KINH NGHIỆM TỪ BỐN “HỔ KINH TẾ” Á CHÂU VÀ
MỘNG ƯỚC KHÓ
THÀNH CỦA VỊÊT NAM
Nguyễn Bá Lộc
Trong
50 năm qua, nền kinh tế Việt Nam Xã hội chủ nghĩa (XHCN) trải qua hai giai đọan:
Kinh tế XHCN truyền thống (1975-1985), nền kinh tế lúc đó bị xáo trộn mảnh liệt,
rồi hoàn toàn sụp đỗ sau 10 măm. Đảng Cộng sản (CS) VN phải “đổi mới”, cho giai
đọan hai, từ 1986 tới nay, với mô hình “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Nhờ
đó đã đạt được một số kết quả khá nhìn trên bề mặt. Theo đà phát triển đó, lảnh
đạo VN muốn nâng nền kinh tế lên tầm mức phát triển cao hơn trong thời kỳ mới,
“kỹ nguyên vươn mình”. VN mơ ước và hy vọng nền kinh tế sẽ được phát triển cao
và có thể ngang bằng với “Hổ kinh tế Á châu”.
Các “Hổ Á châu” gồm có Singapore, Hong kong,
Đài Loan và Nam Hàn, khởi đầu kế hoạch phát triển kinh tế từ thập niên 1960, tới
thập niên 1990 thì các quốc gia nầy đạt thành công rực rỡ và là thành viên của nhóm các nước đã phát
triển giàu mạnh trên thế giới.
Sự tiến bộ vượt bực đó thu hút nhiều quốc đang
phát triển tìm hiểu và áp dụng cho chiến lược và vận hành kinh tế cho quốc gia
mình. Tuy nhiên, trong vòng 30 năm qua, chưa có quốc gia nào thực sự đạt mức
thành công to lớn và nhanh chóng như 4 hổ kinh tế. Và giờ đây, VN mơ ước sẽ
phát triển thành “hổ kinh tế mới” trong 20 năm tới. Dù thực trạng, VN hiện nay
còn thua kém nhiều, khó khăn lớn, trên các phương diện chánh trị, kinh tế, xã hội,
so với 4 Hổ Á châu.
Câu
hỏi đặt ra là trên con đường mới, liệu VN có thực lòng khắc phục được các sai
phạm lớn trước đây không? Và liệu VN có khả năng đủ cho sự cải đổi lớn lao như
vậy? Vì Mô hình kinh tế, Cấu trúc kinh tế, Bộ máy quản lý, và nhứt là “Tập thể
cầm quyền” ở VN không thay đổi, thì khả
năng thành công sẽ rất giới hạn.
Chúng
tôi xin trình bày đề tài nầy qua ba phần dưới đây:
I.
Khái quát Chủ trương mới Kinh tế Việt Nam, và Sự thành công của 4 “Hổ kinh tế”
Á châu
II.
Bài học Kinh nghiệm Phát triển kinh tế của các quốc gia “Hổ kinh tế”
III.
Việt Nam: Mộng ước “Hổ kinh tế” khó thành
I. KHÁI QUÁT
CHỦ TRƯƠNG ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM VÀ BỐN “HỔ KINH TẾ Á CHÂU”
Có
ba vấn đề xin được trình bày trong phần tổng quát nầy: 1.Cao vọng Việt Nam thời
kỳ chuyển mình mới. 2.Hình ảnh tổng thể của 4 Hổ Á châu. 3.Tóm tắt sự khác biệt
và mức cách biệt VN và Hổ Á châu.
1.Cao vọng Việt Nam trong “Kỹ nguyên vươn mình”
Gần đây, CSVN dựa vào một số thành quả kinh tế,
muốn “đổi mới” thêm nữa để đưa nền kinh tế đến tầm cao hơn. Trên con đường hướng
đến, VN mơ ước thành một “Hổ kinh tế” (Tiger Economy) trong khoảng 20-25 năm tới.
Ước mơ đó đã được biểu hiện qua một số sự kiện:
Lời tuyên bố của các lảnh đạo VN
Trong
buổi hợp ở Điễn đàn kinh tế, Vietnam Economic Forum, 2018 Thủ tướng Nguyễn xuân
Phúc nói: “Việt Nam thành con hổ kinh tế mới của Châu Á, tại sao không? (Báo Dân
Trí, ngày 11/01/2018).
TBT
Tô Lâm, mà một số báo chí cho là một “nhà cải cách”, đã phát biểu trong năm
2025 và mới đây trong đại hội đảng lần thứ 14, VN cần có sự đổi mới nữa trong “Kỹ
nguyên vươn mình”. “Ngày nay thế và lực VN đủ để tiến tới tầm cao mới”. Các ý
chánh qua lời phát biểu nầy: Đưa khu vực kinh tế tư doanh lên hàng đầu và đóng
vai trò quan trọng nhứt. Kinh tế VN phải được phát triển mạnh hơn, bền vững
hơn. Cần phải cải sửa luật lệ và và bộ máy công quyền. Mục tiêu phấn đấu là trở
thành một hổ kinh tế mới.
Khẳng
định cho sự thay đổi mới, Bộ Chánh trị ban
hành nghị quyết 68/TW ngày 4 tháng 5, năm 2025. Một trong những điểm chánh của
NQ 68 là đưa kinh tế tư nhân lên vị trí hàng đầu.
Và
trong diễn từ Đại hội đảng CS lần thứ 14, ngày 24 tháng giêng 2026, TBT Tô Lâm có
nói đến mục tiêu và sách lược kinh tế trong giai đoạn tới. Theo đó, có một số
chỉ tiêu được ấn định cho tới năm 2030: Tỷ suất phát triển 10%/năm, thu nhập đầu
người $8.500 Mỹ kim. Với mô hình “Kinh tế thị trường XHCN”, Kinh tế tư nhân là
quan trọng nhứt. Thể chế chánh trị VN vẫn là chế độ XHCN.
Các
cơ quan Nhà nước đã được chỉ thị sọan kế hoạch, và tổ chức các buổi hội thảo để
triển khai NQ 68. NQ nầy yêu cầu các cơ quan chức năng khắc phục loại bỏ các
khuyết điểm, và tiến tới mô hình kinh tế mới thông thoáng và hữu hiệu hơn, tiến
tới đạt mục đích nền kinh tế có lợi tức trung bình cao (hiện VN ở mức trung
bình thấp). VN đặt nổ lực mới với hy vọng kinh tế VN sẽ theo kịp 4 “Hổ kinh tế”
Á châu, gồm các quốc gia Singapore, Đài loan, Hong kong và Nam Hàn, vì các nước
nầy là những biểu tượng thành công tốt đẹp, và được thế giới nể phục.
Nhận xét của một số cơ quan và truyền
thông trong nước.
Dựa
vào các con số và hình ảnh bề ngoài của kinh tế trong những năm gần đây, nhận định
VN sẽ là “Hổ kinh tế” thứ 5 ở Á châu. Một số báo của đảng với một số bài diễn đạt
về đổi mới lần nầy. Báo Tuổi Trẻ 03/01/2025 với bài”Đổi mới để đưa Việt Nam
thành con hổ kinh tế mới của Á châu”. Báo Phụ Nữ ngày 16/8/2025 với bài ”Đổi mô
hình tăng trưởng và giấc mơ Hổ châu Á của Việt Nam”.
Nhận xét
của một số nhà nghiên cứu và truyền thông ngoại quốc.
Ngoài
đảng và chuyên viên Nhà nước VN, còn có một số nhà nghiên cứu và báo chí ngoại
quốc , cũng có những nhận định khá “phấn khởi” về tương lai kinh tế VN, và khả
năng thành con “Hổ kinh tế” là điều có thể thấy được. Ví dụ : Associated Press
( AP- 8/2025)” Việt Nam nhắm đạt mức giàu vào năm 2045 và trở thành Hổ kinh tế Á
châu” (Vietnam aims to get rich by 2045 and become Asian next Tiger Economy). Một
nghiên cứu khác của Đại học Otago, New Zealand, 2018 “Vietnam: The Next Asian
Tiger? (Việt Nam: Con Hổ kinh tế Asian kế tiếp?), Tác giả Tom Barker và Murat
Ungor. Còn một số báo chí nữa, có nhận định tương tự.
