừng.

Đủ thứ luận điệu đã được truyền đến Paris trên những tờ giấy vỏ hành phai màu và được lưu trữ như những mẩu chuyện tầm phào của các nhà ngoại giao cho hậu thế. Theo một lời đồn thổi đã trở thành câu chuyện phiếm bên ly cà phê của nhiều người nhiều năm về sau, trong số nhiều nhân tình của bà Chương ở Hà Nội có một người đàn ông tên Ngô Đình Nhu.

Ông Nhu đang tiến gần đến tuổi 30 khi được giới thiệu với cô Lệ Xuân 15 tuổi vào năm 1940. Là một người đàn ông độc thân với gia thế tốt đẹp ở Huế, dáng vẻ điển trai của ông càng tăng thêm cùng với tuổi tác và trải nghiệm. Họ đã gặp nhau trong khu vườn nhà ông Chương ở Hà Nội. Ông Nhu vừa trở về Việt Nam sau gần một thập niên học hành ở Pháp. Tấm bằng đầu tiên ông có được là về văn chương. Sau đó, trong khi đang theo học ngành quản thủ thư viện, ông đã lấy một bằng cấp về cổ tự học, từ trường Pháp điển quốc gia danh giá ở Paris. Ông Nhu đang bắt đầu một vị trí tại cơ quan văn khố Hà Nội khi ông gặp Lệ Xuân.

Tất cả những điều đó có vẻ mang tính sách vở và nhỏ nhặt với một người giàu kinh nghiệm, nhưng với Lệ Xuân, bấy giờ vẫn đang học trung học và chưa bao giờ ra khỏi đất nước, trải nghiệm ở hải ngoại của ông Nhu mang lại cho ông một nét hấp dẫn kỳ lạ. Một cuộc hôn nhân sẽ giải phóng cô khỏi những nỗi bẽ mặt hàng ngày mà gia đình cô gây ra. Có vẻ như với Lệ Xuân, một người đàn ông ham mê sách vở hơn chính trị sẽ là nỗi khuây khỏa sau những trò chơi hai mặt và phản bội mà bà đã chứng kiến trong cuộc hôn nhân của chính cha mẹ mình. Việc ông Nhu mỉm cười nhiều hơn nói chuyện có vẻ là một biểu hiện tốt nữa. Kết hôn là bước tiếp theo với một cô gái có giáo dục, và Lệ Xuân không nghĩ cô hơn ông Nhu về điểm này.

Ngặt nỗi ông Nhu thuộc về một gia đình Công giáo kiên trung. Trong tầng lớp tinh anh Việt Nam thì người Công giáo chiếm thiểu số và có phần kỳ lạ. Tuy vậy, điều đó khá tốt với kỳ vọng của một người con gái thứ như cô.

Hôn nhân không tình yêu
Ông Nhu là con trai thứ tư trong gia đình. Cha ông, Ngô Đình Khả, từng nắm giữ vị trí quan trọng trong triều đình Huế, nhưng vào thời điểm ông Nhu chào đời năm 1910, người Pháp đã phế truất vị hoàng đế mà ông phụng sự. Vì lòng trung thành với chủ, ông đã từ chức và đưa gia quyến về quê nuôi trâu và trồng lúa, một bước lùi đáng chú ý, nếu không nói là đáng khâm phục. Thái độ phản kháng sự can thiệp của Pháp vào chính sự Việt Nam đã củng cố một ý thức danh dự và trách nhiệm dân tộc của gia đình – những phẩm cách đã được truyền thừa cho cả sáu người con trai của ông.

Mỗi sáu giờ sáng, chín người con của ông Khả tập hợp lại. Sau đó, đến trường. Ông cũng bảo ban họ siêng năng làm việc đồng áng, lấm lem bùn đất cùng những nông dân địa phương. Mặc dù bản thân ông Khả mặc áo choàng lụa truyền thống của một người có học và để móng tay dài năm phân như một biểu hiện của vị thế quan lại, ông không ngừng quở trách các con trai rằng “một người đàn ông phải thấu hiểu đời sống của nhà nông”.

Ông Khả đích thân giám sát việc học hành của các con trai, ở trường và ở nhà. Ở trường, ông yêu cầu họ theo chương trình Âu châu. Ở nhà, ông dạy họ tiếng phổ thông kinh điển. Ngoài sự chú trọng về học thuật, nhà ông Khả là nơi học tập về quan điểm chính trị chống Pháp theo dân tộc chủ nghĩa.

Vào thời điểm ông Nhu và Lệ Xuân gặp nhau lần đầu tiên, những người anh trong gia đình họ Ngô đã xác lập những sự nghiệp lỗi lạc. Người anh cả bấy giờ đang làm thống đốc tỉnh. Người anh thứ hai đang trên bước đường trở thành một trong những vị giám mục Công giáo đầu tiên ở Việt Nam. Người anh thứ ba, thành viên trực tiếp góp bàn tay vào việc nhào nặn tương lai dân tộc, là Tổng thống tương lai của miền Nam Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm.

Trong những cuộc phỏng vấn về sau với các ký giả Tây phương, bà Nhu thẳng thắn thừa nhận rằng cuộc hôn nhân của bà với ông Nhu là vấn đề thực tế, không phải chuyện yêu đương lãng mạn. “Tôi chưa từng có một tình yêu ngọt ngào”. Bà thú nhận với Charlie Mohr của tạp chí Time. “Tôi đã đọc những thứ đó trong sách vở, nhưng tôi không tin chúng thật sự tồn tại. Hay có lẽ chỉ với một số rất ít người mà thôi”.

Nhưng cô gái trẻ Lệ Xuân là một diễn viên có tài, và cô biết nhận ra một vai diễn phù hợp. Năm 1940, ngay trước khi gặp ông Nhu, những nữ sinh trường múa ba lê Madame Parmentier đang chuẩn bị diễn vở Bạch Tuyết. Những nữ sinh người Pháp và Việt khác từ chối đóng vai mụ phù thủy gớm ghiếc, nhưng Lệ Xuân đã nhìn thấy tiềm năng trong vai diễn này. Cô hẳn không bao giờ được cho đóng Bạch Tuyết; vai đó sẽ vào tay một cô gái Pháp da trắng. Song cô vẫn có thể tỏa sáng trên sân khấu bằng một vai diễn độc ác xuất sắc.

Lệ Xuân đã nhìn thấy ông Nhu như một cơ hội. Bất luận vì tình yêu, tham vọng, hay là lợi dụng lẫn nhau, Lệ Xuân và ông Nhu đã đính ước không lâu sau buổi gặp gỡ trong vườn. Họ đã đính hôn trong ba năm, một truyền thống của người Việt, mặc dù việc đó không phải theo ý của cha mẹ Lệ Xuân. Nhưng trong quãng thời gian ấy, từ 1940 đến 1943, cái thế giới mà Lệ Xuân hằng biết đã hoàn toàn thay đổi.

Thế chiến thứ hai đã nổ ra ở Âu châu. Sự bại trận của nước Pháp đã gần như cắt phăng Đông Dương khỏi mẫu quốc. Chính quyền Vichy ở Pháp cho phép Nhật Bản chuyển quân đến miền Nam Trung Quốc thông qua Bắc Việt, xây dựng những sân bay, trưng thu lương thực, và đóng 6.000 quân ở Bắc Kỳ.

Những nhà ngoại giao Nhật, người thông ngôn, những chuyên viên tình báo, và doanh nhân người Nhật đã chiếm giữ những vị trí danh dự trong những cuộc họp xa lông chiều thứ Ba tại nhà ông Chương, và những tay thực dân Pháp ở Đông Dương rất lấy làm khó chịu về điều này. Họ đơn giản là không thể, hoặc không chịu tin rằng sự đầu hàng của họ ở Âu châu đã làm phương hại đến quyền cai trị của họ ở Đông Dương. Vì vậy trong một thời gian, người Pháp gắng sức níu kéo cuộc sống thường ngày của mình, giữ lại những người hầu, ăn mặc trang trọng trong bữa tiệc tối, và tụ tập tại các quán cà phê để tán gẫu về những chuyến du ngoạn cuối tuần về miền biển hoặc người thắng tại các cuộc đua ngựa. Người Pháp có thể đã trao chứng từ tài sản thuộc địa của họ ở Đông Dương cho người Nhật, nhưng trong năm năm tiếp theo, họ sẽ tìm mọi cách để giữ thể diện cho mình. Lá cờ Pháp vẫn tiếp tục phất phới. Những tiệm bánh, bị cắt mất 20.000 tấn lúa mì nhập khẩu hàng năm, vẫn gắng gượng dựng lên một ảo tưởng cuối cùng, đã nhồi bánh mì từ bắp và gạo. Đông Dương là khu vực Đông Nam Á duy nhất dưới sự kiểm soát của Nhật Bản cho phép những người thực dân da trắng lưu lại.

Năm 1942, phiếu lương thực đã được cấp cho những người Âu châu để cung cấp gạo, muối, đường, dầu ăn, xà phòng, diêm, thuốc lá “tốt”, và nhiên liệu cho họ. Người Pháp vẫn được thiên vị với những thứ như thịt và sữa đặc, họ được ưu tiên cung cấp trước nhất. Tất cả những điều này được biện hộ trong tư duy thời thực dân bởi quan niệm rằng người An Nam đã quen với chế độ ăn uống đơn điệu, trong khi người Âu châu sẽ ngã bệnh với khẩu phần ăn kém đa dạng.

Mặc dù gia đình ông Chương thật ra không phải chịu khổ, họ đã bị tước đi những thứ hàng hóa xa xỉ mà họ đã quen dùng. Nhưng nhà ông Chương là bậc thầy về những thủ đoạn chính trị và họ xoay xở khá tốt – ít ra trong một thời gian. Sự thâm nhập của người Nhật vào chế độ trên danh nghĩa của Pháp đã tạo nên một tình trạng chính trị khá rối ren. Ai là kẻ đang nắm quyền, người phương Tây hay người châu Á? Ai sẽ cảm thông hơn với những nguyện vọng dân tộc chủ nghĩa của người Việt? Gia đình ông Chương cố gắng vun đắp những tình bạn quan trọng với cả hai phía, nhưng rốt cuộc họ đã chọn chia sẻ số phận với người Nhật dưới ngọn cờ “Tình huynh đệ da vàng”. Người Nhật khuyến khích người Việt Nam tự coi mình như một phần của Khối thịnh vượng chung Á châu – được lãnh đạo bởi Nhật Bản, tất nhiên. Ít ra người Nhật không quả quyết sự ưu việt dựa trên màu da của họ.

Mẹ của Lệ Xuân đã đăng ký những khóa học tiếng Nhật, và tình yêu của bà với Yokoyama, phái viên của hoàng đế xứ mặt trời mọc ở Hà Nội, đã sớm được tưởng thưởng. Năm 1945, tình nhân Yokoyama của bà được bổ nhiệm làm công sứ An Nam, và Trần Văn Chương, chồng bà, được đề bạt vào nội các chính phủ bù nhìn của Nhật Bản.

Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu kết hôn trong tuần đầu tiên của tháng Năm, 1943 tại thánh đường Saint Joseph ở Hà Nội, hay như cách gọi của dân Hà Nội, Nhà Thờ Lớn. Đó là lần thứ hai Lệ Xuân đặt chân vào giáo đường mang phong cách tân gô-tích cao chót vót này. Lần đầu là vào ngày trước đó để làm lễ cải đạo sang Công giáo. Cô mang tất tay dài và một chiếc khăn choàng đăng ten quấn quanh mái tóc đen và chảy dài xuống đôi vai. Lời tuyên xưng đức tin, mà Lệ Xuân đọc to, khẳng định niềm tin mới của cô vào Thiên Chúa, Chúa Giê-su, Chúa thánh thần, và giáo hội cùng tất cả những phép bí tích của nó. Vị linh mục vừa đọc nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần vừa rưới nước thánh lên trán Lệ Xuân ba lần, sau đây mọi tội lỗi của cô đã được rửa sạch. Tiếp đó Lệ Xuân được đặt tên thánh. Người ta chọn tên Lucy, theo tên thánh Lucia, thánh bản mệnh của người mù. Là một người Cơ đốc giữa những kẻ ngoại giáo, Lucy đã chọn giữ mình đồng trinh và tự chọc mù mắt thay vì lấy một kẻ ngoại giáo. Nét đẹp nhất của Lệ Xuân, đôi mắt long lanh của cô, mở to trong suốt buổi lễ, một thái độ thận trọng mới mẻ đối với những cảm giác mà cô phải dè chừng hầu hết thời gian – tính ưa dâm dục, sự tự mãn và kiêu căng.

Một thời gian trước lễ cưới và sau những cánh cửa đóng kín, gia đình chú rể đã trả một món tiền thách cưới, của hồi môn, cho gia đình Lệ Xuân. Theo truyền thống, số tiền này là để bù đắp cho sự mất mát của gia đình sau khi cô dâu xuất giá. Việc nhà Chương là một gia đình giàu có ở thành thị không làm thay đổi phong tục này. Nhà họ Ngô có thể trả hoàn toàn bằng tiền hoặc bằng những vật dụng thiết thực: quần áo, đồ trang sức, thịt, và trà. Số tiền hồi môn dành cho Lệ Xuân được quyết định bởi vị thế gia đình cô, và nhờ sự thay đổi lòng trung thành của mình, vị thế của gia đình ông Chương quả thực vẫn rất tốt đẹp giữa một Hà Nội bị Nhật Bản chiếm đóng.

