Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Monday, 5 October 2026

 ĐẢNG ONE NATION HY VỌNG HỐT PHIẾU NHỜ NHỮNG CÔNG KHAI  THẲNG THỪNG NHƯ VẦY - 2 ĐẢNG LỚN LÂU ĐỜI TUỘT DỐC VÌ CHƯA TỪNG DÁM TUYÊN BỐ THẲNG GÓC NHƯ ĐẢNG ONE NATION - KỲ BẦU CỬ TỚI HỨA HẸN NHIỀU GÂY CẤN VỀ VẤN ĐỀ DI DÂN VÀ BỊT MẶT./-Mt68

____________________

One Nation announces it would ban burqas in schools after Hanson's clash with female student.

Story by Kylie Stevens

Students will be banned from wearing burqas, niqabs and other full-face coverings in Australian schools under a proposed policy unveiled by Pauline Hanson's One Nation.

The controversial policy would apply to all schools, including Islamic and private institutions.

The ban would not apply to hijab headscarves.

It comes just days after Italian Prime Minister Giorgia Meloni announced a similar ban in schools, where parents face fines of up to $1,140 if students break the rule.

One Nation says the proposal is designed to help children learn to communicate, build friendships, read facial expressions, speak with adults and confidently engage with society.

'It is a simple requirement that when a student walks through the school gate, teachers and fellow students can see who they are speaking to,' party education spokesperson Colleen Harkin said.

'Teachers should be able to see the faces of the children they teach. Students should be able to see one another's faces. Schools should also be able to identify the students in their care.

'Schools should be a place where children learn about Australian citizenship, the values we share and what it means to belong to one national community.'

One Nation wants to ban students from wearing burqas, niqabs and other full face coverings in Australian schools

One Nation wants to ban students from wearing burqas, niqabs and other full face coverings in Australian schools

'Girls should grow up knowing that they stand as equals to boys - equally entitled to be seen, heard, educated and to participate fully in Australian life.'

Harkin, who is running for One Nation in next month's Victorian state election, described the recent ban in Italy as a 'commonsense approach'.

'Australia would hardly be breaking new ground,' she added.

'At least 24 countries have introduced bans or restrictions on full-face coverings such as the burqa and niqab, including Muslim-majority countries.'

Norway, France, Belgium and the Netherlands are among the other countries with similar bans in public.

The burqa school ban was not mentioned in One Nation's Victorian policy booklet unveiled at its state election launch on the weekend.

Daily Mail has contacted One Nation for further comment. 

Hanson recently visited the Islamic College of Brisbane, where she grilled female students about their decision to wear the niqab and questioned whether it was their choice.

Pauline Hanson recently confronted Islamic College of Brisbane students about their decision to wear a niqab

Pauline Hanson recently confronted Islamic College of Brisbane students about their decision to wear a niqab

Italian Prime Minister Giorgia Meloni recently announced a ban on full face coverings in schools

Italian Prime Minister Giorgia Meloni recently announced a ban on full face coverings in schools

'We are seeing so much radicalisation happening in this country,' she told the students. 

'People are in fear now of attacks. Most of those attacks come from radical Islam in this country. That's where my concern is.'

Hanson acknowledged the students' explanation for wearing the niqab but raised concerns about women feeling pressured to wear religious coverings.

'It's your choice. I acknowledge that and I accept that,' she said.

'But a lot of women are forced to wear it when they don't want to.'

In 2025, Hanson infamously wore a burqa in the Senate chamber several times to protest the rejection of her previous proposal to ban full-face coverings in public./-

KHÔNG BIẾT DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY LÀ AI? GỐC GÁC CÓ PHẢI VƯỢT BIÊN TỴ NẠN? H.O. HAY CON CHÁU BẢO LÃNH? 

XIN NÓI THẲNG NHỮNG LÝ LUẬN CỦA TÊN NẦY RẤT QUANH CO- RẤT HỎA MÙ - RẤT XỎ LÁ-

ĐIỂM CHÁNH YẾU HƠN CẢ LÀ:

1/- BIỂU TÌNH CHỐNG CỘNG KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI CÓ CỜ VÀNG VNCH?

2/- ĐỪNG CHỤP MŨ NHỮNG NGƯỜI VỀ "VIỆT NEM" LÀ VIỆT CỘNG NẰM VÙNG?

*Mt68 XIN PHÚC ĐÁP 2 ĐIỂM VỪA NÊU:

1/- Tại sao DVHĐ Huy không hề thấy hay nói đến VC HAY MANG LÁ CỜ MÁU SAO VÀNG ra khoe tại Mỹ và tại các nước khác? Có phải mục đích chính của chúng là để vừa XÁC NHẬN CHÚNG LÀ VC và vừa THÁCH THỨC TỴ NẠN? CHÚNG RẤT TỰ HÀO LÁ CỜ MÁU SAO VÀNG CỦA CHÚNG? Chúng nó có chịu tổ chức các sự kiện của VC mà không cần có LÁ CỜ MÁU SAO VÀNG không???

*Quay qua PHÍA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN -VNCH khi tổ chức SƯ KIỆN CỦA CHÚNG TA (Tỵ Nạn-VNCH) mà KHÔNG CẦN LÁ CỜ VNCH có nghĩa là không cần phân biệt chúng ta không phải VC? Tại sao chống cộng mà lại dị ứng với lá CỜ VNCH? XẠO 100%!!!

2/- Tên Huy cho rằng không nên CHỤP MŨ VC NẰM VÙNG MÀ KHÔNG CÓ BẰNG CỚ?

Xin vắn tắt hỏi như:

* DAVID DƯƠNG vua rác rưởi về hốt rác làm ăn với VC mà Hải Ngoại gọi hắn là VC NẰM VÙNG sai chỗ nào?

* GS TẠ VĂN TÀI- NGUYỄN MẠNH HÙNG- PHÓ BÁ LONG - NGUYỄN VĂN TUẤN- NGUYỄN XUÂN THU- PHAN VĂN GIƯỠNG... VÀ CẢ TRĂM ĐỨA KHÁC VỀ DẠY HỌC VÀ LÀM VIỆC ĐỦ THỨ NGÀNH NGHỀ DO VC TRẢ LƯƠNG- GẦN ĐÂY NHỨT NGUYỄN ĐÌNH MINH TRỊ TỰ XƯNG LÀ CỐ VẤN CHO VÕ VĂN KIỆT VÀ PHAN VĂN KHẢI- CÓ CÔNG LỚN GIÚP VC THOÁT CẤM VẬN CỦA MỸ - 

MẤY ĐỨA KHỐN NẠN ẤY NẾU KHÔNG ĐƯỢC GỌI LÀ VC NẰM VÙNG? NÊN GỌI CHÚNG LÀ SÚC VẬT GÌ HẢ DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY???. Xin đừng lý thuyết suông nữa- Xin hãy đứng ra THỰC HÀNH LÝ SỰ CHƠN KHÔNG CỦA LÝ THUYẾT GIA ĐÌNH HUY XEM KẾT QUẢ RA SAO?/-Mt68

___________________

XÃ LUẬN KÍNH CHIẾU HỘI

BÀI SỐ #45

CHỐNG CỘNG DƯỚI CỜ VÀNG


Tại sao chúng ta cùng một lý tưởng mà lại khác đường?Trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, đặc biệt tại Bắc California, có một hình ảnh đã tồn tại suốt hơn nửa thế kỷ: Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Đối với nhiều người Việt từng bỏ nước ra đi sau năm 1975, đó không đơn thuần là một lá cờ. Đó là ký ức của Việt Nam Cộng Hòa, là hình ảnh của những người đã nằm xuống, của những người trải qua tù đày, vượt biển, ly hương và của cả một thế hệ đã phải xây dựng lại cuộc đời nơi đất khách.

Điều đáng suy nghĩ là: cùng đứng dưới Cờ Vàng, cùng nhận mình là người quốc gia, cùng tuyên bố chống cộng, tại sao đôi khi chúng ta lại chia thành nhiều khuynh hướng, thậm chí chống đối lẫn nhau?