Các lý do cho ước mơ “lạc quan”về tương
lai kinh tế VN:
Do một số thành quả kinh tế. Vài con số thống kê chánh quyền đã nêu ra: Tỷ suất
phát triển 7% năm 2024, 8%/năm 2025, như thế trên lý thuyết, VN có chỉ số cao
nhứt Đông nam Á. Nhưng các cơ quan quốc tế cho rằng các số VN đưa ra là cao hơn
cách tính của họ cho 2025 như Ngân hàng thế giới (WB) là 6,8%, Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF) 6,1%, Ngân hàng phát triển Á châu 6,3%.
Từ
2026, VN ấn định tỷ suất nầy là 10%. Về thu nhập trên đầu người, VN chỉ có $4.600
mỹ kim năm 2025, trong lúc đó, Singapore đạt $64.000 MK, Nam Hàn là $42.000 MK.
Nói chung các nước hổ kinh tế có thu nhập đầu người cao hơn VN gấp từ 9-13 lần.
Trong 10 năm nay, VN có xuất cảng tăng trung bình 15%/năm, từ $70,000 Mỹ kim
2010 lên $345.000, 2023 (IMF), và đầu tư ngoại quốc (FDI) trung bình gia tăng
12%/năm. Đó là mức độ gia tăng khá cao, mà thống kê VN nêu lên.
Do dữ kiện tiềm năng kinh tế: VN có dân số trẻ đông đảo,
cần cù, có trình độ hiểu biết khá, lương đang còn thấp; VN có trử lương khá khoáng
sản và dầu khí.
Do vị trí địa kinh tế rất tốt, ở vị trí trung tâm Á châu
Thái bình dương, nơi tranh chấp giữa Hoa ký và TC, chánh trị trong nước thì ổn
định trong chế độ độc tài toàn trị.
Do có được bài học, kinh nghiệm quí giá và
chỗ dựa vững chắc từ Trung cộng (TC).
Do được sự hợp tác quốc tế rộng rãi, nhiều nhứt từ 4 hổ kinh
tế Á châu. VN giao thương với trên 70 quốc gia. Có thuận lợi do biến chuyển địa
chánh trị và địa kinh tế trên thế giới hiện nay.
Từ
khi đổi mới kinh tế 1986 mới tới nay, CSVN luôn chú ý và khen ngợi sự phát triển
của các hổ kinh tế. Trên một số phương diện nào đó, VN có thể học hỏi ở quốc
gia Á châu nầy. Kinh tế VN phát triển được là nhờ xuất cảng và đầu tư ngoại quốc.
Ngoài TC, Hoa kỳ, và Nhựt bản, VN luôn coi trọng sự hợp tác kinh tế, cũng như
đánh giá cao các quốc gia “Hổ kinh tế”.
Những
con số và dữ kiện nêu trên làm cơ sở cho suy nghĩ và ước mơ của VN. Nhiều người,
qua hồi tưởng quá khứ, nhìn thẳng hiện tại, nay vẫn hoài nghi về ý trung thực
và “ảo tưởng chánh trị” của VN về những
hoạch định phóng chiếu cho tương lai.
2.Hình ảnh tổng thể về tiến bộ “thần kỳ” của
4 “Hổ Á châu”
Trong
60 năm phát triển, các quốc gia “hổ kinh tế” gồm Singapore, Hong kong, Đài loan
và Nam Hàn, khởi đi từ nước rất nghèo , nhiều khó khăn, nhờ phát triển đúng hướng,
và bền bỉ, đã trở thành quốc gia đã phát triển (developped country) và giàu có
trên thế giới.
Để
hiểu hình ảnh tiến bộ của các quốc gia nầy, tôi xin trình bày qua các mục: Tình
trạng kinh tế tổng quát chung cho các Hổ kinh tế. Yếu tố thành công của của Hỗ
kinh tế. Sự cách biệt và khác biệt giữa hỗ kinh tế với VN.
a/ Tình hình kinh tế tổng quát chung
cho các Hổ Á châu
Dưới
đây là vài con số kết quả kinh tế và hình ảnh chung cho 4 Hổ kinh tế. Chi tiết
của từng quốc gia nầy sẽ được trình bày ở phần II.
Đạt sự phát triển “thần kỳ”
Tỷ
suất phát triển của 30 năm đầu, trung bình 8.%/năm, có lúc đạt 12%. Đó là suất
số cao nhứt Á châu, và thế giới. Chẳng những tỷ suất cao mà nhịp độ phát triển
rất nhanh.
GDP
(Tỷ Mỹ kim), 1980 2000 2025
Singapore 12 96 565
Nam
Hàn
65
576 1790
Đài
loan
42 329 850
Nguồn: Eurasian Bookshel 2025
Cả
4 nước nầy tiến mạnh nhờ kinh tế đối ngọai. Xuất cảng và đầu tư ngoại quốc (FDI)
là chánh. Khoảng 20 năm trở lại đây, khi tích lũy được nhiều vốn, trong phong
trào Toàn cầu hóa mở rộng. Các nước nầy sau khi vững vàng, đi đầu tư ra ngoại
quốc khá nhiều, nhiều nhứt là tại Trung quốc và VN.
b/Yếu tố thành công chung cho 4 “hổ kinh tế”
Trong
khoảng 20 năm qua, có rất nhiều nhà nghiên cứu viết về sự thành công của Hổ
kinh tế như là những điều cần học hỏi cho nhiều nước. Tổng quát, yếu tố quan trọng
đóng góp vào sự thành công cùng bài học kinh nghiệm.
(i)Thể chế chánh trị và kinh tế
Cả
4 quốc gia “Hổ Á châu” đều có Chế độ Dân chủ tự do. Đó là nền tảng cho sự
phát triển công bằng và bền vững. Chính Tự do dân chủ tạo được niềm tin vào Chánh
quyền mà người dân chọn ra, người dân có quyền kiểm soát và thay thế, nếu viên
chức làm sai và tai hại cho đất nước. Nhờ
niềm tin và sự cộng tác thực lòng có tác động kinh tế tiến mạnh và đúng hướng. Để
bảo đảm cho Tự do Dân chủ, các quốc gia nầy có sinh hoạt chánh trị đa đảng, có
đối lập và có bầu cử tự do, có truyền thống tranh đấu cho nền độc lập. Nhưng
các quốc gia nầy, trừ Hong kong, có một giai đoạn Chánh quyền can thiệp mạnh
vào lảnh vực tư.
Trong
thể chế ở đó, nó có tác động hổ tương và thuận chiều của Tự do chánh trị và
Tự do kinh tế, theo như kết luận của các nhà nghiên cứu kinh tế chánh trị
đã khảo sát ở hơn 50 quốc gia trên thế giới.
(ii)
Nền Kinh tế thị trường thực sự
Tuy
nhiên, vì hoàn cảnh đặc thù, vừa thoát khỏi thực dân và vừa trong tình trạng
chưa phát triển về mọi mặt, cho nên chánh quyền ở đấy không theo nguyên tắc “Laissez-faire”
của trường phái cổ điển (classical) của chủ nghĩa Tư bản, mà sau nầy nhiều quốc
gia theo trường phái Tân cổ điển (Neo classical), tức là cần có sự can thiệp ở
mức độ nào đó trong sinh hoạt kinh tế xã hội, thì kinh tế phát triển tốt hơn,
có phẩm chất hơn, công bằng hơn.
Với
các quốc gia Hổ kinh tế Á châu, thì sự can thiệp khá mạnh, trừ Hong kong, trong
một giai đoạn đầu, rồi sau nầy các nước đó dân chủ hóa tiến tới mức độ khá tốt.
Theo lý lẽ thông thường, khi chánh quyền can thiệp sâu vào những hoạt động kinh
tế, thì tính tự do của kinh tế thị trường bị sứt mẽ.
Chế
dộ tự do và mô hình kinh tế thị trường của các mước Singapore, Nam Hàn, Đài
loan và Hong kong đã trải nghiệm rõ ràng minh bạch, có hiệu quả, chính người
dân của họ và quốc tế công nhận. Vai trò chánh quyền ở các quốc gia nầy đã
không là tổn hại, mà còn có lợi cho phát triển kinh tế như thực tế cho biết.
(iii) Cách thức can thiệp của Chánh
quyền
Các
hổ kinh tế, trừ Hong kong trước khi được trả lại cho TC, với sách lược Chánh
quyền can thiệp sâu vào kinh tế (Government Intervention). Điều nầy gây nhiều
thắc mắc cho một số nhà kinh tế khi nghiên cứu về trường hợp điển hình của Hổ Á
châu.
