Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label NhaVăngNguyenTrongDat. Show all posts
Showing posts with label NhaVăngNguyenTrongDat. Show all posts

Saturday, 11 June 2022

NHỮNG GÌ NGUYỄN TRỌNG ĐẠT (QGHC) CHÉP RA ĐÂY CHỈ LÀ NHỮNG GÌ BÁO CHÍ TÂY PHƯƠNG NHAI ĐI NHAI LẠI MẤY CHỤC NĂM QUA./-TCLãnh

MẤY CHỤC TRIỆU ĐÔNG DƯƠNG CHẾT KHÔNG PHẢI VÌ CÁC ĐẠI CƯỜNG XÚI ĐÁNH NHAU- MÀ VÌ THAM VỌNG QUỐC TẾ CỘNG SẢN CHỦ TRƯƠNG SẼ GỒM THÂU THẾ GIỚI VÀO TAY CỘNG SẢN - NẾU KHÔNG CÓ CUỘC CHIẾN CHỐNG LẠI CỘNG SẢN - THÌ THẾ GIỚI ĐÃ LỌT VÀO TAY CỘNG SẢN TỪ KHUYA VÀ NHÂN LOẠI ĐÃ SỐNG DƯỚI THIÊN ĐƯỜNG CỘNG SẢN TỪ HƠN 70 NĂM QUA ĐÚNG KHÔNG TRỌNG ĐẠT??? XIN MIỄN BÀN THÊM NHÂN LOẠI ĐÃ HẠNH PHÚC NHƯ THẾ NÀO DƯỚI BÀN TAY CỘNG SẢN!!!???./-TCLãnh
______________________ 
Ukraine rơi vào tình thế giống VNCH, điều này dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng.


Các quan chức quân đội Ukraine cho biết quân đội đang dần cạn kiệt đạn dược khi họ giao tranh ác liệt với lực lượng Nga. Theo Vitaly Kim, thống đốc vùng Mykolaiv ở tiền tuyến phía nam quân đội Ukraine đang đứng viễn cảnh tương tự như VNCH cách đây gần 50 năm khi chống lại Cộng Sản.


Thống đốc đang thúc giục các đồng minh phương Tây cần đẩy nhanh việc chuyển giao vũ khí và đạn dược tầm xa cho Ukraine. Ông nói: “Sự giúp đỡ của Châu Âu và Mỹ là rất, rất quan trọng.

Như đã báo cáo trước đó, Orim Skibicki, Phó giám đốc tình báo quân sự của Ukraine, đã đưa ra một tuyên bố tương tự với Guardian vào thứ Sáu.

Tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn tiến bất lợi cho Ukraine khi khủng hoảng lạm phát đang lan mạnh tại Mỹ cũng như EU. Điều này nguy cơ làm giảm sự nhiệt tình giúp đỡ Ukraine trong thời gian tới.

Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài gần 30 năm từ nửa đêm 19-12 -1946 khi Việt Minh tấn công quân Pháp tại Hà Nội chấm dứt vào ngày 30-4-1975 khi Sài Gòn thất thủ.

Cho đến nay, nguyên nhân sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn là một điều gây nhiều tranh cãi, ít ra là trên sách báo và trên những tài liệu dưới hình thức những hồi ức.

Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài gần 30 năm từ nửa đêm 19-12 -1946 khi Việt Minh tấn công quân Pháp tại Hà Nội chấm dứt vào ngày 30-4-1975 khi Sài Gòn thất thủ. Theo thống kê năm 1973 của Ngũ Giác Đài, người Mỹ tốn kém gần 300 tỷ đô la từ giữa thập niên 60 tới ngày ký Hiệp định Paris, có khoảng 58 ngàn người chết, phía VNCH khoảng hơn 180 ngàn người tử thương, CSBV và VC mất hơn một triệu cán binh, dân chúng hai miền được ước lượng vào khoảng hơn một triệu người chết vì bom đạn.

Vũ khí QĐVNCH trông cũng khá hùng hậu nhưng tình hình 1975 do hậu quả cắt giảm quân viện, nhiều máy bay, xe tăng, tầu chiến… thiếu cơ phận thay thế đã trở thành bất khiển dụng. Hoả lực giảm 60% so với năm 1972....So với năm 1972, tình hình bi đát hơn gấp bội phần vì đồng minh phản bội xé bỏ giấy tờ cam kết yểm trợ Không Quân khi bị VC tấn công, một mình VNCH phải gánh vác chiến trường với sự thiếu thốn trầm trọng về tiếp liệu, đạn dược.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng họ bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS. Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, BV lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .


Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm. Tháng 4-1945 , Tướng Paton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Virgil Gheorghui trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa. Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng Tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.
Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có . Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước. Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”

Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho VN số tiền khổng lồ ấy mà nó là một chi phí tổng gộp bao gồm cả lương lính, nhân viên quốc phòng, cố vấn, công nhân chế tạo vũ khí, chi phí di chuyển .. những khoản tiền ấy lưu hành trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước họ hơn là ra ngoại quốc. Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã “ủm củ tỉ” tại VN nhưng họ không hề đoái thương tới hàng mấy triệu người Việt Nam và Đông Dương chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ không hề thương tiếc cho hàng mấy triệu người dân Miên vô tội bị Khmer đỏ tàn sát vì họ đã bỏ rơi Đồng Minh một cách tàn nhẫn.

"Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa."
Trọng Đạt

Sunday, 16 July 2017

CHELSEA CLINTON ĂN CẮP Ý TƯỞNG CỦA 1 SÁCH KHÁC RỒI BIẾN NÓ THÀNH SÁCH CỦA MÌNH GIỐNG NHƯ NHỮNG TAY QGHC LƯỢM SÁCH BÁO CŨ VIẾT THÀNH BÀI BẢN CỦA MÌNH IN SÁCH BÁN : ĐÀO VĂN BÌNH, NGUYỄN TRỌNG ĐẠT./-TCL

 
alt  alt
Rau nào, sâu đó.
Like mother like daughter.

Chelsea đang bị kiện...
Chelsea lấy cắp ý trong 1 quyển sách, rồi viết ra sách của nó.
  

Chelsea Clinton sued for theft.  Things aren’t good for Chelsea after this lawsuit.

Chelsea Clinton continues to make a fool of herself.
But it’s no longer just fun and games on social media.
And just like her mother and father, she seems to have gotten herself into some legal trouble.
A federal lawsuit coming out of a New York District Court alleges her book “She Persisted,” was ripped off from another author.
As reported by the New York Post:
Chelsea Clinton ripped off an upstate author when she published her best-selling feminist kids book, “She Persisted,” a federal lawsuit claims.
Christopher Janes Kimberley, 56, of Albany, is suing the former first daughter and Penguin Random House for copyright infringement, seeking up to $150,000, according to the lawsuit, filed Thursday in a Southern District of New York court.
“I did months of painstaking research on my book. Her version looks like a ninth-grade homework assignment,” he vented to The Post. “I am in disbelief.”
The little-known writer claims he sent a pitch for his illustrated kids book, “A Heart is the Part That Makes Boys And Girls Smart,” to the president of Penguin Young Readers U.S., Jennifer Loja, in May 2013, according to the lawsuit.
Instead of publishing it, she passed the idea off to Clinton, who cashed in on his hard work, he claims in court papers.
“She Persisted,” published May 30, features at least three of the same quotes from inspiring historical women — including Helen Keller, Harriet Tubman and Nellie Bly — that appear in Kimberley’s book, along with similar images, the writer claims.
Clinton’s book centers on “13 American Women Who Changed the World” and is an “unauthorized reproduction of [Kimberley’s] work,” court papers state.
“The appearance of impropriety is striking,” he says in the lawsuit.
The writer filed a cease and desist order in April to stop Clinton from publishing the book.
It seems that being involved in scandals is a Clinton family tradition.
From her father’s Lewinsky scandal, to the countless scandals of her mother, the Clinton family can’t seem to stay out of trouble.
Now the latest scandal could end up costing Chelsea Clinton over $100,000.
In the book, Christopher Kimberley, the author suing Clinton, claims that Clinton’s book has a number of striking similarities to his.
Kimberley stated that Clinton ripped off the same inspirational quotes from three different historical figures in his book, along with a number of other similarities.
The book in question is a feminist children’s book, — the subtitle reads, “13 American Women Who Changed the World.”
The title, “She Persisted,” is a reference to a statement adopted by the feminist movement after the Senate voted to silence Elizabeth Warren (D-MA) for breaking parliamentary rules during the Senate’s hearings to confirm then-Sen. Jeff Sessions (R-AL) as Attorney General.
While attempting to bring order to the Senate, Majority Leader Mitch McConnell (R-KY) used the phrase “nevertheless, she persisted” while explaining why the Senate silenced Warren.
The book is advertised to inspire woman.
Do you think that ripping off someone else’s book should be inspiring to young girls in our country?

Thursday, 6 April 2017

CHIẾN LƯỢC "DA" TRỌNG ĐẠT NẦY TÊN THẬT LÀ NGUYỄN TRỌNG ĐẠT QGHC SANG HOA KỲ CÀ NHỔNG CHỐNG LON NHÔM ĐỂ KIẾM ĂN Ở PRAIRIE -ARLINGTON TEXAS ...

HẮN TA CHUYÊN LƯỢM SÁCH BÁO CŨ, XÀO NẤU THÀNH CÁC BÀI BÌNH LỘN QUÂN SƯ QUẠT WC - THIÊN HẠ KHÔNG BIẾT HẮN LÀ AI SẼ VÔ CÙNG THÁN PHỤC NHƯ VC SÁU BÒ VÀNG SEATTLE./-TCL

=================

Tấn Thảm Kịch 1975Trọng Đạt
1. Melvin R.Laird, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ dưới thời Nixon, sau mấy chục năm im lặng mới lên tiếng gần đây. Ông nói rằng chiến tranh Việt Nam không thể kết luận là một sự sai lầm, theo ông Hoa Kỳ đã chuốc lấy thất bại và bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Mục tiêu cuộc chiến tranh Việt Nam hồi ấy là để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu. Cựu Bộ trưởng Laird chỉ trích Hoa Kỳ năm 1975 đã bỏ rơi Đồng Minh Việt Nam, ông nói rằng điều xấu hổ không phải là Hoa kỳ có mặt từ lúc đầu mà là sự phản bội vào giờ phút chót.

Quốc Hội Hoa Kỳ đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những lời cam kết với Việt Nam của Chính phủ Nixon trước đó. Melvin R. Laird nói rằng Tổng Thống Ford, Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissingger, Bộ Tưởng Quốc Phòng Schlesinger phải chia xẻ nỗi nhục này, cũng theo ông Quốc Hội là nguyên nhân chính trong việc bỏ rơi Ðồng minh qua một số quyết định như:

1- Chấm dứt can thiệp quân sự (8-1973). 
2- Cấm can thiệp trở lại Việt Nam. 
3- Cấm trả đũa nếu Hiệp định Paris bị vi phạm.
4- Giảm quân viện từ 1 tỉ 4 xuống còn 700 triệu vào năm 1974.
5- Từ chối yêu cầu của Tổng thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam đầu tháng 4-75.

Cũng theo Laird, Tổng Thống Ford đã bác bỏ thuyết Dominoes đã có từ 7-4-1954 dưới thời Tổng Thống Eisenhower cho rằng hễ mất một nước sẽ mất luôn nhiều quốc gia khác.