Chống cộng không chỉ có một cách

Có người quan niệm chống cộng trước hết là bảo vệ Cờ Vàng, tưởng niệm Việt Nam Cộng Hòa, giữ gìn lịch sử và truyền lại căn cước ấy cho thế hệ mai sau.

Có người cho rằng chống cộng phải đi xa hơn: phải phản đối những chính sách tuyên truyền và vận động của chính quyền cộng sản Việt Nam tại hải ngoại; phải cảnh giác trước những hoạt động có khả năng ảnh hưởng đến các hội đoàn; phải lên tiếng trước những cá nhân công khai tuyên truyền, cổ súy hoặc vận động cho chế độ.

Lại có những người chọn con đường đấu tranh về nhân quyền, tự do tôn giáo, tù nhân lương tâm và dân chủ cho Việt Nam.

Những phương thức ấy không nhất thiết loại trừ nhau.

Điều nguy hiểm chỉ bắt đầu khi mỗi nhóm cho rằng cách chống cộng của mình mới là cách duy nhất đúng, còn người không hành động giống mình thì bị nghi ngờ, cô lập hoặc kết án.

Nếu cứ như thế, thay vì tập trung vào đối tượng và chính sách mà mình phản đối, chúng ta lại tiêu hao sức lực để chống lẫn nhau.

Tôi cho rằng tổ chức cộng đồng cần có trách nhiệm hơn

Một câu hỏi đáng đặt ra:

Khi xuất hiện một sự việc mà đông đảo người Việt tị nạn cho rằng trực tiếp xúc phạm biểu tượng của họ, cổ súy chế độ cộng sản hoặc tuyên truyền cho những chính sách đi ngược các giá trị tự do, ai nên đứng ra lên tiếng?

Chỉ một vài cá nhân?

Một Facebook group?

Hay một nhóm tự phát tập hợp vài chục người rồi tự mang biểu ngữ xuống đường?

Theo quan điểm của người viết, tổ chức cộng đồng không nên đứng ngoài tất cả những vấn đề như vậy.

Bởi một tổ chức mang danh nghĩa đại diện cộng đồng không chỉ tồn tại để tổ chức hội hè, lễ lạc, tiệc tùng hay chụp hình. Khi một vấn đề thực sự liên quan đến quyền lợi, lịch sử, biểu tượng và những giá trị căn bản của cộng đồng xuất hiện, tổ chức đại diện cần có khả năng nghiên cứu, xác minh và đưa ra lập trường.

Nếu cần thiết, họ có thể tổ chức một cuộc hội thảo.

Nếu cần thiết, họ có thể ra tuyên cáo.Nếu cần thiết, họ có thể mở cuộc họp công khai.

Và nếu sự việc đủ nghiêm trọng, họ hoàn toàn có thể kêu gọi một cuộc biểu tình ôn hòa, hợp pháp và có tổ chức.

Một cuộc biểu tình do một tổ chức có trách nhiệm đứng ra điều phối thường có khả năng xác định thông điệp, người phát ngôn, nội quy và mục tiêu rõ ràng hơn một cuộc xuống đường hoàn toàn tự phát.

Nhưng chống cộng không có nghĩa là được quyền kết tội bất cứ ai

Đây chính là ranh giới rất quan trọng.

Không thể chỉ vì một người từng về Việt Nam mà lập tức gọi họ là cộng sản.

.Càng không thể chỉ vì người ấy có quan điểm chính trị khác chúng ta mà gán cho họ hai chữ “nằm vùng”.

Muốn chống một hành vi thì phải chỉ ra hành vi.

Muốn phản bác một phát biểu thì phải đưa ra phát biểu.

Muốn tố cáo một hoạt động thì phải có chứng cứ.

Đấu tranh mà thiếu chứng cứ rất dễ biến thành đấu tố.

Và khi ấy, chính nghĩa của người đấu tranh sẽ bị suy yếu.

Một cộng đồng trưởng thành phải đủ mạnh để phân biệt giữa bất đồng chính kiến và hành động thực sự phục vụ cho một chế độ mà cộng đồng phản đối.

Càng chống độc tài càng phải tôn trọng tự do

Có một nghịch lý mà chúng ta phải đặc biệt tránh.

Chúng ta phản đối cộng sản vì chế độ ấy không tôn trọng đầy đủ tự do tư tưởng và tự do chính kiến. Vậy thì khi sống trên đất nước tự do, chúng ta không thể sử dụng chính phương pháp mà mình từng lên án để đối xử với người bất đồng quan điểm.

Người khác có quyền phát biểu.

Chúng ta cũng có quyền phản bác.

Họ có quyền tổ chức.

Chúng ta có quyền biểu tình ôn hòa.

Họ có quyền đưa ra quan điểm của họ.

Chúng ta có quyền đứng đối diện với Cờ Vàng và nói rằng: Chúng tôi không đồng ý.

Đó mới chính là sức mạnh của xã hội tự do.

Chống cộng không phải bằng cách tiêu diệt quyền phát biểu của người khác, mà bằng cách sử dụng quyền tự do của mình mạnh hơn, có lý lẽ hơn và có tổ chức hơn.

Từ tự phát đến tổ chức

Tôi đồng ý rằng những cá nhân và nhóm tự phát đã có một vai trò đáng kể. Nhiều khi chính họ là những người đầu tiên phát hiện vấn đề, lên tiếng và đánh động dư luận.

Nhưng không thể để tất cả trách nhiệm lâu dài đặt lên vai một vài cá nhân.

Nếu một vấn đề thực sự ảnh hưởng đến cộng đồng, các tổ chức cộng đồng, hội đoàn và những cơ cấu đại diện cần ngồi lại với nhau.

Hãy lập một bộ phận tiếp nhận sự việc.

Hãy kiểm chứng thông tin.

Hãy cho người bị phê bình cơ hội giải thích.

Hãy công bố chứng cứ.

Sau đó mới quyết định phương thức phản ứng: đối thoại, tuyên cáo, họp báo, vận động chính quyền hay biểu tình ôn hòa.

Đó là đấu tranh có tổ chức chứ không phải đấu tranh theo cảm tính.

Đừng biến Cờ Vàng thành chiến tuyến giữa những người Cờ Vàng

Điều đáng buồn nhất không phải là trong cộng đồng có nhiều khuynh hướng chống cộng.

Sự khác biệt ấy là bình thường.

Điều đáng buồn là đôi khi những người cùng đứng dưới Cờ Vàng lại dùng Cờ Vàng để phân định ai “quốc gia hơn ai”, ai “chống cộng thật”, ai “chống cộng giả”.

Lá Cờ Vàng không nên trở thành cây thước để những người Việt quốc gia đo lòng yêu nước của nhau.

Nếu cùng trân trọng Việt Nam Cộng Hòa, cùng bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền, chúng ta hoàn toàn có thể khác nhau về phương pháp mà vẫn cộng tác trong những mục tiêu chung.

Đoàn kết không có nghĩa là mọi người phải suy nghĩ giống nhau.

Đoàn kết là dù khác nhau, chúng ta vẫn biết đâu là điều lớn hơn sự khác biệt cá nhân.

Lời kết

Người viết cho rằng đã đến lúc những tổ chức đại diện cộng đồng tại Bắc California cần suy nghĩ nghiêm túc về việc xây dựng một bộ phận phản ứng chung trước những vấn đề chính trị quan trọng liên quan đến cộng đồng người Việt tị nạn.

Khi cần lên tiếng, hãy lên tiếng.

Khi cần phản đối, hãy phản đối.

Khi cần xuống đường, hãy tổ chức một cuộc xuống đường ôn hòa, hợp pháp, văn minh và có mục tiêu rõ ràng.

Nhưng trước khi kết án một con người, hãy đặt chứng cứ lên bàn.

Chúng ta chống tuyên truyền bằng sự thật.

Chống độc tài bằng dân chủ.

Chống áp đặt bằng tự do.

Chống chia rẽ bằng đoàn kết.

Và nếu phải đứng dưới Cờ Vàng để đấu tranh, xin hãy nhớ rằng ba sọc đỏ trên nền vàng phải là điểm gặp nhau của những người cùng chia sẻ một di sản lịch sử, chứ không phải ba đường ranh chia cắt chính những người đang đứng bên dưới lá cờ ấy.