Sự can thiệp của Chánh quyền ở các quốc gia nầy
có đặc tính và điều kiện: Sự can thiệp từ Nhà nước (State) có khác sự can thiệp
từ Chế độ (Regime) của đảng cầm quyền. Sự can thiệp trong một quảng thời gian cần
thiết, chớ không phải mãi mãi của quá trình phát triển. Mục tiêu và biện pháp
can thiệp là để hướng dẫn và giúp đở khu vực tư, không phải thay thế khu vực
tư, lại cành không phải đè ép tư doanh để viên chức hưởng lợi riêng. Các biện
pháp can thiệp ở đó thích nghi với yêu cầu chung cho phát triến tốt. Chánh quyền
lập Quỹ yễm trợ xuất cảng, Quỹ Dự phòng, Quỹ An sinh xã hội.. và lập các Hội đồng
(Board) điều hướng, gồm đại diện Chánh quyền và tư nhân, Hội nghề nghiệp, Xã hội
dân sự, và có đóng góp tích cực và công bằng cho phát triển kinh tế xã hội, như
Hội đồng Xuất cảng, Hội đồng Công nghiệp hóa, Hội đồng Tín dụng, Hội đồng Giáo
dục, Hội đồng phát triển khoa học kỹ thuật.. Điều quan trọng nữa cho sự thành
công về cách thức can thiệp là sự hữu hiệu và lương thiện của viên chức cán bộ,
và có sự hợp tác của quần chúng. ( Chi tiết của từng hổ kinh tế sẽ nói ở phần
sau).
(iv) Bộ máy công quyền và quản lý
kinh tế
Bộ
máy quản lý là quan trong nhứt cho việc thực thi chánh sách Nhà nước, nhứt là
trong những lúc Chánh quyền can thiệp mạnh. Trước hết, Chánh quyền và người dân
có tư duy và hành động đúng, không ảo tưởng không mơ hồ, không gian dối. Bộ máy
đó cần được dộc lập với đảng cầm quyền. Nhân sự phải vừa có tài vừa có đức. Qua
nhiều cuộc điều nghiên, và qua thực tế, bộ máy quản lý ở các quốc gia Á châu nầy
có chuẩn mực cao.
Tóm
lại sự can thiệp của chánh quyền 4 hổ kinh tế có tính: chọn lọc, khôn ngoan, có trách nhiệm, hữu hiệu, công bằng và lương thiện.
(v) Chánh sách Giáo dục và đào tạo
nhân sự
Cả
bốn quốc đều coi trọng giáo dục và đào tảo chuyên môn cho nhân lực. Có lẽ vì
truyền thống văn hóa và vì tính thực dụng của bộ máy cai trị. Ngân sách giáo dục
cao, chú trong phẩm chất giáo dục, nhứt là cá đại học dạy chuyên ngành nghề
chuyên môn đế đáp ứng cho phát triển công nghệ và dịch vụ. Do đó các quốc gia nầy
thỏa mãn được nhu cầu bành trướng công nghiệp, mà các công ty đa quốc gia tới
ào ạt trong giai đọan từ thập niên 70 tới thập niên 90. Ngoài ra, chánh quyền
khuyến khích phát minh sáng kiến. Vì vậy các quốc gia nầy đã đạt nhiều bằng
sáng chế có giá trị trên quốc tế.
(vi) Sự hợp tác và niềm tin của dân
chúng
Căn
bản của chánh sách và mô hình kinh tế là Tự do, Dân bản. Kinh tế tư nhân là
quan trọng nhứt. Nhưng bên cạnh Chánh quyền có vai trò khá nhiều, nên muốn kinh
tế phát triển tốt đẹp, toàn diện và công bằng, thì người dân và chánh quyền phải
có hướng đi chung, có sự hợp tác chân thật với nhau. Người dân ở các quốc gia hổ
kinh tế, trên thực tế đồng tình với Nhà nước, họ có kỹ luật, có niềm vui chung.
Và cuối cùng như mọi người biết, cuộc sống về vật chất và tinh thần của dân
chúng ở đấy có tiến bộ nhanh, cao, công bằng, an lạc, và hài hòa.
(vii) Uy tín vị thế quốc tế
Khi
một quốc gia có nền kinh tế hướng ngoại rất mạnh như 4 Hổ kinh tế, thì uy tín
và vị thế quốc tế rất quan trọng. Thế quốc tế dựa trên các điểm chánh mà các Hổ
Á châu đều có như:
Mức độ phát triển cao thực sự và có
chất lượng.
Người dân hưởng được thành quả lớn về phát triên, về vật chất lẫn tinh thần.
Dân có thu nhập đầu người tăng cao. Hệ thống đường sá, phương tiện cho chuyển vận
tốt. Dân có đủ tiền cho giáo dục con cái. Có hệ thống y tế tốt. Sản xuất được
món hàng quí giá có chất lượng, hay phát minh được kỹ thuật mới hữu ích mà thế
giới cần đến.
Về
mặt tinh thần, dân có các quyền tự do căn
bản: chánh trị, tôn giáo và tư tưởng. Cuộc sống bình an, không bị chánh quyền
đàn áp, bị cưởng đoạt tài sản cách vô cớ và phi pháp.
Quốc gia đó có một chánh quyền có hiệu
quả tốt và lương thiện trong vận hành đất nước và phục vụ dân tộc. Viên chức chánh
quyền ít tham nhũng, có kỹ luật và tôn trọng nhân quyền và dân quyền, một chánh
quyền được dân tin cậy và hợp tác tự nguyện.
Một đất nước có cơ sở căn bản về hạ tầng cơ sở đủ tốt, và hệ thống tiền tệ ổn định.
Một quốc
gia có văn hóa văn minh. Mọi người dân biết tôn trọng và bảo vệ và hy sinh
cho đất nước. Một xã hội có nét đẹp văn hóa, có tình yêu thương đồng bào. Một
xã hội ít lừa đảo và gian manh.
Một đất nước được quốc tế mến phục. Dân tộc và đất nước có ưu
điểm mà nhiều người trên thế giới mến mộ, và muốn hợp tác, muốn đến thăm viếng.
Một quốc gia có đóng góp vật chất hoạc tinh thần cho thế giới.
Đó
là những điểm mà quốc tế duyệt xét, thẩm định cho sự hợp tác, cho sự tín nhiệm,
và cho sự thành công lưởng lợi. Đó cũng là ưu điểm quốc tế mà các quốc gia Hổ
kinh tế có được trong quá khứ, và là một trong những yếu tố thành công của các
quốc gia nầy.
Nói
thế không có nghĩa các quốc gia Hổ kinh tế toàn hảo. Các nước nầy cũng có những
khuyết điểm. Nhưng ưu điểm nhiều hơn và căn bản hơn. Đó cũng là những yếu tố mà
một số cơ quan điều nghiên đánh giá về mức độ phát triển có chất phẩm chất hay
không và mức độ hạnh phúc của một dân tộc.
3. Tóm tắt sự cách biệt và khác biệt VN với Hổ kinh tế
Phần
trình bày trên là tóm tắt các yếu tố thành công và những bài học từ các Hổ kinh
tế.
Nhìn
lại VN, mọi người đều thấy và nhận xét là sau 50 năm, kinh tế VN vẫn cò rất thấp
và có quá nhiều trở lực từ gốc rễ, rất khó giải quyết, có nhiều bất bình thường
so với tiến trình phát triển của Hổ Á châu. Đó là vấn đề lớn của chế độ XHCN.
Tóm
tắt các khó khăn tồn tại và thử thách cho VN:
Chánh quyền độc tài toàn trị.
Trong
chế độ XHCN hay CS có một số nguyên tắc bất khả thay đổi, trừ khi chế độ biến đổi
chế độ mạnh mẽ. Đó là: “Quyền công hữu”, người dân không có quyền sở hữu đất
đai, mà là thuộc về Nhà nước. “Quyền quản lý tài sản tài nguyên quốc gia”, Nhà
nước nắm và sử dụng mọi ngoại tệ, viện trợ, tài chánh công, phần lớn tín dụng,
tài nguyên thiên nhiên. Về đầu tư, Nhà nước hoạch định và thực hiện nhiều dự án
lớn, âm thầm giao tài sản công cho nhóm “tư sản thân thuộc” cách phi pháp mà
dân không biết và không có quyền được tham dự, mặc dù đó là tiền của dân. Chánh
quyền các cấp cứ một mình mà làm, tự biên tự diễn, tự chiếm đoạt công quỹ.
Mô hình kinh tế và cơ cầu kinh tế mâu thuẩn.