Khu vườn nhà ông Chương biến thành một ốc đảo vương giả dành cho buổi tiếp khách sau lễ cưới. Không khí buổi đầu tháng Năm thơm ngát với những bông hoa huệ tây nở rộ và hoa đại nồng nàn. Những phụ nữ diện quần áo lụa và mỹ phẩm được cấp hạn chế. Một số người có thể lôi từ trong kho những bộ trang phục được giữ gìn kỹ lưỡng từ thời của những bữa tiệc thảnh thơi, trước khi cơn lốc chiến tranh ập đến. Số khác ăn vận rõ ràng là hàng lậu thuế: những phụ nữ biết chọn đàn ông khôn khéo chưng diện những mốt mới nhất.

Tình cảnh thiếu thốn của thời chiến tuy vậy vẫn không cắt đứt nguồn cung cấp rượu sâm banh Pháp của gia đình ông Chương. Nó chảy tràn vào những chiếc ly có chân kêu lanh canh của những thực khách, đó là, như bà Nhu bâng khuâng nhớ lại, “tất cả Hà Nội” – tức là tất cả những nhân vật quan trọng ở Hà Nội vậy.

Tất cả mọi cặp mắt đều hướng về cô dâu mười tám tuổi khi cô bước vào khu vườn. Trong bức ảnh cưới trang trọng của Lệ Xuân, chụp vào ngày cưới của cô, nét mặt cô bình tĩnh và nghiêm trang. Hai bàn tay cô đan lại phía trước nhưng bị che khuất khỏi ống kính camera bởi những ống tay áo rộng của chiếc áo cưới truyền thống. Phần rộng của chiếc áo lụa đỏ được thêu những ký tự tiếng Hoa về hạnh phúc lứa đôi và lấm chấm những bông hoa nhiều họa tiết thanh tú. Những dải băng vàng vương giả vòng quanh cổ và hai ống tay áo, một phong cách phù hợp với con gái của một công chúa hoàng tộc. Một trái tim lớn bằng ngọc bích rạng rỡ trên chiếc vòng cổ của cô; đôi khuyên tai hoa hồng bằng kim cương trang nhã tuyệt vời. Chiếc khăn đóng màu đen xếp nếp trên trán. Mái tóc chẻ ngôi giữa và quấn thành lọn quanh đầu. Mắt long lanh viền phấn và đôi mày kẻ thật kỹ. Đôi môi lấm vết son, và má đánh phấn hồng. Cô trông như một búp bê sứ sẽ rạn vỡ ngay khi đánh bạo nở nụ cười, nhưng một mối thông gia bền vững như thế này là một vấn đề hệ trọng. Lệ Xuân đã sắm vai trò của mình một cách không thể chê trách. Từ đây trở đi, cô sẽ là bà Nhu.

VietBF@ sưu tập

Saturday, 12 November 2022

 

Về Bà Trần Lệ Xuân.

Giáo sư Trần Thừa Dụ 

_________________________________

Tên thật của bà là Trần Lệ Xuân. Không biết cái tên có vận vào người không, nhưng hình như có quá nhiều nước mắt đã từng chảy ra trong cuộc đời của bà Trần Lệ Xuân và cô con gái là Ngô Đình Lệ Thủy.

Dù không phải là vợ của một vị nguyên thủ quốc gia, nhưng người ta vẫn gọi bà là “Đệ Nhất Phu Nhân”, vì tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ, nên bà được phong cái tước vị Đệ Nhất Phu Nhân để thay mặt TT Diệm đón tiếp các vị Đệ Nhất Phu Nhân của các quốc gia khác theo đúng các nghi thức ngoại giao quốc tế.

Bà là vợ của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ của TT Diệm. Ông Ngô Đình Nhu là cố vấn chính trị của TT Diệm, một nhân vật quyền lực thứ hai của Việt Nam.

• Bà Ngô Đình Nhu là một phụ nữ nổi nhất đương thời.

Trong thế kỷ 20, ở Việt Nam không có người đàn bà nào hoạt động chính trị mà lại có uy tín và được nhiều người biết tới cho bằng bà Ngô Đình Nhu. Bà làm chính trị, làm dân biểu, làm công việc xã hội, nên gọi bà là Đệ Nhất Phu Nhân cũng rất xứng đáng.
Bọn tướng lãnh gia nô rất sợ bóng vía bà, vì bà có cái oai của bà, bà dám nói thẳng, dám lên tiếng chỉ trích và chửi mắng những kẻ mà bà cho là phản nước, phản dân. Bà có cái khí phách, cái can đảm đương đầu với mọi nghịch cảnh bất cứ từ đâu tới.
Bà phát minh ra kiểu áo dài hở cổ và mốt chơi vòng đeo tay bằng ngọc thạch, chứ không mang nữ trang bằng kim cương hay bằng vàng.
Bà thường mặc áo dài màu trắng hay màu hồng nhạt. Không thấy bà mặc đồ đầm, sơ mi, quần tây, dù là chỉ thấy trên ảnh.
Những năm 1960, "Áo dài bà Nhu" là chiếc áo dài văn minh nhất Sài Gòn. Phụ nữ chê bai tư cách của bà trong chiếc áo dài hở cổ, nhưng không ai bảo ai, từ giới nữ sinh, sinh viên cho đến các mệnh phụ phu nhân đều ăn mặc theo kiểu áo dài đó.

Sau khi biết thủ đọan của Hoa Kỳ âm mưu lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, bà đã đơn phương độc mã cùng con gái Lệ Thuỷ qua Mỹ, diễn thuyết, họp báo... để tố cáo với thế giới ý đồ giết chết anh em ông Diệm hầu dễ bề mang quân Mỹ vô Việt Nam và nắm quyền chỉ huy quân đội.
Bà thừa biết rằng chống Mỹ ngay trên đất Mỹ thì tính mạng của bà coi như được treo bằng sợi chỉ mành. Coi như liều mạng để cứu nước.

Nhưng tiếc thay, sứ mạng của bà đã không thành.
Trong lúc bà và con gái đang còn ở Hoa Kỳ, bà được hung tin là chồng và anh chồng đã bị tàn sát một cách tàn nhẫn bởi lũ tướng lãnh tay sai ngu dốt. Và bà đã ra đi mà không bao giờ được về để thắp một nén nhang trên những nấm mồ của hai người thân yêu nhất của đời bà.
Vẫn biết đời là đau khổ, nhưng đau khổ như bà Ngô Đình Nhu đến thế là cùng.

• Chiến dịch bôi bẩn bà Ngô Đình Nhu.

Điều ghê tởm và bệnh hoạn nhất là bọn tiểu nhân cộng sản VN đã bịa đặt ra những chuyện vô cùng bẩn thỉu và hạ cấp để bôi nhọ bà.
Bọn bồi bút rẻ tiền vô nhân cách và vô văn hóa bảo bà đã từng “ngủ” với tướng Hinh, đã nói chuyện với nhau trên giường ngủ.
Thử hỏi: lúc đó, bọn chúng rúc ở chỗ nào mà nghe lén vanh vách như vậy? Bộ nằm ở gầm giường ư? Trong khi đó, tướng Nguyễn Khánh đã nói "nguyên cái chuyện được nắm tay bà Nhu đã là một chuyện vô cùng khó khăn".
Lại có những kẻ vô lương tâm lấy hình một cô gái khỏa thân, cắt đầu đi, sau đó kiếm một tấm hình bà Nhu ghép đầu bà Nhu vào hình khỏa thân, rồi in ra cả nghìn tấm, tung ra để bôi bẩn bà.
Sau đó, họ còn bịa chuyện bà Nhu bắt các bà trong hội Liên Đới Phụ Nữ phải chụp hình khỏa thân để bà Nhu giữ làm hồ sơ.

Và để đối phó với tất cả những điều bôi bẩn này, bà Nhu hòan tòan im lặng, theo đúng cái chủ trương của bậc quân tử: im lặng là khinh bỉ.

• Tư cách bà Ngô Đình Nhu.

Bà Nhu không những vừa xinh, vừa trẻ đẹp, mà còn giữ gìn gia phong nề nếp.
Khi cha Phước đến thăm, ông Nhu cùng vài người khác ngồi ở phòng khách, tôi thấy bà Nhu không dám ngồi mà chỉ đứng chắp tay vào nhau để trước bụng trong lúc chủ khách đàm đạo.
Đó là cử chỉ của những gia đình có lễ giáo nghiêm ngặt. Tôi không nói thêm cho bà cũng không nói bớt. Cung cách ấy, cử chỉ như thế, lễ giáo như thế, làm sao tôi có thể nghĩ xấu cho người phụ nữ này?

Cụ Đòan Thêm, một nhân vật rất thân cận với gia đình họ Ngô đã viết về bà Nhu như sau: ông đã làm sĩ quan tùy viên cho ông Cụ, kế cận ông Cụ ngày đêm. Trong 6 năm đó, ông chỉ gặp bà Nhu trên dưới 10 lần, vì hai ông bà ở khu bên kia dinh tổng thống, ít có tiếp xúc qua lại.
Ông nói bà Nhu là người có phong cách, lịch sự và đàng hòang. Đối với TT Diệm, bà không có thái độ lấn quyền hoặc ra vào văn phòng ông Diệm lúc nào thì vào như lời người ta đồn đãi. Khi ăn thì chỉ có các ông Diệm, ông Nhu, Đức Giám Mục Thục mới ăn ở nhà trên, còn bà thì không.

Ông Trần Cao Lĩnh, một nhiếp ảnh gia đã được chọn để chụp hình cho gia đình cố TT Diệm trong các buổi lễ chính thức, đã kể lại như sau:
Bà Nhu là loại phụ nữ không những có ăn học, có giáo dục, mà còn có phong cách quý phái, chừng mực lễ độ trong cư xử.

Bà không phải là người bờm xớp, cợt nhã, dâm đãng, mất nết như những lời bịa đặt của dư luận ác ý và bọn bồi bút cộng sản tiểu nhân.
Bà chẳng những nể nang, khép nép khi giáp mặt với TT Diệm, mà còn với Đức Giám Mục Thục và chồng của mình là ông Ngô Đình Nhu.
Nhưng bao nhiêu người có cơ hội tiếp xúc với bà Nhu, hiểu bà Nhu như ông Lĩnh, cụ Đòan Thêm, để rồi kính trọng nhân cách của bà?

Hãy nhìn lại kể từ tháng 11-1963 đến nay bà Nhu đã làm gì? Đã nói gì? Đã viết gì? Và đã sống như thế nào?

Cụ Cao Xuân Vỹ:
Kể từ sau tháng 11-1963, bà rút lui vào bóng tối. Không nói. Cắt đứt mọi liên lạc với mọi người, ngay cả những người trước nay từng là những người cộng tác với ông Diệm và Nhu.
Một vài người như các ông Cao Xuân Vỹ, Lê Châu Lộc đã có dịp gặp bà đều nhận thấy bà sống một cuộc đời ẩn dật, sống chết với quá khứ đó.
Kể như bà đã chết cùng với chồng và anh.
Sự im lặng của bà mang nhiều ý nghĩa: đắng cay và tủi hận.
Không những vậy, bà lại phải chịu đau khổ thêm một lần nữa khi bà mất đi cô con gái yêu quí Ngô Đình Lệ Thủy qua một tai nạn xe hơi ở Pháp.
Ai hiểu được tâm trạng và nỗi buồn, nỗi đau của bà gần 50 năm nay?

Và trong thời gian đó, bà đã sống đúng nhân cách một người phụ nữ và tư cách của một “Đệ Nhất Phu Nhân”.
Bà sống ẩn dật một thời gian ở Ý, rồi với số tiền do một nhà hảo tâm tặng, bà đã sang Pháp mua hai căn hộ, một để ở, một để cho thuê lấy tiền tiêu xài.
Ngày ngày bà đi bộ đi lễ nhà thờ, sau đó ở lại nhà thờ phụ giúp dọn dẹp lau chùi, lấy kinh nguyện làm lẽ sống.
Bà sống như một người tu hành, nằm đất, ăn kiêng, không xa hoa, không ăn diện xe xua. Niềm vui của bà là nhìn những đứa con lớn lên thành đạt, có cháu nội ngoại, và được thấy chúng giữ đạo, đi lễ hằng ngày.

Những năm tháng ấy đã tẩy rửa những điều hàm oan về tiền bạc, con người của bà. Những ai đã từng kết án bà thì hãy nhớ rằng: nếu bà là loại người tham tiền cố vị, không tư cách hay tệ hơn nữa là trăng hoa, mất nết… thì chúng ta đã thấy một bà Nhu sống buông thả, xa hoa, quen biết lung tung sau 11-1963.
Nhưng không. Chúng ta thấy một bà Nhu chui vào bóng tối, sống đơn sơ, giản dị, ở vậy thờ chồng, khi bà còn ở tuổi thanh xuân, mới 38 và còn thừa xinh đẹp.

Chỉ cần nhìn lại những tháng ngày sau 1963, tôi nghĩ thật mấy ai đã làm được như bà?
Một con người như thế, tài ba, xinh đẹp, giỏi giang, quý phái, lịch sự, và phải chịu bao điều đắng cay, sỉ nhục, bao điều tệ bạc, phản trắc về thế thái nhân tình, mà vẫn có thể giữ được nhân cách và chọn lối sống ấy không phải là dễ, không phải ai cũng làm được.
Ngay những kẻ thù oán chuyên đặt điều nói xấu bà cũng không bao giờ có được bằng cớ nhỏ nhoi gì để bôi nhọ bà.

Ai nghĩ xấu thì đó là việc của họ. Còn tôi thì không. Ai ghét thì cứ việc. Còn tôi thì không. Nói xấu một người thì dễ. Kính trọng được một người thì mới là điều khó.

