Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label QGHCLeVanTu. Show all posts
Showing posts with label QGHCLeVanTu. Show all posts

Saturday, 11 November 2023

 Mt68: NHẬN ĐƯỢC BÀI VIẾT NGƯỜI GỞI GHI LÀ CỦA "QGHC LÊ VĂN TƯ-PARIS" (Web-Hoa Tâm Tư)- NẾU KHÔNG PHẢI XIN XÁC NHẬN GIÙM./-TC Lãnh/Mt68

_________________


 Hèn!

Nhà văn Nguyễn Minh Châu (hàm đại tá quân đội), trong bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, báo Văn nghệ số kép 49-50 ra ngày 5-12-1987: “Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn”.

Ông Trần Hưng Quốc thú nhận: “Tôi cũng mong một ngày nào đó tôi hết hèn, dám chê đảng một cách thẳng thắn, chính trực mà không phải dùng tên nặc danh thế này. Chứ bây giờ, nghĩ đến đảng là tôi đã run lên như cầy sấy rồi, sợ cái cảnh phải như các anh Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, …” (Bài Trò chuyện cùng ông NT).

Tác giả nhạc phẩm nổi tiếng Nụ cười sơn cước, nhạc sĩ Tô Hải viết tự truyện «Hồi ký của một thằng Hèn», trong đó ghi nhận: «Tất cả nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc, nhà kịch, nhà nọ, nhà kia, … đến nay còn bám cái vú đảng đều là … thằng Hèn! Riêng những thằng kiếm chác bằng cách bợ đít, bưng bô cho đảng … thì chữ hèn đối với chúng cũng không xứng đáng!».

Có thể coi định nghĩa chữ hèn của Tô Hải là khá «ấn tượng» (bám vú, bợ đít, bưng bô) và hoàn chỉnh, vì hễ ai hèn thì đều bị khinh khi, gọi bằng thằng (giống như «Tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.»), chớ không gọi bằng ông hay một danh xưng nào khác.

Theo giáo sư Nguyễn Đình Cống: «Cái sai rõ ràng nhiều người thấy mà mình không thấy thì mang tội u mê, nếu thấy rồi mà không dám nói thì mang tội hèn.», ông nói rõ: «Trừ một số rất ít có thể đếm trên đầu ngón tay các vị trí thức có một chút dũng cảm vừa phải nào đó, dám nói một cách trung thực ý kiến của mình không đồng ý với lãnh đạo tại các cuộc họp công khai của Quốc hội, của Chính phủ, còn lại phần lớn là hèn.».

Tổng quát, hèn được ông phân làm 3 mức độ:

A- Hèn nhất là loại xu nịnh, luôn tìm cách ca ngợi, chứng minh đã là lãnh đạo, là có quyền thì luôn luôn sáng suốt, bao giờ, cái gì cũng đúng.

B- Hèn vừa vừa là loại mũ ni che tai, có biết có thấy sự thật sai trái nhưng sợ quá, không dám nói, chỉ lo làm tròn bổn phận.

C- Hèn ít, nhưng vẫn cơ bản là hèn, đó là loại hơi có một chút trung thực, dám nói nhưng chỉ nói ở trong nhà, nói giữa vài ba người bạn, nói mà không muốn cho nhiều người nghe được, càng không dám nói cho cấp trên nghe, sợ bị liên lụy.»

Ông đặt tên những trí thức hạng C là «một lũ chó sủa vườn hoang» và tự xếp mình vào hạng đó.

 

Thật sự mà suy, giống như sám hối hay xưng tội được giải tội, những ai dũng cảm công khai cái hèn của mình rồi thì không còn hèn nữa, như nhạc sĩ Tô Hải từ bỏ đảng cộng sản ngay sau ngày gọi là thống nhất đất nước, phơi bày cuộc đời nhẫn nhục trong sách «Hồi ký của một thằng Hèn», hay giáo sư Nguyễn Đình Cống đã công khai «thông báo từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 03 tháng 02 năm 2016. Yêu cầu tổ chức Đảng xóa tên tôi khỏi danh sách.» ngay sau ngày kết thúc đại hội XII.

 

Theo các chuẩn mực trên, thành phần thứ ba ở miền Nam trước 1975 đều thuộc hạng u mê kế đến là hèn, mức độ hèn có thể giảm dần theo thời gian.