Khi
đổi mới kinh tế, CSVN áp dụng mô hình mới ”Kinh tế thị trường XHCN”. Đó là mô
hình nửa tư bản nửa XHXN, tự nó là mâu thuẩn. Nhưng Nhà nước cứ ép guồng máy
kinh tế lạ đời đó cứ chạy, tới đâu không cần biết. Nền kinh tế đó chỉ tự động điều
chỉnh đối với những người làm ăn nhỏ, và tự động cấu kết đối với tư sản đỏ và
viên chức qua những món “hợp tác” rất béo bở, và cũng chẳng cần biết loại ưu
tiên hay không, mà chỉ chú trọng “ưu tiên trong số tiền chia chác”.
Việc VN không có nền “kinh tế thị trường thực
sự”, đối với một số quốc gia đối tác, là một trong những trở ngại, thiệt hại cho
kinh tế đối ngoại.
Một
nguyên tắc khác của kinh tế XHCN là quốc doanh phải tồn tại và có tỷ phần lớn,
là chủ đạo. Quốc doanh chiếm 30% tài sản kinh tế, và 2/3 bị lỗ triền miên,
nhưng không được giải quyết dứt khoát, khó khăn và thiệt hại to lớn vẫn còn đó
Sức mạnh kinh tế thiếu căn bản và nhiều bất ổn
Mặc
dù kinh tế có phát triển, thu nhập trung bình mỗi đầu người gia tăng từ khoảng
$120 MK năm 1985 lên $4600 MK năm 2025. Nhưng thu nhập đó còn quá thấp so với
các Hổ kinh tế.Có sự cách biệt quá lớn về thu nhập giữa nông thôn và thành thị,
trung bình hơn 50 lần của 10% người nghèo nhứt so với 10% người giàu nhứt. 70%
dân sống ở nông thôn, thu nhập rất kém thì mãi lực kém và tiền để dành rất ít. Đó
là một trở ngại cho phát triển. Cuối cùng là nền kinh tế không bền vững, không
tự lự tự cường được, nó còn phải quá lệ thuộc kinh tế bên ngoài, nhứt là lệ thuộc
TC.
Bộ máy quản lý kinh tế không hiệu năng, không
minh bạch, thiếu lương thiện
Đó
là hậu quả của chánh sách nhân sự của đảng CS. Ưu tiên tuyển dụng và thăng thưởng
là bè phái trong đảng chớ không phải do tài đức. Đa số viên chức không đạo đức được
đào tạo và hoạt động trong một bộ máy một
chiều, to lớn, nhưng xơ cứng. Tình trạng đó đưa tới tinh thần phục vụ của viên
chức là người dân phải xin xỏ cầu cạnh, và tham nhũng quá khủng khiếp, dù có
thanh trừng, nhưng không thể giải quyết được.
Các
trở lực to lớn nêu trên thấy ít xảy ra ở các quốc gia Hổ kinh tế, và trên nhiều
nước bình thường thế giới. Đó là những thử thách mà nhiều cơ quan quốc tế như
WB, và nhiều nước có hợp tác với VN như Hiệp ước Thương mại CPTPP và Âu châu với
VN, đã nêu lên và đề nghị cải sửa, nếu VN muốn có sự phát tiển tốt hơn.
Vị thế quốc tế không vững vàng
VN
không có nhiều uy tín quốc tế như các quốc gia hổ kinh tế, mặc dầu có chánh
sách ngoại giao mềm dẽo, bang giao trên 70 quốc gia. Cách hợp tác không có chiều
sâu, trừ với TC. Đối với thế giới, VN không có sự tôn trọng tự do, dân chủ và
nhân quyền, mà một số cơ quan quốc tế như Human Rights Watch từng có nhận xét
VN là một trong nhóm các quốc gia có vi phạm nhân quyền cao nhứt, hay VN là một
trong 10 nước đứng đầu về tham nhũng. Khi không có uy tín, hay sự tin cậy nhau
không cao, thì bang giao quốc tế lung lay. Nhứt là trong tình hình thế giới có
quá nhiều biến động lớn trong mấy năm gần đây. Với thế và lực quốc tế như hiện
nay, VN khó thảo luận ngang ngữa và quang minh, và tự bảo vệ quyền lợi của mình
với một cường quốc hay bất cứ một đối tác mạnh nào.
Qua
phần Khái quát, chúng tôi đã tóm lược: Lý do mộng ước của VN trở thành “Hổ kinh
tế”. Những nét chung về sức mạnh kinh tế của Hổ kinh tế. Và tóm tắt nhưng vấn nạn
và thử thách cho VN trong tương lai.
II.BÀI HỌC KINH
NGHỊÊM TỪ MỖI HỔ KINH TẾ Á CHÂU
Để
hiểu khả năng và điều kiện mà VN có thể phát triển ngang hàng “Hổ kinh tế”,
chúng tôi xin tóm lược sự thành công của từng quốc gia Á chây nầy. Từ đó so chiếu
với VN xem có thể rút ra những bài học nào. Nhứt là có thể áp dụng một số điều
tích cực từ các quốc gia nầy, hoặc VN cứ tiếp tục theo đường độc tài XHCN,
trong khi trên lời nói và giấy tờ thì hô hào phải đổi mới nữa.
1.Trường hợp Singapore
a/Tổng quan.
Singapore là một quốc gia rất nhỏ, chỉ có 5,7
triệu dân (năm 2023). Khi còn thuộc Anh Singapore là một phần đất của Malaysia.
Khi đó Singapore chỉ là một hải cảng nhỏ và là một làng chài, nghèo nàn, chậm
tiến.
Anh quốc trả lại độc lập cho Malaysia năm 1963.
Sau đó Singapore được tách khỏi Malaysia
thành quốc gia độc lập từ 1965, với đầy đủ chủ quyền của một thành viên
Liên Hiệp Quốc.
Về
định chế chánh trị Singapore theo chế độ Dân chủ lập hiến. Dân trực tiếp bầu Quốc
Hội và Quốc hội bầu chọn Thủ Tướng, người lảnh đạo Hành pháp. Đảng Nhân dân
Hành động (People Action Party, PAP) chiếm đa số tuyệt đối ở Quốc hội. Lảnh đạo
đảng PAP được đắc cử với đa số tuyệt đối, và lảnh đạo Singapore mãi tới ngày
nay, vì PAP đem lại sự thịnh vượng cho toàn dân. ông Lý Quang Diệu là Thủ tướng
đầu tiên và trải qua nhiều nhiệm kỳ, ông là một chánh trị gia được đánh giá là rất
có tài. Singapore cũng có một số đảng đối lập, nhưng rất yếu thế, có các đảng Democratic
Alliance, reform Party, Singapora United Party, Worker Party. Trên 65.57% người
dân cho biết họ chọn PAP, vì PAP đã đưa dất nước họ thành công lớn. Từ 2016 về
sau, các đảng đối lập phát triển khá hơn, có đảng viên đươc bầu vào QH, như đảng
Công nhân (Worker Party). (Asia Society Policy Institute, 2024). Như PAP vẫn
chiếm đa số tuyệt đối.
Là
một nước Tự do dân chủ, nhưng Singapore có mô hình chánh trị và kinh tế khá đặc
biệt. Chánh quyền can thiệp khá mạnh vào hoạt động của kinh tế. Vì vậy, có người
gọi là thể chế “Tư bản độc tài” (Authoritarian Capitalism). Nó khác với chủ
thuyết Tư bản tự do hoàn toàn. Do đó mô hình kinh tế của Singapore là Kinh tế
thị trường được điều hướng và kiểm soát bởi Nhà nước. Nó khác “Kinh tế thị trường
định hướng bởi ý thức hệ”, hay bởi Chế độ chánh trị độc tài chuyên chính, có
quyền tuyệt đối ở trên Nhà nước.
b/Nền kinh tế tiến bộ vượt bực.
Khởi
đi từ một nước nghèo, không có tài nguyên thiên nhiên, với dân số nhỏ bé, Singapore
gần như bắt buộc chọ con đường hướng ra thế giới. Chánh sách kinh tế đặt nặng
vào xuất cảng và đầu tư ngoại quốc (FDI), và trung tâm tài chánh quốc tế. Chỉ
trong vòng ba thập niên Singapore có nền kinh tế phát triển kinh tế rất cao và
nhập vào những nước giàu nhứt thế giới. Từ đó xã hội Singapore đã có mức cao về
văn minh, tiến bộ về mọi mặt, một quốc gia được thế giới khâm phục từ bên trong
và cả bề ngoài.