Vào ngày 10-3-2006 hằng trăm chuyên viên, chính trị gia nghiên cứu về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tề tựu tham gia cuộc hội thảo tại Thư viện Kennedy thành phố Boston. Họ thảo luận đề tài “Chiến tranh Việt Nam và các Tổng Thống Hoa kỳ”. Các chuyên viên cho rằng đó là một cuộc chiến đầy những tai họa. Bà Giám đốc Thư viện nói các vị Tổng thống Hoa kỳ đã dìm nước Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, họ tin rằng điều mình đang làm là phải nhưng đó chỉ là một sự liều lĩnh, theo bà, một sử gia nói nó chỉ là một sự tính toán sai lầm về chính sách trong lịch sử đối ngoại của Hoa Kỳ. Một sử gia là diễn giả trong buổi hội thảo nói có một vài cuộc chiến tranh là chính đáng, theo ông cuộc chiến tranh Việt Nam không chính đáng.

Trên đây là hai ý kiến trái ngược nhau, một bên mà đại diện là cựu Bộ Trưởng Laird cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể coi là một sự sai lầm và ngược lại những người tham dự buổi hội thảo tại Boston cho rằng cuộc chiến này sai lầm. Cuộc chiến tranh ấy đã khiến Hoa kỳ phải tốn kém 300 tỷ đô la đã khiến 58 ngàn lính Mỹ thiệt mạng, đất nước bị xáo trộn về chính trị cũng như kinh tế, chưa kể phải mang tiếng nhục bại trận. Luận điệu kể trên của những chuyên viên chính trị gia trong cuôc Hội thảo cho thấy cái nhìn thiển cận và sự ích kỷ quá đáng của một số người, họ chỉ những cái “mất” và không để ý tới những cái “được”. Tất cả những sự mất mát đó chỉ là cái giá mà họ phải trả để được bắt tay với Mao trạch Ðông ngày 21-2-1972. Ðiều mà chính phủ Hoa Kỳ mong ước bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung quốc, anh khổng lồ không còn là mối đe dọa tài sản tính mạng của Hoa Kỳ, hơn thế nữa họ lại được cả một thị trường to lớn rộng mênh mông.

Theo chúng tôi nghĩ các chuyên viên, chính trị gia ấy chắc cũng phải thừa biết như vậy và sự giả vờ ngây thơ của họ cho thấy họ không thẳng thắn nhìn nhận sự thật. Các vị Tổng Thống Hoa Kỳ chắc hẳn không sai lầm chút nào khi dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam vì họ là những nhà chính trị gia lỗi lạc. Người Mỹ chỉ kêu ca những sự thiệt hại cuộc chiến tranh ấy đã gây ra cho đất nước họ, thế còn đất nước nạn nhân đã là bãi chiến trường của bom đạn, binh đao khói lửa thì sao?

Họ nói rằng số bom ném tại Việt Nam gấp 3 lần số bom ném tại Âu châu trong suốt thời Ðệ nhị thế chiến, họ chỉ chú ý tới số tiền chi phí khổng lồ về số lượng bom đã ném xuống nhưng lại không để ý tới những nhân mạng, tài sản do những trái bom ấy gây nên. Một trong những nguyên nhân chính của sự thất bại tại Ðông Dương do ở cái nhìn thiển cận, ích kỷ của một số người chỉ biết quyền lợi trước mắt của họ, sống chết mặc bay.

Từ Thế Chiến Thứ Hai đến nay ai cũng biết chỉ có thân phận các nước nhược tiểu thật là hẩm hiu, không được tự quyết định số phận của mình. Họ chỉ làm món hàng cho các cường quốc mua qua bán lại. Sự thật không phải Mỹ can thiệp vào Ðông Dương từ những năm 1964, 65 mà thật ra từ tháng 10-1950 khi Trung Cộng chuyển vũ khí ồ ạt giúp Việt Minh, người Mỹ đã vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, Hàng Không Mẫu Hạm Mỹ đã chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp. Chính phủ và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ đó và đã được người Mỹ trả lương. Cuộc chiến tranh VN đã được Quốc tế Hoá. Năm 1950 Viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp mới chỉ là 17% nhưng bốn năm sau tăng lên tới 74%. 

Năm 1949 Mỹ đã tàn nhẫn bỏ rơi Quốc Dân Ðảng Trung Hoa, Mao thừa cơ nuốt trọn nước Tầu và thành lập Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc khiến cho cán cân lực lượng trên thế giới lệch hẳn đi. Ngay khi vừa chiếm xong toàn cõi lục địa, Mao vội giúp đỡ và xúi dục Bắc Triều Tiên xâm lăng miền Nam năm 1950 khiến cho Mỹ phải hốt hoảng lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc để nhẩy vào ngăn chặn và đã phải dùng biển lửa để chống lại chiến thuật biển người của Lâm Bưu. Mỹ bắt đầu ghê sợ Trung Cộng từ đấy, một khối 500 triệu người hung hãn, đói khát, hiếu chiến…. lại căm thù Hoa Kỳ và Tây phương ra mặt.

Chiếm được toàn cõi Trung Hoa, Mao thừa nhận Hồ, rồi Hồ thừa nhận Mao và được viện trợ vũ khí đạn dược ồ ạt từ đất Tầu chuyển sang, ấy cũng là lúc Hoa Kỳ thấy nguy cơ Cộng Sản đang lan tràn xuống Ðông Nam Á theo kiểu tầm ăn dâu và cương quyết ngăn chận đến cùng. Thuyết Dominoes thành hình từ đó.

Năm 1954 Pháp thất trận tại Ðiện Biên Phủ phải ký hiệp Ðịnh Genève chia đôi đất nước Việt Nam. Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam để biến nơi đây thành tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự do. Mỹ viện trợ quân sự cho miền Nam, huấn luyện cho binh lính miền Nam kỹ thuật tác chiến để ngăn ngừa hiểm hoạ Cộng sản từ phương Bắc tràn xuống. Ðầu thập niên 60 Trung Cộng cho nổ trái bom nguyên tử đầu tiên, lật đổ được Kruschev khiến cho vai trò của Trung Cộng ngày càng quan trọng, nó đã làm thành cái thế chân vạc trên thế giới hồi ấy. Một thời gian ngắn sau, với đà tiến bộ khá nhanh, Trung Cộng chế tạo được bom kinh khí, rồi chế được hoả tiễn khi ấy Hoa Kỳ lại càng hoảng sợ, họ nghĩ rằng Trung Công còn nguy hiểm và đáng sợ hơn Nga Sô vì nó là một khối người đông như kiến, đói rách, tàn ác, hiếu chiến. . chỉ tính chuyện xua quân đi ăn cướp mà tâm lý anh nhà giầu lại hay sợ kẻ cướp.

Mặc dù Trung Cộng ngày càng chống đối Nga Sô nhưng vẫn coi Mỹ là kẻ thù số một và thề quyết tâm đánh Mỹ. Năm 1965 Trung Cộng giật dây đảo chánh bất thành tại Nam Dương khiến cho Hoa Kỳ lại càng lo sợ hơn. Anh khổng lồ nay đã trở thành cơn ác mộng. Mỹ tăng viện trợ quân sự cho miền Nam từ 1964 trở đi, năm 1965 chính thức đổ quân vào Miền Nam khoảng 180 ngàn người cho tới năm 1968 lên tới 536 ngàn người đó là đỉnh cao nhất. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh lúc ấy đã lan rộng trên đất Mỹ khi số lính Mỹ tử thương tại Việt Nam lên tới 31 ngàn người. Tháng 3-1968 Tổng Thống Johnson hăm dọa Bắc Việt để họ phải vào bàn Hội nghị, ông cho ngưng oanh tạc một phần lớn lãnh thổ miền Bắc và kêu gọi CSBV đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, Hà Nội phải chấp nhận ngồi họp.

Từ 1965 đến 1968 cuộc chiến tranh cù cưa không dứt khoát, người ta đồn tư bản Mỹ buộc chính phủ của họ kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, nhưng cũng có thể họ trì hoãn để mặc cả đi đêm với khối Cộng nhất là Trung Quốc. Cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân đã khiến cho Cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng bị thiệt hại nặng về quân sự, tổng cộng có tới 58 ngàn cán binh bị giết, hơn 9 ngàn bị bắt làm tù binh, vào khoảng 80% quân số tham chiến. Nhưng cuộc Tổng công kích đã đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ lên cao hơn trước gấp bội phần. Trước tết, cuối năm 1967 Tướng Wesmoreland tuyên bố tình hình VN đã yên, Mỹ có thể rút quân vào năm tới nhưng Cuộc Tổng công kích cho thấy cs còn đủ sức tấn công vào các thành phố lớn khiến người dân Mỹ càng bi quan, họ cho rằng không thể thắng được cuộc chiến tranh dai dẳng này.

Bộ máy tuyên truyền Nga sô đã đổ dầu vào lửa cho phong trào chống chiến tranh tại Mỹ cũng như trên thế giới lên cao hơn. Ðầu năm 1968 Tướng Wesmoreland đề nghị tăng thêm 200 ngàn quân để đánh qua Miên Lào và đánh qua Vĩ tuyến 17, mục đích các cuộc tấn công này là để phá hủy hậu cần CS, kế hoạch rất hợp lý về quân sự nhưng đã không được Bộ Trưởng Quốc Phòng 
Mc Namara chấp thuận. Tháng 4-1969 Tướng Wesmoreland công bố bản phúc trình về Việt Nam cho biết nếu Mỹ không đổ quân vào miền Nam 1965 thì đã mất trong 6 tháng, ông chỉ trích chính sách hạn chế chiến tranh của Johnson không cho đánh qua Mên, Lào nên đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng. Nhiều người cho rằng chính sách của người Mỹ không muốn thắng, chỉ muốn cù cưa kéo dài chiến tranh. Jhonson không tái tranh cử nhiệm kỳ hai để tìm cách rút chân ra khỏi VN.

Nixon nhậm chức Tổng Thống đầu 1969 tuyên bố sẽ rút quân trong vòng mấy năm, thực hiện Việt Nam Hoá chiến tranh, hòa bình trong danh dự. Cuộc Tổng công kích Mậu Thân là khởi điểm của một khúc quanh bi thảm trong cuộc chiến tranh VN. Các chính khách Hoa Kỳ nay cho rằng thuyết Dominoes không còn giá trị, Nga Tầu chia rẽ, hiểm hoạ xăm lăng của CS không còn, họ đang tính chuyện đi đêm với Trung Cộng. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970 Quân đội VNCH được Mỹ giúp đỡ và khuyến khích hành quân sang Mên đánh Cộng Sản đã thành công vẻ vang, nhưng đầu năm sau Hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào không thành công, ta bị thiệt hại về nhân mạng và vũ khí.

Phong trào phản chiến tại Mỹ càng lên cao dữ dội vì chính phủ mới Nixon vẫn tiếp tục leo thang chiến tranh. Tháng 5 -1970 trong một cuộc biểu tình tại trường Đại học Kent, Ohio Quân đội đã bắn chết 4 sinh viên, làm bị thương 10 người khác khiến cho phong trào chống chiến tranh lên cao gấp bội lần những năm trước. Trong những năm 1965, 66, 67.. mặc dù số cán binh CS bị tử thương lên tới mấy trăm nghìn người nhưng người Mỹ không thấy dấu hiệu gì BV bi quan, trái lại họ vẫn tiếp tục đưa quân vào Nam qua đường mòn Hồ chí Minh. Nhiều người Mỹ bi quan cho rằng BV sẵn sàng hy sinh thêm một triệu người nữa và con số lính Mỹ chết tại VN sẽ tăng lên hằng trăm nghìn người hoặc cao hơn nữa.