U mê vì chống chế độ miền Nam một cách điên cuồng nhưng không lượng định được hậu quả tai hại ra sao như trong bài “Sặc mùi cộng sản”, Nguyễn Ngọc Lan viết: “tôi cũng xin cương quyết lặp lại, bao lâu còn gót giày lính Mỹ nện trên quê hương này, còn chống Mỹ cứu nước. … điều độc nhất đáng kể đối với chúng ta là toàn dân ta đều cần cơm mà sống, vốn cần cơm mà sống, sẽ còn cần cơm mà sống. Mỹ không ăn cơm thì đi chỗ khác chơi.” (Báo Tin Sáng số 733, 27-8-71).

U mê vì hậu thuẫn cho việt cộng nhưng chẳng hiểu gì về cộng sản như Lý Quý Chung thú nhận trong cuốn Hồi ký không tên: « Sự mù tịt về « Việt cộng » và sự thiếu hiểu biết sâu sắc về mục tiêu lý tưởng đấu tranh của « những người ở bên kia nửa phần Tổ quốc » ».

U mê vì bị cộng sản giựt dây mà cứ tưởng mình đóng vai trò chủ động như linh mục Chân Tín đóng vai chủ tịch ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù, nhưng tổng thư ký là sinh viên Việt Cộng Trần Văn Long.

 

Họ lợi dụng tự do ngôn luận để ra báo chống đối chế độ như lm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan (báo Đối Diện), lm Trương Bá Cần (báo Công giáo và Dân tộc, tựa đề có công giáo nhưng không thuộc giáo hội), Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận (tờ Tin Sáng), Lý Quý Chung (Tiếng nói dân tộc), Hồng Sơn Đông (Điện Tín), …

Họ lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, một số sư sãi (Trí Quang, Quảng Long, Huỳnh Liên, …), linh mục (Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, …) dùng các nơi thừa tự để tập họp, tuyên truyền xách động quần chúng, chứa chấp bọn nằm vùng.

Họ lợi dụng quyền tự do lập hội để lập ra các tổ chức chống chế độ như Ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù của lm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phong trào bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ  đứng đầu, Ủy ban phụ nữ đòi quyền sống của bà Ngô Bá Thành, Phong trào dân tộc tự quyết của luật sư Nguyễn Long, Lực lượng hoà giải dân tộc của luật sư Trần Ngọc Liễng , Mặt trận Nhân dân cứu đói của đại đức Thích Hiển Pháp.

Họ lợi dụng quyền bất khả xâm phạm để công khai ủng hộ những kẻ gây hỗn loạn trật tự công cộng, bao che việt cộng như các dân biểu Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, …, đặc biệt là tướng Dương Văn Minh « Xét về « gốc tích » thành phần của nhóm ông Minh… lộ ra sau 1975, … Gần phân nửa thành viên trong nhóm có quan hệ với MTDTGPMN như ông Cước, anh Nhuận, giáo sư Trung, linh mục Lan, luật sư Liễng… ». (Lý Quý Chung kể trong cuốn Hồi ký không tên).

 

Ngay sau ngày 30/4/1975, mọi tờ báo đều bị đóng cửa, các tổ chức trên hay cái gọi là thành phần thứ ba đều bị khai tử không kèn không trống, chẳng thấy có một phản ứng nhỏ nhoi nào, điều này xác nhận họ hầu hết chỉ là công cụ giai đoạn của cộng sản, một số đã từng vào mật khu như Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Châu Tâm Luân, …) hay được móc nối như Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, …

Tùy theo công trạng đóng góp cho “cách mạng (!)” mỗi cá nhân được thưởng công, khỏi đi tù cải tạo như Dương Văn Ba hay một số dưới trướng Dương Văn Minh, cho làm đại biểu quốc hội (Ngô Bá Thành, Lý Chánh Trung, Huỳnh Liên, Phan Khắc Từ, …), phần lớn được phong các chức hàm trong mặt trận tổ quốc, trong các hội đồng nhân dân, thậm chí còn cho ra báo trở lại như bán nguyệt san Đứng Dậy của lm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, nhật báo Tin Sáng của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung, nhưng rồi lần lượt đều bị đóng cửa (gọi tự ý đình bản năm 1978, hay “hoàn thành nhiệm vụ” năm 1981).