Bà Nhu đã chết, nhưng thật ra thì bà đã chết hai lần: từ ngày ấy, khi bà chết cho ông Nhu và nền Đệ Nhất Cộng Hòa, và bây giờ, bà đã chết cho chính bà, cho cuộc sống hiện nay.

Nghĩ đến hai người phụ nữ danh tiếng tài sắc trong lịch sử Việt Nam cận đại là Nam Phương Hòang Hậu và bà Ngô Đình Nhu, tôi không khỏi có chút so sánh và ngậm ngùi, thương tiếc cho hai người phụ nữ tài sắc ấy mà số phận dành cho họ thật là đáng thương.

Xin ơn trên phù hộ cho linh hồn bà Nhu sớm được về nước Chúa để được xum họp với chồng, con, anh và những người thân yêu của bà.

(GS Trần Thừa Dụ, Sài Gòn trong tôi).
_________________________________

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT 
Bà Ngô Đình Nhu : Từ thời trẻ sôi động đến những tháng năm ẩn dật (Bà Trần Lệ Xuân, tức bà Ngô Đình Nhu.) 








Tin bà Trần Lệ Xuân tức bà Ngô Đình Nhu, người từng được coi là Đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hòa trước đây từ trần tại Roma cách đây đúng một tuần, ngày chủ nhật 24/4, đã khiến cho dư luận trong và ngoài nước hết sức chú ý. Sau cuộc đảo chính năm 1963, hầu như không ai biết gì về bà, vì bà sống ẩn dật, hầu như không có một tiếp xúc nào với thế giới bên ngoài. Người ta chỉ biết là bà đang viết một cuốn hồi ký.  

Sinh năm 1924 trong một gia đình danh gia thế phiệt, thân phụ là luật sư Trần Văn Chương, thân mẫu là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và là em họ của vua Bảo Đại, năm 19 tuổi bà lập gia đình với ông Ngô Đình Nhu. Khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, thì ông Nhu làm cố vấn chính trị, và vì ông Diệm độc thân nên bà Trần Lệ Xuân luôn là người đứng ra tiếp các phu nhân của các vị quốc khách.

Bà Trần Lệ Xuân cũng là dân biểu Quốc hội, chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên đới. Bà đã đưa ra đạo Luật gia đình cấm người đàn ông lấy hai vợ, Luật bảo vệ luân lý và thuần phong mỹ tục, đồng thời có nhiều hoạt động xã hội khác. Chiếc áo dài cổ hở do bà đề xướng, vào thời đó được gọi là « áo dài bà Nhu », cũng là một dấu ấn mà bà để lại đến ngày hôm nay. Là một phụ nữ tài giỏi, xông xáo, nhưng bà cũng có những phát biểu gây sốc làm cho không ít người bất bình.

Tháng 10/1963, bà và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định tố cáo âm mưu lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm của Tổng thống Kennedy và CIA. Nhưng ngày 1/11/63 đã xảy ra đảo chánh, ông Diệm và ông Nhu đều bị sát hại. Bà rời Mỹ với lời tuyên bố : « Tôi không thể sống ở Mỹ, đơn giản vì chính phủ Mỹ đã đâm sau lưng tôi ». Bà sống lặng lẽ ở Paris cho đến cách đây một năm sức khỏe yếu dần, thì sang Roma với người con lớn cho đến khi mất. Một trong những câu nói nổi tiếng của bà là : « Ai đã có người Mỹ là đồng minh thì chẳng cần phải có kẻ thù ».

Luật sư Trương Phú Thứ, người chịu trách nhiệm biên soạn và in ấn cuốn sách của bà Trần Lệ Xuân cho biết, theo dự định thì tác phẩm này sẽ được ra mắt vào năm 2012. Khi được hỏi, cuốn sách do chính bà viết ra hay có ai chấp bút cho bà, ông Trương Phú Thứ nói :


Bà viết ra tự tay bà viết ra chứ không có ai viết thay bà hết, vì bà không có liên lạc với bẩt cứ một người nào hết. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai : các con bà ở mỗi người một nơi. Bà viết cái này khi bà còn ở bên Paris, tức là khi sức khỏe của bà còn tốt. Bà viết trong căn phòng appartement có một mình bà thôi, thì bà đâu có nhờ ai viết được, bà tự viết lấy.

Tiếng Việt của bà thì kém lắm, tiếng Pháp rất là giỏi. Tiếng Pháp bà viết còn hơn cả những người có bằng cấp về văn chương Pháp ở Pháp. Tiếng Pháp của bà rất giỏi nhưng mà tiếng Việt thì kém lắm, thành ra bà phải viết bằng tiếng Pháp. Thế thì bà đưa cho mình, và mình có nhiệm vụ dịch ra tiếng Việt Nam.

Thưa anh, một nhân vật như bà Nhu thì chắc chắn nhiều người rất là trông chờ để biết vì mấy mươi năm nay không có tin tức gì của bà hết. Như vậy liệu cuốn sách đó có đáp ứng được mong đợi của người đọc không ?

Cái này thì tùy theo quan điểm của người đọc. Những người nào tò mò muốn biết về đời tư của bà như thế nào, hoặc thái độ đối xử của bà đối với những người đã gây ra những đau khổ cho bà, hoặc những người vu oan nói xấu bà này nọ, thì không có. Bà không đề cập đến chuyện đó, vì bà coi đấy là những chuyện không đáng để nói tới. Quyển sách của bà truyền đạt những suy tư, tư tưởng của bà đối với thân phận con người, đối với tạo hóa, và rất có thể là nhiều người đọc sẽ thất vọng lắm. Nhưng những cái gì của bà viểt ra thì mình sẽ đưa ra cho công chúng như vậy thôi, mình không thể nào thêm bớt được hết. Một dấu phẩy, một dấu chấm mình cũng không thay. Thứ nhất là bây giờ bà chết rồi mình phải tôn trọng cái đó một cách tuyệt đối.

Như vậy đây không phải là một cuốn tự truyện ?

Không phải là tự truyện mà cũng không phải là hồi ký. Thông thường người ta hiểu hồi ký là viết lại những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, những chuyện vui chuyện buồn, chuyện của một cá nhân của một con người. Thế nhưng bà đã quên hết rồi. Bà đã sống 48 năm từ khi lưu vong ra nước ngoài, trong một căn phòng, một chỗ ở rất nhỏ hẹp, sống một cách quá cô độc, không tiếp xúc, không có liên lạc với bất kỳ một người nào hết. Bà chỉ đi ra ngoài mỗi buổi sáng. Thời gian mà bà còn khỏe mạnh thì bà đi ra ngoài, đi lễ ở nhà thờ Saint Léon.

Lâu nay vẫn có nhiều dư luận trái chiều nhau về bà Trần Lệ Xuân. Như vậy trong sách có nói gì về những lời đồn đãi chung quanh tính cách của bà không?

Chuyện đó thì không có. Bà Ngô Đình Nhu hay bất kỳ một người nào trên thế gian này cũng có người ghét người thương. Không ai có thể nói là mình được tất cả mọi người thương mến, kính phục hết, cũng có người này gièm pha ba câu, người kia đố kỵ…Thế nhưng bà Nhu không hề động chạm, đề cập đến bất kỳ một chuyện lớn nhỏ nào như thế. Từ khi bà chọn một cách sống, ở một mình trong một căn phòng, tức là bà đã muốn quên hết, muốn bỏ lại đằng sau lưng tất cả. Những chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn bà bỏ hết. Bà sống như một người khổ tu, gần gần như một người khổ tu vậy.

Ngay cả vấn đề ăn uống, bà cũng chẳng có nấu nướng gì hết. Tôi thấy trong bếp của bà cũng chẳng có một cái nồi, cái chảo hay thìa muỗng gì hết. Trong tủ lạnh mở ra thì độc có một vài chai nước, chỉ có vậy thôi.
Thế thì bây giờ người ta hỏi bà ăn ở đâu, bà cũng phải ăn chứ ! Thì thường thường những người Pháp ở trong chung cư đó, họ biết bà như vậy nên thường một hai ngày họ nấu đồ ăn họ mang tới cho bà.

Còn nếu không thì bà sống như thế nào nếu bà không ăn uống gì ạ?

Bà ăn rất ít. Có một lần bà nói với tôi, đây nè anh Thứ à, hai ngày hôm nay tôi chưa ăn và uống gì. Thế rồi bà cười, bà nói là vì tôi không ăn uống nên tôi không có bệnh gì hết.

Nhưng phải nói là bà rất khỏe. Bà chỉ cảm thấy yếu từ đầu năm 2010. Mới đây thôi. Thứ nhất là vì cái tuổi già, đến đầu năm 2010 thì bà bắt đầu cảm thấy yếu. Nhưng mà cách đây chừng độ hai tháng, bà gọi điện thoại cho tôi, tiếng nói của bà vẫn còn rất là to, rất là khỏe. Bà cũng cười vui vẻ lắm trên điện thoại, thì tôi nghĩ là bà khỏe lắm. Thế nhưng mà sau đó thì vì tuổi già, sức khỏe sụt xuống một cách quá mau lẹ.

Thì bà cũng qua đời vì tuổi già thôi, chứ thật ra chẳng có bệnh tật gì. Có một cái vấn đề về sức khỏe là cái chân của bà bị gẫy từ xưa, thành ra đôi khi cũng hơi đau đau chút chút vậy thôi, nhưng không có đau đớn nhiều lắm. Ai đến tuổi già thì cũng bệnh như vậy thôi, cũng suy sụp như vậy thôi, chứ không phải riêng gì bà Nhu. Có nhiều người già phải nằm trên giường bệnh hết năm này qua năm khác. Nhưng mà bà Nhu nằm trên giường bệnh chưa đến một tháng, khoảng độ ba bốn tuần lễ vậy thôi. Bà đi một cách rất là bình an, như vậy thì tôi nghĩ cũng là một phước lành, một phúc đức của bà.

Và cũng có người thân chung quanh ?

À, các con cái thì như cô biết là bây giờ bà còn hai người con trai và một cô con gái. Anh con trai lớn là Ngô Đình Trác thì có vợ con, vợ anh người Ý. Còn cô con gái út là cô Ngô Đình Lệ Quyên thì chồng cũng là người Ý luôn. Nhưng con trai giữa là Ngô Đình Quỳnh thì sống độc thân một mình, không có vợ con gì hết, ông làm việc bên Bỉ.

Khi bà Nhu về La Mã, bà ở căn nhà của gia đình Ngô Đình Trác. Nhà đó cách thủ đô La Mã khoảng 10 cây số. Cái nhà đó là nhà trệt, không có tầng lầu, nhưng mà dưới có một cái tầng hầm. Gia đình ông Trác ở trên, và gia đình của cô Lệ Quyên ở dưới. Họ sống với nhau cả bao nhiêu năm trời rồi, rất là vui vẻ, rất là hòa thuận.

Khi bà yếu quá, ông Trác đưa vô trong nhà thương… Bên đó chắc là mấy người con cũng bận rộn với vấn đề lo tang lễ cho bà, không biết là ngày nào giờ nào nhưng mà tôi biết chắc chắn là sẽ tổ chức rất là kín đáo, trong gia đình mà thôi.

Giám đốc giáo xứ Việt Nam ở Paris, đức ông Mai Hữu Vinh có cho biết là nhiều người tới xin lễ cho bà…

Ở đây, ở California tối hôm qua cũng có làm một buổi lễ để cầu nguyện cho bà Nhu, và trong nhà thờ rất đông, vì họ cũng quý mến bà lắm. Và tôi có được thông báo là tiểu bang Oregon chiều thứ bảy này họ cũng xin lễ ở nhà thờ để cầu nguyện cho bà. Thôi thì bà chết như vậy mà được mọi người nhớ đến trong một cái ân tình như vậy, tôi cũng mừng cho bà lắm.

Vâng, thì thôi cũng tốt cho bà, với những sóng gió mà bà đã trải qua…

Ông và bà Ngô Đình Nhu, năm 1956 (DR).
Ông và bà Ngô Đình Nhu, năm 1956 (DR).

Bây giờ cô thấy nhé, một người đàn bà sống trong bốn bức tường nho nhỏ, trong một căn phòng nho nhỏ, một hai ngày thì còn chịu được. Bà sống như vậy 48 năm liền, tức là từ năm 1963 cho tới ngày bà qua đời. Thế thì bà sống bà chỉ còn có một cái hy vọng duy nhất thôi, tôi nói là hy vọng cũng không đúng, bà sống chỉ có một cái chờ đợi thôi, là đến một ngày nào đó được gặp lại người chồng của bà. Bà Nhu rất yêu mến và kính trọng ông Nhu.

Như cô biết là khi mà ông Nhu bị thảm sát như vậy, thì bà Nhu lúc đó mới có 39 tuổi. Một người phụ nữ 39 tuổi còn quá trẻ, nhưng mà bà vẫn ở vậy. Bà ở vậy để chờ đợi đến ngày gặp ông chồng. Và khi bà quá vãng ở cái tuổi 87, bên Việt Nam mình thì tính là 88, riêng cá nhân tôi thì tôi mừng cho bà, thấy đó là một sự giải thoát cho bà.

Nhưng một người phụ nữ trẻ đẹp, góa chồng lúc còn trẻ, ở cái tuổi đó mà đã từng nắm trong tay quyền lực rồi, đã nổi tiếng, thì chọn lựa một cuộc sống ẩn dật bao nhiêu năm có lẽ là không dễ.
Bởi vậy tôi mới nói là bà có một nghị lực rất là phi thường. Bà có nghị lực cao lắm. Chứ nếu ở một người bình thường có thể họ bị suy sụp về tinh thần, mà suy sụp tinh thần kéo theo suy sụp về thể xác. Tôi nghĩ là những người không có cái nghị lực như bà Nhu thì chắc sống không có lâu được như bà Nhu đâu. Mà bà từ hồi mà phải đi lưu vong ra ngoại quốc rồi đến khi bà chết là 48 năm, nửa thế kỷ chứ đâu phải một hai tháng gì.