Bảo vệ Cờ Vàng không chỉ là giữ cho lá cờ được tung bay.

Bảo vệ Cờ Vàng còn là giữ cho những giá trị tự do mà lá cờ ấy tượng trưng được sống trong chính cách chúng ta đối xử với nhau.

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

(PUBLISHER AND EDITOR - IN - CHIEF OF MODERN LIFE MEDIA)


 

Kinh tế ngoài trường quy



Against economics
David Graeber *** ttt dịch

Giới trách nhiệm quản trị các nền kinh tế rộng lớn mang cảm nghĩ rằng khoa kinh tế không còn giữ đúng mục đích nguyên khởi; nói khác, khoa nầy đã được hình thành để giải quyết những vấn đề nay không còn nữa. Một ví dụ đáng chú ý là ám ảnh của sự lạm phát.

Khoa nầy dạy sinh viên rằng mục đích kinh tế tối yếu của chính phủ là bảo đảm sự ổn định giá cả, phải canh chừng nguy cơ của lạm phát. In tiền vô tội vạ tự nó mang tính chất của một tội trọng. Nếu lạm phát được cầm chân qua sự phối hợp hành động của chính phủ và ngân hàng trung ương, thì thị trường duy trì một mức khiếm dụng hữu lý và kinh tế phát triển vững chắc. Chính phủ phải tự giới hạn trong phạm vi quản lý nguồn tiền tệ.

Xuyên qua chủ trương tiền tệ làm gốc (monetarism) thập niên 1980 và 1990, những ý niệm trên đây là tri thức căn bản trong mọi cuộc thảo luận về nguy hại của sự tiêu dùng công quỹ. Giới học thuật vẫn nói năng như vậy, tuy sự thật bên ngoài không như vậy. Sau vụ ngưng trệ thụt lùi 2008 (Great Regression), các ngân hàng trung ương in tiền táo bạo để tạo ra lạm phát và ép người giàu dùng tiền của vào việc hữu ích. Nhưng kết quả không thành công cả trong hai điều mong muốn.

Nay chúng ta sống trong một thế giới kinh tế khác với thời trước cuộc khủng hoãng nầy. Thất nghiệp trầm trọng không làm gia tăng mức lương. In bạc không tạo ra lạm phát. Tuy nhiên ngôn ngữ trong các cuộc luận bàn công khai, “trí khôn trong sách vở” vẫn giữ nguyên không si sích.

Kinh tế không được dạy như một bản lược trình các lý luận, các lý thuyết trái ngược như ở mọi khoa học xã hội khác; trái lại ngày nay làm như một môn học giống như vật lý, tiến gần đến chân lý phổ quát của toán học. Dĩ nhiên vẫn có những lý thuyết kinh tế “ngoài trường quy” (như nữ quyền, Austrian …) nhưng đều không được đưa vô chương trình học. Kinh tế gia thuộc nhóm nầy được xem là lập dị, tuy họ đã nhiều lần đoán đúng những biến cố trong đời sống kinh tế thực sự.

Nước Anh là quốc gia chứng kiến nhiều nhất sự khác biệt giữa đàm luận công cộng và thực tế kinh tế; không nơi nào nặng nề bằng, có lẽ Anh là nước đầu tiên có rạn nức. Đảng Lao Động (trung tả, center left) cầm quyền trước khi có vụ sụp nát năm 2008 (Great Regression), phản ứng của cử tri với khẩu hiệu “đuổi bọn vô lại” đã đưa đến một loạt chính phủ Bảo Thủ. Từ đó, quốc gia nầy đã nhận ra rằng bài học khắc khổ được tiếp nhận êm xuôi bởi quần chúng Anh, qua sự đồng thuận về những quyết định nhằm xóa bỏ chính sách bảo trợ (welfare state) và tái phân lợi tức theo hướng đi lên, nghĩa là vô tay người giàu.
“Không có cây tiền bạc thần diệu”, câu nói của nữ thủ tướng Theresa May được nhắc nhở nhiều nhất, tuy nó được thốt ra trong một cuộc bầu cử buồn nãn nhất của lịch sử đảo quốc; khi có người hỏi tại sao Anh là nước Tây Âu duy nhất đòi đóng học phí đại học hay khi hỏi phải chăng quốc gia cần có rất nhiều người ngủ ngoài hè phố.

Giá trị đặc biệt của lời nói nầy là ở chỗ nó không đúng. Có vô số cây tiền bạc thần diệu ở nước Anh và các nước phát triển khác. Đó là những ngân hàng. Vì tiền trong thời hiện kim chỉ đơn giản là tín dụng, ngân hàng có thể tạo ra tiền theo nghĩa đen từ chỗ không có gì, bằng cách đơn giản là cho vay. Hầu hết tiền bạc luân lưu hiện nay ở Anh là do ngân hàng tạo ra theo cách nầy. Không những quần chúng không biết điều nầy, mà đa số dân biểu nghị sĩ cũng không biết tiền đâu ra, cứ tưởng là do Xưởng In Hoàng Gia ấn hành.
Vì nhiều lý do, các kinh tế gia không biết hết vai trò của ngân hàng. Nhưng họ đã dùng khá nhiều ngày tháng của thế kỷ 20 để thảo luận tìm tòi những điều gì thực sự đã xẩy ra khi có người nạp đơn vay tiền. Một trường phái nhấn mạnh rằng ngân hàng đã chuyển trữ ngân hiện có; trường phái khác cho rằng ngân hàng làm ra tiền mới; nhưng cả hai đều dựa vào căn bản “hiệu ứng bội nhân”.
Chỉ có một nhóm nhỏ kinh tế gia ngoài trường quy đưa ra “lý thuyết điều hoạt ngân hàng là sự tác tạo tín dụng” (credit creation theory of banking): ngân hàng chỉ vung chiếc đủa thần làm cho tiền xuất hiện, hoàn toàn tin chắc khi được cấp một tín khoản (dù cả triệu MK) thân chủ sẽ ký thác trở lại vào ngân hàng; như vậy xuyên qua toàn thể hệ thống, tín dụng và món nợ trung hòa nhau. Thay vì tiền vay dựa vào sự ký thác, ở đây ký thác là kết quả của vay mượn.

Năm 2014, kinh tế gia Đức, Richard Werner, phát hiện rằng nhân viên cho vay không cần biết trữ lượng là bao, tiền đọng là bao, không cần biết gì hết. Người ấy chỉ đơn giản tạo ra tiền từ thinh không, như trong cõi tiên.
Trước đây khá lâu, ngân hàng trung ương Bank of England đã phổ biến bản phúc trình tường tận Money Creation in the Modern Economy với ý chính như trên: sách vở hiện có - đặc biệt những tài liệu dựa theo quan điểm chính thống của chủ thuyết tiền tệ - đều sai lạc, khi cho rằng các ngân hàng trung ương mang sứ mệnh chính yếu là kiểm soát lượng cung ứng tiền bạc. Các ngân hàng nầy không kiểm soát nguồn tiền tệ mà chỉ ấn định lãi suất khi cho vay những món tiền đã tạo ra. Bank of England cũng vậy; khi chính phủ muốn vay thì không gom góp tiền từ khu vực tư mà tự tạo ra số tiền mới từ trước đến nay chưa có.

Phúc trình nầy không được các hệ thống thông tin nói tới. Các bài bình luận vẫn tiếp tục xuất hiện làm như thuyết tiền tệ vẫn có giá trị. Các chính trị gia quay quắt không hiểu tiền tài trợ các chương trình xã hội từ đâu mà ra. Hình như hai bên mặc thị thân ái hiểu nhau. Một bên là các nhà chuyên môn một bên là chính trị gia cùng ký giả sống trong hai thế giới tách lìa nhau.
Robert Skidelsky, 2013

Các học giả bắt đầu nhìn lại quá khứ với nhãn quan mới. Trong số đó có Robert Skidelsky với tác phẩm Money and Government: The Past and Future of Economics. Mặc dù bên ngoài có mục đích trả lời câu hỏi tại sao kinh tế học chánh hệ tỏ ra vô dụng trong thời gian trước và sau khủng hoãng 2008, cuốn sách kể lại lịch sử bộ môn nầy xuyên qua hai khía cạnh ít được bàn tới. Đó là chính phủ và tiền bạc.