 

Qua giai đoạn u mê, họ bước qua giai đoạn hèn, một số tiếp tục tâng bốc chế độ độc tài như Hồ Ngọc Nhuận: “Đặc biệt, tháng 9-1975, Hồ Ngọc Nhuận được đưa ra Hà Nội trong “Đoàn đại biểu miền Nam dự Hội nghị Hiệp thương Thống Nhất”. Khi trở về, trong bài Đi Thăm Một Làng Quê Miền Bắc, ông Nhuận viết: “Chúng tôi tin rằng, độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc phải được gắn liền với chủ nghĩa xã hội” (1), như Lý Chánh Trung (1985): “Tuy không phải là người Cộng sản, tôi thành thật mong muốn sự thắng lợi của chủ nghĩa Cộng sản trên thế giới và tại Việt Nam, vì tôi cho rằng chỉ chủ nghĩa Cộng sản mới tạo dựng được cái xã hội thật sự tự do, bình đẳng và huynh đệ mà tôi hằng mơ ước.” (bài Làm và tin), có người ca tụng cuộc sống người dân miền Bắc một cách lố bịch đến độ “Họ bảo nhau: « bao nhiêu năm trời bọn mình đã phải khốn khổ vì thiếu đói, vì chế độ tem phiếu, bây giờ tự dưng một gã làm báo từ Sài-gòn chân ướt chân ráo ra đây rồi thanh minh, biện hộ, ca tụng cái thiếu đói ấy. Rõ khỉ!” (Hà nội tôi thế đó -Nguyễn Ngọc Lan)

 

Đến năm 1988 thì hơi thức tỉnh, Lý Chánh Trung viết trên báo Tuổi trẻ: “Triết học Mác Lênin là môn chẳng ai muốn học, mà cũng chẳng ai muốn dạy”“Tôi (2) nghe thiên hạ đồn rằng bây giờ ông bạn giáo sư đang bị “rét”, vì bị Tổng bí thư ” xát xà bông” làm sao đó. Sự thực ra sao vậy?” Anh Trung liền trả lời : “Quả là bây giờ có sự Đổi mới rồi, chứ nếu không, thì mình bị “lấy mất cái đầu đi rồi” đấy!”, một số ngậm miệng làm thinh như Nguyễn Ngọc Lan (chuyên viên chơi chữ), có ai hỏi «  bây giờ đang làm gì? » – tác giả tỉnh queo đáp  » làm thinh » (theo Thế Phong kể), Kiều Mộng Thu thì kể như câm miệng hến luôn.

Điều trớ trêu là những người cả tiếng tranh đấu cải thiện chế độ lao tù ở miền Nam, năm 1990, lm Chân Tín được chế độ mới cho đi an trí 3 năm ở tại xã Cần Thạnh, huyện Duyên Hải cách trung tâm thành phố 70 cây số, Nguyễn Ngọc Lan bị quản thúc tại gia 3 năm ở Sài Gòn; sống dưới chế độ “Mỹ -Ngụy” (!) thì được cộng sản bảo vệ nên không hề chi (!) (3), đến khi được sống dưới chế độ cộng sản thì lại bị tông xe suýt toi mạng (4); trước 1975 thì viết báo công khai chống chính quyền, sau 1975 thì viết nhật ký (Nguyễn Ngọc Lan), Hồi ký (Hồ Ngọc Nhuận) để than thân trách phận cũng bị cấm in, phải ấn hành ở ngoại quốc, phổ biến chui vào trong nước, muốn bày tỏ bất mãn thì phải luồn lách, vận dụng ngôn từ, nói bóng nói gió như bài “Hà Nội tôi thế đó”, Nguyễn Ngọc Lan bị gán cho là ngầm tả oán chế độ (chữ tôi có thể ngầm hiểu thành tồi, thành tội).

 

Tại sao trước khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam thì họ tỏ ra hùng dũng thế mà giờ thì lại hèn hạ đến thế?

Câu chuyện cây quất trồng ở bắc sông Hoài thì ngọt, trồng ở nam sông Hoài thì chua (sứ giả Tề Án Anh đối đáp với Sở Linh Vương) giúp giải thích lý do, đó chẳng qua là chế độ cộng sản đã biến giới trí thức thuộc thành phần thứ ba ở miền Nam đã trở thành những thằng hèn như bao thằng hèn ở miền Bắc, bây giờ thì “hèn hóa” cả nước.