Vê
tỷ suất phát triển. Trung bình Singapore có tỷ xuất phát triển 8,2%/năm, trong
giai đọan 1965- tới cuối thận niên 1990. Có năm tỷ suất lên 12%. Trong khoàng
20 năm trở lại đây tỷ xuất phát triển giảm dần khi kinh tế đã rất cao, và trong
hoàn cảnh thế giới có nhiều xáo trộn mạnh. Nhưng còn khá cao 4,4% , GDP: $547,390 tỷ Mỹ kim (2024 World Bank). Thu nhập
đầu người: $64.000 MK (2024), hơn VN 14 lần, có hạng 8 thế giới (Hoa kỳ hạng
9).
Singapore có nền kinh tế hướng ngoại cách tuyệt
đối. Ba lảnh vực chánh là xuất cảng, đầu tư ngoại quốc, và dich vụ (ngân hàng,
bảo hiểm, chứng khoáng, chuyển vận, chiếm 70% GDP) .
Xuất
cảng: $710 tỷ MK, nhập $655 tỷ MK. Ngoại thương có tỷ lệ 320% GDP (Wikipedia
2025). Trung bình 10 năm qua, xuất cảng tăng 7.8%/năm. FDI vào Singapore năm
2024 là $192 tỷ MK, tăng 5.6% so với năm trước.
Ngoài
ra, Sigapore đầu tư rất lớn tại Trung quốc và hầu hết các quốc gia Đông Nam Á.
Tại VN, Singa pore có vị trí đầu tư hạng nhứt, nhì.Tổng số đầu tư của Singapore
ra ngoại quốc năm 2024 là $1636 tỷMK.
Tóm
lại kinh tế Singapore gia tăng cao và bền vững cho tới nay.
c/Bài học về sự thành công của
Singapore
Chúng
ta có thể rút ra các bài học thành công trên nhiều mặt trong việc đưa đất nước
và dân tộc đảo quốc nhỏ bé lên vị trí rất cao trên thế giới.
Về thể chế và sách lược kinh tế. Từ ngày được độc lập
(1965), người dân Singapore đã chọn thể chế Dân chủ pháp trị, với chánh thể dân
chủ lập hiền, mô hình chánh trị kiểu Anh quốc. Dù gần như độc đảng, nhưng có các
cuộc bầu cử tự do.
Theo cuộc Report của Global Barrameter có 86%
dân chúng cho là có tự do bầu cử. Và theo nghiên cứu của cơ quan Heritage Organization,
năm 2025, với 176 quốc thì Singapore có tỷ lệ cao về nền kinh tế thị trường, được
cho điểm 84/100.
Về
kinh tế với mô hình kinh tế thị trường hay kinh tế tự do. Nghĩa là mọi bình
quân của kinh tế do thị trường quyết định.
Nhưng
vì tình hình chánh trị và kinh tế của Singapore lúc bấy giờ, quốc gia nầy phải
chọn mô hình kinh tế chánh trị đặc biệt, không theo theo Dân chủ Tự do hoàn
toàn. Sự can thiệp mạnh của chánh quyền là để tạo điều kiện thuận lợi cho tư
doanh như thành lập khu kỹ nghệ, khu chế xuất với mức cho thuê thấp, với thuế rất
thấp. Chánh quyền cho vay với lãi xuất thấp để cứu một công ty kinh doanh. Thành
lập mộ số công ty quốc doanh, nhưng với điều kiện các công ty phải có lời, nếu
lỗ bị dẹp ngay. Quốc doanh không có ưu tiên tuyệt đối và có sự cạnh tranh đàng
hoàng với tư doanh. Khi khu vực tư doanh rất mạnh, thì quốc doanh bị giảm bớt. Thập
niên 1960 quốc doanh có tỷ lệ 35.6% tổng số tài sản, nhưng đến thập niên 1970
còn 26.7% (Springer Nature Link)
Ngoài
ra, Chánh quyền còn lập ra các Hội đồng (Board) để chỉ đạo phát triển. Trong các
Board nầy gồm đại diện chánh quyền và đại diện khu vực tư, như Hội đoàn dân sự.
Một số Hội đồng Phát triển kỹ nghệ, Hội đồng Khuếch trương xuất cảng, Hội đồng
giáo dục…
Lảnh
vực mà chánh quyền can thiệp nhiều là trong lảnh vực phúc lợi công, trong đó có
chương trình xây thật nhiều nhà cho dân chúng. Phúc lợi xã hội cho đa số người
dân luôn là yếu tố tốt cho phát triển kinh tế. Thành phần trung lưu gia tăng
nhanh, năm 1970 chỉ có 10,3% , đến 1999 tăng lên 40% tổng dân số (Tamura 2003).
Nói
tóm lại Chánh quyền Singapore có can thiệp mạnh, nhưng sự can thiệp đó có chọn
lọc, khôn ngoan, có hiệu quả, minh bạch và không cưởng ép. Đó là mô hình “Kinh
tế thị trường có Nhà nước hướng dẫn”.
Phẩm chất Bộ máy công quyền.
Cơ
chế nhà nước giống chế độ Dân chủ lập hiến của Anh. Có sự phân biệt rõ ràng giữa
Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Luật pháp được xây dựng và thi hành cách đúng đắn,
minh bạch.
Bộ
máy Hành chánh Singapore được đánh giá rất cao. Viên chức có khả năng, có kỹ luật
nghiêm minh, có đạo đức hành chánh cao. Việc huấn luyên có phẩm chất. Tuyển dụng
công minh. Sự thăng thưởng dự trên hiệu quả và lương thiện trong công vụ. Đây
là điều cần thiết cho nguyên tắc chánh quyền can thiệp mạnh vào khu vực kinh tế
tư.
Coi trọng giáo dục và nhân lực
Singapore
rất coi trọng Giáo dục. Chánh quyền đầu tư vào giáo dục rất cao. Nhứt là trong định
chế giáo dục kỹ thuật. Cho nên có sự thỏa mãn về nhân công, viên chức cho các kỹ
nghệ chế biến và dịch vụ. Trong khu vực công cũng như tư có nhân sự vừa có hiệu
năng cao, vừa có có kỹ luật. Nhân lực có phẩm chất cao trong cả khu vực Nhà nước
và khu vực tư. Singapore có vị trí thứ hai trên quốc tế về tiến bộ khoa học kỹ
thuật.
Có thế quốc tế cao
Một
quốc gia đạt được uy tín quốc tế rất cao trong sự thu hút doanh nhân ngoại quốc
cũng như có thị trường quốc tế rất lớn như đã trình bày ở trên, chứng tỏ
Singapore phải có những yếu tố thành công như Chánh quyền hữu hiệu và có đạo đức.
Chánh sách đúng và hậu quả lưởng lợi cho quốc gia mình và cho quốc tế. Dân
chúng có học thức và có tinh thần kỹ luật và trọng pháp.
2.Trường hợp Nam Hàn
a/Tổng quan
Chiến
tranh quốc cộng chấm dứt 1953, đất nước bị chia đôi. Bắc Hàn theo chế độ CS, và
Nam Hàn có chế độ Tự do, theo Tổng Thống chế. Dân số Nam hàn là 51 triệu, 2024.
Nam Hàn đã khởi đi từ một nước chậm phát triển,
rất nghèo, và sau 30 năm, quốc gia nầy trở thành nước phát triển ở trong nhóm
các nước giàu trên thế giới. Dân chúng Nam Hàn có mức sống rất cao về các mặt
kinh tế, chánh trị và xã hội.
Trong
gấn 10 năm dưới TT Lý thừa Vảng (1953-1962), kinh tế không phát triển tốt, dù
Hoa kỳ trợ giúp rất nhiều. Nam Hàn thời đó có nền kinh tế nông nghiệp chậm tiến,
nhiều khó khăn; 70% dân chúng sống ở nông thôn.
Từ
khi Tướng Phát chánh Hy đảo chánh lật đổ Lý thừa Vãng, 1962, có sự thay đổi
quan trọng, Chế độ độc tài quân phiệt xuất hiện, nền Dân chủ non trẻ bị đe dọa.