Nixon bắt đầu cho rút quân từ giữa 1969 cho tới cuối năm họ rút 61 ngàn, năm 1970 rút 141 ngàn, năm 1971 rút 178 ngàn, năm 1972 rút 132 ngàn, đến 1972 chỉ con 24 ngàn người. Chính phủ Mỹ đồng thời thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, nâng tổng số quân đội miền Nam từ 640 ngàn năm 1967 và 820 ngàn 1968 lên tới 970 ngàn năm 1969. Hoa kỳ rút quân thực hiện Việt Nam Hoá chiến tranh là đã nghĩ tới chuyện bỏ Việt Nam, họ chỉ chờ cơ hội bắt tay được với Trung Quốc là thực hiện kế hoạch “vắt chanh bỏ vỏ” nhưng người dân miền Nam ngây thơ thật thà không ai ngờ tới. Trong khi giúp miền Nam đánh Cộng Sản họ đã ngấm ngầm tìm cách thương lượng với Trung Hoa đỏ. Năm 1970 họ bí mật đi đêm với Trung Cộng, ngày 9-7-1971 Kissinger đã bí mật gặp Chu Ân Lai tại Bắc kinh .

Năm 1969 chúng tôi có được nghe một người hồi chánh viên nói “ Mỹ muốn chiêu hồi Trung Quốc chứ Bắc Việt thì nghĩa lý gì”. Tướng Tôn Thất Ðính trong hồi ký có ghi lại lời ông Ngô đình Nhu cho rằng Mỹ muốn vào VN chỉ để đi tới thoả thuận với Bắc Kinh, Tướng Ðính cho rằng nhận định của ông Nhu đã thành sự thật, khi Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông thì tiền đồn chống Cộng của VNCH hết ý nghĩa, Hoa Kỳ phải thu xếp chấm dứt cuộc chiến tranh không cần thiết. Ngày 21-2-1972 tại Bắc kinh Tổng thống Ðế quốc bắt tay Mao Trạch Ðông. Họ mua bán với nhau trên xương máu của quân dân hai miền Nam Bắc, Nixon tươi cười mãn nguyện, cơn ác mộng Trung quốc không còn ám ảnh Hoa kỳ.

Hồi ấy người dân miền Nam ai nấy vui mừng hớn hở tưởng như “hoà bình sắp tới nơi rồi” nhưng thực ra “sắp chết tới nơi” mà không ai hay biết, ngay cả Nguyễn Văn Thiệu, tháng 4 năm 1974 ông đã cho phe thân chính phủ sửa Hiến Pháp để ra ứng cử Tổng Thống thêm một lần nửa!

Cuối tháng 3/1972 Bắc Việt đưa 5 Sư đoàn với 200 xe tăng, 3 trung đoàn pháo ồ ạt tấn công vùng giới tuyến chia làm hai mũi: 3 Sư đoàn vượt sông Bến Hải đánh vào Quảng Trị, 2 Sư đoàn từ phía Tây tiến về Huế. Mấy ngày sau ba Sư đoàn CS 5, 7, 9 cùng 200 chiến xa tiến đánh Bình Long, ngoài ra Sư đoàn 320 tiến đánh Kontum và Sư đoàn 3 đánh Bình Ðịnh. Tổng cộng 10 sư đoàn Bắc Việt đánh lớn trong mùa Hè Đỏ Lửa 1972 để thêm sức mạnh tại bàn hội nghị, toàn bộ lực lượng vào khoảng 130 ngàn người, trong khi trận đánh diễn tiến họ có bổ sung thêm khoảng 50 ngàn người. Tại Quân Khu 3 các cuộc tấn công vào thị xã An lộc của Bắc Việt từ 11-5 cho tới cuối tháng 5 bị đẩy lui, hằng trăm xe tăng bị bắn cháy, đến ngày 18-6 An Lộc coi như hoàn toàn được giải toả.

Tại Kontum 2 Sư đoàn CS (SÐ320 và SÐ2) tham gia chiến dịch từ đầu tháng 4, ngày 23-4 BV tấn công dữ dội, Tân cảnh và Dakto bị tràn ngập. Ngày 10-5 Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn lên thay Trung Tướng Ngô Dzu giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, Chiến dịch của CS được chia làm 2 giai đoạn giai đoạn 1 từ 14 tới 17-5 Cộng quân tấn công dữ dội, Pháo Binh của ta không đủ sức ngăn chận, phòng tuyến có nguy cơ sụp đổ, nhờ sự yểm trợ của B-52 đã cứu vãn được tình thế. Các đợt tấn công kế tiếp từ 18-5 tới cuối tháng của CS thất bại, ngày 30-5 VNCH đã chiếm lại được toàn thành phố, Kontum coi như thoát hiểm.

Tại vùng giới tuyến ngày 3-5 Tướng Ngô quang Trưởng thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm và bắt phản công tái chiếm Quảng Trị từ 28-6. BV đưa vào mặt trận 6 Sư đoàn nhưng đã làm mồi cho B-52, Pháo Binh và máy bay Chiến Thuật VNCH. Tới tháng 9 chưa có kết quả cụ thể nào. Ngày 9-9 TQLC khởi sự tấn công vào cổ thành, cho tới 16-9 TQLC đã cắm cờ trên Cổ Thành, cuộc chiến đẫm máu coi như chấm dứt. Trận chiến mùa Hè Cộng quân thiệt hại khoảng 70 ngàn người, ước lượng từ 500 cho tới 700 xe tăng bị bắn cháy, phía VNCH có khoảng 30 ngàn người thiệt mạng. Cho đến cuối 1972 có hơn một triệu cán binh Cộng Sản bị tử thương trong khi Bắc Việt vẫn ngoan cố theo đuổi chính sách “cố đấm ăn xôi” đẩy thanh niên vào chỗ chết để thúc đẩy phong trào phản chiến.

Người Mỹ cho rằng chiến thắng trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa một phần do sự yểm trợ hùng hậu của Không Lực Mỹ, chính ông Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng cũng đã xác nhận:
“Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đã cho thấy nhược điểm của tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh. Nếu không được yểm trợ của Mỹ về Không Lực và di động tính, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khó có thể giữ được An Lộc, bảo vệ được Kontum và chiếm lại đượïc Quảng Trị . Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi vì chúng tôi không có đủ khả năng chiếm lại. Tuy nhiên, lúc nào còn Không Lực Mỹ thì cán cân lực lượng vẫn có thể duy trì và Việt Nam Cộng Hoà vẫn còn một cơ hội tốt để sống còn”
Như thế năm 1972 lực lượng Việt Nam Cộng Hoà không được cân bằng so với Bắc Việt, nó chỉ cân bằng khi có sự yểm trợ của Không Quân Mỹ, tại miền Nam riêng tháng 5- 1972 có hơn 18 ngàn phi vụ do 700 phi cơ chiến đấu và do 160 pháo đài bay B-52 thực hiện cùng với yểm trợ Hải Pháo của khoảng 41 chiến hạm ngoài khơi Thái Bình Dương . Họ yểm trợ hết mình cho VNCH, ngoài Không Yểm của B-52 còn có yểm trợ về vận tải của máy bay khổng lồ C130. Họ muốn miền Nam phải thắng để lấy thế mạnh trên bàn Hội Nghị và ký Hiệp Ðịnh Paris rút quân về nước, lấy về 587 tù binh. Nhà chuyên viên du kích chiến Sir R. Thompson cho biết miền Bắc phải ngồi vào bàn Hội nghị không phải để cứu họ mà là để cứu nước Mỹ khỏi cấu xé nhau tan nát.

Năm 1968 và 1972 chính phủ Việt Nam đã đề nghị chính phủ Mỹ cho thành lập thêm 2 Sư đoàn Tổng Trừ Bị để đối phó với lực lượng địch đã có ưu thế về Xe tăng, Pháo Binh, nhưng người Mỹ từ chối lấy lý do tốn kém. Kỳ thực họ không muốn cho quân đội miền Nam mạnh quá vì sợ có thể liều lĩnh đánh ra Bắc hoặc ương bướng khó bảo, họ luôn luôn nắm đằng chuôi. Như thế ta có thể kết luận về Chủ lực Quân, miền Nam không bằng miền Bắc cũng như năm 1953 Chủ lực Quân Việt Minh vẫn mạnh hơn Pháp.

Sau ngày ký hiệp định Paris, năm 1973 tình hình tiếp vận của miền Nam bắt đầu thiếu hụt, một số lớn xăng dầu đạn dược đã được dốc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, quân viện bị cắt giảm dần dần từ 2 tỉ 1 năm 1973 còn 1 tỉ 4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975.

Theo tiết lộ sau này của Ông Cao văn Viên, Bộ TTM VNCH, hậu quả của giảm quân viện là Không Quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay, giảm số giờ bay yểm trợ huấn luyện 50%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Các hoạt động Hải Quân cũng cắt giảm 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ. Theo sử gia Bill Laurie từ giữa năm 1974, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ xiết cổ VNCH, so với năm 1972 , năm 1975 hoả lực súng lớn (đại bác 105 ly, 155 ly..) giảm tới hơn 90%. Theo BTTM hỏa lực giảm 60%, năm 1972 mỗi tháng quân đội VNCH xử dụng khoảng trên 65 ngàn tấn đạn nhưng tới 1974 chỉ xử dụng hạn chế 19 ngàn tấn một tháng, đạn dược chỉ đủ xài cho đến tháng 5-1975.

Chúng ta thấy rất rõ ý đồ của người Mỹ trước và sau khi ký Hiệp Ðịnh Paris, năm 1972 họ yểm trợ cho VNCH hết mình để lấy thế mạnh trên bàn Hội Nghị rút quân về nước, tiếp theo đó là giai đoạn “vắt chanh bỏ vỏ”, cắt giảm quân viện khi VN không còn là tiền đồn chống Cộng của Ðông Nam Á vì họ đã bắt tay và thoả thuận được với Trung Hoa đỏ. Họ chỉ hứa xuông sẽ yểm trợ miền Nam nếu bị CS vi phạm Hiệp định, tấn công.

Năm 1973 có thể chia làm hai giai đoạn: Thứ Nhất từ 28-1-73 cho tới tháng 10-1973. Thứ Hai từ sau tháng 10-1973. Chỉ thị tháng 2-1973 của Trung Ương Cục miền Nam chủ trương thúc đẩy hoạt động chính trị nhưng đến tháng 6-1973 khi Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt các ngân khoản cho các hoạt động quân sự của chính phủ tại Ðông Dương, tháng 10 Quốc Hội ra Ðạo Luật Quyền hạn chiến tranh (War Powers Act) giới hạn quyền Tổng Thống Mỹ thì tình hình lại thay đổi. Tại Hà Nội, Ðại hội 21 của Bộ chính trị Trung ương đảng họp vào tháng 10 năm 1973 quyết đấu tranh bằng vũ lực sau khi được biết Quốc Hội Mỹ cắt giảm quân viện, trói tay hành pháp. Trung Cộng và Nga Sô thừa cơ viện trợ ồ ạt súng đạn cho Bắc Việt tiến đánh miền Nam, nhưng thực ra họ đã thoả thuận với nhau cả rồi.