Ngẫm lại, lịch sử chỉ là sự tái diễn, giới trí thức miền Bắc năm 1954 cũng lâm cảnh y như vậy, chỉ sau thời gian ngắn chỉnh huấn, nhiều văn nghệ sĩ đã tự lột xác như:

– Nguyễn Tuân: Khi đã tự mình vạch hết những lỗi lầm cũ, Nguyễn Tuân, con người xưa kia kiêu bạc bao nhiêu, nay đã chẳng nề hà lớn tiếng tuyên bố:

‘’Nhờ ánh sáng chủ nghĩa Mác Lê của đảng mở mắt cho thấy rõ ý nghĩa và phương hướng của nghệ thuật chân chính sau mười ba năm, in cuốn sách đầu tiên, nay tôi nhận rõ giá trị của sự nghiệp văn chương cũ của tôi chỉ là một mớ sai lầm và tội lỗi. Cái mà tôi vẫn tự phụ là sự nghiệp đó chỉ là những tội lỗi mà nhân dân khoan hồng đã tha thứ cho để tôi chuộc tội từ nay bằng những sáng tác phục vụ được cho lợi ích cách mạng…’’

– Xuân Diệu: “nhà thi sĩ chuyên môn: ‘’Run với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây’’

Xuân Diệu đã vỗ ngực mà thề rằng: ‘’Bây giờ thì phải dứt!’’

Dứt thế nào? Chúng ta hãy nhận xét Xuân Diệu mới qua bài thơ làm sau kỳ chỉnh huấn:

Trước Đây Bốn Tháng

Trước đây bốn tháng, đến Trường

Hồn tôi nghiêng ngả, trí thường hoang mang,

Đường đi quên ánh sáng vinh quang

Bạn thù lẫn lộn, trái ngang cảm tình

Kéo dài tâm trạng lênh đênh

Sống mà lắm lúc như mình bỏ đi.

Hôm nay hết học kỳ chỉnh đảng

Thấy bốn phương trời ánh sáng ùa vào

Bước đầu tuy chửa là bao

Nhưng nghe đã rộng, đã cao vô ngần!»

… (5)

 

Tương tự, giới họa sĩ như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Tỵ,… giới nhạc sĩ như Nguyễn Xuân Khoát, Lê Yên, … đều tự lên án mình, nguyện trung thành với đảng, phục vụ giai cấp công nông. (5)

Cái ưu việt của đảng cộng sản là biến cả một dân tộc không hề biết khuất phục trước ngoại bang đành an phận đớn hèn trước kẻ thống trị trong nước.

Hãy nghe Thái Bá Tân luận về thân phận giới trí thức dưới chế độ cộng sản:

Thương cái thằng trí thức,

Mặc dù chúng khá đông,

Không được thành giai cấp

Như hai bác công, nông.

 

Mà thằng này lạ lắm.

Phải nói cực kỳ hiền.

Lại nhũn nhặn, lễ độ,

Đến mức tưởng hắn hèn.

 

Thế mà hắn bị ghét,

Bị coi là cục phân,

Dù hắn ăn mặc đẹp

Và sạch hơn nông dân.

 

lvt

 

Ghi chú:

(1) Bên thắng cuộc của Huy Đức

(2) Đoàn Thanh Liêm -người cùng nhóm với Lý Chánh Trung trước 1975

(3) Tôi nhớ, ở chiến khu, Bí thư T.Ư Cục – anh Phạm Hùng có lần bảo tôi chú ý bảo vệ Nguyễn Ngọc Lan, nghe đâu ông đi lại bằng một chiếc xe gắn máy cũ kỹ, rất dễ bị ám hại. Tôi truyền đạt ý trên cho anh Tạ Bá Tòng, người trực tiếp liên hệ với Nguyễn Ngọc Lan, (bài Tiễn biệt anh, anh Nguyễn Ngọc Lan của Trần Bạch Đằng: http://thanhnien.vn/thoi-su/tien-biet-anh-anh-nguyen-ngoc-lan-386749.html)

(4) Nhật Ký của Nguyễn Ngọc Lan của Minh Võ: “Đầu tháng 5 năm 1998 NNL chở Linh Mục Chân Tín trên xe gắn máy tới viếng Nguyễn Văn Trấn tức Bảy Trấn vừa qua đời, thì bị xe tông bị thương nặng, suýt chết. Theo lời tường thuật của ông sau đó ít lâu thì rõ ràng người ta đã âm mưu ám hại ông.