Vấn nạn nằm ở bản chất của tiền bạc. Phải chẳng tiền bạc là một hiện vật cụ thể, một vật thể có giá trị làm cho việc giao hoán dễ dàng hay là một tín dụng, một phương thức kế toán, một sự tương thuận xã hội? Hai quan niệm nầy có khi dùng chung; có khi dùng một thời rồi bỏ mất rồi trở lại v.v… Thời Trung Cổ, giao thương hằng ngày trong vùng Á Tiểu Á (Eurasia) theo quan niệm tín dụng, tiền bạc là một sự trừu tượng hóa. Nhưng đến các thế kỷ 16 và 17, các đế quốc Âu Châu xuất hiện tạo nên một đợt sóng vàng bạc lấy từ Mỹ Châu, và quan niệm tiền bạc thay đổi.
Lịch sử cho thấy rằng quan niệm vàng khối là tiền bạc thực sự đã đánh dấu các giai đoạn có bạo động gia tăng toàn diện, nô lệ, có quân đội thường trực cướp bóc mà các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Pháp và Anh đã biết rõ. Trong lãnh vực học thuật, lý thuyết về tiền bạc dựa trên vàng khối đã nầy sinh ra lý thuyết định lượng tiền bạc (quantity theory of money QTM).

QTM được đề xướng bởi Jean Bodin trong cuộc luận bàn về nguyên do tại sao lạm phát gây xáo trộn, đảo lộn giá cả ngay sau khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chiếm Mỹ Châu. Theo luật sư người Pháp nầy, lạm phát chỉ là vấn đề cung cầu. Lưu lượng khổng lồ vàng và bạc từ các thuộc địa Tây Ban Nha đã làm hạ giá đồng bạc Âu Châu. Thương gia thời ấy cho rằng lẽ thường là như vậy. Tuy nhiên luận cứ nầy dựa trên những giả định sai lạc.
Một điều là phần lớn vàng và bạc khai thác ở Mexico và Peru không đem về Âu Châu, và do đó không được đúc thành đồng tiền. Hai quý kim nầy được trực tiếp chuyển qua Tàu và Ấn để mua gia vị, tơ lụa và các hàng xa xỉ Đông Phương. Nhưng lạm phát bắt nguồn từ việc đầu cơ các trái phiếu dưới nhiều dạng khác nhau. Do đó QTM không thể đem ra áp dụng giải thích.
Về trường hợp lạm phát thế kỷ 17 nầy, cần để ý đến các khía cạnh: tín dụng, tích rữ, đầu cơ, gia tăng nhịp độ sinh hoạt kinh tế, đầu tư vào kỹ thuật mới …nhưng không thể nói yếu tố nào quyết định, phải chăng nguồn tiếp liệu tiền bạc ảnh hưởng giá cả hay giá cả ảnh hưởng nguồn tiếp liệu tiền bạc. Về mặt chuyên môn, có thể chọn lý thuyết nội sinh hay ngoại sinh (endogenous, exogenous theory). Tăng gấp đôi số vàng trong một xứ không ảnh hưởng đến giá thịt cá rau quả nếu số quý kim mới nầy bán cho người giàu đem chôn hay thay gỗ làm ghe thuyền đi dạo. Chính sự tiêu dùng mới gây ảnh hưởng kinh tế.

Tuy nhiên từ thời Bodin đến nay, QTM vẫn thắng trong các cuộc tranh luận và ấn định chính sách tài chánh. Tại Anh năm 1696, ngay sau khi Bank of England được thành lập, xẩy ra vụ tranh luận, một bên gồm bộ trưởng ngân khố William Lowndes cùng giám đốc xưởng đúc tiền Isaac Newton và bên kia là triết gia John Locke. Newton đồng ý với Ngân Khố rằng đồng tiền bằng bạc (silver coin) phải được hạ giá để chận đứng suy sụp vì thiếu tiền luân lưu (deflation). Locke theo thuyết tiền tệ đến cùng tột, cho rằng chính phủ phải tự giới hạn trong nhiệm vụ bảo đảm giá trị của tài sản (gồm cả đồng bạc nầy); sụt giá làm cho giới đầu tư mất định hướng và thiệt hại kẻ cho vay. Locke đã thắng cuộc.

Image result for fiat moneyKết cuộc là sự thảm bại vì thiếu tiền luân lưu; tài chánh bị siết chặc đã làm nền kinh tế co rút; hàng trăm ngàn người thất nghiệp, thiếu hụt sản phẩm, biểu tình, và nạn đói. Chính phủ phải đưa ra các chính sách ôn hòa (trước tiên là cho phép ngân hàng giải quyết nợ chiến tranh của chính phủ bằng những giấy nợ và tiếp theo là bỏ hẳn ngân bản vị). Tuy vậy trong thời gian kế tiếp, các cuộc tranh luận vẫn dành phần thắng cho quan điểm của Locke chủ trương chính phủ giới hạn, ủng hộ người cho vay và đồng bạc “cứng”.


Tác giả Skidelsky cho biết khuôn mẫu nầy được lập lại nhiều lần, năm 1797, thập niên 1840, 1890 và thập niên 1970 với nữ thủ tướng Anh Thatcher và tổng thống Mỹ Reagan.
Những biến chuyển nầy cho thấy trình tự kinh tế như sau:
1.  Chính phủ theo chính sách tiền cứng.
2. Thảm nạn kinh tế xẩy ra.
3. Chính phủ âm thầm bỏ chính sách tiền cứng
4. Kinh tế phục hồi
5. Triết thuyết tiền cứng trở lại đàm trường đóng vai trò nhận thức bằng “lẽ thường”.

See the source image

Phần nào để giải thích lý do cả một chuổi thất bại liền nhau, tác giả nại ý kiến của David Hume. Triết gia Scottland nầy đưa ra quan niệm rằng các chấn động bất lợi ngắn hạn có thể đem đến những mối lợi dài hạn nếu chúng đủ sức khai mở sức mạnh tự điều chỉnh của thị trường. Từ đó, các kinh tế gia phân biệt các hiệu ứng ngắn hạn và dài hạn của các sự thay đổi kinh tế, gồm cả các thể lệ can thiệp của chính phủ.

Sự phân biệt nầy nhằm bảo vệ lý thuyết quân bình. Ngắn hạn ở đây tiêu biểu một giai đoạn trong đó thị trường (hay kinh tế thị trường) tạm thời tách khỏi vị trí quân bình dài hạn vì tác lực của những chấn động ví như quả lắc rời khỏi vị thế ngưng nghỉ. Do đó chính phủ hãy để thị trường tự tìm vị trí quân bình. Sự can thiệp của chính phủ để sửa các lệch lạc chỉ làm vấn để phức tạp hơn.
Lập luận nầy không tránh vài sơ sót có tính cách duy lý. Tiền đề rằng thị trường luôn luôn có lý, đúng, vào chung cuộc chỉ đứng vững khi có sự đồng thuận của mọi giới xác định lúc nào là chung cuộc.  Kinh tế gia cho rằng ấy là lúc quân bình nhưng vẫn rất mơ hồ.
Các chính sách siết chặc tiền tệ (có lợi cho chủ nợ và người giàu) được biện minh như thuốc đắng chận đứng vật giá leo thang, ngõ hầu thị trường có thể trở về trạng thái cân bẳng cũ trong dài hạn.

Cuộc canh tân trọng yếu là thuế lợi tức thâu đầu tiên năm 1814, và tái tục năm 1842 dưới trào thủ tướng Robert Peel. Cho đến 1914, thuế nầy là nguồn lợi tức chính yếu của công quyền. Chính quyền tân thời không chỉ có một phương cách nầy mà thôi, vì còn nhiều thứ thuế như địa ốc, thuế thương vụ, thuế tiêu thụ …Thuế lợi tức nhìn theo chủ thuyết tự do xâm nhập đời tư và gây khó chịu cho người dân.
v

Khoản giữa thế kỷ 20 gọi là thời đại Keynes, các nước dân chủ tư bản – vì lo sợ cách mạng Nga và viễn ảnh quần chúng thợ thuyền nổi loạn – đã thực hiện cuộc tái phân lợi tức chưa từng có trong lịch sử nhân loại, đưa đến sự sung mãn vật chất trong mọi lãnh vực của xã hội.