Trong thời gian ông làm Tổng Thống (1963-1979), có nhiều biện pháp mạnh xen vào
nền kinh tế tự do. Nhưng với chánh sách chánh quyền can thiệp vào nền kinh tế,
thì kinh tế Nam Hàn lại có tiến bộ rất mạnh, rất tốt đẹp. Điều nầy đưa đến thắc
mắc nhiều cho một số nhà kinh tế. Vì theo nguyên tắc khi chánh phủ càng nhúng
tay vào kinh tế, thì cơ cấu và tính tự động hóa của thị trường càng bị suy giảm,
kinh tế sẽ không bình thường. Nhưng thực tế, với kiểu độc tài Nam Hàn, Phát
chánh Hy vẫn giữ được nền kinh tế tự do. Nhứt là từ các Tổng Thống sau Phát
chánh Hy hoàn toàn theo nền kinh tế thị trường thực sự. Có sự hợp tác giữa
Chánh quyền và dân các minh bạch, và hiệu quả.
b/Nền kinh tế tiến bộ thần kỳ
Nói
chung Nam Hàn có nền kinh tế Nam Hàn có đường lối và chánh sách kinh tế đúng,
thích hợp với hoàn cảnh kinh tế quốc nội và quốc tế. Vì vậy Nam Hàn đã thành
cách thần kỳ, và được thế giới nể phục.
Năm 2020, nền kinh tế Nam Nàm dứng thứ 11 thế giới (Shahid H Raja, 2022)
Tỷ
số phát triển. 1982-1969: 9,6%. 1973-1979
: 11%/năm. Sau 1980, tỷ xuất giảm, nhưng vẫn cao, trung bình 8%/năm. Những năm
gần đây giảm còn 5%.
Thu
nhập đầu người (Mỹ kim): 1960
1985 2020
$923
$3854 $42.000
Nguồn: Shahid H.Raja
Xuất
cảng là phần quan trọng nhứt trong nền kinh tế. 1960 chỉ có $55 triệu lên $55 tỷ 1988. Trung
bình xuất cảng tăng 35%/ năm trong thời gian 1962-1969. Nam Hàn đứng trong nhóm
10 quốc gia có xuất cảng cao nhứt thế giới (Shahid H Raja 2022). Các loại hàng
được ưa chuộng như hàng điện tử, xe hơi, sản phảm gia dụng và thiết yếu..
Về
uy tín và vị trí quốc tế. Nam Hàn trong lúc phát triển, luôn tạo và gìn giữ uy
tín quốc tế. Bởi vì xuất cảng là phần quan trọng nhứt của tỷ phần kinh tế (trên
40%), và Phong trào toàn cầu hóa lúc đó rất mở rộng.
c/Bài học kinh nghiệm từ Nam Hàn
Tóm
tắt các bài học quan trọng :
Thể chế chánh trị và chánh sách kinh
tế
Về
chế độ độc tài và lại kinh tế phát triển tốt tại Nam Hàn, có thể được giải
thích: Nam Hàn có chánh quyền độc tài trong 16 năm của quá trình phát triển 60
năm. Các năm khác có Dân chủ thực sự, nhứt là sau Phát chánh Hy. Ngày nay Nam
Hàn là mộ trong các quốc gia có Tự do dân chủ ở mức cao trên thế giới.
Trên
nguyên tắc về “Chánh quyền can thiệp” có hình thái khác nhau, nên có những hậu
quả khác nhau. Ví dụ ở Nam Hàn và các hổ kinh tế khác, thì nhằm mục tiêu chánh
là lợi ích của toàn dân. Sự can thiệp từ Nhà nước với cơ chế thị trường. Còn loại
can thiệp thứ hai là từ đảng cầm quyền mang tính nguyên tắc hay lý thuyết của một
chế độ chánh trị, ví quyền lợi trên hết là đảng và đảng viên. Loại thứ ba là
Chánh qyuyền làm lệch lac kinh tế thị trường từ một cá nhân hay nhóm nhỏ có quyền,
chỉ nhằm mục đích cho riêng tư.
Hơn
nữa ý thức dân chủ của người dân khá cao, những tranh đấu cho Tự do Dân chủ và
Nhân quyền của dân chúng luôn ở tình trạng tốt đẹp. Nam Han là một trong các quốc
gia đứng đầu có nhiều Tổng Thống bị tù, vì tham nhũng.
Chánh quyền can thiệp mạnh nhưng tôn
trọng quyền lợi của dân
Về
việc Chánh quyền can thiệp mạnh vào kinh tế, kinh tế không bị thiệt hại lớn mà
còn phát triển cao và bền vững như đã thấy, qua chánh sách và cơ cấu kinh tế. Vấn
đề không có nghịch lý, bởi vì Vai trò chánh quyền chỉ nhằm hướng dẫn, trong thị
trường xuất cảng, kỹ thuật và giúp đở tài chánh. Quốc doanh chỉ chiếm số nhỏ và
từ từ bị giải tư, ví dụ quốc doanh chỉ chiếm 7%-9% GDP. Khu vự tư nhân chiếm phần
quan trọng nhứt. Con đường đi của doanh nhân Nam Hàn hơi giống Nhựt bản. Khoa học
kỹ thuật phải đi trước, và đủ mạnh để canh tranh quốc tế. Công kỹ nghệ do doanh
nhân trong nước làm chủ có tầm cở cao không phải chỉ là gia công cho công ty nước ngòai. Như vậy dù có biến cố kinh tế
bên ngoài, cũng không bị ảnh hưởng nhiều.
Chánh
quyền đi dầu, nhưng có sự phối hợp vớ tư nhân. Các kế hoạch ngũ niên, hay cá
chương trình khuyến khích xuất cảng, có sự họp tác với người dân qua nhiều hình
thức: Quốc hội có nhiều dảng phái, các Hội đoàn dân sự, các Hội đồng chuyên môn
(Hội đồng Xuất cảng, Hội đồng phát triển Công nghiệp, Công đoàn độc lập…)
Chánh
quyền giải thích luật lệ, chánh sách các đầy đũ và minh bạch mọi sinh hoạt kinh
tế qua báo chí.
Dân
tộc có truyền thống văn hóa tốt và có kỹ luật cao.
Dân Nam Hàn truyền thống có văn hóa và văn
minh lâu đời. Người dân chịu học hỏi, có lòng yêu nước và rất kỹ luật. Cho nên
nếu có chánh quyền tốt, thì dân chúng dễ đồng lòng và chịu hy sinh. Một phần,
nhờ học hỏi người Nhựt trong thời gian bị Nhựt đô hộ. Cho nên khi có chánh quyền
tốt thì được dân hưởng ứng nhiều. Ví dụ tiết kiệm của dân có tỷ lệ rất cao.
Vị thế quốc tế
Trong
phong trào kinh tế toàn cầu hóa rộng rãi như trước hay toàn cầu hóa bị hạn chế
ngày nay, một nước có kinh tế mạnh và bền vững phải mạnh cả kinh tế đối nội lẫn
đối ngoại. Nam Han đã đạt được tình trạng nầy.
Nam
Hàn đứng hạng 4 về mức độ làm ăn dễ với với công ty nước ngoài (World Bank
2018). NH đóng góp nhiều các nghiên cứu,
phát minh tế giới, nhiều hơn Hoa kỳ, Nhựt Bản, Đức và TC.
Trong
gần nửa thế kỹ qua, nhiều đại công ty NH đi đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, và ở
mức rất cao, như công ty NH ở TC và ở VN. Riêng ở VN FDI nam hàn chiếm vị thế hạng
nhì, hạng ba.
Giáo
dục và khoa học kỹ thuật NH có mức chuẩn quốc tế, nên cá công ty ngoại quốc
thuê mướng nhân viên hay cộng tác với công ty Nam Hàn không gặp khó khăn. Chánh
quyền lập các Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khuyến khích nhiều phát
minh.
Trên
đây là một số bài học kinh nghiệm từ sự phát triển của Nam Hàn. Nói tóm lại,
Chánh sách can thiệp của Chánh quyền tại Nam Hàn, chẳng những không gây khó
khăn mà còn giúp kinh tế xã hội đạt kết quả tốt hơn. Sự can thiệp đó với các yếu
tố cần có: chọn lọc lảnh vực, thực dụng, lượng giá kết quả, bộ máy chánh quyền có hiệu
năng và viên chức có đạo đức. Mặt khác, đa số dân chúng, đặc biệt là truyền thông
báo chí, có ý thức chánh trị, những lạm quyền của viên chức chánh quyền bị phát
hiện.