(5) Việt Nam máu lửa của Nghiêm Kế Tổ

Wednesday, 6 September 2023

 Mt68: MẤY HÔM NAY CÓ BÁC TRẦN NHỰT THĂNG, BÁC LÊ VĂN TƯ VÀ CHẮC CÒN NHIỀU BÁC KHÁC "CHƯA THẤY HẾT BẰNG CHỨNG" NÊN DÈ CHỪNG KHUYÊN LƠN NẦY NỌ - VÌ BẰNG CHỨNG ĐÃ KÉO DÀI TỪ KHOẢNG THÁNG 2/2023 - NÊN ĐÃ ĐĂNG TRÊN Mt68 GIÁN ĐOẠN THEO THỜI KHẮC XUẤT HIỆN CỦA TÀI LIỆU- CHÚNG TÔI LƯU GIỮ CHUNG TRONG MỘT LABEL CÓ TÊN LÀ "PhamThanhChauQGHC14" (Sidebar Mt68) - QUÝ BÁC BẤM VÀO LABEL NẦY TÀI LIỆU CÒN RẤT NHIỀU VÀ CÒN ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ.

KÈM THEO ĐÂY CHÚNG TÔI CHỈ ĐĂNG LẠI 3 TÀI LIỆU:

1/- THƯ MỜI CỦA BAN TỔ CHỨC RA MẮT SÁCH CÓ GHI TÊN PHẠM THÀNH CHÂU VÀ NGUYỄN MINH NỮU (CÙNG Ở VIRGINIA)

2/- THIỆP MỜI CỦA BTC QUÁN VĂN 95- CÓ CẢ HÌNH ẢNH PHẠM THÀNH CHÂU VÀ CÁC NHÀ VĂN/THƠ TRONG NƯỚC.

3/- NGUYÊN VĂN BÀI PHÁT BIỂU LÊNH LÁNG CỦA HOÀNG KIM OANH TRONG BUỔI RA MẤT SÁCH- CHÍNH PHẠM THÀNH CHÂU CÔNG KHAI CA NGỢI HẾT MÌNH.

4/- CÓ THÊM BẰNG CHỨNG SỐNG LÀ 2 ĐỒNG MÔN TRONG NƯỚC THAM DỰ VÀ THÔNG BÁO HẢI NGOẠI (XIN MIỄN NÊU TÊN).

QUÝ BÁC MUỐN BẰNG CHỨNG GÌ THÊM XIN CHO BIẾT TIẾP- XIN QUÝ BÁC TIẾP TAY PHỔ BIẾN TRUNG THỰC VÀ SÂU RỘNG ĐỂ TẬP THỂ QGHC KHÔNG HOÀI NGHI HAY PHÂN VÂN GÌ THÊM - EMAIL GROUP CỦA ANH SÁU NGUYỄN ĐÃ TRIỆT HẠ THÔNG TIN VỀ PHẠM THÀNH CHÂU./- Thân Kính - Trần Cao Lãnh/Mt68

__________________

Hoang Kim Oanh is with Gia Nguyễn and 34 others.

19 hrs

THƯ MỜI RA MẮT QUÁN VĂN SỐ 95
CHÂN DUNG VĂN HỌC: NHÀ VĂN PHẠM THÀNH CHÂU

Thưa quý bạn viết, bạn đọc và thân hữu Quán Văn gần xa,
Tập san Sáng tác-Tư liệu-Nghiên cứu Văn học Quán Văn số 95, số ra tháng 4-2023, giới thiệu tác phẩm và chân dung văn học NHÀ VĂN PHẠM THÀNH CHÂU, đặc biệt, mục thường xuyên với những ghi nhận về chuyến đi Huế-Đà Nẵng tháng 3, cùng sự góp mặt của các cây bút quen thuộc của QV sẽ ra mắt quý bạn đọc vào lúc:
- 9h sáng ngày Chủ nhật 16.4.2023
- Địa điểm: CAFE BA HIỀN 54 Nguyễn Văn Công, P3. Q Gò Vấp.
Mời bạn đến cùng nghe, trò chuyện, giao lưu, đặt câu hỏi…với tác giả PHẠM THÀNH CHÂU từ Virginia về dự, cũng như các tác giả QV khác.
Buổi ra mắt còn hân hạnh có sự hiện diện của nhà văn NGUYỄN MINH NỮU và phu nhân TRƯƠNG KIM MAI từ Virginia về sinh hoạt giao lưu cùng thân hữu QV.
Bật mí số này có bài viết đặc biệt của 3 tác giả lần đầu tiên góp bút cùng QV…