******

2. So sánh với tình hình năm 1972 chúng ta sẽ thấy:

Trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa, Bắc Việt đã đưa vào trận đánh tổng cộng 10 sư đoàn, ta có đầy đủ tiếp liệu, đạn dược, săng dầu để chiến đấu lại được Không Quân Mỹ giúp đỡ về vận chuyển và oanh tạc. Sang năm 1975 VNCH không được B52 yểm trợ. Toàn bộ lực lượng chủ lực BV gồm 15 Sư đoàn BB (thuộc 4 Quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232) cộng thêm 2 Sư đoàn đặc công và trên 10 Trung đoàn độc lập, tương đương trên dưới 20 Sư đoàn BB. Ðầu năm 1975 vào khoảng 80% Chủ lực quân BV đã có mặt tại miền Nam vào khoảng 17 Sư đoàn, 3 Sư đoàn tổng trừ bị thuộc Quân đoàn 1 còn đóng ở phía trên Bến Hải, khi ta mất vùng 1 và 2 , BV đưa nốt 3 Sư đoàn vào Nam nâng tổng số lên 20 sư đoàn. Vũ khí đạn dược năm 1975 BV đưa vào Nam gấp 3 lần 1972 theo tiết lộ của báo Nhân Dân năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30-4. 

Chúng ta hãy lập bảng so sánh như sau:

Năm 1972- Bắc Việt đưa vào trận địa 10 sư đoàn
- Miền Nam có đầy đủ tiếp liệu đạn dược.
- Có yểm trợ của Không Lực Mỹ. 

Năm 1975- Lực lượng Bắc Việt tại miền Nam lên tới 20 sư đoàn, gấp đôi năm 1972.
- Vũ khí đạn dược của Bắc Việt gấp 3 lần năm 1972, đưa vào Nam tự do không bị đánh phá.
- Miền Nam thiếu thốn đạn dược, nhiên liệu. Không được phi cơ Mỹ yểm trợ oanh tạc và vận chuyển.

Nhìn sơ ta cũng đủ thấy tình hình miền Nam lúc ấy bi đát như thế nào rồi, vào thời điểm này miền Nam chỉ còn trông cậy vào yểm trợ của máy bay chiến lược B-52 để cứu vãn tình thế . Năm 1973, đạn dược tiếp liệu của miền Nam tương đối dồi dào hơn năm 1974, BV chưa phục hồi sau trận Mùa Hè Đỏ Lửa. Tại mặt trận Quảng Ðức khoảng cuối 1973, các Trung đoàn csBV giao tranh với quân đội VNCH tại Bù Prăng, Kiến Ðức để bảo vệ xa lộ Ðông Trường Sơn đã bị thiệt hại nặng nề, Quân đội miền Nam đã bắn khoảng 100 ngàn quả đại bác 155 ly đẩy lui địch. Từ tháng 8 tới cuối năm 1974 tại mặt trận Thượng Ðức, Quảng Nam hai Lữ đoàn Nhẩy Dù và các Trung đoàn csBV giao tranh dữ dội, dằng co nhau ngọn đồi 1062. Trận đánh cho thấy hoả lực cs được gia tăng hơn trước trong khi đó quân đội miền Nam phải giới hạn xử dụng đạn được. Trong năm 1974 hầu hết các cứ điểm VNCH không chịu nổi pháo kích ồ ạt của địch như Tống Lê Chân, 24-3-1974, Dakrek, Kontum ngày 16-5-1974 (7 ngàn quả), Nông Sơn Quảng Nam 18-7 (5 ngàn quả), Tiêu Atar, Bắc Ban Mê Thuột 30-5 (trên 1 ngàn quả)…

Trong khi BV có khá đầy đủ tin tức tình báo về miền Nam, ta lại thiếu tin tức chính xác về họ. Frank Snepp trong cuốn Decent Interval cho biết một điệp viên cao cấp tại dinh Ðộc Lập đã cung cấp cho CSBV những tin tức quan trọng về kế hoạch quân sự của VNCH qua phiên họp cao cấp quân sự tại dinh Ðộc lập ngày 9 và 10-12 1974. Trong phiên họp này TT Thiệu cho biết CS sẽ tấn công Tây Ninh, ông sẽ không tăng viện cho QK-2.

Văn Tiến Dũng (trong Ðại thắng mùa Xuân) cũng xác nhận giống như vậy, vào ngày 9 và 10 tháng 12-1974 vài ngày trước khi Bắc Việt đánh Phước Long, trong một phiên họp các Tư Lệnh Quân Khu tại dinh Ðộc Lập, ông Thiệu cho rằng năm 1975 Bắc Việt có thể đánh lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng 1972, chưa có khả năng đánh vào các thị xã lớn mà chỉ đủ đánh các tỉnh nhỏ như Phước Long, Gia Nghĩa, rằng Bắc Việt sẽ đánh Quân Khu 3 chủ yếu là Tây Ninh. Nhờ tin tức gián điệp BV càng quyết tâm hơn trong việc đánh chiếm QK-2 vì nơi đây không được tăng cường.

Lực lượng địch như đã nói ở trên tổng cộng là 20 Sư đoàn, với số xe tăng thiết giáp ước lượng không chính xác khoảng từ 500 tới 600 chiếc và 600 khẩu pháo. Một nhà báo Tây Phương nói hai bên xem như ngang nhau vào lúc đầu của tấn thảm kịch. Năm 1975 VNCH có trên một triệu quân. Thực ra lính nhà nghề chỉ có 13 Sư đoàn và 15 Liên đoàn BÐQ tương đương với hai Sư đoàn (mỗi Liên đoàn khoảng trên 1,000 người), toàn bộ lực lượng vào khoảng 15 Sư đoàn. Quân đội VNCH tổ chức theo lối Mỹ, một người tác chiến có 5 người yểm trợ, Chủ lực Quân có khoảng hơn 400 ngàn trong đó thành phần tác chiến chỉ vào khoảng từ 160 tới 180 ngàn người, còn lại là các đơn vị yểm trợ.

Về mặt số lượng xe tăng và đại bác của VNCH khoảng gấp 3 lần csBV tại miền Nam nhưng về mặt phẩm Thiết giáp miền Nam gồm M48, M41, M113, trong đó chỉ có M48 là tương đương với T54 của Bắc Việt. Ðại bác 130 ly của BV có tầm viễn xạ tối đa là 30 cây số trong khi pháo 105 ly, 155 ly của miền Nam chỉ được 11 và 15 cây số, sau này được viện trợ thêm 175 ly có tầm bắn xa 25 cây số. Quân đội VNCH tuy đông nhưng phải trải quân giữ đất nên thiếu lực lượng di động và quân Tổng Trừ Bị. Cộng quân có ưu thế lựa chọn chiến trường nên họ có thể tập trung quân đông đảo như tại QK-1, QK-2 năm 1975 về bộ binh, tại trận địa, quân số csBV nhiều gấp 5 lần VNCH, về đại bác gấp đôi, về xe tăng ngang nhau. Lực lượng hai bên không cân bằng vì miền Nam lâm vào tình trạng hết đạn.

Quân khu 2 gồm 12 tỉnh mà chỉ có 2 Sư đoàn BB và 7 Liên đoàn BÐQ trấn giữ, lực lượng bị phân tán mỏng lại là nơi địch chủ trương tấn công toàn diện, Bắc Việt tung vào trận địa này 5 Sư đoàn (gồm 5 Sư đoàn và 4 Trung đoàn độc lập) tổng cộng gần 80 ngàn người. Bắc Việt bất ngờ đưa ba Sư đoàn tấn công Ban mê thuột ngày 10-3, thành phố gần như bỏ ngỏ vì chỉ được phòng thủ rất sơ sài, hôm sau hầu như toàn thị xã lọt vào tay BV. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh QK-2 mắc lừa kế nghi binh của Văn Tiến Dũng tưởng là BV tấn công Pleiku ông đã phòng thủ rất kỹ đại bản doanh này nên đã để mất Ban Mê Thuột.

Hai hôm sau 12-3-1975 Quốc hội Mỹ cắt 300 triệu đô la quân viện bổ túc cho VNCH mà TT Ford đã đệ trình trước đây và quân viện cho năm tới sẽ không được chuẩn chi như thế ta chỉ còn đạn đủ đánh trong vòng vài tháng. Từ ngày 11-3 tại dinh Ðộc Lập TT Nguyễn văn Thiệu triệu tập phiên họp An Ninh QG với Ðại Tướng Cao Văn Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Ðặng Văn Quang cho biết phải rút Quân bỏ QK-1 và 2 để về bảo vệ QK-3 và 4 vì lãnh thổ quá rộng không đủ lực lượng bảo vệ. Kontum, Pleiku bị áp lực nặng, Tướng Phú bay về Cam ranh họp với các Tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang để bàn kế hoạch rút lui Pleiku theo đường số 7 B về Tuy Hoà.

Cuộc triệt thoái bắt đầu từ 16-3 đến 19-3, ngày đầu nhờ yếu tố bất ngờ nên đoàn lữ hành ra đi êm xuôi, hôm sau dân chúng ùa theo, ngày 18-3 đoàn di tản tới Phú Bổn, chiến xa và đại bác dồn đống tại đây bị Cộng quân pháo kích hư hại gần hết . Cuộc triệt thoái không có kế hoạch đầy đủ, cấp trên nhiều người bỏ đơn vị chạy trước, kỷ luật hỗn tạp, kẻ xấu lợi dụng phá hoại, giết chóc. . Cuộc triệt thoái trên Đường số 7B đã đi vào vết xe đổ của cuộc lui binh tại Cao Bắc Lạng của Pháp năm 1950 được coi như một thảm bại lớn nhất trong cuộc chiến tranh tại miền Nam nước Việt từ trước đến nay.

Tướng Cao Văn Viên cho rằng ít nhất 75% các lực lượng chiến đấu của Quân đoàn 2 đã bị tiêu diệt, 60 ngàn chủ lực quân khi về đến Tuy hoà chỉ còn lại khoảng 20 ngàn, năm Liên đoàn BÐQ 7,000 người chỉ còn 900 người, 100 xe tăng các loại chỉ còn 13 cái M-113, trong số 200 ngàn dân Cao Nguyên chạy loạn chỉ có khoảng 45 ngàn người tới được Tuy Hoà. Tổng số vũ khí đạn dược trị giá 253 triệu đô la lọt vào tay Cộng quân. Ít ra cũng có tới hằng chục ngàn người thiệt mạng, cuộc triệt thoái mang lại hậu quả hết sức tai hại, nó đã kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ VNCH.

Miền Nam đang ở trong tình trạng ngặt nghèo vì thiếu đạn, săng dầu. . Ông Thiệu lại đưa ra những quyết định sai lầm vô cùng tai hại khiến cho đất nước trong chớp mắt đã kề bên bờ vực thẳm. Ngày 13-3 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QK-1 về dinh Ðộc Lập họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, TT Thịêu yêu cầu Tướng Trưởng đưa trả Sư đoàn Dù về QK-3 thực hiện tái phối trí lực lượng. 

Ngày 14-3 Tướng Trưởng trở ra Ðà Nẵng họp tham mưu thảo luận kế hoạch tái phối trí, Liên đoàn 14 BÐQ thay thế TQLC tại Quảng Trị để TQLC thay Lữ đoàn Dù. 

Ngày 17-3 TQLC rời Quảng Trị về Ðà Nẵng khiến dân chúng sợ hãi di tản ồ ạt trên Quốc Lộ 1.