John Maynard Keynes chống CS nhưng ông lo ngại chủ thuyết tư bản sẽ thúc đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật làm mất nhu cầu nhân lực. Ông chủ trương toàn dụng để giữ giá trị và sự cần thiết của nhân công. Keynes nhìn sự việc trong thế động, của biến hóa không ngừng của xã hội loài người. Cùng cách thức ấy, Max Weber cho rằng các nhà khoa học xã hội không làm việc như các nhà vật lý nghiên cứu những sự kiện gần như thường tồn ví dụ trọng lực; trái lại, đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội tự thân không đứng yên một chỗ.

See the source image

Lý thuyết kinh tế hiện hữu ngày một tiến gần đến tình trạng như một kho chứa những dụng cụ gảy nát gỉ sét. Nó nhằm giải quyết vấn đề của mấy thế kỷ trước: phân phối một cách tối hảo việc làm và lợi tức để phát triển kinh tế ở mức tối đa. Vấn đề của chúng ta ngày nay không đơn thuần như vậy nữa. Phải nghĩ đến cách trị các biến chứng của sự sản xuất về kỹ thuật và bằng kỹ thuật; duy trì nhu cầu nhân lực thực sự; quản trị hữu hiệu, và nhất là tránh sự tàn phá quả đất, của môi sinh.
Kinh tế gia không thể chỉ sống với các con số thống kê, trong vùng nhỏ hẹp gọi là cơ sở vi tế, microfoundation.

Kinh tế học phải dùng những kiến thức ngày một tích lũy thêm trong các lãnh vực khác như phong trào nữ quyền, tâm lý học, nhân chủng học, (nghiên cứu) lề thói sinh hoạt kinh tế… Phức tạp đến như vậy vì khuôn dạng thế giới thay đổi, những sáng kiến mới đều có lợi và có hại. Kinh tế tất phải là môn học có mục đích tối thượng nhân bản, nếu con người còn được và cần được tôn trọng.
Thay đổi lề lối suy nghĩ không đơn giản. Tác phẩm của Skidelsky giới thiệu ở đây, nếu không được toàn bích vẫn có công đặt vấn đề, mà là một vấn đề vô cùng quan trọng, liên quan toàn diện cuộc sống nhiều người trên một quả đất thu hẹp, động dao động thớt trong bếp cả làng nghe. Against Economics

 HỒ CHÍ MINH TRỒNG NGƯỜI VÌ LỢI ÍCH 100 NĂM- MỚI 51 NĂM ĐÃ CÓ VÔ SỐ TRỘM CƯỚP BẤT LƯƠNG NGAY TRONG CỐI CUM CỘNG ĐẢNG VÀ ĐÂY BỌN CHÚNG TỔ CHỨC BẮT TRỘM 2700 CON MÈO ĐỂ NẤU MÓN ĂN ĐẶC SẢN CỦA BẮC KỲ - CHÚNG KIẾM BẠC TỶ ĐỂ LÊN THIÊN ĐÀNG XÃ NGHĨA./-M68

_______________________

-Đường dây bắt trộm 2.700 con mèo ở TP HCM.

Lưu Thanh Bình và đồng phạm bị cáo buộc móc nối nhiều nhóm chuyên bắt trộm mèo tại các khu dân cư ở TP HCM, thu mua khoảng 2.700 con để tiêu thụ.


Ngày 4/10, Công an TP HCM cho biết đã bắt Bình, 39 tuổi, cùng 11 người về tội Trộm cắp tài sản.

Theo điều tra, Bình thu mua mèo sống, tập kết tại phường Thới An rồi bán lại. Để có nguồn hàng, người này móc nối với một số người chuyên bắt trộm mèo.

Những người này tiếp tục rủ thêm đồng phạm, chia thành nhiều nhóm hoạt động tại xã Đông Thạnh, xã Hóc Môn, phường Tân Thới Hiệp và phường An Hội Tây.

Các nhóm phân chia địa bàn, đi xe máy đến khu dân cư tìm mèo, thường hoạt động từ 23h hôm trước đến 4h hôm sau, khi đường phố vắng người. Bẫy được tự chế hoặc mua từ Bình.



Theo lời khai, mỗi nhóm bắt khoảng 4-10 con một đêm. Số mèo sau đó được gom lại, giao cho Bình.

Ngày 8/7, Công an xã Đông Thạnh kiểm tra, phát hiện hoạt động của nhóm này, thu giữ 50 con mèo, 55 bẫy, hai cân cùng nhiều tang vật.

Quá trình điều tra, 12 người khai đã bắt trộm và tiêu thụ khoảng 2.700 con mèo trong thời gian hoạt động. Ngoài số do các nhóm này cung cấp, Bình còn mua mèo từ nhiều người khác để bán lại.

Trong số 50 con bị thu giữ, công an đã xác minh và trao trả 13 con cho 13 người dân. Số còn lại được Trung tâm xã hội HAVEPAWS tiếp nhận, chăm sóc trong thời gian tiếp tục xác minh chủ sở hữu.

Công an đề nghị những người bị mất mèo liên hệ Công an xã Đông Thạnh hoặc Trung tâm xã hội HAVEPAWS tại xã Bình Hưng để cung cấp thông tin, nhận dạng và làm thủ tục nhận lại tài sản./-

Sunday, 4 October 2026

Những Chiếc Giày Bên Bờ Sông Danube.  

Nguyễn Văn Tới

Bóng chiều dần tàn trên bờ sông Danube, 
chúng tôi thong thả rảo bước bên bờ phía đông, bờ Pest của dòng sông chia đôi thành phố Buda và Pest. Trời đã vào cuối hè, gió từ dưới sông nhẹ đưa lên một luồng không khí mát mẻ, ai nấy đều khoan khoái đón nhận từng hơi thở mát rượi của dòng sông thơ mộng nổi tiếng đã đi vào huyền sử trong văn thơ và âm nhạc phương Tây. Tôi dõi mắt ra xa, tìm kiếm một đài tưởng niệm, một quảng trường, hay một công trình nghệ thuật nào đó, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy được gì ngoài dòng người đi lại đông đúc trên bờ sông.Tôi vẫn đi, vẫn kiếm tìm giữa dòng người tấp nập đó, và tôi đã nhìn thấy … Tôi đã thấy những chiếc giày bị bỏ lại bên bờ sông Danube. Những chiếc giày bằng sắt, đơn sơ, trên bờ đá sát mép nước. Những chiếc giày rỉ sét theo thời gian, chịu đựng nắng mưa, giông bão, đứng xếp hàng một cách hỗn độn nhưng trang nghiêm.


part of a Holocaust memorial called "The Shoes on the Danube Bank" (A Cipők a Dunaparton), which honors the thousands of people—mostly Hungarian Jews—murdered there during World War II.

Chiều chậm rãi khép lại, nhường khoảng trời cuối cùng cho màn đêm đen buông xuống, tôi chìm đắm trong suy tư, lặng im nhìn khoảnh khắc giao thời, nghe tiếng bước chân xôn xao của người qua lại. Những thanh âm và màu sắc lãng đãng đưa tôi trở về một mùa đông năm xưa, ngay trên bờ sông này.


Tấm bảng giải thích về những đôi giày sắt đã nhuốm màu rỉ sét.

Budapest, mùa đông năm 1944. Khi cơn gió rét mướt từ phương Bắc thổi về, len lỏi qua những mái nhà cổ kính của thành phố hiền hòa, khiến khách bộ hành ngại ngùng khi bước ra đường. Dòng sông Danube hiền hòa biến thành một dải băng xanh thẫm lạnh giá, nằm im lìm ngủ đông. Nhưng cái lạnh của đất trời chẳng là gì so với bầu không khí khủng bố đang bao trùm lên những khu phố Do Thái.