Thân mời các anh chị, các bạn quan tâm yêu thích cùng đến giao lưu và ủng hộ Quán Văn 95. (Xin chia sẻ rộng rãi đến ace và bạn đọc)
P/S: Tập San QV số 95 sẽ phát hành trực tiếp tại buổi ra mắt. Số lượng in có hạn, quý bạn nhanh tay nhen. Ở xa, có thể đặt mua, liên hệ cô Nguyễn Nhi Lan Hà, số DT: 0909281313
Nguyễn Nhi Lan Hà
Trân trọng,
Chủ biên NGUYÊN MINH
và Ban biên tập
Nguyenminh Nguyen Khánh Đoàn Văn
13.4.2023

=================

NHÀ VĂN QGHC 14 PHẠM THÀNH CHÂU RA MẮT SÁCH TẠI QUÁN VĂN TP HỒ CHÍ MINH VÀO NGÀY 16-4- 2023./-TC Lãnh

















***BÀI PHÁT BIỂU CỦA HOÀNG KIM OANH ĐỌC TẠI BUỔI RA MẮT
SÁCH CỦA PHẠM THÀNH CHÂU -NGÀY 16-4-2023 TẠI GÒ VẤP.

TUESDAY, JULY 25, 2023

 

Người con của phố Hội
mang tất cả tình yêu
quê hương và thân phận
gửi trong từng mảnh đời
 
 xì mà thánh thiện
trong lam lũ đắng cay
trong máu lệ nhọc nhằn
trong cuồng quay lịch sử…

Qua các anh chị văn nghệ sĩ Việt vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, tôi có duyên được gặp và đọc tác phẩm của nhà văn Phạm Thành Châu từ 2016. Một cái tên quen thuộc ở văn đàn hải ngoại với những truyện ngắn giản dị gần gũi đời thường (ông hóm hỉnh tự cho là chuyện tầm phào) mà tâm lý sâu sắc, kết thúc có hậu, được người đọc phổ thông nhiều bang Đông, Tây chuyền nhau đọc và yêu thích. Sinh ra ở Hội An cổ kính trầm mặc, nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn bó với Sài Gòn và Huế. Hai thành phố mà ông đã học tập và làm việc. Năng khiếu văn chương cũng đến với ông từ những ngày còn học ở trung học Trần Quý Cáp, Hội An. Thỉnh thoảng, ông viết bài gửi các báo và được chọn đăng, như một sự khích lệ ban đầu để ông hun đúc con đường văn chương sau này mà có lẽ thời ấy ông chưa hề nghĩ tới. Tốt nghiệp Đốc sự tại Học viện Quốc gia Hành Chánh Sài Gòn và ra trường nhận nhiệm sở ở Quảng Điền, Thừa Thiên. Xứ Huế và con người xứ Huế đã in đậm những dấu ấn khó phai trong nhiều truyện ngắn của ông. Sau 1975, nếm trải tận cùng những bể dâu lịch sử, 1991 ông định cư ở Hoa Kỳ cho đến nay. Nửa thế kỷ trôi qua trong dập dồn biến động của đất nước và dân tộc, xa lìa mảnh đất chôn nhau cắt rốn, từng ngày từng giờ hội nhập với một nền văn hoá khác, những trải nghiệm bản thân trong tháng năm đổi đời nghiệt ngã ấy tưởng đâu đã tách rời ông với quá khứ thành kẻ lạ. Song, từng bước tiếp cận 84 câu chuyện của ông trong 5 tập truyện ngắn Nhớ Huế (2008), Bức hoạ khoả thân (2009), Lý lẽ của trái tim (2013), Lời tỏ tình (2015), và Vô tình (2022) dường như những ký ức quê nhà vẫn chưa bao giờ lùi xa mà luôn hiện diện nhức nhối trong ông qua từng tên đất, tên làng, từng con phố, từng khuôn mặt, từng ánh mắt nụ cười đau đáu thiết thương. Truyện nào của ông cũng buồn... cũng có cái gì vừa xa vắng vừa lẻ loi vừa đau đớn, vừa căm phẫn vừa nhẫn nhịn... đến nhói lòng. Tuy tận cùng vẫn là cái tâm đẹp dịu dàng bao dung chung thuỷ đến cảm động. Cũng không dụng công quá nhiều vào những kỹ thuật phức tạp hay những triết thuyết xa xôi, khai thác thế mạnh có thể đọc một mạch của thể loại truyện ngắn, với lối kể chuyện tự nhiên hóm hỉnh có khi mộc mạc, có khi giễu nhại, Phạm Thành Châu khá thành công khi đi vào những lát cắt của hiện thực cuộc sống, của từng mảnh đời rời rạc, nhưng đặt tất cả vào bức tranh tổng thể người đọc có thể nhận ra cả một thế giới hồi ức chấn thương trong trái tim nhân hậu vô bờ.