Ngày 19-4 Tướng Trưởng về Sài Gòn trình bầy kế hoạch lui binh từ Huế, Chu Lai về Ðà nẵng theo đường bộ, trong trường hợp đường bộ bị cắt thì các lực lượng của Quân đoàn sẽ tập trung tại Huế, Ðà Nẵng, Chu Lai, tầu Hải Quân sẽ chở lính từ Huế, Chu Lai về Ðà Nẵng, thành phố này vẫn là điểm tựa cuối cùng. Ngày 19-3 Quảng Trị bỏ ngỏ, Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh tại Bắc và Nam Quân Khu.

Nhìn trên bản đồ quân sự ta thấy VNCH chỉ còn kiểm soát được khoảng 1/3 diện tích QK-1 kể từ ngày 19-3-1975 Quảng Trị coi như bỏ ngỏ đã lọt vào tay Bắc Việt. Hôm 20-3 Tổng Thống hiệu triệu trên đài phát thanh Huế ban hành lệnh tử thủ. Ngày hôm sau Tướng Trưởng nhận được lệnh bỏ Huế rút về Ðà Nẵng, ngày 24-3 Cộng quân tấn công dữ dội, ngày 25-3 Quảng Tín và Quảng Ngãi thất thủ.

Ngày 25-3 các đơn vị của Quân đoàn đã tụ tập tại 3 phòng tuyến chính Nam Chu Lai, Ðà Nẵng, Bắc Huế, các lực lượng Quân đoàn thiệt hại nặng trên đường di tản về các phòng tuyến này. Tướng Trưởng cho Sư đoàn 1 và các lực lượng quanh Huế rút về Ðà Nẵng, ông cũng lệnh cho Sư đoàn 2, chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ rút ra Cù Lao Ré ngoài khơi Chu Lai, khoảng một nửa quân số của Sư đoàn 2 đã lên tầu. Ngày 26-3 tại cửa Tư Hiền và Thuận An các đơn vị TQLC, BÐQ, ÐPQ… cùng với hàng trăm khẩu pháo.. hỗn loạn diễn ra, người ta bắn nhau để giành chỗ trên tầu, CSBV pháo kích vào địa điểm tập trung quân gây thiệt hại nặng nề.





Ngày 27-3 cuộc phòng thủ Ðà Nẵng trở nên vô hiệu trước sự hỗn loạn, thành phố nay đông nghẹt những người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát nổi. Cuộc di tản tại QK-1 đã diễn ra một cách hỗn loạn được coi như tồi tệ hơn tại QK-2, các nhân chứng sau này kể lại nhiều người cấp lớn bỏ lính để chạy tháo thân. Ngày 28-3 Ðà Nẵng bắt đầu nghiêm trọng, Cộng quân pháo vào thành phố dữ dội gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, Tướng Trưởng gọi về BTTM xin di tản, ông Thiệu không ra lệnh rõ ràng. Ngày 29-3 Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Ðà Nẵng. Tại QK-2 ngày 27-3 Lâm Ðồng di tản, ngày 1-4 Qui Nhơn thất thủ sau một tuần giao tranh dữ dội, Sư đoàn 22 BB chiến đấu rất anh dũng nhưng không thể chống lại lực lượng quá đông đảo của Cộng quân. Ngày 16-4 mất Phan Rang, hai hôm sau Phan Thiết chịu chung số phận, toàn bộ hai QK-1 và 2 lọt vào tay csBV.




Kế hoạch tái phối trí của ông Thiệu rút bỏ hai Quân Khu 1 và 2 chẳng khác nào dọn cỗ sẵn cho csBV xơi, họ chiếm được 16 tỉnh, một nửa VNCH trong vòng có hơn một tháng. Tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, xe tăng đại bác . . tại hai vùng hầu như mất hết, một phần lớn đã lọt vào tay Cộng quân, đúng là giáo vào tay giặc. Năm 1976, Cộng sản tiết lộ trên báo chí họ đã lấy được rất nhiều chiến lợi phẩm tại Vùng 1 và 2 nào xe cộ, đại bác, thiết giáp. . để trang bị thêm, đạo quân của cs bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Cuộc rút lui hỗn loạn tại hai Quân khu dưới những trận mưa pháo của địch khiến hằng vạn người bị chết oan.

Tại Xuân Lộc Long Khánh QÐVNCH chống trả dữ dội cuộc tấn công của BV gây thiệt hại nặng nề cho địch. Ngày 18-4-1975 Quốc Hội Mỹ bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp cho VNCH của TT Ford, đối với người Mỹ chiến tranh VN cũng như Ðông Dương đã được giải quyết xong, nói trắng ra họ bỏ Ðông Dương giao lại cho cs. Tại Sài Gòn các ông to bà lớn đã chuẩn bị kế hoạch “tẩu vi thượng sách” y như năm 1949 tại Nam Kinh bên Trung Hoa các ông Bộ trưởng, Tỉnh trưởng đã lên máy bay ra đảo Ðài Loan.

Ngày 21-4 ông Thiệu từ chức, tuyên bố Hoa kỳ bỏ rơi Đồng Minh, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, ba ngày sau hai ông Thiệu và Khiêm rời Sàigòn sang Ðài Loan. Ngày 28-4 ông Trần văn Hương bàn giao cho ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Sau khi chiếm được hai Quân Khu 1 và 2, BV hối hả đưa đại binh vào chiếm Sài Gòn trước Mùa Mưa, tổng cộng họ đã dưa vào gần 20 Sư đoàn, khoảng 400 xe tăng và 400 đại bác.

Phía VNCH chỉ có 3 Sư đoàn 25, 5, 18 và các lực lượng di tản từ miền Trung tổng cộng độ 6 Sư đoàn. BTTM đã lấy hết súng đạn, tái trang bị cho các đơn vị di tản, hoả lực yếu kém, năm phòng tuyến bảo vệ Thủ đô của VNCH là tuyến Củ Chi , Bình Dương, Biên Hoà, Vũng Tầu, Long An… bị sụp đổ trước các cuộc tấn công của BV từ ngày 26-4 cho tới sáng 30-4. Mặc dù các đơn vị cảm tử của VNCH như Biệt Cách Dù vẫn còn chiến đấu anh dũng tại Ngã Tư Bẩy Hiền nhưng ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trưa ngày 30-4 để tránh đổ máu vô ích.

Từ đó đến nay nhiều người Việt đổ lỗi cho Mỹ đã bỏ rơi Đồng Minh năm 1975. Người Mỹ, điển hình là đương kim Tổng Thống Bush và Bộ Trưởng Quốc Phòng lại chỉ trích quân đội VNCH trước đây đã không chịu đánh. Nhiều chính khách Hoa kỳ lại đổ lỗi cho miền Nam Việt Nam. Theo Nguyễn đức Phương, nhà nghiên cứu quân sự thì nguyên nhân thất bại đã đến từ cả hai phía Việt Nam và Mỹ.

Như chúng tôi đã trình bầy ở trên, Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự khiến cho Quân Đội miền Nam lâm vào tình trạng ngặt nghèo kiệt quệ, một ông Tướng Pháp nói đó là bức tử Việt nam. Những yếu tố đưa tới sự sụp đổ của miền Nam có thể bao gồm trong các nguyên nhân chính:

- Sự sai lầm của ông Thiệu trong việc rút bỏ hai Quân khu, tuy nhiên giả thử ông không cho rút lui và tăng cường tiếp viện cả hai Vùng và cầm cự được cho tới Mùa Mưa, CSBV phải tạm ngưng chiến chờ mùa khô nhưng khi ấy QÐVNCH lâm vào tình trạng hết đạn hoàn toàn và phải xin Quốc Hội Mỹ viện trợ khẩn cấp, thật khó mà ước đoán kết quả ra sao. Ông Thiệu không phải là nguyên do duy nhất đưa tới sụp đổ.

- Quốc Hội Mỹ là nguyên nhân chính trong việc cắt giảm quân viện cho VNCH đã bức tử miền Nam.

- Thuyết Dominoes có từ thời Tổng Thống Eishenhower nay đã lỗi thời không còn giá trị, người Mỹ đã bắt tay được Trung Cộng, Ðông Nam Á không còn bị cs đe doạ cho dù bỏ Đông Dương.

- Phong trào phản chiến tại Mỹ đã gây chia rẽ sâu xé nội bộ nước Mỹ khiến họ phải rút bỏ Ðông Dương một cách tàn nhẫn.

- Chế độ Nguyễn Văn Thiệu ngày càng suy bại vì tham nhũng khiến Hoa Kỳ chán nản mệt mỏi vì phải trợ giúp một chính quyền nhiều khuyết điểm và thối nát.

- Cuộc chiến tranh VN đã được quốc tế hoá từ 1950 cho tới 1975, miền Nam và Ðồng Minh phải đương đầu với một kẻ thù cố đấm ăn xôi, dai dẳng. Người Pháp đã quá ghê sợ cuộc chiến tranh Ðông Dương và phải rút bỏ từ 1954, Mỹ lại đi vào vết xe đổ của Pháp khi tham dự một cuộc chiến tranh không cân xứng giữa một anh nhà giầu sợ chết và một thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi.

Ngoài ra những người chạy lọan từ miền Trung vào Nam, một số sĩ quan viết lại hồi ký, họ nói rằng cấp lớn nhiều người thiếu tư cách, bỏ lính tráng lại chạy tháo thân.

Thật vậy, nhiều ông Tỉnh Trưởng vét tiền trong ngân khố chạy trước, điều đáng tiếc là trong khi tinh thần binh sĩ còn cao, cấp lớn hèn nhát ích kỷ đã giúp cho sự sụp đổ của miền Nam nhanh hơn dự kiến. Trong khi ba quân tướng sĩ còn đang chiến đấu anh dũng bảo vệ Vùng 3, nhiều ông to bà lớn đã thu xếp quí kim chuồn ra ngoại quốc. Nguyễn Ðức Phương cho rằng người dân thờ ơ không chịu giúp đỡ chính phủ, nhưng theo chúng tôi nghĩ vì chế độ Thiệu đã quá thối nát, hẳn là ai cũng đều biết cả, nên người dân chán ngán không còn thiết tha gì đến, họ cũng chỉ lo chạy tháo thân mặc cho nó sụp đổ tan tành.

Sau 30-4-1975 người ta ước lượng Cộng quân đã chiếm được 1,100 phi cơ các loại, hằng ngàn tầu, thuyền các loại của Hải Quân, 300 xe tăng M41, 250 xe M48; 1,000 đại bác 105 ly, 300 đại bác 155 ly và 175 ly, 800 ngàn súng cá nhân M-16, 15 ngàn đại liên; 500 trực thăng; 130 ngàn tấn đạn dược. . tất cả trị giá hằng tỷ Mỹ kim.

Ngày 14 và 15-4-2006, Viện lịch sử Quân Sự Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo tại Sài Gòn đã công bố cho biết trong giai đoạn 1973-1975 Nga, Trung Quốc và các nước XHCN đã viện trợ cho Hà Nội 724,512 tấn hàng hậu cần và vũ khí. Trong số đó viện trợ của Trung ctrợ của Trung quốc gấp gần 10 lần Nga, điều này cho phép ta khẳng định rằng họ đã thoả thuận với nhau cả rồi, sau khi Nixon bắt tay Mao, Trung cộng viện trợ ồ ạt cho Hà Nội, Mỹ cắt giảm viện trợ cho VHCH tới xương tủy để sau cùng miền Nam sụp đổ tan tành.