Mà tại sao trước bao nhiêu dư luận như vậy bà lại im lặng ?

Vì bà đóng kín cửa, bà có nghe thấy dư luận gì đâu ! Bây giờ người ta có nói tốt hay nói xấu cho bà, bà cũng không nghe thấy. Bà đóng cửa kín không giao thiệp với ai, không biết gì hết. Thì tôi nói như hồi nãy là bà sống như một người nữ tu, mà nữ tu khổ hạnh lắm, chứ không phải nữ tu thường đâu. Bên đạo Công giáo có những dòng tu họ chỉ đóng cửa cầu nguyện với Chúa thôi, chứ chẳng có tiếp xúc với thế giới bên ngoài, thì bà Nhu cũng như thế. Đóng kín cửa không giao thiệp với ai, làm sao bà biết được ai nói xấu, ai nói tốt cho bà. Bà không biết !

Hồi đó bà vốn là người lăng xê thời trang áo dài cổ hở, người ta gọi là « cổ bà Nhu », nhưng mà khi anh tiếp xúc với bà thì anh có thấy bà ăn diện không ?

Không. Khi tôi tiếp xúc với bà thường thường thì bà hay mặc cái áo kimono của Nhật. Bà nói với tôi những cái áo kimono này là của một vài người bạn Nhật, mỗi năm họ gửi cho vài ba cái để mặc ở trong nhà.
Còn về cái áo khoét cổ, thì khi tôi nói chuyện với bà, bà nói ở Sài Gòn nóng quá - bà lấy hai ngón tay ra dấu như cái kéo - thì tôi cắt cái cổ đi cho nó mát. Bà nói là, tôi mặc như vậy thì Tổng thống không có bằng lòng. Tôi nghĩ là về sau thì nhiều người theo cái mốt của bà Nhu cũng mặc áo dài hở cổ, thì chắc là ông Tổng thống cũng chẳng để ý đến cái chuyện đó nữa.

Có vẻ như là vì bà Nhu lấy chồng khi còn trẻ quá, nên cả ông Diệm lẫn ông Nhu coi bà như một người em gái nhỏ thì phải ?

Có thể là đối với ông Nhu thôi, còn đối với ông Tổng thống là đâu ra đó, trên dưới lễ phép đàng hoàng. Một người thân cận với Tổng thống là nghị sĩ Lê Châu Lộc, vốn là tùy viên, cũng xác nhận mỗi lần bà Nhu muốn vào gặp Tổng thống là phải ăn mặc chỉnh tề, và phải xin sĩ quan tùy viên vào trình với Tổng thống. Tổng thống cho vào gặp thì mới được gặp, còn không thì bà vẫn vui vẻ ra về như thường. Tức là không có cái chuyện vì bà nhỏ tuổi mà bà hành xử thiếu tôn ti trật tự, vì gia đình của họ là một gia đình nền nếp, có trên có dưới, và rất là tôn trọng lẫn nhau. Thứ hai nữa là bà phải tôn trọng người anh chồng của bà là một vị Tổng thống chứ không phải là một người anh chồng thường. Thành ra mỗi lần bà muốn gặp hoặc là thưa trình với Tổng thống là phải có sự xếp đặt của các viên chức phụ giúp Tổng thống.

Bà có kể cho tôi nghe một câu chuyện. Hồi đó ông Tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ, thành ra mỗi một lần có các vị quốc khách đi với phu nhân đến Sài Gòn, thì người đứng ra tiếp đón các vị phu nhân đó chính là bà Nhu chứ không ai khác. Tôi nhớ bà là người rất giỏi giao thiệp, tiếng Anh tiếng Pháp cũng rất lưu loát. Hồi đó bà không có cái gì để mà chưng diện khi tiếp đón các phu nhân ngoại quốc. Không biết bà được ai đánh tiếng là có một bà vợ một ông bộ trưởng muốn bán một bộ vòng tay, nhẫn…với cái giá sáu ngàn đồng Việt Nam, họ nói là nếu bà cố vấn muốn mua thì họ bán lại cho. Bà Nhu không có tiền, bà trình Tổng thống, ông thấy chuyện đó cũng được nên lấy tiền lương của ông cho bà để mua bộ nữ trang đó, nhưng với điều kiện là bắt người bán phải viết một tờ giấy trình bày lai lịch của nữ trang và quyền sở hữu. Bà nói với tôi đó là lần duy nhất Tổng thống cho tiền, và bây giờ bà cũng không biết những nữ trang đó thất lạc ở đâu.

Bà có hay kể cho anh những chuyện tương tự vậy không ?

Thì khi trong câu chuyện hễ bà nhớ đến cái gì, hay khi mình hỏi cái gì thì bà cũng nói. Đại để là khi nói chuyện với bà tôi tuyệt đối không nói về những vấn đề chính trị, hay những ngày bà còn ở Dinh Độc Lập ; những chuyện có thể gây khó chịu hoặc đau khổ cho bà tôi không nói tới. Thường thường là những chuyện mưa nắng thôi chứ chẳng có gì quan trọng hết.

Vì những gì bà muốn tâm sự là với khối người Việt Nam, cả cộng đồng người Việt Nam, chẳng những ở ngoại quốc mà cả trong nước Việt Nam nữa, thì bà đã viết trong cuốn sách của bà rồi. Thành ra mai mốt khi nào quyển sách đó ra, người đọc sẽ có những phán đoán, nhận xét về những tư tưởng của bà.

Trong sách bà không đề cập đến những vấn đề chính trị, những vấn đề mà đa số người muốn biết. Thí dụ như thái độ của bà đối với những người cầm khẩu súng mà bắn vào đầu chồng bà như thế nào. Có nhiều người nghĩ là bà sẽ chửi rủa những người kia, sẽ nói nặng lời với họ, nhưng tuyệt đối bà không nói một câu. Bà không để ý tới những chuyện đó nữa. Bà muốn quên, bà bỏ lại đằng sau lưng tất cả, và đặc biệt là bà muốn tha thứ tất cả.

Bà muốn tha thứ là vì bà là người rất sùng đạo. Bà nói, Chúa đã tha thứ cho bà, thì bà phải tha thứ cho tất cả mọi người, đơn giản vậy thôi. Bà không có thù oán, và không bao giờ nói nặng nhẹ đến những người đã gây khổ đau cho gia đình bà, không nói tới một câu.

Như vậy đây không phải là hồi ký mà gần như là những tâm sự, suy tư về cuộc đời ?

Như tôi đã nói, đó không phải là một hồi ký thông thường. Thành ra những người nào muốn tò mò chuyện thâm cung bí sử, những oán trách… thì không có. Đừng trông chờ những cái đó trong quyển sách của bà. Khi anh Lê Châu Lộc trả lời phỏng vấn của một đài truyền thanh, thì anh nói một câu rất đúng : đọc quyển sách đó anh có cảm tưởng như sách của một vị nữ tu. Nhưng quyển sách của bà tôi nghĩ người nào mua về đọc thì họ sẽ giữ lại, sẽ nghiền ngẫm, đọc lui đọc tới để mà hiểu.

Nhưng dù sao bà Nhu cũng là một chứng nhân của lịch sử, và có những chuyện chỉ có người trong cuộc biết, nếu bà ôm cái bí mật đó theo thì có uổng không ?

Tượng Hai Bà Trưng ở bến Bạch Đằng, Saigon, bị cho rằng giống khuôn mặt bà Trần Lệ Xuân và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy, đã bị đập bỏ khi bà đi lưu vong ở nước ngoài (DR).
Tượng Hai Bà Trưng ở bến Bạch Đằng, Saigon, bị cho rằng giống khuôn mặt bà Trần Lệ Xuân và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy, đã bị đập bỏ khi bà đi lưu vong ở nước ngoài (DR).

Bây giờ có cái gì là bí mật nữa đâu. Tất cả mọi chuyện đã phơi bày ra ánh sáng hết cả rồi. Ai giết ông Tổng thống, ai giết chồng bà ấy, những thế lực nào đứng đằng sau cuộc đảo chánh, hoặc là bà có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu đồn điền…thì người ta biết hết cả rồi, chả có gì gọi là bí mật nữa.

Bà có đặt tựa cho cuốn sách đó chưa ?

Có. Bà lấy một cái dẫn dụ trong Cựu Ước để đặt tựa cho cuốn sách.

Và anh sẽ là người dịch ?

Tôi có sự giúp đỡ rất quý báu của anh Nguyễn Kim Quý, rất giỏi tiếng Pháp. Anh có bằng tiến sĩ văn chương Pháp, và là giáo sư Pháp văn của các trường đại học ở Mỹ. Anh giúp tôi về chuyện đó.

Khi viết cuốn sách này bà Nhu có ước vọng gì, dành cho người Việt hay cho độc giả các nước ?

Bắt đầu cách đây khoảng chừng mười năm, lần đầu tiên tôi gặp bà cố vấn Ngô Đình Nhu, thì bà viết bằng tiếng Pháp, và có ý định sau khi viết xong thì bà sẽ tự tay dịch sang tiếng Anh và tiếng Ý. Thế nhưng về sau có thể có nhiều lý do, như là sức khỏe không được tốt như hồi trước, hoặc là bà bận bịu, nên bà chỉ viết bằng tiếng Pháp mà thôi. Mà ngay cả bản bằng tiếng Pháp thì cũng còn phần cuối dang dở. Thành ra để vài ba tuần lễ nữa, khi gia đình lo tang lễ cho bà xong thì lúc đó tôi sẽ hỏi để lấy cái phần cuối cùng đó.

Có dài lắm không ạ ?

Dài ! Nguyên bây giờ thì cũng đã gần 500 trang rồi, nhưng in ra thì tôi nghĩ khoảng 300 trang thôi vì chữ viết của bà to.

Bà Nhu muốn quyển sách này đến với độc giả khi bà còn sống, chứ không phải là khi bà chết rồi. Thế nhưng khi còn sống bà chưa làm được chuyện đó, thành ra bây giờ khi bà mất mình giúp đỡ để hoàn thành giấc mộng của bà là đưa quyển sách, đưa tư tưởng, suy tư của bà đến với độc giả, đến với người Việt Nam.

Anh dự định cho xuất bản ở đâu ?

Tôi sẽ in và phổ biến bên Mỹ này thôi, còn đương nhiên là sau đó tôi sẽ gởi đi những quốc gia có cộng đồng người Việt Nam đông như là Anh, Pháp, Đức…

Các con của bà có ý kiến gì về cuốn sách này không ?

À, hầu như là không. Vì họ lớn lên ở ngoại quốc, họ tôn trọng tính độc lập của từng cá nhân. Các con của bà thì đương nhiên rất là yêu mến và kính phục bà, nhưng họ không có xen vào những chuyện mà bà làm.

Và những người con của bà Nhu có vẻ cũng kín tiếng như bà ?

Thì như cô thấy đó, từ hồi năm 1963 cho đến giờ các con của bà có ai ra ngoài công chúng, có nói năng gì đâu, không ! Họ rất là im lặng, y như bà vậy thôi. Họ cũng giữ một cái khoảng cách quá xa xôi đối với thế giới bên ngoài

Bà Trần Lệ Xuân (DR).
Bà Trần Lệ Xuân (DR).

Qua thời gian tiếp xúc với bà Nhu, anh có cảm tưởng như thế nào về bà ?

Cảm tưởng của tôi thì cũng như rất nhiều người đã nhận xét về bà. Bà là một người đàn bà tài giỏi, can đảm, dám nói và dám làm. Chẳng hạn một chuyện trong quá khứ, khi bà đưa ra đạo luật về gia đình ở Việt Nam, đề cao nhân phẩm của người phụ nữ. Đạo luật đó được Quốc hội biểu quyết thông qua, cấm đàn ông lấy hai vợ, và những vấn đề khác nữa, để nâng cao đời sống của người phụ nữ Việt Nam lên. Mặc dầu hồi đó có những sự chống đối nhưng bà vẫn can đảm vượt qua.

Một phụ nữ như thế mà chọn cuộc sống ẩn dật có lẽ không dễ ?

Tôi thấy là khi chọn lựa một cuộc sống như vậy, chắc là bà phải có những suy nghĩ và quyết định rất là khôn khéo. Từ khi mà bà phải sống lưu vong ở ngoại quốc sau vụ đảo chánh ngày 1/11/63 ở bên Việt Nam, gần như không có ai nói tới bà nữa. Nhưng không phải là người ta sẽ để cho bà yên. Trường hợp nếu bà có một cái manh động, một lời nói, cử chỉ sao đó, đương nhiên họ sẽ nói tới rất nhiều.

Hồi xưa lúc chồng bà chết rồi thì bên Mỹ Tổng thống Kennedy cũng bị giết, thì bà Kennedy cũng là góa phụ. Thế nhưng bà Kennedy về sau đi đến đâu thì người ta theo dõi đến đó, người ta có những bản tường trình đầy đủ, chuyện xấu cũng có mà chuyện tốt cũng có. Thế nhưng đối với bà Nhu thì tuyệt nhiên không, vì bà không đi đâu hết ! Bà tự giam hãm mình trong một căn phòng. Ngay cả buổi sáng đi lễ bà cũng mặc quần áo rất kín đáo, đội mũ, che đầu… để không ai nhận ra bà hết.