“Phạm Thành Châu viết truyện theo nhịp hai. “Năm 1975 là cái mốc thời gian chính phân đôi đời người (nhân vật). Chân dung cuộc đời trong truyện ông được mô tả, được vẽ lại theo cách nhìn: nửa trước-nửa sau, nửa trong nước-nửa ngoài nước. Nửa này, nửa nọ. Phạm Thành Châu là nhạc trưởng thành thạo lối đánh đũa theo nhịp hai này” (Thượng Văn, trích Vô tình, tr.8). Đứng ở góc nhìn xã hội học sáng tác, cái mốc 1975 đó trở đi trở lại trong tâm thức các nhân vật truyện ngắn Phạm Thành Châu như một ám ảnh thường trực, hiển nhiên khiến người đọc không khỏi liên tưởng đến dòng văn học chấn thương (Trauma in Literature) ra đời trên văn học thế giới từ sau tác phẩm Moses and Monotheism (Moses và Nhất thần luận) của Sigmund Freud về lịch sử của người Do Thái. “Sự tù đày và trở về, tuy là khởi điểm lịch sử của người Do Thái, nhưng thực sự chỉ tồn tại đối với họ thông qua kinh nghiệm chấn thương mà thôi” (Anna Gotlib,2021, Chấn thương và chuyện kể). Ông tổ phân tâm học Sigmund Freud cho rằng “chúng ta có thể bị chấn thương bởi một ý thức chứa đựng nhiều mâu thuẫn về thứ mà ông gọi là “uncanny” (cái bình thường quen thuộc bỗng trở thành xa lạ, bất thường và gây những khó chịu): cái hầu như có thể nhận diện, bị quên lãng hay kìm nén làm chúng ta sợ hãi” (Anna Gotlib,2021, sđd). Có thể hiểukhái niệm này nhằm chỉ những chấn thương tâm lý gây ra bởi các sự kiện thảm khốc do chiến tranh đạn bom chết chóc, do sự phản bội đổ vỡ trong tình yêu hoặc hôn nhân, bị lạm dụng tình dục hoặc có khi là những cú sốc văn hoá, những đổi thay của cuộc sống số hiện đại, v.v… Nói chung là những biến cố lớn lao trong đời người khó thể vượt qua hay quên lãng, thoả hiệp với thực tại. Văn học đương đại Việt Nam thế kỷ XX, sáng tác trong hay ngoài nước, đứng từ góc nhìn “bên này” hay “bên kia” phụ thuộc hoàn cảnh xuất thân, từ sau 1975 đều có những tác phẩm mang tiếng nói bi kịch chấn thương, những sang chấn tinh thần qua các số phận cá nhân trong lịch sử từ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp…

Truyện ngắn của Phạm Thành Châu luôn xen kẽ lồng ghép đồng hiện xoay chung quanh hai trục thời gian quá khứ và hiện tại. Trong truyện, thời gian hồi ức xen trong thực tại thường được đẩy lùi đến mức tối đa theo dòng cảm thức trở về của nhân vật: hồi tôi học tiểu học, 1954 (Bí mật của ông thầy Thọt), 1967 ở ấp Bàu Trai, Hậu Nghĩa (Pháo kích), 1972 (Một chuyện ma), 1973 (Lễ bỏ mả) 1983 (Thuý Kiều)…

Đó là tiếng nói những con người buộc phải bật khỏi cội rễ quá khứ nhưng chưa bao giờ hoà nhập được với hiện tại. Đó là những ước mơ hoài bão tương lai đang nở rộ thì “cái bình thường quen thuộc bỗng trở thành xa lạ, bất thường và gây những khó chịu”. 