3.Trường hợp Đài loan
a/Tổng quan
“Hổ
Đài loan” có sức mạnh kinh tế vượt bực trong vòng 60 năm nay. Đài loan là đảo nhỏ có 23 triệu dân (2020). Có chiều
dài lịch sử hàng ngàn năm. Từng bị đô hộ bởi Hòa Lan (1622) và Nhựt Bản
(1937-1945). Khi chiến tranh thế giới thứ II chấm dứt, Đài loan được trả cho Cộng
Hòa Trung hoa vào năm 1945, lúc đó Tổng thống là Tưởng giới Thạch (TGT). Đến
1949, CS chiếm Trung hoa, và TGT cùng độ hai triệu người gồm quân nhân, viên chức,
trí thức và tư sản chạy ra Đài loan, và vẫn giữ chế độ Cộng Hòa Trung hoa. Và từ
đó, Quốc dân đảng nắm chánh quyền tại Đài loan cho tới 1971, khi Liên Hiệp Quốc
công nhận Trung cộng, và Đài loan bị mất tư cách là thành viên. Nhưng Đài loan vẫn
được Hoa kỳ và một số quốc gia ủng hộ rất mạnh về chánh trị quân sự và kinh tế.TGT
và con là Tưởng kinh Quốc cai trị Đài loan gần 30 năm. TGT điều hành đất nước bằng
thiết quân luật. Đảng phái đối lập ở cấp quốc gia không có vị thế mạnh. Mãi cho
đến những năm sau 1987. Nhưng Chánh quyến TGT thúc đẩy sinh hoạt dân chủ ở cấp
địa phương. Chính điều nầy đã tạo được tinh thần dân chủ tốt đẹp sau nầy. Đai
loan hậu TGT có nền Dân chủ rất tốt đẹp. Đó là một điều cần thiết trong việc chống
độc tài CS.
Về
kinh tế, Đài loan có nền kinh tế tự do. Mặc dù có nhiều nhận định về chánh quyền
độc tài thời TGT, khi đó chánh quyền là độc đảng. Trong hơn 20 năm đầu chánh
quyền do Quốc dân đảng can thiệp mạnh vào sinh hoạt kinh tế. Nhưng cũng giống
như Singapore, Nam Nàm, sự chan thiệp ở Đài loan chỉ nhằm thúc đẩy nền kinh tế
phát triển nhanh hơn. Thục tế kết quả kinh tế xã hội xác nhận tính hữu hiệu và
cần thiết trong hoàn cảnh nào đó, của vai trò chánh quyền về chánh sách kinh tế.
Dù
TC luôn đe dọa chiếm lấy, nhưng kinh tế Đài loan vẫn vững mạnh, ý chí kiên cường
bảo vệ nền độc lập.
b/Nền kinh tế vươn cao và bền vững
Tiến
trình phát triển kinh tế Đài loan trải qua ba giai đọan: Từ 1950-1960 : Cũng cố
và phát triển nông nghiệp. Chánh quyền giúp tín dụng, bảo đảm giá nông sản, tổ
chức Nông hội hữu hiệu. Chánh phủ thực hiện chương trình Cải cách điền địa. Từ
thập niên 1960 tới thập niên 1980, kinh tế phát triển mạnh qua chánh sách công
nghiệp hóa và khuếch trương xuất cảng. Trong công nghiệp, Đài loan phát triển
loại xí nghiệp vừa và nhỏ trước khi xây dựng đại kỹ nghệ. Lúc đó sản phẩm đồ
gia dụng, chế biến nông sản. Về xuất cảng, chánh quyền hổ trợ tư doanh hết mình
cho xuất cảng. Mô hình Khu chế xuất là mẫu mực cho nhiều quốc gia đang phát triển.
Giai đoạn ba, từ thập niên 1980 tới nay, sau khi thành công về xuất cảng, Đài
loan tiến tới ngành công nghiệp cho thị trường quốc tế, trong đó sản phẩm điện
tử là quan trọng nhứt, có một sốp linh kiện hàng đầu trong chuổi cung ứng thế
giới.
Mô
hình kinh tế của Đài loan là kinh tế tự do. Khu vực tư nhân có vị thế quan
trong. Khu vực nhà nước yếu kém và bị giải thể từ từ. Một vài kết quả kinh tế:
Tỷ
xuất phát triển trung bình 10% trong hai thập niên 1960-1970 (Kelly Olds,2020).
GDP $805 tỷ Mỹ kim (2024). Thu nhập đầu người (2022): $34.426 Mk (Wikipedia).
Năm 2025, mặc dù kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, nhưng Đài loan vẫn có tỷ
xuất phát triển 8,5%, con số rất cao đối với nước đã phát triển.
c/Bài học từ Đài loan
Truyền thống văn hóa
Dân
chúng Đài loan gồm hai thành phần chánh: người bản xứ chiếm 2/3 dân số, 1/3 là
người Hán. Nói chung có tuyền thống văn hóa lâu đời. Một trong các ưu điểm là
trong sự học. Trong một đất nước hiếm hoi tài nguyên thiên nhiên, thì muốn thay
đổi cuộc đời chỉ trông cậy vào việc học, nhứt là khoa học kỹ thuật.Tinh thần
cao, nhờ chịu ảnh hưởng phần nào trong những năm bị Nhựt đô hộ. Dân chúng Đài Loan
có niềm tin ở chánh quyền, và họ hợp tác với chánh quyền. Đó là yếu tố quan trọng.
Qua điều tra trong 1980, có tới 80% thành viên của các Hội Công thương trả lời
họ ủng hộ TGT, vì ông đem nhiều mối lợi cho khu vực tư (Mobeath 1998).
Dân
Đài loan quí trọng Tự do Dân chủ, vì phải đối đầu và tranh đấu chống chủ nghĩa
CS.
Các bước phát triển kinh tế vững chắc
Nói
chung, trong hơn 60 năm, Đài loan có sách lược kinh tế đúng và thực tế. Vì vậy
kinh tế khá bền vững, dù có bị ảnh hưởng của chiến tranh mậu dịch Mỹ Trung.
Có Bộ máy công quyền tốt
Đài
loan có bộ máy Hành chánh có hiệu năng và rất có kỹ luật, một phần do rút kinh
nghiệm đau thương khi TGT còn nắm quyền cai trị ở lục địa, một phần học hỏi từ
Nhựt. Sự thành công của chánh quyền can thiệp nhiều thứ của Đài loan, có một phần
nhờ Bộ máy công quyền tốt.
Thuận lợi và khó khăn trên quốc tế
Đài
loan ở trong tình trang đạc biệt về chánh trị và kinh tế. Trên quốc tế được sự nể
phục về kinh tế. Nhưng về chánh trị Đài loan có vị thế khó khăn trong bang giao
quốc tế.
Về
mặt kinh tế, với sự phát triển mạnh mẽ và bền vững, và kinh nghiệm quí báu về
kinh tế, Đài loan đóng góp nhiều cho sự phát triển và ổn đinh kinh tế quốc tế
trong gần 60 năm qua. Đài loan sản xuất nhiều hàng điện tử với giá rẽ và bán khắp
mọi nơi.
Đối
với các nước đang phát triển có thể học hỏi ở Đài loan về chánh sách kinh tế
nông nghiệp trong giai đọa đầu, với sự thánh công của Hiệp hội nông dân được
chánh quyền nâng đở, như bảo đãm giá tối thiểu cho nông sản, và bảo đảm chăm
sóc bịnh dịch, và thị trường cho nhà chăn nuôi an tâm. Vấn đề thứ hai là khu sự
yểm trợ cho các doanh nghiệp được thành lập trong khu chế xuất do chánh phủ quản
lý, là mẫu mực thành công.
Uy
nín quốc tế của Đài loan càng ngày càng gia tăng nhờ hàng diện tử rất đầy đủ
trên thị trường quốc tế.
Ngoài
ra với vốn dồi dào và có kỹ thuật công nghệ cao, doanh nhân Đài loan đầu tư ra
ngoại quốc khá lớn, trong đó nhiều nhứt là tại TC.
Về
mặt chánh tri và ngoại giao, Đài loan ở trong thế có nhiều bất lợi và nguy hiểm,
vì bị TC đe dọa chiếm lấy. Một mặt bị đồng minh TC cắt giao thương, và không hợp
tác kinh tế. Một mặt Đài loan phải luôn o bế đồng minh để được hổ trợ về quốc
phòng. Thực tế, Đài loan có thể an tâm, nhờ sự hậu thuẩn của Hoa kỳ và đồng
minh Hoa kỳ.
4.Trường hợp Hong kong
a/Tổng quan
Hong
kong là một trong 4 Hổ kinh tế Á châu. Hong
kong có qui chế đặc biệt, từ nhượng địa của Anh.Từ 1997 khi hết hạn 99 năm, Anh
trả lại cho TC, Hong kong trở thành lảnh thổ tự trị của Cộng hòa nhân nhân
Trung hoa (TC), với qui chế “một quốc gia, hai hệ thống (one country, two
systems). Hong kong có dân số 7,5 triệu người. (2025).