Hậu quả của tấn thảm kịch như ta thấy đã khiến cho hằng mấy vạn người chết oan, hằng trăm nghìn người bị tù đầy giam giữ lâu dài, vài năm sau có tới mấy trăm nghìn người bỏ xác giữa biển khơi trên đường tỵ nạn. Cuộc chiến tranh 1975 đã chấm dứt từ mấy chục năm qua nhưng nó vẫn in sâu trong tâm khảm người Việt nhất là đám tỵ nạn lưu vong. Bây giờ không phải lúc chúng ta ngồi oán trách đồng minh bỏ rơi miền Nam, ta phải tự trách mình đã không bảo được nhau, đã tự biến mình thành những quân tốt cho người ta xử dụng, đã để cho họ mua bán với nhau trên xương máu của hằng triệu binh lính cả hai miền Nam Bắc, đã biến đất nước thành bãi chiến trường và nơi thử vũ khí của Khoa Học Quốc Phòng.

Cộng sản Việt Nam đã gây lên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn sẽ phải đời đời đắc tội trước non sông và lịch sử. Các siêu cường Nga, Mỹ, Trung Cộng cũng phải chịu trách nhiệm trước lịch sử loài người vì họ đã giúp vũ khí và xúi dục cho các dân tộc Ðông Dương giết hại lẫn nhau.
Trọng ĐạtTài Liệu Tham Khảo
- Trần Trọng Kim: Một Cơn Gió Bụi
- Hoàng Văn Chí: Từ Thực Dân Ðến Cộng Sản. Chân Trời Mới, 1965.
- Cao Thế Dung: Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, Alpha 1991.
- Ðoàn Thêm: Những Ngày Chưa Quên, Quyển Thượng (1939-1954), Quyển Hạ(1954-1963), Xuân Thu 2000.
- Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1990.
- Lâm Lễ Trinh: Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang, 2006.
- Phan Thứ Lang: Bảo Ðại, Vị Vua Triều Nguyễn Cuối Cùng, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 1999.
- Vũ Ngự Chiêu: Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945, Ðế Quốc Việt Nam 3-8-1945, Văn Hoá 1996
- Nguyễn Ðức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
- Nguyễn Ðức Phương: Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Ðại Nam, 2000.
- Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
- Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
- Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003
- Trần Ðông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 ngày cuối cùng , Nam Việt 2006
- Nguyễn Tiến Hưng: Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản, 2005.
- Văn Tiến Dũng: Ðại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2005.
- Ðinh Văn Thiên: Một Số Trận Ðánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, nhà xuất bản Quân Ðôïi Nhân Dân, Hà Nội 2005.
- Dương Ðình Lập, Trần Minh Cao: Cuộc Tổng Tiến Công và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975, nhà xuất bản tổng hợp TPHCM 2005.
- Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1991.
- Ðoàn Thêm: 1965 Việc Từng Ngày, Xuân Thu 1989.
- Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.
- The World Almanac Of The VietNam War: John S.Bowman, General editor, A Bison book.
- Stanley Karnov: Vietnam - A History, Penguin books 1991.
- Marilyn B Young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents, Oxford University press 2002.
- Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.
-Nguyễn Quang Khải: Sau Ba Mươi Năm Giữ Yên Lặng, Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin R Laird Nói Gì Về Cuộc Chiền Tranh Ở Việt Nam, điện báo Talawas tháng 3-2006.
- Việt Nguyên: 32 Năm Lật Trang Sử Cũ, Người Việt Dallas 25-4-2007.
- Minh Võ: Tại Sao Thua, Người Việt Dallas 26-4-2006.
- Trần Việt Ðại Hưng: Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam 1975, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2002.
- Lữ Lan: Cuộc Chiến 30 Năm Nhìn Lại Từ Ðầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.
- Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất, Người Việt Dallas 7-10-2005.
- Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2006.
- Lâm Lễ Trinh: Mạn Ðàm Với Ðại Tướng Cao Văn Viên, Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang 2006.
- Hồ Ðinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Ðội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas 23-12-2005.
- Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Ðỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.
- Cao Văn Viên: Tuyến Ðầu Vùng Một Thất Thủ, Thằng Mõ Sacramento, số cuối tháng 4-2006.
- Nguyễn Văn Lục: Ði Tìm Thời Gian Ðánh Mất, 30-4-1975, 30-4-1976, 30-4-2007, Sài Gòn Nhỏ Dallas, 6-4-2007.

Sunday, 20 December 2015

TRỌNG ĐẠT TÊN THẬT LÀ NGUYỄN TRỌNG ĐẠT QGHC - MỘT TÊN HÀNH NGHỀ LƯỢM LON NHÔM Ở PRAIRIE -ARLINGTON-TEXAS

NẾU KHÔNG BIẾT TRỌNH ĐẠT LÀ AI MÀ ĐỌC BÀI CỦA HẮN TA THÌ SẼ THÁN PHỤC NHƯ MỘT NHÀ THÔNG THÁI - NHƯNG TỪ KHI QUA MỸ CHO TỚI NAY KHÔNG HỀ LÀM MỘT CÔNG VIỆC GÌ ĐỂ TỰ SINH NHAI NGÒAI STAMP FOOD - 

HẮN LƯỢM LON NHÔM, SÁCH BÁO CŨ - XÀO NẤU TÀI LIỆU RỒI BIẾN HÓA THÀNH BÀI VỞ IN THÀNH SÁCH NGỤY TẠO KIẾN THỨC BỀ TRÊN CỦA MÌNH - 

ĐỌC GHI CHÚ MỘT LÔ CÁC TÀI LIỆU BÊN DƯỚI NHƯNG NỘI DUNG BÀI VIẾT THÌ LẬP LÒE COI NHƯ CÁC DỮ KIỆN NẰM SẴN TRONG ĐẦU CHỈ CẦN LÔI RA ĐỂ KIẾM VÀI CÁI BURGER, VÀI LON COCA KHỎE RE! 

TÊN NẦY BAY RA NGÒAI KHÔNG GIAN CÀNG SỚM CÀNG NHẸ CHO TRÁI ĐẤT, BỚT 1 THẰNG LÁU CÁ RANH CON GỐC "BẮC CỤ" HÀ NỘI./- Mt68


Trận oanh tạc để cứu Miền Nam cuối năm 1972

Trọng Đạt

1
Đây là trận oanh tạc lớn nhất của Mỹ kể từ sau Thế chiến thứ hai, tôi đã viết hai bài về trận này mấy năm trước: bài “Trận mưa bom Giáng Sinh” nói về khía cạnh quân sự, bài “Trận oanh tạc Linebacker II cuối năm 1972” nghiêng về khía cạnh chính trị.

Bây giờ viết về trận này, tôi nói riêng về nguyên do chính của chiến dịch.

Luật chấm dứt chiến tranh

Cộng Sản Việt Nam thiệt hại nặng trong trận Mậu Thân đầu năm 1968, khoảng 58,000 cán binh bị giết, họ chấp nhận thương thuyết với Mỹ

Hòa đàm Paris khai mạc từ 10-5-1968 dưới thời Tổng thống Johnson nhưng thực sự đàm phán dưới nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Nixon 1969. Tại cuộc Hội nghị này việc thương thuyết thực ra không đạt được trên bàn hội nghị nhưng do mật đàm giữa Kissinger, Bộ trưởng ngoại giao, cố vấn an ninh TT Mỹ và Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của phái đoàn CS Bắc Việt bắt đầu từ 4-8-1969.

Mới đầu Nixon và Kissinger tưởng chỉ một năm là có thể đàm phán xong và ký Hiệp định nhưng không dè nó kéo dài lê thê cho tới hết nhiệm kỳ. Sở dĩ như vậy vì BV áp dụng trường kỳ kháng chiến tại mặt trận cũng như trên bàn Hội nghị. Phái đoàn CS Hà Nội đưa ra một số yêu sách cứng ngắc, Kissinger gọi đó là những hàng chữ khắc vào trong đá, họ đòi Mỹ rút quân đơn phương, loại bỏ chính phủ Thiệu, lập chính phủ liên hiệp, Mỹ phải cắt viện trợ VNCH.

BV vô cùng ngoan cố, Kissinger soạn thảo một kế hoạch oanh tạc mạnh để thúc đẩy hòa đàm nhưng sau lại hủy bỏ vì sợ chống đối. BV kiên trì đòi hỏi Mỹ phải giải quyết những điều kiện tiên quyết trên vì biết Hành pháp đang bị Quốc hội và người dân chống đối.

Mãi cho tới tháng 10/1972 Hà nội mới chịu nhượng bộ do họ thua nặng trong trận tổng tấn công Mùa hè đỏ lửa 1972, khoảng 100,000 cán binh bị giết, 700 xe tăng bị bắn cháy (1)

Tháng 10-1972 Hà nội nhượng bộ gần hết những yêu sách cũ, có lẽ họ muốn ký sớm vì biết Nixon sẽ đắc cử, khi ấy ông sẽ cứng rắn hơn. BV không đòi lật đổ Thiệu, không liên hiệp, không đòi Mỹ cắt viện trợ miền nam. Đổi lại Mỹ phải nhượng bộ cho họ được ở lại miền Nam. Hai bên đã ký Dự thảo ngày 9-10-1972, sẽ ký chính thức ngày 26-10.

Ngày 19-10 Kissinger sang Sài Gòn mấy ngày để đưa TT Thiệu duyệt  ký nhưng phía VNCH chống đối mạnh. TT Nixon biết cựu Tư lệnh Westmoreland và các nhà lãnh đạo quân sự chống bản Dự thảo vì thế chính ông cũng đồng ý với Thiệu (2) và bảo Kissinger đừng ép Thiệu.

Sau đó cuộc đàm phán tháng 11 tại Paris không có kết quả, cuối tháng 11 TT Thiệu cử Nguyễn Phú Đức (phụ tá ngoại vụ) sang Mỹ. TT Nixon nói với NP Đức nếu ông Thiệu không hòa hợp với Mỹ (Hành pháp) thì sẽ không xin được Quốc hội viện trợ, ông cũng cho biết các vị Trưởng khối, Chức sắc… tại Quốc hội Mỹ như John Stennis,  Barry Goldwater, Gerald Ford… cho biết nếu VNCH không thuận ký kết Hiệp định thì Quốc hội có thể sẽ ra luật (buộc Hành pháp) rút quân đổi tù binh, cắt hết viện trợ, sẽ  đưa ra Hạ Viện với tỷ lệ 2/1, VNCH sẽ không thể tồn tại (3)

Ngày 9-11-1972 TT Nixon cử Tướng Haig (Phụ tá quân sự của Kissinger) sang Sài Gòn thuyết phục ông Thiệu sớm ký Hiệp định vì kéo dài càng nguy hiểm, ngày 8-12 sẽ là hạn chót phải ký trước kỳ họp của Quốc hội vào đầu tháng giêng 1973 (4) . Nixon tin rằng Lập pháp sẽ ra luật Chấm dứt chiến tranh.

Về điểm này nhiều tác giả cho biết Nixon lo ngại quyết định của Quốc hội sẽ khiến ông không thể cứu được đồng minh.