Về phần ông linh mục ở nhà thờ Saint Léon, bà đã đi lễ ở nhà thờ đó nhiều năm rồi mà về sau ông mới biết đó là bà Ngô Đình Nhu. Ngay cả sau khi lễ xong bà ở lại dọn dẹp, trang hoàng nhà thờ thì ông cũng nghĩ đó là một giáo dân bình thường thôi. Mãi mấy năm sau, không biết người nào nói với ông thì ông mới biết !

Cũng có nhiều người muốn có một tấm hình của bà lúc về già, nhưng tôi nghĩ là chẳng có ai chụp được cái hình nào hết. Đương nhiên là bà phải già đi, nhưng trông vẫn còn khỏe lắm và vui tươi. Tôi có nhận xét, mỗi lần bà cười trông bà trẻ lắm, làm tôi nhớ lại những hình ảnh mà tôi được coi trên báo chí, trông rất trẻ !
Khi bắt đầu cuộc sống lưu vong ở nước ngoài từ năm 1963, bà không có một đồng trong túi…

Như vậy làm sao bà mua được hai căn nhà ở Paris ?

Hai căn nhà là mãi sau này, do một bà bá tước người Ý cho. Mà bà này cho rất là kín đáo, bà Nhu không biết. Thì bà Nhu có một số tiền rất lớn, tôi không biết là bao nhiêu nhưng mà căn hộ đó dù ở trên tầng lầu thứ 11 nhưng cái tòa nhà ở khu đó đắt lắm. Bà nhờ một ông cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle mua giùm hai cái appartement.

Có nhiều người đặt câu hỏi, vì sao lại có một số tiền trên trời rớt xuống như vậy, thì vấn đề có nguyên do của nó. Tức là Ngô Đình Trác, con trai lớn của bà lấy một cô vợ người Ý, mà gia đình cô này là một trong những gia đình thế phiệt, vọng tộc, giàu có nhất của nước Ý, thì từ chỗ đó mà ra. Người ta thấy bà sống vất vưởng không có nhà cửa thì có một người cho một số tiền nhưng ẩn danh, không nói cho bà Nhu biết. Mãi đến bốn năm sau, bà kia chết thì bà Nhu mới biết đó là người đã cho mình tiền để mua nhà.

Xin phép được tò mò thêm một câu, tên đề trên hộp thư và interphone tại tòa nhà nơi bà sống là bà Trần Lệ Xuân hay là bà Ngô Đình Nhu ?

Tôi nghĩ có thể bà ghi tên trên hộp thư là bà Ngô Đình Nhu, vì mỗi lần tôi gửi sách cho bà thì tôi đề là Madame Ngô Đình Nhu, bà đều nhận được hết.

Xin cám ơn luật sư Trương Phú Thứ từ Hoa Kỳ đã vui lòng dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ hôm nay về bà Trần Lệ Xuân tức bà Ngô Đình Nhu./-

Sunday, 16 October 2022

 QUA MỘT ÍT TÀI LIỆU CŨ TÌNH CỜ ĐƯỢC HÂM NÓNG GẦN ĐÂY VỀ HỒI KÝ CỦA BÀ NGÔ ĐÌNH NHU - NHIỀU NGƯỜI RẤT THẮC MẮC CẶP BÀI TRÙNG "TRƯƠNG PHÚ THỨ - NGUYỄN KIM QUÝ " LÀ AI? BÀ CON HỌ HÀNG NHƯ THẾ NÀO VỚI BÀ NGÔ ĐÌNH NHU? HAY LÀ NHÂN CƠ HỘI NÀO MÀ TIẾP XÚC ĐƯỢC VỚI BÀ NHU ? HAY ĐÂY CHỈ LÀ NHỮNG GIỞ TRÒ KIẾM ĂN BẨN Ở HẢI NGOẠI THEO KIỂU THÔNG MINH ĐỘT XUẤT CỦA VIỆT CỘNG TRONG NƯỚC? ĐÃ CÓ CHÚT ÍT BẰNG CHỨNG TRƯƠNG PHÚ THỨ KHÔNG PHẢI LÀ TÊN THẬT - HÌNH NHƯ ANH NẦY CÓ DIPLOMA VỀ BUSINESS- MỞ VĂN PHÒNG KHAI THUẾ, DI TRÚ VÀ XƯNG LUÔN "LUẬT SƯ" CHO ĐỦ BỘ- HẮN KHÔNG QUÊN KHOE NGUYỄN KIM QUÝ NÀO ĐÓ LÀ TIẾN SĨ VĂN CHƯƠNG PHÁP - KHÔNG HIỂU VÀO THỜI KỲ NÀO ? KHÔNG LẼ THỜI PHÁP THUỘC? CÀNG KHÔNG LẼ SAU 1975 ? NẾU SAU 1975 SAO KHÔNG VÀO DẠY TRONG SORBONNE MÀ QUA LANG THANG BÊN MỸ LÀM GÌ? ./-Mt68

_________________

Đi tìm bà Nhu,

gp ông Đi úy  

Trn Giao Thy

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuy nhiên, để biết bà Nhu nghĩ và viết những gì về chính trường Việt Nam thời Đệ nhất Cộng hòa, e rằng vẫn là điều không dễ tìm thấy trong cuốn La République du Viêt-Nam et les Ngô-Ðình suivi des mémoires posthumes de Madame Ngô-Ðình Nhu vì, theo ông Ngô Đình Quỳnh, phần hồi ức của bà Nhu viết từ 1963 ‟có phần huyền bí”.

2/11/1963, ngày thứ hai của cuộc đảo chánh, ngày phe đảo chánh giết Tổng thống Ngô Đình Diệm và em ông, ông Ngô Đình Nhu. Khi đó bà Trần (Thị) Lệ Xuân, và cô Ngô Đình Lệ Thủy – vợ và con của ông Nhu – đang ở khách sạn Beverly Wilshire ở Los Angeles, California trong chuyến đi Photo1: VIETNAM – SEPTEMBER 1 1: Madame Dinh Nhu Ngo (C) taking to the press at the airport as she is leaving for Europe. (Photo by Larry Burrows/Time & Life Pictures/Getty Images. The LIFE Picture Collection)‟giải độc dư luận các nước Âu Mỹ” từ đầu tháng 9(1).

VIETNAM – SEPTEMBER 11: Bà Nhu (C) trả lời báo chí tại phi cảng Tân Sơn Nhất trước khi sang châu Âu. Nguồn ảnh: Larry Burrows/Time & Life Pictures/Getty Images. The LIFE Picture Collection

Vào thời điểm đó, người viết chưa có một khái niệm rõ rệt về chính trường cũng như các nhân vật chính trị miền Nam Việt Nam dù có nghe nói đến họ. Trong số đó, bà Trần Lệ Xuân (từ đây sẽ là ‟bà Nhu”) là một nhân vật được đề cập đến khá nhiều, được nhiều người ưa, nhưng cũng lắm kẻ ghét – kể cả những người chưa khi nào tiếp xúc với bà.

Bà Nhu qua đời ngày 24 tháng Tư, 2011 tại Rome.

Hồi ký của bà Nhu

Vì nguồn và tài liệu cũng quan điểm của người trong cuộc vẫn là những phần tử quan trọng giúp cho người đời sau tìm hiểu lịch sử. Nhưng những ai muốn tìm hiểu quan điểm của những nhân vật chính trong lịch sử cận đại ở miền Nam Việt Nam, trong khoảng 1955–1963, đều gặp một trở ngại không nhỏ là không có hồi ký của những nhân vật chính trong cuộc: ba anh em Ngô-Đình (Tổng thống Diệm, ông Nhu và ông Cẩn đều đã bị giết chết); bà Nhu sống cuộc sống lưu vong ẩn dật từ 1963, trừ một cuộc phỏng vấn (52 phút) trong chương trình Vietnam: A Television History năm 1982;

Nếu có, ‟Hồi ký của bà Nhu”, sẽ là một tài liệu nói lên quan điểm của một nhận vật có ảnh hưởng không ít trong giai đoạn lịch sử đó.

Đã hơn một nửa thế kỷ trôi qua, những gì người viết biết về bà Nhu đều từ những bài viết, những bản tin, bài báo hình ảnh và video. Về những bài viết bằng tiếng Việt, có lẽ Trương Phú Thứ là tác giả duy nhất có tiếp xúc, gặp gỡ bà Nhu sau năm 1963. Phần còn lại, là những cuốn sách, bản tin, bài báo, phỏng vấn của báo giới và tác giả Mỹ.

Trong bài Chuyện trò với Bà Ngô Đình Nhu(2) viết sau lần gặp bà tại Pháp (2002), tác giả có đề cập đến ‟cuốn sách của bà” (Nhu) viết bằng tiếng Pháp, tự dịch sang tiếng Anh và tiếng Ý, và sẽ được phát hành – cả bản tiếng Việt (do người khác phụ trách dịch thuật) – cùng lúc tại nhiều nơi trên thế giới.

Đến 2007, tác giả Trương Phú Thứ viết rõ hơn trong bài ‟Đây là sự thật”(3):

‟Rất nhiều người mong đợi cuốn sách này. Sự thật là bà Nhu có viết một cuốn sách khá dầy. Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ý. Một vị linh mục cao tuổi người Việt ở Paris được bà Nhu nhờ dịch sang tiếng Việt nhưng vị linh mục này đã qua đời khi vừa bắt tay vào công tác dịch thuật. Do vậy đến nay bản tiếng Việt vẫn chưa hoàn tất. Điều cần nói tới là cuốn sách mà nhiều người đang mong đợi không phải là một cuốn hồi ký.”

Tuy nhiên ở một bài viết khác, Có Hay Không ‟Hồi ký” Của Bà Ngô Đình Nhu?(4), năm 2011, ông Trương Phú Thứ khẳng định,

‟Bà Nhu có viết ‘hồi ký’ không? Câu trả lời chắc chắn và rõ ràng nhất là KHÔNG, hoàn toàn không có cái gọi là “hồi ký Bà Nhu” như nhiều lời đồn đại và cũng là trông chờ của nhiều người.”

Sau khi bà Nhu qua đời, ông Trương Phú Thứ, trong cuộc trao đổi với báo Người Việt(5) năm 2011, cho biết,

“Nếu bà còn sống, chúng tôi dự định sẽ xuất bản sách vào khoảng tháng 9, tháng 10 năm nay. Nhưng giờ bà đã mất, thời gian ra mắt quyển hồi ký có thể phải trễ hơn.”

Nhưng thay vì sẽ xuất bản bằng 4 thứ tiếng là Anh, Pháp, Ý và Việt, như đã nói trước đó, ông Trương Phú Thứ cho biết bản tiếng Việt do chính ông và ông Nguyễn Kim Quý chuyển dịch, và “Hồi ký của bà Nhu sắp tới sẽ chỉ xuất bản bằng tiếng Việt.”

Cho đến nay, đầu năm 2014, cuốn “Hồi ký của bà Nhu” bằng tiếng Việt vẫn chưa phát hành.

Tuy nhiên, vào đầu tháng 11, 2013, nhà xuất bản L’Harmattan đã công bố buổi ra mắt cuốn sách ‟Việt Nam Cộng Hòa và gia đình Ngô Đình viết theo Hồi ký di cảo của bà Ngô Đình Nhu” tổ chức vào lúc 4 giờ chiều ngày 2 tháng 11, 2013 tại tại Giáo sứ Việt Nam (số 38 đường des épinettes, Quận 17, Paris). Cuốn sách viết bằng tiếng Pháp do hai con của bà Nhu, ông Ngô Đình Quỳnh và bà Ngô Đình Lệ Quyên (†2012), cùng Jacqueline Willemetz hiệu đính.(6)

Trong buổi ra mắt sách, trả lời phóng viên Tường An đài RFA, ông Ngô Đình Quỳnh nói,

‟Cuốn sách được xuất bản hôm nay có một phần hồi ức của Mẹ tôi được ghi chép từ năm 1963. Đồng thời chúng tôi có ý muốn soi sáng một phần của lịch sử hãy còn mù mờ. Một số sai lầm về hình ảnh hai anh em họ Ngô mà cả bên Tây Phương lẫn đảng Cộng sản Việt Nam đã lưu truyền. Từ quyển sách này chúng tôi muốn đem lại cái nhìn đúng đắn hơn, đồng thời có phần đóng góp của Mẹ tôi với nhãn quan có phần huyền bí của Bà. Thế thôi!”(7)

Nguồn: L’Harmattan

Nguồn: L’Harmattan

Như thế, đến nay, quan điểm của hậu duệ dòng họ Ngô-Đình đã được công bố qua cuốn sách nêu trên. Tuy nhiên, để biết bà Nhu nghĩ và viết những gì về chính trường Việt Nam thời Đệ nhất Cộng hòa, e rằng vẫn là điều không dễ tìm thấy trong cuốn La République du Viêt-Nam et les Ngô-Ðình suivi des mémoires posthumes de Madame Ngô-Ðình Nhu vì, theo ông Ngô Đình Quỳnh, phần hồi ức của bà Nhu viết từ 1963 ‟có phần huyền bí”.

Trong buổi ra mắt sách và tưởng niệm cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu ở Paris, người ta không thấy có mặt ông Ngô Đình Trác. Dường như ông Trác, từ lâu rồi, đã quyết định không tham gia vào các vấn đề và/hay với người có liên quan đến quá khứ của Việt Nam. Như thấy trên bìa cuốn La République du Viêt-Nam et les Ngô-Ðình Suivi des mémoires posthumes de Madame Ngô-Ðình Nhu chỉ có tên ông Quỳnh, bà Lệ Quyên và bà Willemetz, một người bạn của gia đình.