Nguồn
gốc chánh của dân Hong kong là những dân cũ ở đấy từ lâu đời và tăng nhanh dần
với những nhà trí thức, nhà tư sản trốn chạy CS, khi TC chiếm và cai trị lục địa
từ 1949. Và sau đó, có nhiều người tiếp tục đào thoát tìm tự do và tìm sinh kế.
Chịu
ảnh hưởng sâu đậm của nguyên tắc chánh trị và kinh tế của Anh quốc, Hong kong
có Mô hình “kinh tế tự do hoàn toàn”.
Kinh tế tư nhân chiếm đa số tuyệt đối. Sinh hoạt chánh trị và kinh tế theo kiểu
Dân chủ lập Hiến của Anh quốc.
Trong
99 năm thuộc Anh, Hồng kong có nền kinh tế phát triển rất mạnh, ngang ngữa với
Singapore. Hong kong là trung tâm mậu dịch, đầu tư và tài chánh lớn, có tầm cở
quốc tế.
b/Mức độ phát triển kinh tế rất cao
Hong
kong có mô hình Kinh tế thị trường tự do (Free- market economy). Và nền kinh tế
được vận hành theo nguyên tắc “Chánh quyền không can thiệp”
(non-interventionism). Theo World Index, 2022, xét định mức tự do kinh tế Hong
kong cho là “freest economy”với điểm 8.58. Vài con số cho thấy mức độ kinh tế rất
cao:
Thu
nhập đầu người (Per/capita):
$56.844 MK GDP: $428 tỷ ( 2025, Wikipedia)
Nhiều
công ty đa quốc gia lớn có mặt tai Hong kong, hoạt động trong các lảnh vự: xuất
cảng, tài chánh, chứng khoáng, bảo hiểm.
c/Bài học từ Hong kong
Sách lược kinh tế và chánh trị
Thực
trạng phát triển rất tốt của Hong kong, thể hiện rõ sự liên kết và tác dụng hổ
tương kinh tư do và chế độ dân chủ . Tức là tự do chánh trị và tự do kinh tế
phát triển cùng chiều.
Kinh
tế Hong kong bắt đầu phát triển từ đầu thập niên 1960, với tốc độ rất nhanh, từ
1961-1997 GDP tăng 180 lần (Wikipedia). HK nhận FDI cao hàng thứ ba trên thế giới,
(2013).
Hong
kong có hải cảng lớn thứ 7 thế giới, có trường chứng khoáng lớn thứ 6 thế giới.
Thuế khóa rất thấp, nên giá hàng hóa thấp.
Hong
kong vẫn thu hút đầu tư mạnh mẽ. Năm 2024 có tới 10.000 công ty từ ngoại quốc
và từ lục địa TC đến thành lập ở Hong kong.
Bộ máy vận hành và quản lý kinh tế
Như
chúng ta biết, quản lý kinh tế vĩ mô là phần rất quan trọng cho hiệu quả kinh tế.
Nghĩa là do Bộ máy công quyền có hiệu năng và đạo đức hay không. Theo cơ quan
World Economic Forum network Index, chánh quyề HK được xếp hạng 4 trong các quốc
gia Á châu (2011). Và Global Innovation
Index, 2024, xếp KH hạng 3 về quản lý tài chánh trên toàn cầu. Cơ quan lượng
giá Economic Freedom of the World cho Hong kong đứng đầu về tự do kinh tế trong
vùng.
Guồng
máy công quyền Hong kong được ảnh hưởng nhiều về Hành chánh công và khoa học kỹ
thuật tốt của Anh, nên viên chức đã tỏ ra hữu hiệu và tương đối có đạo đức.
Chữ tín trong văn hóa cổ truyền.
Niềm
tin là yếu tố quan trọng cho mọi hợp tác kinh doanh. Người Hong kong giữ được
chữ tín theo tuyền thống văn hóa. Cho nên doanh nhân Hong kong khi hợp tác với
doanh nhân nước ngoài hoặc đi ra ngoài đầu tư không gặp khó khăn nhiều. Chúng
đã thấy có rất nhiều công ty Hong kong đầu tư ở ngoại quốc, trong đó rất nhiều ở
VN.
Khó khăn khi trong tay CS Trung quốc
Từ
khi được trả lại cho TC (1997), Hong kong gặp nhiều khó khăn về kinh tế và
chánh trị. Tình trạng nầy làm cho kinh tế Hong kong giảm sụt, và đời sống chánh
trị của người dân Hong kong bị va chạm. Mặt dù còn trong chế độ tự trị, nhưng
Chánh quyền TC kiểm soát Hong kong càng ngày càng nhiều. Trong tinh thần kiểm
soát theo luật Basic Law for Hong kong, Chánh quyền TC chen vào cơ quan lập
pháp và hành pháp Hong kong. Có nhiều cuộc biểu tình yêu cầu tự do.
Đối
với TC Hong kong rất quan trọng, là cửa ngỏ chánh liên lạc với các nước tư bản,
và là nguồn lợi kinh tế, về xuất cảng và FDI có lợi cho TC, đặc biệt là trong
tình trạng có thương chiến với Hoa kỳ. Một số công ty Hong kong bị Hoa kỳ chế
tài. Nhiều công ty của Mỹ và một số nước tư bản khác rút khỏi Hong kong.
Từ
1997, có nhiều nhà tư sản bỏ Hong kong ra ngoại quốc sống. Vì tình trang khó
khăn và vì sau 49 năm Hong kong hết qui chế tự trị, có thể trở thành đất của
Trung hoa lục địa.
Qua
tóm lược về bài học phát triển của Hổ Á châu, là những điều quí báu cần suy
nghĩ và tìm xem có điều gì có thể áp dụng được hay thích ứng cho quốc gia mình.
Dĩ nhiên các quốc gia nầy không phải tốt hoàn toàn, không phải tấm gương toàn
diện. Các quốc gia nầy cũng có những khuyết điểm, những sai sót và những yếu tố
tiêu cực. Sự phát triển nào cũng có cái giá phải trả.
Vấn
đề được nêu ra ở đây là liệu VN học được điều gì ở Hổ kinh tế, VN có đủ khả
năng phát triển mạnh và toàn diện kinh tế như đã mơ ước và gần như khẳng định,
hầu đem lại nhiều phúc lợi cho đất nước và cho toàn xã hội? Đó là vấn đề của phần III sẽ được trình tiếp
sau.
III.
VIỆT NAM: MỘNG ƯỚC HỔ KINH TẾ KHÓ
THÀNH
*( Còn tiếp)
Cali, ngày 10/ tháng 2/2026 - Nguyễn Bá Lộc
Tài
liệu Tham khảo
1.Kokila
Doshi, Wikipedia. “The Rush to Privatize in Asia- Pacific Regional Economies”
2.Human
Progress, 2021,“The Asian Tigers Are a Model for the Global South”
3.World
Bank Report, 2018, “Factor accumulation and macroeconomic management”
4.
Carlos Nuno Castel Branco,1996, “What are the Major Lessons From East Asian
Development Experiences”
5.Emerson
Chapin, 2017,“Success Story in South Korea”
6.Berkeley
Economic Review, “Analysis of Taiwanese Economic History and Policies”
7.Kolila
Dishi, “The Rush to Privatize in Asia-Pacific Region”.
8.
World Bank, 2025, “Freedom of Economy”
9.Bryan
Caplan, Mason University, “Singapore’s Political Economy: Two Paradoxs”
10.Sagin
Park, “Government Role in Korea’s Economic Development”
11.Havard
Political Review, 2012, “Vietnam : The hiden Asian Tiger”
12.
American Press, 2025 “Vietnam on Track to become Asian’s next Tiger Economy”
13.
Oleksands Zholud, 2017 “Korea: Cause of Tremendus Growth”
14.,
Ana Maria Santacreu, Heting Zhu, 2018, “How did South Korea Develop so Quicly”
15.IndexMundi,
2017, “South Korea Economy Overview”
16.Vietnam
Briefing, 2025, “Vietnam’s economic outlook going forward”
17.Trung
tâm luật pháp Vietnam, Nghị Quyết 68/TW, ngày 4 tháng 5 2025 của Bộ chánh trị.
18.
Foundation for Economic Education, 2024,”How Vietnam went from The Poorest
Economy in The World to a
Prosperous Exporter”
19.Wikipedia,
2024, “Economy of Singapore”
20.Tổng
cục Thống kê Việt Nam