Trong căn hầm tối tăm và ẩm ướt của khu tập trung, cô bé Hanna, bảy tuổi, đang ngồi thu mình trong lòng mẹ. Hanna có đôi mắt to tròn, trong veo như bầu trời mùa thu và mái tóc xoăn màu hạt dẻ. Em không hiểu tại sao thế giới bên ngoài lại tràn ngập tiếng súng, và tại sao những người đàn ông mang băng tay đỏ có hình chữ thập ngược, lại nhìn gia đình em bằng ánh mắt căm thù đến vậy.

Mẹ của Hanna, cô Ilona, ôm chặt con gái vào lòng. Hơi thở của Hanna ấm áp, vương mùi sữa và mùi hoa cúc khô từ những ngày bình yên cũ, cái ngày mà cha em chưa bị bắt đi “cải tạo” rồi biến mất không một tin tức. Bên cạnh họ, ông già Miklos, một người thợ đóng giày có đôi tay đầy những vết chai sần, đang nhắm nghiền mắt, đôi môi run rẩy lầm bầm những lời cầu nguyện cổ xưa bằng tiếng Do Thái. Tất cả họ đều có một đặc điểm chung trên ngực áo: ngôi sao vàng sáu cánh, dấu hiệu của sự phân biệt, sỉ nhục và cái chết.

Duy nhất chỉ có Hanna là sở hữu một niềm vui nhỏ nhoi: đôi giày da màu đỏ do bà ngoại tặng vào dịp sinh nhật năm ngoái. Đôi giày nhỏ nhắn có chiếc nơ bướm xinh xắn ở quai, là thứ đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất còn sót lại trong cuộc đời em. Mỗi lần nhìn xuống đôi giày đỏ, Hanna lại nhớ về những buổi chiều thanh bình được cha nắm tay dạo chơi trên đại lộ, ngắm dòng sông Danube lấp lánh dưới ánh hoàng hôn.

Nửa đêm về sáng, tiếng ổ khóa lách cách, tiếng cửa sắt va chạm nhau kêu loảng xoảng, rồi tiếng thét vang của một tên lính canh:

-Dậy mau! Tất cả ra ngoài, xếp thành hàng hai!

Hanna giật mình, khóc thét lên. Cô Ilona đã kịp thời bịt miệng em lại và thì thầm:

-Có mẹ đây, con đừng sợ.

Đoạn đường dẫn ra bờ sông dài dằng dặc trong cái lạnh rét mướt. Tuyết rơi trắng xóa, xóa nhòa cả ranh giới giữa đất và trời. Những đôi chân gầy guộc bước đi run rẩy trên mặt đường đóng băng. Hanna bước đi chập chững, đôi giày đỏ ngập trong tuyết lạnh, nhưng chiếc nơ nhỏ vẫn nhảy múa trên đôi chân ngây thơ vô tội.

Khi dòng sông Danube hiện ra trước mắt, ai nấy đều hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Gió sông thổi thốc vào mặt buốt nhói. Những tên lính phát xít người Hungary đứng thành hàng sau lưng họ, tay lăm lăm súng trường với những khuôn mặt đanh lại. Tên chỉ huy bước lên, đôi giày da của hắn dẵm lên tuyết nghe sột soạt. Hắn không dám nhìn vào mắt các nạn nhân, chỉ nhìn xuống chân họ và quát lớn:

-Cởi tất cả giày dép ra. Xếp ngay ngắn thành hàng. Đứa nào cãi lệnh. Bắn bỏ!

Trong thời kỳ chiến tranh khan hiếm, giày dép là một thứ hàng hóa vô cùng xa xỉ. Bọn phát xít muốn lột sạch chúng từ những người sắp chết để đem bán, tái sử dụng hoặc chia chác cho binh lính. Đó là sự sỉ nhục cuối cùng mà chúng dành cho các nạn nhân trước khi tước đoạt mạng sống của họ.

Ông già Miklos từ tốn cúi người, đôi tay run rẩy vì lạnh và vì tuổi già, cởi bỏ đôi giày da cũ của mình. Ông đặt nó xuống tuyết một cách nhẹ nhàng, như thể đang đặt một chiếc hộp báu vật. Ông ngước mắt nhìn tên lính trẻ măng đang chĩa súng vào mình, ánh mắt ông không có sự oán hận, chỉ có một nỗi bao dung kỳ lạ:

-Chúa sẽ tha thứ cho linh hồn con, chàng trai trẻ!

Một tiếng súng khô khốc vang lên. Thân hình gầy guộc của người thợ già đổ gục xuống, lăn qua mép đá và chìm nghỉm vào dòng sông đang chảy xiết. Con sông Danube đón nhận ông, dòng nước lạnh giá cuốn vội thân xác ông đi, không để lại một dấu vết.

Đến lượt hai mẹ con Ilona. Người mẹ quỳ xuống trên nền tuyết lạnh, những ngón tay đông cứng cố gắng gỡ chiếc nơ trên đôi giày đỏ của Hanna. Em run rẩy, nắm lấy vạt áo mẹ:

-Mẹ ơi, tại sao họ lấy giày của con? Chân con lạnh lắm, chân con đau lắm!

Giọt nước mắt nóng hổi của Ilona rơi xuống mu bàn chân con gái, nhưng nó nhanh chóng bị đóng băng bởi cái lạnh khắc nghiệt. Trái tim người mẹ như có ngàn vạn mũi dao đâm thấu. Cô cố nở một nụ cười rạng rỡ nhất, ôm lấy khuôn mặt nhỏ nhắn của con:

-Hanna yêu quý của mẹ, nghe mẹ nói này. Chúng ta sắp đi đến một nơi rất đẹp. Ở đó không có mùa đông, không có những tiếng súng. Ở đó có cha đang đợi, có những cánh đồng hoa cúc ngập tràn ánh nắng và con sẽ được chạy nhảy thỏa thích mà không cần đến giày nữa.

-Thật không mẹ? Nơi đó có ấm áp không mẹ?

-Ấm áp lắm con yêu. Giờ thì con hãy cởi giày ra và đặt cạnh đôi giày của mẹ, rồi hai mẹ con mình cùng đi.

Hanna ngoan ngoãn tháo đôi giày đỏ ra. Em đặt nó ngay ngắn, sát cạnh đôi giày cao gót màu đen cũ kỹ của mẹ, đôi giày mà Ilona đã đi trong ngày cưới, ngày hạnh phúc nhất đời mình. Hai đôi giày, một lớn một nhỏ, một đen một đỏ, đứng tựa vào nhau trên nền tuyết trắng xóa, giống như hình bóng hai mẹ con suốt những năm tháng gian truân vừa qua.

Tên lính phát xít bước lại gần, họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào lưng họ. Ilona ôm chặt Hanna vào lòng, lấy thân mình che chở cho con như một bản năng sau cùng. Cô thì thầm vào tai con lời hát ru thuở nhỏ:

- Nhắm mắt lại đi, thiên thần của mẹ. hãy ngủ một giấc thật ngon.

Hanna ngoan ngoãn nhắm mắt, rúc đầu vào bờ ngực ấm áp của mẹ. Em không nhìn thấy họng súng, không nhìn thấy khuôn mặt tàn ác của những kẻ sát nhân, em chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim của mẹ đang đập dồn dập, và rồi ...

Hai tiếng súng xé toạc màn đêm Budapest. Hai thân hình đổ nhào về phía trước, hòa vào nhau, rơi xuống dòng Danube lạnh căm. Nước sông lạnh buốt ôm trọn lấy người mẹ và đứa con thơ vô tội, cuốn họ đi xa khỏi trần gian đầy đau khổ này.

Trên bờ sông lúc này, chỉ còn lại những đôi giày.

Đôi giày da màu đỏ của Hanna vẫn đứng nguyên vẹn ở đó, mũi giày quay về phía dòng sông như đang đợi em quay lại. Một bông tuyết nhẹ nhàng rơi xuống, đậu trên chiếc nơ nhỏ xinh, rồi tuyết cứ thế rơi, dần dần phủ trắng xóa, lấp đầy khoảng trống mà hai linh hồn vừa để lại. Trong đêm tối, hàng chục đôi giày vô chủ xếp thành hàng dài dọc bờ sông, câm lặng chứng kiến một trong những tội ác man rợ nhất lịch sử loài người.