Mark Clodfelter nói cuối tháng 11, Kissinger và Nixon tin là BV cố tình phá hòa đàm để hy vọng Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh (5)

George Moss nói  Kissinger biết là BV trì hoãn hòa đàm, tránh né ký Hiệp định, gây chia rẽ Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Họ chờ phiên họp  của Quốc hội tháng 1- 1973. Quốc hội Dân chủ, khuynh hướng bồ câu sẽ cắt các ngân khoản chiến tranh buộc Hành pháp phải rút quân khỏi VN, miền Nam bị Mỹ bỏ rơi sẽ bị BV tấn công sụp đổ. Sau nhiều tuần cò cưa, biết là Hà Nội muốn phá Hòa đàm, Nixon gọi Kissinger về Mỹ ngày 13-12, ông đánh một lá bài lớn, giải quyết bế tắc hòa đàm Paris bằng vũ lực. Nixon lo ngại Quốc hội có thể cắt ngân khoản quân sự, chấm dứt mọi xung đột và dành chiến thắng cho CS (6)

Phillip B Davidson cũng nói (7) Kissinger Nixon nhận thấy BV trì hoãn đàm phán vì hai lý do: trước hết đào sâu hố chia rẽ giữa VNCH và Mỹ. Nixon cho là Bộ chính trị CSBV biết rằng có nhiếu đe dọa cắt viện trợ từ phía Mỹ trừ khi Thiệu chịu ký kết. Sau đó Hà Nội quyết định chờ Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến, thật ra Quốc hội rất có thể làm như vậy

Theo Mark Clodfelter (8) ngày 24-11-1972, Nixon khuyên Kissinger tạm bỏ đàm phán một tuần nếu không có kết quả và sẽ cho oanh tạc mạnh, ông cho là thiếu áp lực quân sự sẽ khó ký kết. TT bèn họp Bộ tham mưu liên quân ngày 30-11 để bàn về áp lực quân sự nếu hòa đàm thất bại. Ban TMLQ cho biết có hai kế hoạch: một là oanh tạc ba ngày, hai oanh tạc sáu ngày tại trung tâm BV.

Tại Paris ngày 4-12-1972, Thọ trở mặt rút các điều khoản đã nhượng bộ trước đây, hai ngày sau họ vẫn nói y như vậy, Nixon nói nếu kỳ sau không tiến bộ sẽ cho oanh tạc. Về điểm này tác giả Walter Isaacson, lại nói khác (9) ngày 5 và 6-12-1972 Kissinger đánh nhiều điện tín bi quan về Mỹ cho Nixon, ông đề nghị đưa yêu cầu của Thiệu đòi BV rút quân để họ bác bỏ, ta sẽ lấy cớ bỏ họp, trong một điện tín khác ông đề nghị ném bom 6 tháng. Nixon bình thản có khuynh hướng giải quyết ngoại giao hơn Kissinger, ông nói thà chấm dứt nhiệm vu Kissinger hơn bỏ hòa đàm và ném bom.

Kissinger phải nhượng bộ CS để được ký kết sớm vì sợ Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh. Ngày 11-12 Thọ bác bỏ đề nghị của Kissinger và còn đòi Mỹ rút hết cố vấn kỹ thuật ra khỏi miền Nam, Kissinger biết là Thọ không muốn tiếp tục đàm phán. Ngày 12-12 Thọ nói sẽ về Hà Nội, Kissinger biết là hòa đàm vô vọng bèn (đánh điện) khuyên Nixon áp lực mạnh với BV vì họ ngoan cố và cũng áp lực Sài Gòn cho họ biết họ không thể ép ta (10)

Nixon nghĩ chỉ còn cách oanh tạc và gọi Kissinger về, ngày 14-12 Kissinger và Tướng Haig họp với Tổng thống. Haig đề nghị lần này phải oanh tạc, khác với trận Linebacker I trước đây, lần này Nixon muốn xử dụng chiến dịch Linebacker II để BV chấm dứt cái trò kéo dài đàm phán. Sự khác biệt giữa hai chiến dịch này ở chỗ, Linbacker I (từ tháng 5 tới tháng 10-1972) giống như các trận oanh tạc tại Đức, Nhật, Triều Tiên để phá hủy bộ máy chiến tranh địch nhưng Linebacker II vừa phá bộ máy vừa đánh sụp ý chí của CSBV. B-52 vừa có hỏa lực dữ dội lại không phụ thuộc vào thời tiết khiến cho địch phải kinh hoàng.

Nixon không lên truyền hình thông báo cũng như không gửi tối hậu thư để bảo đảm hiệu quả, chỉ cho Kissinger họp báo ngày 16-12 nói vì BV ngoan cố nên ta phải có biện pháp mạnh. Tướng Haig được cử tới Sài Gòn ngày 18-12 để đưa thư của TT Mỹ cho ông Thiệu nói phải hợp tác nếu không Mỹ sẽ ký riêng với CS.

Kế hoạch này dùng sức mạnh tối đa  trong khoảng thời gian ngắn nhất trên những mục tiêu đáng giá của Hà Nội, Nixon muốn dân Hà Nội phải nghe tiếng bom nhưng tránh thiệt hại tối đa cho thường dân, oanh tạc suốt đêm cho địch khiếp hãi. Phương châm của Nixon là phải tận dụng sức mạnh, một khi đã áp dụng sức mạnh quân sự (11). Trước ngày mở oanh tạc, Nixon chỉ thị cho Đô đốc Moorer:

“Đây là cơ hội để ông xử dụng hỏa lực quân sự hữu hiệu để thắng địch, nếu không ông sẽ chịu trách nhiệm”.

Nixon xử dụng Linebacker II tiêu diệt tinh thần chiến đấu của địch để họ phải trở lại bàn Hội nghị, cũng để chứng tỏ cho miền Nam thấy ông là con người thép (12)

Diễn tiến trận oanh tạc

19 giờ 45 ngày 18-12 bắt đầu oanh tạc, 48 chiếc B-52 đánh đợt đầu trong ba đợt mục tiêu: Kho Kinh Nở, ga xe lửa Yên Viễn, ba phi trường ngoai ô Hà Nội. Phi cơ bay từ Tây sang Đông gần biên giới Hoa –Việt rồi chuyển xuống Tây Nam ném bom xong bay về hướng Tây. Khoảng 94% máy bay đánh trúng mục tiêu, có ba  B-52 bị hạ, hai bị thương nặng, tỷ lệ thiệt hại 3%  coi như chấp nhận được.

Hai ngày sau kế hoạch y như cũ về trọng lượng, đường bay, ngày 19 -12 có 93 B-52 oanh tạc nhà máy điện Thái Nguyên, ga xe lửa Yên Viễn làm ba đợt, có hai B-52 bị hư hại. Ngày 20 gồm 93 B-52 đánh ga xe lửa Yên Viễn, nhà máy điện Thái Nguyên, kho chứa nhiên liệu thuộc phạm vi Kinh Nở, Hà Nội, có sáu B-52 bị hạ. Vì ngựa quen đường cũ đã khiến phòng không BV có kinh nghiệm, họ phóng 300 quả lên mục tiêu, sự thiệt hại nặng của những B-52 trị giá 8 triệu đô la khiến Quốc Hội và người dân phẫn nộ, họ yêu cầu chấm dứt oanh tạc. Tỷ lệ thiệt hại rất cao 6% khiến Nixon tức giận chiến thuật ngựa quen đường cũ của thuộc cấp.

Tướng John Meyer giảm phi vụ xuống còn 30 B-52 một ngày, căn cứ Utapao (Thái Lan) có thể cung cấp, vì chỉ bay mất 4 giờ nên không cần tiếp săng. Ngày 21 mất thêm hai B-52, ngày 22 đánh các kho hàng, ga xe lửa Hải Phòng và hai ngày sau đánh các đơn vị hỏa tiễn SAM của địch. Kế hoạch được thay đổi như sau: B-52 bay qua vịnh BV ngày 22 giả vờ đánh Hà Nội trước khi quay lại đánh Hải Phòng, ngày 22, 24 không bị thiệt hại. Chiến dịch nghỉ 24 tiếng nhân lễ Giáng Sinh

Ngày 22 Nixon đánh điện hỏi Hà Nội nếu chịu trở lại họp ngày 3-1-1973 thì sẽ thôi oanh tạc từ ngày 31-12, Hà nội không trả lời. Ngày 26 Nixon cho oanh tạc mạnh cả Hà Nội và Hải Phòng, trận này gồm cả máy bay từ căn cứ Utapao (Thái Lan) và Anderson (Guam). Tổng cộng 120 máy bay đánh mười mục tiêu trong 15 phút, 4 đợt, mỗi đợt 22 chiếc đánh Hà Nội từ bốn hướng, đồng thời 2 đợt, mỗi đợt 15 chiếc đánh Hài Phòng từ phía đông và nam, 18 chiếc đánh nhà ga Thái Nguyên phía bắc Hà Nội . Hỏa tiễn SAM của BV được phóng lên tới tấp, một phi hành viên cho biết có tới 26 hỏa tiễn bắn vào phía máy bay của anh, thiệt hại hai B-52, tỷ lệ thấp chỉ có 1.66%.

Ngày 27 Hà Nội cho biết họ có thể trở lại đàm phán ngày 8-1-1973 vì ông Lê Đức Thọ còn yếu sau cơn bệnh, họ muốn giải quyết vấn đề còn lại. Nixon nói Thọ và Kissnger sẽ đàm phán ngày 2-1, chính thức thương thảo ngày 8-1. Mặc dù BV muốn trở lại hội nghị nhưng Nixon vẫn cho oanh tạc, 60 B-52 gồm 30 chiếc từ  Utapao và 30 chiếc từ Anderson thả bom quanh Hà Nội và đường xe lửa gần biên giới. Không quân thôi oanh tạc Hải Phòng vì hết mục tiêu, ngày 27 BV bắn nhiều hỏa tiễn hạ hai B-52, 60 B-52 đánh phá các căn cứ hỏa tiễn tại Hà Nội. Ngày 28, 29 phòng không địch hết hoạt động, không còn SAM, Mig, cao xạ. Ngày 28 Hà Nội chịu đàm phán nghiêm túc, ngày 29 lúc 19 giờ Washington, Mỹ ngưng oanh tạc.

Sở dĩ trận ném bom chấm dứt vì mục tiêu không còn, CSBV hết hỏa tiễn xin trở lại đàm phán. Cuốn phim tài liệu Vietnam a Television History  do các ký giả Mỹ, Anh, Pháp thực hiện năm 1983 nói sai sự thật về điểm này. Phim cho biết sở dĩ Mỹ ngưng oanh tạc vì bị thiệt hại rất nặng về không quân, sự thực có 15 B-52 và 12 phi cơ chiến thuật bị bắn hạ.

Tư lệnh bộ chỉ huy tránh thiệt hại thường dân, tránh khu dân cư. Báo Mỹ chỉ trích trận oanh tạc dã man đáng xấu hổ, báo chí Anh, Đức và truyền thông thế giới chỉ trích cuộc oanh tạc là một tội ác. Tổng cộng BV bắn lên trời 1,000 hỏa tiễn SAM (13), tầu đánh cá Nga ngoài khơi đảo Guam báo cho Hà Nội biết trước khi bị tấn công 7 giờ.

Từ 18 cho tới ngày 29-12-1972 có 724 phi vụ B-52 trên 34 mục tiêu phía bắc vĩ tuyến 20, 640 phi vụ máy bay chiến thuật, đã ném 15,237 tấn bom, cộng với 1,216 phi vụ của máy bay chiến thuật và máy bay Hải quân, và 1,384 phi vụ yểm trợ của máy bay chiến đấu (tiếp nhiên liệu, đánh phá căn cứ SAM) xử dụng 5,000 tấn bom đạn (tổng cộng hơn 20,000 tấn bom) phá hủy các đường xe lửa trong phạm vi 10 miles của Hà Nội, phá hủy 191 nhà kho, điện lực giảm từ 15,000 xuống còn 29,000 kilowatts

Thiệt hại nhân mạng tương đối ít, phía CS cho biết chỉ có 1,318 thường dân tại Hà Nội và 305 người tại Hải Phòng bị giết (14)  một phần vì  đã được di tản từ trước, phần vì Mỹ chỉ oanh tạc các cơ sở quân sự, kho hàng… tránh các khu thường dân. Con số mà CS đưa ra chưa chắc đã trung thực vì có thể gồm cả quân nhân, cán bộ phục vụ.