Chính trị tự nó đã không dễ hiểu vì những tròng tréo phức tạp nhưng vẫn có thể truy tìm và hiểu được. Hồi ức ‟có phần huyền bí” ắt không nằm trong khả năng đọc và hiểu của nhiều người. Và như thế, đa số người đọc La République du Viêt-Nam et les Ngô-Ðình suivi des mémoires posthumes de Madame Ngô-Ðình Nhu, có lẽ chỉ có thể biết được quan điểm của ông Quỳnh và bà Lệ-Quyên về cha và bác của họ trong thời đệ nhất Cộng hòa.

1963

Trở về quá khứ; tháng 8, 1963 bà Nhu, một Phật tử trở thành Ki-tô hữu khi lập gia đình, viết cho tờ New York Times:

“I would clap hands at seeing another monk barbeque show, for one cannot be responsible for the madness of others.”(8)

‟Tôi sẽ vỗ tay coi một màn nướng sư khác, vì không ai phải chịu trách nhiệm về sự điên rồ của những người khác.”

‟What have the Buddhist leaders done cooperatively? The only thing they have done… They have barbecued one of their monks whom they have intoxicated, whom they have abused the confidence. Even that barbecuing what done not with self–sufficient means because they used imported gasoline.”

‟Giới lãnh đạo Phật giáo đã làm gì để hợp tác? Điều duy nhất họ đã làm… Họ đã nướng môt ông sư của họ, người mà họ đã đầu độc, người mà họ đã làm mất sự tự tin. Ngay đến cuộc nướng sư đó cũng không thực hiện với phương tiện tự túc vì họ đã sử dụng xăng dầu nhập cảng.”

Bà Nhu và Lệ Thủ tại Fordham University. Nguồn: A Television History, ABCNewsTrong cuộc nói chuyện ngày 11/10/1963 tại Fordham University, một đại học tư với truyền thống Dòng Tên ở New York, bà Nhu cho biết không gì hữu hiệu hơn những ngôn từ nhạo báng bà đã dùng như ‟nướng sư”, ‟vỗ tay” để chận đứng những sự kích động phạm pháp [xúi người tự thiêu] và bà đã thành công trong trách nhiệm, cứu được mạng người bằng những lời nhạo báng đó.(9)

 

Bà Nhu và Lệ Thủ tại Fordham University. Nguồn: A Television History, ABCNews

Ngày 1 tháng 11, khi cuộc đảo chánh đang diễn ra ở Sài Gòn, đoạn video của đài truyền hình ABC(10) ghi lại phần bà Nhu trả lời báo giới ở khách sạn Beverly Wilshire như sau:

‟You know… it is not the first time (laugh) it is not the first time. So I prefer to wait and see.”

‟You believe the events described are true?”

‟Oh, I believe that all the devils of the hell are against us. But I believe that we shall triump, we wil triumph finally.”
‟Will you seek political asylum in this country if the coup is successful?”

‟Never.”
‟Why?”
‟No, because I can not stay in the country of people who have stabbed me, my government in time of war.”
‟Madame Nhu do you have…”

Ms. Le Thuy spoke inaudibly, reporter was interrupted by Madame Nhu,

‟No, I do not think that it will succeed. You can be sure that I am sure that it will never succeed.”
‟You hear from my husband? I know, I know only that he expected this coup.”
‟OK, we will have to break it up now.”

 – Các ông biết mà… đây không phải là lần đầu. Vì thế tôi sẽ đợi xem sao.
– Bà tin rằng vụ việc đang xảy ra là thật chứ?
– Ồ, tôi tin rằng tất cả đám quỷ sứ ở địa ngục chống lại chúng tôi; nhưng tôi tin rằng chúng tôi sẽ toàn thắng, cuối cùng chúng tôi sẽ thắng.
– Bà sẽ xin tị nạn chính trị tại đây không nếu cuộc đảo chánh thành công?
– Không bao giờ.
– Tại sao?
– Không là vì tôi không thể ở lại một đất nước đã đâm sau lưng tôi, và chính phủ của tôi. – Bà Nhu, bà có…

Lệ Thủy nói với bà Nhu (nghe không rõ) và bà ngắt lời ký giả,

– Không, tôi không tin là cuộc đảo chánh sẽ thành công. Các ông có thể chắc rằng tôi tin chắc là nó sẽ không thành công. Ông nghe tin của chồng tôi? Tôi biết, tôi chỉ biết rằng ông ấy chờ đợi cuộc đảo chánh này…

Ngày 3 tháng 11, 1963, cũng tại khách sạn Beverly Wilshire, bà Nhu họp báo và đọc một tuyên bố viết sẵn. Bà nói với báo chí rằng người Mỹ phải chịu trách nhiệm về cuộc đảo chính, ‟Những ai có Mỹ là đồng minh không cần có kẻ thù”; bà phủ nhận tin chồng bà và Tổng thống Ngô Đình Diệm đã tự sát vì đó không phải là lựa chọn của Ki-tô hữu.(11)

Ngày 17/11/1963 bà Nhu và Ngô Đình Lệ Thủy rời Los Angeles đi Rome để gặp lại Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh, và Ngô Đình Lệ Quyên, bắt đầu cuộc sống lưu vong.(12)

Từ ngày đó đến khi qua đời bà Nhu chỉ hai lần lên tiếng với báo giới và công chúng Hoa Kỳ. Lần thứ nhất là cuộc phỏng vấn (52 phút) trong chương trình Vietnam: A Television History năm 1982.

Lần thứ hai, vào năm 1986 sau khi ông bà Trần Văn Chương bị con trai, Trần Văn Khiêm – em bà Nhu, giết chết ở ngoại ô Washington, D.C. Trong vụ giết người này, bà Nhu đồng ý với ông Khiêm, tin rằng có một thế lực (do con rể và bà [Ngô Đình] Lệ Chi Oggeri chủ mưu) muốn bịt miệng ông Khiêm. Bà Nhu tin rằng cha mẹ của bà chết vì cái chết tự nhiên, ‟Đây là chuyện gia đình” là tuyên bố sau cùng của bà Nhu với báo chí.(13)

Trong cuộc phỏng vấn(14) năm 1982 bà Nhu lập luận rằng chính quyền Diệm là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Việt Nam, do đó, Hoa Kỳ phải trả giá mà họ đã phản bội, đã ‟chặt đầu”, chính phủ Ngô Đình Diệm. Bà Nhu bàn về cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 do cộng sản giật dây và kết quả của Hiệp định Paris. Bà nói về Tổng thống Diệm và ông Ngô Đình Nhu cũng như hỗn danh ‟Dragon Lady” và vai trò của bà trong chính phủ Ngô Đình Diệm.

‟Vai trò của tôi, thật quá khó để xác định. Có thể nói, tôi như một con mèo con bị Chúa nắm cổ ném vào một đấu trường với những con sư tử; nhưng tôi tin rằng vì tôi đã được sinh ra dưới sao Sư tử [Leo, 22 tháng 8 –TGT], và tôi tin rằng tôi có thể sống chung với chúng….”

Về việc bà đã vui sướng khi các tu sĩ tự thiêu, bà Nhu nói,

‟Với những người điên vì sự vinh quang, vinh quang sai lạc, họ chấp nhận bị đánh thuốc mê và để bị đốt cháy đến chết vì những quyền mà chưa bao giờ bị bất cứ ai xâm phạm và [tôi] phải làm gì để ngăn chặn họ chấp nhận bị sát hại vì các cuộc biểu tình. Việc duy nhất tôi có thể làm lúc đó là nhạo báng họ… vì luôn luôn có những người điên vì sự vinh quang sai lạc… Tôi phải làm ngược lại.”

Về cái chết của Tổng thống Diệm và ông Ngô Đình Nhu:

‟Tôi không muốn lên án ai cả… Trách nhiệm thuộc về chính phủ Kennedy… Cuộc ‟chặt đầu” Việt Nam không thể xảy ra nếu không có phép của Tổng thống [Mỹ]. Dường như, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Tổng thống Kennedy, nhưng thực tế – Tôi không biết. Sự thật – Tôi không biết. Tôi muốn biết.”

Cuối cùng, bà Nhu kể lại nỗ lực của ông Ngô Đình Nhu trong việc tiếp xúc với Bắc Việt,

‟Vì cộng sản không làm gì được; thay vì leo thang chiến tranh họ đã gởi người đến nói chuyện với chồng tôi; rồi họ lật lọng nói là chồng tôi đi nói chuyện với họ. Đó là nói láo. Không đúng chút nào. Họ là người đi bước đầu.”(14a)

Và sự kiêu ngạo của Hoa Kỳ trong việc can thiệp vào nội bộ Việt Nam đã đưa đến kết quả ngày 1/11/1963.

Trong khoảng từ 1963 đến nay cũng có nhiều bài và hai cuốn sách tiếng Việt viết về bà Nhu; một là cuốn tiểu thuyết ‟Đệ nhất phu nhân” của Hoàng Trọng Miên đăng báo (1965, 1988) dưới hình thức truyện dài; hai là Trần Lệ Xuân. Giấc mộng chính trường của Phan Thứ Lang, NXB Công An Nhân Dân (1998, 2005). Đến đây chấm dứt phần nói về hai cuốn sách tiếng Việt viết về bà Nhu.

Lời khen tiếng chê

Như đã biết, bà Nhu là một nhân vật gây nhiều tranh cãi, được nhiều người ưa, nhưng cũng lắm kẻ ghét – kể cả những người chưa khi nào tiếp xúc với bà. Sau đây là vài nhận định khen/chê.

‟According to the New York Times of August 22, she has taken the lead in legislating morality by outlawing adultery, polygamy and concubinage, but she has not been very kind to her own parents. According to the Times, she has described her mother as ‟a fanatic” and her father as a coward.”(15)

‟Theo tờ Nữu Ước Thời báo hôm 22 tháng Tám, bà Nhu đã mở đường làm luật về đạo đức, đặt ra ngoài vòng luật pháp việc ngoại tình, tục đa thê, nhưng bà ấy cũng không tử tế gì lắm đối với chính cha mẹ mình. Theo tờ Thời báo thì bà Nhu mô tả mẹ mình là ‟một kẻ cuồng tín” và gọi cha của bà là ‟một kẻ hèn nhát”.

[Linh mục John B. Sherrin, C.S.P., Christian Strong Woman? Catholic Northwest Progress, September 6, 1963, trang 4]

“That goddamn bitch. She’s responsible for the death of that kind man. You know, it’s so totally unnecessary to have that kind man die because that bitch stuck her nose in and boiled up the whole situation down there.”(15)

‟Con khốn chết tiệt đó. Nó phải chịu trách nhiệm cho cái chết của con người hiền lành đó. Anh biết đấy, hoàn toàn không cần thiết để người hiền lành đó phải chết vì cái con chết tiệt ấy lúc nào cũng dí mũi vào làm toàn bộ tình hình ở đó sôi bỏng.”

Sau cuộc đảo chánh khiến Tổng thống Diệm chết, Paul B. Fay Jr., bạn thân của John F. Kennedy thuật lại tâm trạng của TT Mỹ lúc đó. [Paul B. Fay, Jr., Oral History Interview – JFK #3, 11/11/1970, trang 199–200]

‟She was “the beautiful but diabolic sex dictatress.” (Bà ấy đẹp tuyệt vời nhưng là người độc tài, đầy duc tính ma quỷ.)

David Halberstam.

‟The most dangerous enemy a man can have.” (Kẻ thù nguy hiểm nhất mà đàn ông có thể có.)

Malcolm Browne.

“Có thế nói là hơn bất cứ ai, bà Nhu phải góp phần chịu trách nhiệm to lớn về sự sụp đổ của Đệ Nhất Cộng Hòa, và thể chế ‘gia đình trị’ mà Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia dân chủ, luôn luôn tỏ ra chống đối.”

[Nguyễn Đình Tuyến, “Những Biến Cố Lớn Trong 30 Năm Chiến Tranh tại Việt Nam (1945–1975)”, Đại Học Đông Nam, Houston, 1995]

“Tuy tôi là bà con với bà, nhưng không bao giờ tôi nói ra, bà con với bà đối với tôi là một cái nhục…”

[Hanh H. Nguyen, Brushing the World Famous: The Story of my life, iUniverse, Inc. (2005)] Tác giả là cựu Tổng Giám Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam và Cố Vấn Kinh Tế Tài Chánh cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Nguồn: Lê Xuân Nhuận, Ông bà Ngô Đình Nhu dưới mắt người đời)

‟Vì chính tôi cũng chẳng thể nào quên được câu nói phạm thượng và xấc xược của bà khi Hoà thượng Quảng Đức tự thiêu. Nhưng đã trót quý mến ai rồi thì khó mà nghĩ khác được… Bà thì vừa xinh, vừa trẻ đẹp, giữ gìn gia phong nề nếp… Đấy là cử chỉ của những gia đình có lễ giáo nghiêm ngặt. Tôi không nói thêm cho bà cũng không nói bớt cho. Nghe sao thì nói lại… Cung cách ấy, cử chỉ như thế, giáo dục nghiêm ngặt, lễ giáo như thế… Làm sao tôi có thể nghĩ xấu cho người phụ nữ này được?”

[Nguyễn Văn Lục, Nhớ về ông bà Ngô Đình Nhu, DCVOnline, 11&12/10/2007]

‟Ấy ai như con chuồn chuồn, Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay? Đẹp người mà nết lại hay. Nhìn ai, ta nhớ những ngày vàng son. Thương ai biển cạn, non mòn, Có về đâu nữa Sài Gòn ngàn năm!”

[Hoàng Hải Thủy, Có về đâu nữa Sài Gòn ngàn năm, Jan 15, 2009]

‟Bà là một phụ nữ khôn ngoan, một mẫu người tính tình cương trực, lịch lãm, dám nói dám làm, rất nhạy bén với thời cuộc… Tôi rất ngưỡng mộ bà Nhu dùng hai chữ “Nướng Sư” trong trường hợp Thượng Toạ Thích Quảng Đức… Bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ đoan trang, tiết hạnh, giàu cương nghị.”