 *****

Giờ đây, mỗi ngày, hàng ngàn du khách đến Budapest, đến tận bờ sông này, lẳng lặng ngắm nhìn và cúi đầu mặc niệm những oan hồn như còn lảng vãng đâu đây; dòng Danube vẫn âm thầm chảy, mang theo ký ức vĩnh cửu về những con người đã hóa thân vào cát bụi.

NGUYỄN VĂN TỚI. 9/2026.

 MỘT CHUYẾN ĐI BUÔN

*Nguyễn Thi Dung-TS4

Đông ngồi dựa vào thành của chiếc giường trong toa xe lửa thuộc

chuyến đi từ Sài Gòn đến Hà Nội của khu đường sắt Thống Nhất để

tập… đi buôn. Nàng đi theo Hội, bạn của chị Thuỷ và Khải, người anh

họ của Hội, mang một số những mặt hàng mà miền Bắc cần dùng

trong khi ở Sài Gòn có nhiều và giả rẻ . Chị Thủy đã đi buôn chung với

chị Hội vài lần , lời lãi thì chẳng bao nhiêu nhưng chị nói chuyến đi

rất là thú vị vì đi xe lửa từ Nam ra Bắc, khoảng hơn một ngày, ngừng

lại để giao bốc hàng và cho khách lên xuống ở những nhà ga lớn , dù

không được ra ngoài nhưng được thưởng thức những món ăn địa

phương rất độc đáo và đặc biệt, hơn nữa, có gì thích bằng được ngắm

phong cảnh của quê hương, nếu Đông muốn thì chị sẽ nói với chị Hội

cho đi buôn thử xem sao.

Lúc đó vào khoảng đầu năm 78, Thu Đông đã mất việc làm, hai lần

đi vượt biên thất bại, mấy chị em phải bán dần những quần áo và vật

dụng trong nhà để mua gạo và thực phẩm. Áo dài may bằng hàng soie

nhập cảng bán được giá hơn cả vì bền và đẹp, có thể cắt may lại thành

áo bà ba hay nhiều kiểu áo ngắn thích hợp với cuộc sống của xã hội

mới. Mỗi lần bán áo, Đông không khỏi ngậm ngùi khi nhớ lại những

tà áo bay trong gió trên đường phố ngày nào… Nhưng người chưa biết

còn có giữ được hay không, nói chi đến áo !

Thường thì sáng sớm, chị Thủy theo bạn ra chợ để mua cau tươi, về

nhà bổ ra phơi khô rồi bán… một ngày hai chị em bổ cả mấy thiên

cau, ngón tay cái in lằn sâu như con dao sắc nhỏ lưỡi mỏng dùng bổ

cau, kiếm được rất ít, nhưng vẫn phải làm để sống … thỉnh thoảng có

chuyến đi buôn xa thì rủ nhau hùn hạp mua đồ bán kiếm lời. Đông

không giỏi bươn chải như chị Thuỷ nên thường làm theo lời chị, tính

lại thích… phiêu lưu mạo hiểm nên xin chị cho đi buôn thử một lần

cho biết, vả lại chị Hội, người ở cùng xóm, cũng biết Đông thuộc loại

tiểu thơ công chức, nên bảo cứ đi theo họ mua và bán hàng thôi,


không phải nói nhiều, học cách mua bán cho quen nên Đông vững

lòng cho cuộc chợ mới.

Hàng mua đã xong, chia làm ba phần để mỗi người mang theo

khi đến ga xe lửa, chị Hội dặn Đông cứ bình tĩnh như người đi thăm

gia đình thì quan thuế không xét và khỏi phải đóng thuế, vì nếu quan

thuế nghi ngờ và xét thấy là nhiều hàng, bắt đóng thuế rồi thì như

đi công không…Chẳng cần phải đóng kịch giỏi vì trông Đông ngơ

ngác như … nai vàng trong sân ga ồn ào đầy hỗn độn nên nhân viên

nhà ga để Đông đi qua một cách dễ dàng, không hạch hỏi gì cả…hú

hồn…

Khi gặp lại trong xe lửa vì chỗ giường của chị Hội gần chỗ của

Đông, chị báo tin buồn là cả chị và anh Khải đều bị khám xét và phải

đóng thuế nên chuyến đi này chưa biết ra sao, nhưng may là hàng

của Đông không bị đóng thuế nên sẽ có lời… chị Hội nói có lẽ Đông

không bị nhân viên quan thuế giữ lại để xét hành lý vì họ không thấy

quen mặt nên cho qua.

Khi xe lửa bắt đầu chạy thì trời đã sáng, Đông ngồi dựa vào thành

giường, nhìn xe đi qua phố thị, dần dần đến những cánh đồng đầy cỏ

hoang vì vụ mùa đã qua, nàng chưa bao giờ đi xe lửa nên mãi ngắm

cảnh đến khi chị Hội qua thăm, hai chị em ăn chung bữa trưa bằng

hai cái bánh chưng nhỏ mang theo, chị Hội cười

-Mình ăn tạm thôi, chút nữa đến ga đón khách thêm…có nhiều

người bán quà dong, Đông tha hồ mua . .. chị đã ăn rồi , nhiều cái

ngon lắm.

Xe lửa dừng lại ở vài trạm đón thêm khách, khi đến nhà ga ở Huế

thì đã quá nửa đêm, tiếng rao hàng ồn ào làm Đông thức giấc. Nàng

ngồi dậy, khoác thêm chiếc áo len vì cảm thấy lạnh. Xe lửa ngừng

khá lâu, Đông mua ít bánh bán giò, bánh nậm ở ga xe lửa, bánh có vị

rất… Huế. Trời hơi lành lạnh và chưa sáng rõ… .gần một ngày rồi,

Đông tự nhủ, nàng mua thêm một con gà quay, dự định sẽ mời chị

Hội cùng ăn trưa.


Khi xe lửa đi qua một cây cầu dài trên sông, Đông đang mơ màng

thì nàng nghe tiếng động gần cửa sổ, ngó lên thì chỉ còn thấy bàn tay

nắm con gà quay trong túi thoáng qua…Đông giật mình nhìn lại thì

con gà đã biến mất, nàng hốt hoảng nhìn xuống xuống cạnh giường

…vali hành lý vẫn còn… thì ra ai đó ngồi trên khung của tường song

sắt chắn trên sông, thò tay ra lấy con gà Đông để trên bàn gần cửa sổ!

Khi chị Hội qua thăm Đông, chị không thấy con gà và vẻ mặt ngơ

ngác của Đông thì đoán ra ngay.

-Mất con gà quay rồi phải không?

Đông ngạc nhiên

-Sao chị biết!

-Chị quên không dặn Đông, không để gì gần cửa sổ cả, nhất là khi

xe lửa qua sông lớn…có người ngồi sẵn trên khung tường, ai sơ hở để

đồ là mất.

-Em còn bánh giò, chị ăn với em nhé.

Xong bữa trưa , chị Hội dặn Đông phải cẩn thận khi xuống ga, nếu

xuống trước thì chờ chị và anh Khải gần cửa nhà ga để về nhà trọ.

Đến xế chiều thì xe lửa đến nhà ga ở Hà Nội, ba người đi bộ khoảng

hơn nửa tiếng thì đến nhà trọ.

Dù đã chuẩn bị tư tưởng, nhưng Đông không thể nào nghĩ rằng

nhà trọ lại tệ như thế. Ngoài cái giường và cái bàn nhỏ, tất cả những

tiện nghi khác đều là … công cộng. Đông đã từng đi vượt biên, qua

đường dài đến tỉnh nhỏ với những điều kiện vệ sinh đáng sợ, nhưng

đây là nhà trọ mà cũng không khá hơn bao nhiêu và nhất là đi tắm thì

… không biết tả làm sao! Cả ba ngày ở Hà Nội, Đông xuống nơi tắm

chung chỉ có đúng một lần!