Kết luận

Mark Clodfelter nói “Tàn phá do trận oanh tạc Linebacker II đã khiến Hà Nội không thắng được Mỹ (Hành pháp) vào giớ chót” (15)

Lá bài phá hòa đàm để chờ Quốc hội Mỹ cắt ngân khoản chiến tranh của Hành Pháp cũng như cắt viện trợ VNCH đã hoàn toàn thất bại, họ phải trở lại bàn Hội nghị.

Tác giả cũng nói (16) sau trận oanh tạc Linebacker I, BV cho sửa chữa đường xe lửa Việt-Hoa để lấy viện trợ và phá không cho Thiệu sửa đổi Hiệp định. Sài Gòn bất mãn Hoa Thịnh Đốn, Quốc hội Mỹ trở lại họp (tháng 1-1973) sẽ khiến BV có cơ hội chiến thắng không cần quân sự. Lê Đức Thọ cố kéo dài đàm phán cho tới khi Quốc hội họp vào tháng giêng năm 1973, Lập pháp sẽ cắt các khoản chi tiêu quân sự, Mỹ phải rút mà viện trợ quân sự cho miền Nam cũng bị cắt, Hà Nội tin chính phủ Thiệu sẽ  sụp đổ. Nhưng Nixon không hề muốn để tình trạng này sẩy ra. Hà Nội tiên đoán Nixon chỉ cho oanh tạc như kiểu Linebacker I (không tàn khốc) nên ngày 4-12 họ họ cho dân di tản khỏi Hà Nội và tin tưởng là đủ sức chống lại.

Ai có dè đâu nó lại là trận oanh tạc Linebacker II long trờ lở đất.

Chiến dịch mạnh như vũ bão đã khiến cả miền Bắc và miền Nam chấp nhận ký kết Hiệp định ngày 27-1-1973, thực ra nó không khác gì bản Dự thảo Hiệp định mà Kissinger và Lê Đức Thọ đã làm trước đó mấy tháng (tháng 10-1972).

BV chịu nhượng bộ một số điều khoản như không đòi Thiệu từ chức, không đòi liên hiệp, không đòi Mỹ cắt viện trợ và đổi lại Cộng quân vẫn được đóng tại miền Nam. Mặc dù VNCH chống đối mạnh nhưng Nixon không thể sửa đổi Hiệp định. Theo Mark Clodfelter (17) Quốc hội Mỹ phẫn nộ vì trận oanh tạc, nếu TT Thiệu bác bỏ ký kết Hiệp định thì việc cắt viện trợ bức tử VNCH chắc chắn là sẽ có (chứ không phải đe dọa).

Cách đây khoảng mười năm, cựu nhân viên FBI tên Ted Gunderson tiết lộ một sĩ quan tòa lãnh sự Mỹ tại VN đã nghe (vào đầu xuân năm 1973) từ phòng truyền tin tại Sài Gòn lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt trong trận oanh tạc Giáng sinh 1972. Nhưng  CIA đã ém nhẹm tin này để Mỹ xúc tiến bắt tay Trung Cộng. Không thấy có nhà sử gia hay chính khách Mỹ nào đề cập tới bản tin này, họ cho là không đáng bàn. Thực ra trận oanh tạc chỉ để đưa CS trở lại bàn Hội nghị trước khi Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, cắt viện trợ bỏ Đông Dương, mục đích để cứu miền Nam vào giờ chót

Mark Clodfelter nói (18) khi ký Hiệp định Paris, BV không chịu bỏ tham vọng chiếm miền Nam, Hà Nội đánh một canh bạc lớn, họ phá thối hòa đàm và nghĩ Nixon sợ Quốc hội, người dân chống đối sẽ không dám làm mạnh nhưng lá bài thất bại. Nixon trả lời sự trì hoãn hòa đàm của Thọ bằng trận oanh tạc long trời lở đất ngày 18-12, quả đấm Linebacker II đã buộc BV trở lại bàn Hội nghị, phương án duy nhất mà Nixon lựa để đánh.

Tác giả George Moss chỉ trích trận oanh tạc lớn này như sau: (19) điều quan trọng là trận oanh tạc Giáng sinh đã không thay đổi cán cân chính trị quân sự hai miền Nam Bắc VN cũng không tạo cơ hội cho miền Nam được tồn tại lâu dài. Mặc dù Nixon  hy vọng qua trận oanh tạc dữ dội này để làm cho bộ máy chiến tranh Hà Nội suy yếu lâu dài hoặc có lẽ cho miền Nam những điều khoản tốt hơn trong Hiệp định, nhưng đã thất bại. Trận oanh tạc Giáng sinh không mang lại kết quả ngoại giao.

TT Nixon đã đánh ván bài chót, ông đã ráng sức để có một Hiệp định tốt và đặt lên đầu Sài Gòn trước khi Quốc hội mới sẽ chấm dứt chiến tranh VN bằng cắt hết ngân khoản. Nhưng chua chát thay trận mưa bom Giáng Sinh đã khiến Hoa Thịnh Đốn chấp nhận Hiệp định mà chính Nixon đã bác bỏ hồi tháng 10 (1972). Như John Negroponte, một phụ tá của Kissinger nói (chua chát) “Chúng ta oanh tạc Bắc Việt để bắt họ chấp nhận nhượng bộ của ta”

Ngoài Quốc hội và truyền thông Nixon cũng bị những người ủng hộ cuộc oanh tạc chỉ trích như trên. Người ta không chịu thông cảm cho những khó khăn của ông. Phần vì BV chẳng thà không ký kết còn hơn phải rút quân, phần vì Quốc hội đang lăm le cắt mọi ngân khoản để chấm dứt chiến tranh bỏ rơi Đông Dương ngay lúc này.

Mặc dù những khuyết điểm trên, trận mưa bom Giáng Sinh cũng đã cứu được miền nam VN ít ra là trong lúc này, không có trận oanh tạc long trời lở đất này để lôi cổ BV trở lại bàn hội nghị thì tình hình sẽ vô cùng bi thảm. Quốc hội rất có thể sẽ cắt mọi ngân khoản chiến tranh khiến cho miền Nam sụp đổ.  Phillip Davidson nói (20) cả Kissinger và Nixon đều tin rằng Quốc Hội sắp sửa ra luật chấm dứt chiến tranh vào đầu năm 1973.

Có dư luận phía Mỹ cho rằng cả hai miền Nam Bắc đều gây trở ngại hòa đàm nhưng miền Bắc bị trừng phạt tối đa còn miền Nam chỉ bị hăm dọa, như thế không công bằng. Sự thật thì Hà Nội đã đánh một canh bạc quá lớn và họ chấp nhận rủi ro, họ đã tính sai nước cờ, tưởng rằng gây trở ngại hòa đàm để Quốc hội Mỹ cắt viện trợ chấm dứt chiến tranh bỏ VN, khi ấy bất chiến tự nhiên thành, nhưng bát cơm đôi đũa còn xa cặp môi lắm.

Trận oanh tạc bị trong nước cũng như Tây phương chống đối, BV lo ngại vì Nga, Trung Cộng không bảo vệ được họ trong trận oanh tạc vũ bão này, họ cũng lo ngại hai cường quốc CS đàn anh trong tương lai sẽ không giúp gì ngăn cản địch đánh lớn. Bộ chính trị kinh hãi khi nghĩ rằng Nixon sẽ oanh tạc đê điều dọc sông Hồng, với cơn ác mộng ấy họ chẳng thà ký Hiệp định còn hơn là đợi những tình huống ghê rợn khác.

Thật là chua chát khi truyền thông Mỹ đã diễn tả sai lầm về về trận oanh tạc (mục đích chỉ trích Nixon) càng làm cho BV kinh sợ một trận kế tiếp. Tờ New York Times và Washington Post nói chắc trí tuệ Nixon có vấn đề thần kinh, họ còn đặt câu hỏi Nixon sẽ làm gì nếu BV không chịu trở lại bàn Hội nghị? Thả bom nguyên tử xuống Hà Nội chăng? Hay đánh phá đê điều hoặc oanh tạc tan nát BV? Những câu hỏi ấy đã khiến BV hồn vía lên mây xanh  vội vã trở lại bàn Hội nghị (21)

Mặc dù Quốc hội không  ra luật cắt ngân khoản quân sự (của Hành Pháp) dành cho Đông Dương đầu năm 1973 nhưng nửa năm sau họ bắt đầu soạn thảo dự luật này. Ngày 30-6-1973 Nixon miễn cưỡng phải ký thành luật sau khi phủ quyết thất bại, ngày 15 tháng 8 ban hành (22).

Theo Goerge Moss (23) quân viện cho VNCH một năm cần vào khoảng từ 3 tới 3 tỷ rưởi vì miền Nam tổ chức huấn luyện theo lối Mỹ tốn kém cần nhiều tiếp liệu, trang bị. Như vậy 2 tỷ quân viện năm 1973 không đủ cho miền Nam tự vệ mà cần sự yểm trợ của B-52,  khi Quốc hội ra luật ngăn cản Nixon trừng trị BV giữa tháng 8-1973 thì miền nam sẽ không thể tồn tại. Cuối năm 1973, để chắc ăn hơn,  họ cắt giảm viện trợ VNCH mỗi năm 50% (24) khiến nơi đây sụp đổ chỉ trong vài tháng vì không còn tiếp liệu

Trận oanh tạc Linebacker II dù sao cũng đã giúp cho miền nam VN sống thêm được khoảng hai năm rưỡi.

Tổng thống Nixon chỉ có thể làm được đến thế.

Trọng Đạt

Cước chú

(1) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 587.

(2) George Donelson Moss: Vietnam, An American Ordeal trang 365

(3) Larry Berman:  No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam, trang 200

(4) Mark Clodfelter: The Limits of Air Power trang 178, 179

(5) Sách nêu trên trang 180

(6) George Donelson Moss: Vietnam, An American Ordeal trang 366

(7) Phillip B. Davidson: Vietnam At War The History 1946-1975 trang 726

(8) The Limits of Air Power trang 180, 181

(9) Kissinger A Biography trang 464

(10) The Limits of Air Power trang 182

(11) Walter Isaacson, Kissinger A Biography trang 468

(12) Larry Berman, No Peace No Honor trang 215

(13) George Donelson Moss: Vietnam, An American Ordeal trang 368

(14) The Limits of Air Power trang 195, 196. Vietnam, An American Ordeal  trang 367

(15) The Limits of Air Power trang 196  “The havoc created by Linebacker II prevented Hanoi from achieving an eleventh-hour victory over the United States”

(16) Sách nêu trên trang 197

(17) The Limits of Air Power trang 200, 201

(18) Sách kể trên trang 198

(19) Vietnam, An American Ordeal  trang 368

(20) Vietnam At War 731 “…to legislate the United States out of the war in Indochina”

(21) Sách nêu trên trang 728

(22) Richard Nixon, No More Vietnams trang 180.

(23) Vietnam, An American Ordeal trang 388

(24) Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471
_