[Nguyễn Kim Lộc, Bà Trần Lệ Xuân – Một thời sóng gió vẻ vang và nửa đời thầm lặng trong vinh diệu, viết sau khi bà Nhu qua đời]

Đi tìm bà Nhu

 

Đến 2005, một người Mỹ đã tìm gặp, phỏng vấn và chuyện trò với bà Nhu. Đây cũng là lần đầu tiên từ 1986 bà Nhu tiếp xúc với người phương Tây. Kết quả của là cuốn Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam’s Madame Nhu của Monique Brinson Demery do nhà xuất bản PublicAffairs phát hành ngày 24 tháng 9, năm 2013.

24 rue de Sufferen. Nguồn: Google.Monique Brinson Demery, tác giả cuốn ‟Đi tìm bà Nhu”, đến Việt Nam lần đầu tiên trong chương trình du học của Hobart và William Smith College; bà cũng đã theo học tại chương trình Việt ngữ cao cấp mùa hè tại Hà Nội; năm 2003 bà tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa Nghiên cứu Đông Á tại

24 rue de Sufferen, nhìn hướng chính Bắc là tháp Eiffel cách 400m. Nguồn: Google.

 

 

Havard University. Với mục đích tìm hiểu về một nhân vật mà các tài liệu nghiên cứu sử học hiện có về cuộc đảo chánh đã hoàn toàn bỏ quên, Demery đã quyết định đi tìm bà Nhu, người đã ảnh hưởng trực tiếp lịch sử Việt Nam ở một khúc rẽ ngoặt, dù bà đã không có liên lạc với thế giới bên ngoài từ gần hai mươi năm sau vụ án Trần Văn Khiêm ở Washington, D.C.

 

Bắt đầu là cuộc tìm kiếm bà Nhu tại Paris năm 2005 ở phố de Sufferen rồi kế đó là những cuộc trao đổi bằng điện thoại – gần như hầu hết do bà Nhu chủ động, và email. Suốt gần năm năm liên lạc, phỏng vấn, nghe chuyện của bà Nhu, tác giả Demery chưa một lần gặp mặt Đệ nhất phu nhân thời đệ nhất Cộng hòa dù đã có lần đã đưa cả con nhỏ sang Paris, vì bà Nhu không đến như đã hẹn.

Finding the Dragon Lady. Nguồn:

Finding the Dragon Lady. Nguồn: PublicAffairs

Cuốn Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam’s Madame Nhu khoảng 280 trang, gồm 16 Chương, với phần chú giải và mục lục. Bìa sách trình bày bằng hoa văn châu Á trên nền giấy như bị ố nước. Chủ đề là tấm ảnh bà Nhu trong chiếc áo dài cổ thuyền, bó sát người, tay áo 3/4 (trois–quarts), trên cổ là sợi dây chuyền thánh giá, tay cầm súng lục, nheo mắt trong thế ngắm bia. Đây là tấm ảnh bà Nhu chụp trong dịp thanh tra đoàn Thanh nữ Cộng hòa mà bà là thủ lãnh.

Với lối một viết đơn giản, thu hút, Demery đã, một mạch, dẫn người đọc đi tìm, gặp, biết bà Nhu từ những trang đầu lúc làm thám tử ở Paris đến những trang cuối của cuốn sách nói về một cuốn nhật ký – không phải là cuốn hồi ký mà bà Nhu đã gởi sau gần năm năm chờ đợi và vừa được nhà xuất bản L’Harmattan phát hành vào đầu tháng 11, 2013.

Mười sáu chương sách: 1. Paris, 2005, 2. Những nắm mồ bị bỏ quên, 3. Một gia đình quyền quý, 4. Chân dung một cô chiêu. 5. Cuộc gọi viễn liên, 6. Ôm con chạy loạn, 7. Ẩn dật ở cao nguyên, 8. Người đàn ông kỳ diệu của Việt Nam, 9. Đệ nhất phu nhân trong Dinh Độc Lập, 10. Những tấm da hổ, 11. Trai trẻ và Lão làng 12. Những nhà sư tự thiêu, 13. Quá đẹp để làm ngơ, 14. Cửa đóng, 15. Đảo chánh, và 16. Đời lưu vong.

Giữa cuốn sách là 11 tấm hình trắng đen in trên giấy trắng, dầy hơn những trang sách giấy vàng nhạt; bắt đầu là tấm ảnh cô Trần Lệ Xuân trong khăn áo ngày vu quy, khoảng 1943, sau cùng là tấm ảnh những thiếu niên Việt Nam chân đất, hay mang dép đang dẫm lên đầu đã gẫy của bức tượng bà Trưng ở Sài Gòn, năm 1963. Xen giữa là những tấm ảnh của những người trong gia đình và những hình ảnh bà Nhu gặp báo giới và người Mỹ cũng như tấm hình ký giả Malcolm Browne ngồi trước ảnh Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu.

Chương 1 nói về cuộc tìm kiếm bà Nhu ở Pháp và Chương 2, Demery thuật lại một bi kịch của gia đình bà Nhu: vụ ông Trần Văn Khiêm, sáu mươi tuổi, em bà, giết cha mẹ – ông cựu Đại sứ VNCH, Trần Văn Chương, 88 tuổi, và bà cựu Quan sát viên thường trực của VNCH tại Liên Hiệp Quốc, (Thân) Trần Thị Nam Trân, 76 tuổi – vào mùa hè năm 1986 tại Washington, D.C. Đây là lần cuối cùng bà Nhu lên tiếng với báo chí Mỹ. Chương 6, tác giả thuật lại những cuộc điện thoại viễn liên với bà Nhu.

Mười ba chương còn lại, tác giả thuật lại đời bà Nhu, một phần theo lời kể, bắt đầu với gốc gác gia đình, đời sống tiểu thư ở Hà Nội, cuộc sống khi mới lập gia đình trong thời loạn, đến khi trở thành một nhân vật chính trị nhiều ảnh hưởng, nhiều tranh cãi, trong suốt thời đệ nhất Cộng hòa; sau cùng là cuộc đảo chánh năm 1963 đưa bà Nhu vào đời sống lưu vong, ẩn dật.

Cuốn Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam’s Madame Nhu thành hình không chỉ đơn thuần dựa trên lời kể qua điện thoại hay email hoặc hồi ký của bà Nhu gởi; tác giả đã tham khảo và sử dụng rất nhiều thông tin rút ra từ báo chí, tài liệu của bộ Ngoại giao, CIA và các cơ quan khác thuộc chính phủ Mỹ, thư khố Mỹ, của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia của Pháp, từ các nhân chứng sống đã làm việc với dòng họ Ngô-Đình, cũng như các công trình nghiên cứu của các tác giả khác có từ thập niên 60 đến sách mới xuất bản năm 2013.

Sau gần hai năm liên lạc, và bao lời hứa hẹn về cuốn hồi ký vài trăm trang, bà Nhu đã viết từ 1963, Demery phải qua một thử thách khác trước khi thấy được một đoạn 83 từ, tóm lược cuốn hồi ký của bà Nhu. Để có được đoạn tóm lược cuốn hồi ký, tác giả Demery đã đi tìm và gởi cho bà Nhu tấm hình chụp phòng ngủ của Đệ nhất phu nhân trong Dinh Độc Lập chụp với vợ Phó Tổng thống Johnson và Jean Ann Smith em gái của Tổng thống Kennedy. Bà Nhu đặc biệt muốn có tấm ảnh đó vì những tấm da hổ dưới sàn trong phòng là một phần hình ảnh của ông Ngô Đình Nhu, một người săn bắn giỏi, để lại.

Nếu tác giả Finding the Dragon Lady phải đợi gần hai năm, thì người đọc cũng chỉ biết đoạn tóm lược cuốn hồi ký của bà Nhu sau khi đọc hết 11 chương sách. Có lẽ không khác với Demery, độc giả của Demery cũng chưng hửng vì đoạn tóm lược cuốn hồi ký gồm những cụm từ như ‟Hội Thánh phải được bảo vệ”‟Việt Nam bị đóng đinh như đấng Ki-tô của các quốc gia”‟bí ẩn của Fatima”, và ‟Sự khải huyền”. Dường như đó không phải là tóm lược hồi ký của một nhân vật chính trị một thời đầy quyền lực.

Khi Demery hỏi cuốn hồi ký đời bà đâu thì được bà Nhu trả lời, ‟Sắp có. Tôi chỉ muốn biết rằng tôi có thể tin vào cô.” Đó là kết quả của một quan hệ gần hai năm.

‟Viên sỏi trắng”

 

Viên sỏi trắng. Nguồn: ofildesoi.caViên sỏi trắng. Nguồn: ofildesoi.ca

Mãi đến mùa hè năm 2010, sau gần năm năm liên lạc, hy vọng và chờ đợi, tác giả Demery nhận được hai tập hồi ký của bà Nhu qua email.

Lại một lần nữa, Demery bối rối. Tựa tập hồi ký của bà Nhu là ‟Viên sỏi trắng” (Le Caillou Blanc). Nếu dựa vào từ nguyên học tiếng Pháp, có lẽ bà Nhu cho rằng cuốn hồi ký là ghi lại những ngày tháng, những sự kiện, những tư duy trong sáng, hạnh phúc, may mắn. Một nghĩa khác của ‟viên sỏi trắng” là người vô tội, đã được minh oan, trắng án như phán quyết của phiên tòa thời cổ đại khi đưa cho phạm nhân một viên sỏi trắng.

Nhưng nếu dựa vào đoạn tóm lược hồi ký dẫn trên, người đọc có lẽ sẽ hiểu chính xác hơn ‟Viên sỏi trắng” của bà Nhu theo nghĩa của Khải huyền 2.17(16)

‟Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến.”

Đó là viên sỏi trắng trên có khắc tên mới của người được Giê-su ban cho, như giấy phép đi nhận di sản của họ ở thiên đường.

Cùng 16 chương sách, tác giả có 182 chú thích (trang 231–244); hai chương không có chú giải là Chương 1. Paris, 2005, và Chương 5. Cuộc gọi viễn liên. Trong 182 chú giải đó Demery có 10 chú thích cho biết 10 đoạn trong sách lấy từ cuốn ‟Le Caillou Blanc”; Chương 3. Một gia đình quyền quý [5], Chương 7. Tản cư về núi [2], Chương 8. Người đàn ông kỳ diệu của Việt Nam [2], và Chương 12. Những nhà sư tự thiêu [1]

Đọc vài trăm trang hồi ký với những tiểu tựa in đậm, trong ngoặc, liên hệ đến thánh kinh Demery cho rằng bà Nhu đã viết lại đời mình như một bản liệt kê vĩ đại, theo thứ tự thời gian. Tuy nhiên, đây là một bản liệt kê viết bằng mật mã.

Với đa số, có lẽ đây là một trở ngại rất lớn để hiểu câu chuyện đời của bà Nhu vì giải mã những suy nghĩ về tâm linh, triết lý, thánh linh huyền bí không phải là một khả năng phổ quát của người đọc sách.

Sàng lọc ‟Viên sỏi trắng” để viết được 10 đoạn trong Finding the Dragon Lady đã có thể xem là một kỳ tích rồi.

Cuốn Finding the Dragon Lady có nhiều thông tin, một số có thể xem như thuộc về lịch sử, một số khác chỉ liên hệ đến đời thường.

Chương 2 và Chương 3 

Về thời thơ ấu của bà Nhu cho người đọc biết bà Nam Trân sinh con gái đầu lòng, Lệ Chi, khi 12 tuổi, 10 năm sau ngày cưới; bà Nhu sinh sau bà Trần Lệ Chi gần hai năm, và hai năm sau ông Trần Văn Khiêm chào đời. Như thế, trên mặt giấy tờ, bà Thân Thị Nam Trân lấy chồng năm 2 tuổi, và lúc ấy ông Trần Văn Chương 14 tuổi.

Chương 4 

Thời thiếu nữ của bà Nhu. Về mặt học vấn, chị em bà Lệ Xuân đã được dạy ở nhà khi nhỏ; khi 5 tuổi Lệ Xuân và Lệ Chi, được gởi vào Saigon học nội trú. Về lại Hà Nội, cô Lệ Xuân học nói, viết và suy nghĩ ở trường trung học Albert Sarraut, thấm nhuần văn hóa như một thiếu nữ Pháp da vàng. Không như nhiều tác giả Việt Nam đã cho cô Lệ Xuân đỗ Tú tài II chương trình Pháp, Demery không đề cập đến học trình của bà Nhu ở Lyceé Albert Sarraut như Karnow, ‟Lệ Xuân đã bỏ học trường Albert Sarraut, trường trung học Pháp danh giá ở Hà Nội, ở đấy Lệ Xuân chỉ là một học sinh loại xoàng…” thông thạo tiếng Pháp nhưng không biết viết tiếng Việt.(17)

Cũng ở Chương 4, tác giả cũng nhắc lại những tình tiết ly kỳ trong cuộc sống lứa đôi của ông bà luật sư Trần Văn Chương qua tài liệu của sở mật thám Pháp. Những chi tiết đó rất không thuận với ‟thanh danh” trên bản cáo phó của cựu Đại sứ Trần Văn Chương mấy chục năm về sau. Về bà Nam Trân, theo tài liệu của Pháp, mật thám ghi sổ số tình nhân của bà mệnh phụ; người tình nổi tiếng nhất là một viên chức ngoại giao Nhật tên Yokoyama Masayuki, ngoài ra, theo lời đồn, còn phải kể đến một thanh niên trẻ tên Ngô Đình Nhu.