Buổi sáng đầu tiên ở Hà Nội, Đông theo chị Hội đến chợ Đồng Xuân

để bán đồ, anh Khải không đi chung vì anh đi bán đồ ở chợ trời trên

phố. Chị Hội có một số khách quen nên việc mua bán tương đối dễ,

chị dặn Đông quan sát kỹ để lần sau tự đi mua bán một mình. Đông

chú ý đến cách chị nói với khách hàng, thỉnh thoảng nhìn quanh xem


cách sinh hoạt ở chợ. Chợ Đồng Xuân không lớn như Đông nghĩ qua

những câu truyện được đọc ngày xưa…Từ cửa chính đi vào, trong

chợ chia thành nhiều dãy, đa số là những sạp nhỏ với những mặt

hàng khác nhau. Chỉ có chỗ bán hoa là Đông thích hơn cả, hoa được

bày bán trên sạp nhiều hơn là để vào chỗ để có nước như ở chợ Sài

Gòn, có lẽ là vì khí trời mát lạnh? Nhìn những bông hồng tươi tắn

trên những tấm đan tre, Đông chỉ muốn mua, nhưng chị Hội nói

mình còn phải đi bán hàng lâu, không nên mua vì hoa sẽ héo.

Đến tối, chị Hội, anh Khải và Đông đi ăn phở, chị Hội nói để cho

Đông biết mùi phở Hà Nội thôi, chứ đi ăn cơm thì rẻ hơn. Đông rất

ngạc nhiên khi thấy chỉ có tô phở, không có rau thơm và giá …thấy

Đông có vẻ chờ rau, chị bảo phở ở đây chỉ có thế thôi, đừng hỏi vì họ

sẽ trả lời khó nghe lắm, không có lịch sự như chỗ mình đâu! Tuy là

không thích phở kiểu này nhưng vì trời lạnh, được ăn phở nóng và

ngắm cảnh phố đông người mặc áo ấm đi qua lại cũng vui.

Sáng hôm sau, chị Hội bảo Đông đi bán hàng ở chợ trời với anh

Khải cho biết thêm cách mua bán. Chợ trời thì ở đâu cũng hỗn tạp, đủ

loại hàng, đủ loại người…Anh Khải dặn Đông đừng nói nhiều, đừng

để ý đến những lời họ nói vì có thể hơi khó nghe…anh cười cười … tôi

nghe cô Hội nói cô chưa quen với việc mua bán, đi cho biết xem có

thể… bụi … như dân buôn được không nhé…

Anh Khải đến góc phố, nơi có bàn nhỏ và mấy cài ghế nhựa thấp.

Anh nhìn Đông.

-Hãy còn sớm, cô Đông uống cà phê vỉa hè phố Cổ nhé… Cô làm việc

ở khu ngân hàng chợ Cũ thì chắc hẳn là biết uống cà phê ?

Đông cười

-Đúng như vậy, cám ơn anh cho thưởng thức cà phê phố Cổ.

Anh Khải gọi hai ly cà phê sữa nóng. Đông ngạc nhiên khi thấy họ

để ly cà phê thủy tinh nhỏ trong bát có nước nóng. Thấy Đông lấy tay

khều khều quanh ly cà phê, anh Khải giải thích

-Ở đây, khi trời lạnh, họ để ly cà phê trong bát nước nóng để giữ độ

ấm của cà phê. Cô Đông uống thử xem nhé.


Đông uống mấy ngụm nhỏ, yên lặng nhìn đường phố với những

hàng cây trụi lá còn mờ trong sương sớm rồi nói nhỏ

-Không có mùi cà phê nhiều anh Khải ạ. Dường như có pha thêm chất

khác

-Cô đúng là dân cà phê Sài Gòn có khác, uống cho biết và cho có

chút cà phê cho tỉnh thôi chứ không thơm bằng cà phê chỗ mình đâu.

-Cũng tạm được chứ anh, cách họ để giữ ấm cà phê rất thú vị. Xứ

mình, ngay vào tháng 12 cũng không đủ lạnh để phải có nước nóng

giữ cho cà phê ấm.

Sau khi uống cà phê, Đồng theo anh Khải đến chợ trời… người đi

kẻ lại, tiếng trả giá ồn ào. Anh Khải đến vài chỗ quen mời mua hàng

…đến trưa, cũng chưa bán được hết hàng, anh có vẻ mệt và thất vọng.

-Lần này chắc không khá rồi cô Đông ạ, hàng mang qua ga thì bị

đóng thuế, đến đây thì bị ép giá. Chắc là ngày mai tôi phải đi chỗ

khác.

Buổi tối, lúc đi ăn cơm chung, chị Hội cũng than phiền không bán

hết được hàng vì họ có nhiều người bán hàng với giá thấp. Hai anh

chị hẹn nhau trưa mai, sau khi ra chợ trời thì sẽ đi xe điện đến chợ xa

hơn, hy vọng bán hết hàng để ngày mốt mua ít mặt hàng rồi ra ga

mua vé xe lửa về Sài Gòn.

Hàng hãy còn khá nhiều, sau khi ăn trưa, cả ba ra đường đón xe

điện. Chị Hội dặn Đông phải cẩn thận vì đến trạm, xe điện chỉ chạy

chậm lại chứ không ngừng hẳn, nên khi xe điện đi ngang qua, phải

nắm lấy thanh sắt của cửa xe điện rồi… nhảy lên … chị cười …dân ở

đây họ gọi là nhảy xe điện chứ không phải lên xe điện !

Khi xe điện gần đến gần trạm, Đông nghe những tiếng chuông

“leng keng “ thật là vui tai. Trạm khá đông người nên anh Khải nói

chờ đến chuyến sau và để Đông có dịp xem cách người ta nhảy lên xe

… Khi tiếng leng keng và xe điện đến gần ,anh Khải nắm cửa xe điện,

nhảy lên dễ dàng dù trên vai đeo đồ nặng, chị Hội cũng nhảy lên được

dù vai cũng đeo đồ, còn Đông chỉ có túi xách nhẹ trên vai, nắm lấy


thanh sắt rồi nhảy lên, hơi chậm một chút nên một chân bị hụt, đu

đưa trong không khí rồi mới chạm sàn xe, Đông giật mình và cảm

thấy chân hơi đau. Khi vào trong xe điện, chị Hội hỏi

-Đông có sao không? Có nhảy lên xe điện được không?

Đông cười

-Em bị hụt chân chút thôi…

-Vài lần rồi quen, đừng sợ.

Ba người đứng gần nhau trong xe, khoảng chừng nửa tiếng thì

nhảy xuống xe điện và đi một quãng ngắn đến một nói giống như

chợ trời với những bàn bán đồ điện . Nghe nói chuyện thì họ chỉ

nhận hàng và giao tiền một nửa thôi, chuyến sau sẽ lấy tiếp vì hàng

bán chậm. Anh Khải đồng ý vì là bạn hàng quen và cũng không thể

mang hàng về!

Lần về, Đông nhảy lên xe điện gọn nhẹ … Chị Hội cười đùa

-Đông đi buôn được rồi …đi buôn mà đi xích lô thì lỗ to đấy.

Trong chuyến xe lửa trở về Sài Gòn, Đông cảm thấy lòng bâng

khuâng nhớ tiếc những ngày lang thang trên vỉa hè góc phố Hà Nội

… nghe anh Khải và chị Hội nói chuyện thì khó có thể tiếp tục mang

hàng đến bán ở Hà Nội được nữa vì dường như những mặt hàng bán

được giá mang từ Sài Gòn đã được cán bộ thu mua và chuyển về bán ở

Hà Nội với giá rẻ vì không qua hải quan. Chuyến đi này tiền lời vừa đủ

cho mọi chi phí, coi như mấy ngày không công thôi.

Hơn một năm sau chuyến đi buôn, Đông cùng nhóm bạn vượt

biển thành công đến đảo Ku Ku thuộc Indonesia rồi đi định cư tại Mỹ.

Chuyến đi buôn độc nhất trong đời đã để lại trong lòng nàng chút kỷ

niệm về vùng đất ngày xưa mà bố mẹ nàng thường nhắc đến với biết

bao nỗi nhớ.

Ý Nhi Nguyễn thị Dung