Quan hệ giữa gia đình luật sư Trần Văn Chương, hay đúng hơn là giữa bà Nam Trân với Yokoyama Masayuki được cho là lý do khiến Trần Văn Chương có tên trong danh sách 11 thành viên được đề cử vào nội các do Trần Trọng Kim trình lên Bảo Đại (17 tháng 4, 1945) và được Yokoyama cùng có mặt khen ngợi.(18)

Tháng Năm, 1943, lấy ông Nhu, lớn hơn mình 14 tuổi, làm chồng là một cuộc hôn nhân thực dụng chứ không phải là kết quả của một mối tình lãng mạn, bà Nhu cho ký giả Charles Mohr của Tạp chí Time biết. Tình yêu lãng mạn chỉ có ở trong sách chứ không có thật, bà Nhu tin như vậy. Khi lập gia đình bà Nhu được làm lễ rửa tội ở Nhà Thờ Lớn tại Hà Nội và có tên thánh là Lucy theo Saint Lucia, vị thánh của người khiếm thị. Nhiều tác giả Việt Nam thường ghi tên thánh của bà Nhu là ‟Maria”.

Chương 6

Sau hôn lễ năm 1943 ở Hà Nội bà Nhu theo chồng về Huế ở trong căn nhà thuê lại của em gái ông Nhu, bà Cả Lễ (Ngô Đình Thị Hoàng). Cuối năm 1946, bà Nhu đã trở thành một bà mẹ trẻ ở tuổi 22 dù chồng bà thường xuyên không có mặt ở nhà. Với con nhỏ, mẹ chồng, em chồng và một cô cháu gái, cô con dâu mới phải ngậm miệng trước sự xắp xếp cuộc sống mới ở Huế như thế; hơn 60 năm sau, kể chuyện dĩ vãng, bà Nhu cho mình đã quá ngờ nghệch gần như ngu ngốc khi chấp nhận ở lại giữ căn nhà của bà Cả Lễ thay vì theo linh mục dòng Tên cuối phố đi tìm chỗ trốn Việt Minh những người vào tháng 8, 1945 đã bắt giam cha con người anh cả của chồng bà, Ngô Đình Khôi, và sau đó xử bắn vì là thành phần tư sản phản động.

Sự mô tả những bộ đội Việt Minh dân miền Trung năm 1946 phản ảnh rõ rệt thái độ của một người trưởng giả miền Bắc; với bà Nhu những bộ đội đó không khác người ở lỗ, hôi hám, giọng nói như tiếng gầm gừ của loài man rợ. Quito, con béc-giê đã một lần cứu chủ khỏi tay quân Tưởng Giới Thạch năm trước bị nhốt ở một phòng khác không làm gì được khi Việt Minh vào nhà bà Nhu phá vỡ cái đại dương cầm trước khi bắt cả nhà phải theo họ rời thành phố.

Đoàn người gồng gánh đi qua những con đường bùn đất lầy lội, đến cuối cánh đồng, cách một đoạn đường, trước mặt là một cái cầu, bỗng đâu một tiếng nổ xé trời cùng tiếng hô ‟nằm xuống”. Lính cũng như dân đều bò xuống ven đường tránh sỏi đá bay mù. Lần đầu tiên đối diện với chiến tranh, cuộc chiến đã kéo dài vài năm từ ngày bà là cô dâu đến khi làm người mẹ trẻ; trong thực tế chiến tranh đó bà Nhu nuối tiếc đời sống xa hoa ở Huế.

Người mẹ trẻ đứng giữa đường, dưới cơn mưa, hất vạt áo che con, quyết định bước đi giữa lòng trận mạc, qua cầu.

Kể lại câu chuyện ôm con đi qua cầu giữa lòng trận mạc, có lẽ, bà Nhu đã gây ấn tượng sâu sắc với nhiều người không phải sống tranh chiến tranh chứ không riêng gì với tác giả cuốn Finding the Dragon Lady.

Kể lại lúc bị Việt Minh bắt giữ cũng là lúc bà Nhu hé lộ cho người đọc biết tình cảm của gia đình chồng đối với mình khi thấy thái độ và ứng xử của anh Bảy Việt Minh và bà qua việc nhắc lại lời bà Khả dạy ông Nhu, ‟Lấy vợ phải coi gia thế cũng như mua heo phải biết nái xề” và nhận xét của ông Cẩn, ‟Mẹ nào con nấy; chị ấy sẽ chẳng khác gì mẹ chị ấy đâu.”

Bà Nhu gián tiếp xác định báo cáo của mật thám Pháp và nhận định của tướng Georges Aymé?

Chương 7

Gia đình bà Nhu đoàn tụ ở Đà Lạt từ 1947-1954. Bảy năm ở Đà Lạt, tạm trú ở một villa nhỏ mượn của một bác sĩ, bạn ông Trần Văn Chương, số 10 đường Roses/Hoa Hồng/Ngô Đình Khôi nay là đường Huỳnh Thúc Kháng, là ‟thời gian hạnh phúc nhất” của bà Nhu dù chồng bà vẫn thường không có mặt ở nhà. Thời gian này Ngô Đình Trác (1949) và Ngô Đình Quỳnh (1952) ra đời trong lúc ông Nhu đang gây mầm xây dựng đảng Cần Lao-Nhân Vị, cơ sở chính trị hậu thuẫn cho chính quyền Ngô Đình Diệm về sau. Bà Nhu cảm thấy hạnh phúc nhất vì sinh được hai con trai hay vì những cuộc vui đêm, những cuộc đi câu, picnic, ngoạn cảnh với người bà con có tiếng, cựu hoàng Bảo Đại.

Một đoạn ở chương 7 mô tả một ‟biệt thự nhỏ” của bà Nhu, ở số 2 đường Yết Kiêu nhìn xuống một thung lũng tuyệt vời của Đà Lạt. Ngôi ‟biệt thự nhỏ” gồm 3 căn nhà, một cho gia đình bà Nhu, một dự định dành cho ông bà Trần Văn Chương, và một dành cho khách, xoay quanh sân ở giữa, có hồ bơi nước nóng, có vườn hoa Nhật Bản, với hồ sen. Lâm Ngọc, ngôi nhà riêng của gia đình bà Nhu có tháp canh ngay lối vào, với năm lò sưởi, sẽ trang trí bàng da và đầu thú, thành tích săn bắn của ông Nhu. Nhà bếp với trang bị bằng thép không rỉ và dự định có cả lò hồng ngoại. Bà Nhu không nghĩ rằng nôi ‟biệt thự nhỏ” bà đang xây là hoang phí trong khi nhà của dân quê thời đó vẫn còn chuồng xí ngoài trời trên ao cá tra. Theo lời một trong 50 người làm vườn, ông Phạm Văn Mỹ, thì bà Nhu là một ‟mệnh phụ khó tánh” thích của đắt tiền, hay thay đổi, hò hét với gia nhân nhưng lại sợ sâu bọ. Xây dựng ngôi biệt thự đó mất năm năm trời – sửa cửa chính 8 lần với 10 lần thay sổ góc mới hài lòng – nhưng bà Nhu chưa một ngày ở đó vì khi ngôi biệt thự hoàn tất thì quyền lực của bà cũng tiêu tan.

Chương 8

Theo lời chồng, bà Nhu đưa các con về sống ở Sài Gòn để thuận tiện giúp Thủ tướng Diệm củng cố quyền lực. Gia đình bà Nhu tạm trú trong năm căn phòng thuê, trong đó hai phòng dùng làm nơi in báo Xã hội của ông Nhu. Những năm tháng đầu sống vô vị ở Sài Gòn có lẽ là khoảng thời gian bà Nhu cảm thấy chán chường nhất. Vẫn không thay đổi, bà Nhu không biết hành tung của chồng mình.

1954-55 là thời gian bà Nhu bắt đầu có bạn thân người Mỹ. Họ đều là nhân viên CIA. Sau khi dẹp tan Bình Xuyên (tháng 4 đến tháng 9/1955) và truất phế Bảo Đại (23/10/1955), ông Diệm trở thành quốc trưởng, Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa.

Về Thủ tướng Ngô Đình Diệm, trong ‟Le Caillou Blanc”, bà Nhu cũng viết lại câu chuyện ông Diệm bị cộng sản bắt năm 1946 và Hồ Chí Minh, sau khi không thuyết phục được, đã để ông tự do ra đi. Đây là giai thoại đã được nhắc lại nhiều lần nhưng tài liệu có thể dùng để xác định sự thật lịch sử có lẽ vẫn còn nằm trong văn khố kín của đảng Cộng sản Việt Nam vì những chứng nhân của sự kiện ấy như Lê Giản, Vũ Đình Huỳnh đã ra người thiên cổ.(17a) Cũng ở chương này, trích đoạn từ ‟Viên sỏi trắng”, bà Nhu nhắc lại công trạng của mình trong việc tổ chức cho dân di cư biểu tình ngày 21 tháng 9, 1954 ủng hộ Thủ tướng Diệm, hất cẳng tướng Nguyễn Văn Hinh, con của cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm (6/1952 – 12/1953), ra khỏi Sài Gòn. Đây là bước đầu của bà Nhu vào chính trường miền Nam, đóng vai một chính khách tinh tế, và không biết sợ; Diễn tuồng, tinh tế và không biết sợ không phải là sở trường của hai anh em ông Diệm và Nhu. Sau chiến công tháng 9, 1954, Pháp than phiền với Mỹ, Mỹ nói lại với Thủ tướng Diệm và bỗng dưng bà Nhu được gởi đi Hồng Kông ‟an trí” sáu tháng, để ông Nhu ổn định tình hình. Với bà Nhu, đây lại là dấu hiệu cho thấy tiềm năng và ảnh hưởng chính trị của mình.

 

 

 

(1) Nhân tham dự phiên họp Liên minh Liên Nghị viện tại Belgrade vào trung tuần tháng 9, 1963
(2) Trương Phú Thứ, Chuyện trò với Bà Ngô Đình Nhu, đăng ở Văn Nghệ Tiền Phong; đăng lại trên Nguyệt San Dân Chúa, Số 332, tháng 10, 2004
(3) Trương Phú Thứ, Đây là sự thật, vantuyen.net, 2007/12/23
(4) Trương Phú Thứ, Có Hay Không ‟Hồi ký” Của Bà Ngô Đình Nhu? dankeu.com, 2011/01/24
(5) Ngọc Lan, Nói chuyện với ông Trương Phú Thứ, người sẽ xuất bản hồi ký của bà Ngô Ðình Nhu. Người Việt, Monday, April 25, 2011.
 2012), Jacqueline Willemetz, (Ed.),…(6) Ngô–Ðình Quỳnh, Ngô–Ðình Lệ Quyên ( La République du Viêt–Nam et les Ngô–Ðình Suivi des mémoires posthumes de Madame Ngô–Ðình Nhu. L’Harmattan, 2013, Mémoires, Récit Historique Asie Vietnam
(7) Tường An, Paris tưởng niệm 50 năm cố Tổng thống Ngô Đình Diệm qua đời, RFA, 3/11/2013.
(8) ‟Letters to the Times: Mrs. Nhu Defends Stand”, The New York Times, 14 August 1963
(9) Madame Nhu at Fordham University: Bonze, Fordham/Student Comments re: Madame Nhu [Part 1 of 2], A Television History, ABCNews, 11/10/1963, Fordham University, New York, NY. http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam–1–of–2–madame–nhu–at–fordham–university–bonze–fordham–student–comments–re–madame–nhu–part–1–of–2
(10) Madame Nhu, LA During Coup, Vietnam: A Television History, ABC News Video Source. http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam–abc–9465–madame–nhu–la–during–coup
(11) Madame Nhu Press Conference, Vietnam: A Television History, CBS News, http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam–78–106–madame–nhu–press–conference
(12) Mme. Nhu Leaves The US, But May Be Back, British Pathé, 17/11/1963 http://www.britishpathe.com/video/madame–nhu–leaves–us–and–saigon–settles–down/query/pagodas
(13) Saundra Saperstein and Elsa Walsh, A Journey From Glory to the Grave: Prominent Vietnamese Family’s Saga Began in Palace, May End in Court in the Wake of a Double Death, The Washington Post|November 05, 1987|http://articles.latimes.com/1987–11–05/news/vw–18789_1_vietnamese–family
(14) Open Vault, Interview with Madame Ngo Dinh Nhu, 1982, Vietnam: A Television History, 02/11/1982, WGBH Media Library and Archive. (14a) Thực ra tin ông Nhu thương lượng với cộng sản Bắc Việt do chính ông Nhu rò rỉ.
(15) Paul B. Fay, Jr., Oral History Interview – JFK #3, 11/11/1970, trang 199–200
(16) ‟Ce celui qui a des oreilles entende ce que l’Esprit dit aux Églises: A celui qui vaincra je donnerai de la manne cachée, et je lui donnerai un caillou blanc; et sur ce caillou est écrit un nom nouveau, que personne ne connaît, si ce n’est celui qui le reçoit.” – Apocalypse 2.17 (version Annotée Neuchâtel). ‟He that hath an ear, let him hear what the Spirit saith unto the churches; To him that overcometh will I give to eat of the hidden manna, and will give him a white stone, and in the stone a new name written, which no man knoweth saving he that receiveth it.” Apocalypse 2.17 (King James Version)
(17) ‟Le Xuan had dropped out of the Lyceé Albert Sarraut, the pretigious French high school in Hanoi, where she had been a mediocre.” Stanley Karnow, Vietnam: A History, Revised and Updated Ed., Penguin Book USA Inc., 1991, p.283.
(17a) Vũ Thư Hiên, Chuyện kể dưới hầm, Montréal, 2006