Trong chiều sâu tâm thức là nỗi đau lưu lạc luôn khao khát trở về. 

Ngay cả khi đang ở không gian hiện tại là Virginia, nhân vật “Tôi” cũng nhớ về khung trời cũ cố hương xa lắc: Hội An (Phố Hội của tôi, Bí mật của thầy Thọt), Chợ Sịa, Quảng Điền (Mẹ và con, Thương con) Tân Định, Hiền Vương, Phan Thanh Giản (Thuý Kiều) hay Bảo Lộc, Lâm Đồng (Mùa thu ở Virginia). Đang ở Washington DC (Nắng chiều) mà nhớ cái hành lang trường Quốc Gia hành chánh mấy chục năm trước Dũng vẫn qua lại để…trồng cây si Nga. Từ bên kia đại dương cách nửa vòng trái đất mà nhân vật của Phạm Thành Châu vẫn đau đáu quay về chỉ để được ăn một tô cháo lòng của Phúc Lan ngày nào trong Buổi chiều ở thị trấn Sông Pha. 

Nhân vật trong truyện ngắn của Phạm Thành Châu qua điểm nhìn trần thuật của nhân vật “Tôi”, vừa là người kể chuyện, vừa là kẻ trong cuộc khiến các truyện của ông đậm đặc chất tự thuật. Cộng thêm nhiều chi tiết về cuộc đời tác giả được cố tình lặp đi lặp lại trong từng truyện qua giọng kể chậm rãi theo dòng hồi tưởng. Hồi ức tự thuật cũng là một đặc trưng tiêu biểu của dòng văn học chấn thương. “Tôi” hay Hùng, hay Điền, hay Dũng đều là những nhân vật của thế hệ mất mát sau chiến tranh bỗng trở thành kẻ cùng đinh, không tài sản, không địa vị, không tiền đồ, làm đủ nghề tay chân vặt vãnh, không nuôi nổi chính mình đến độ luôn mặc cảm, lánh xa những người thân yêu vì sợ trở thành gánh nặng của họ hay tự ti không còn xứng đáng với người yêu/người vợ cũ, lặng lẽ chôn quá khứ trong nỗi câm lặng nhọc nhằn. Tìm con làm nghẹn ngào người đọc khi người cha tự lập bàn thờ khóc con vì tưởng đứa con lưu lạc của mình đã chết. Cuối cùng ôm nhận tất cả những đứa trẻ mồ côi vốn là con đồng đội cũ: “Ba đây, Tí ơi! Đứa nào cũng là con ba cả. Các con về đây với ba” (tr. 34). Một số truyện cỏn là diễn ngôn của những con người bé nhỏ bị ràng buộc, đoạ đày, chịu đựng mọi lằn roi của số phận như “nó” trong Thuý Kiều đen đúa ngang tàngphải ăn mặc như con trai tự làm mình xấu xí để không ai dòm ngó trong cuộc đời đầu đường xó chợ vì bị lấy mất nhà, hay đáng thương như Hrao bé nhỏ, một cô bé dân tộc mới năm hay bảy tuổi đã bị bán làm vợ gã anh rể tàn bạo để lấy tiền tang ma cho cha. Em bị trói, bị đánh, bị bỏ đói vì không cho chạm vào người làm chuyện vợ-chồng trong Lễ bỏ mả. Ở hai nhân vật này người đọc không thể không rơi lệ cảm thương và xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn trong veo của em cho dẫu cuộc đời vùi dập lấm lem trong nghịch cảnh trớ trêu.

Ngoài những chấn thương do biến động kinh hoàng của chiến tranh và những hệ luỵ của chiến tranh ở trên, truyện ngắn Phạm Thành Châu cũng có nhiều truyện đề cập đến những diễn ngôn chấn thương về tình yêu- tình dục. Vẫn giọng tự thuật nhỏ nhẻ ấy ông kể về những mối tình câm, những lời ước hẹn bị dang dở, những mối tình học trò ngây thơ một đời thương nhớ. Một số truyện ông mạnh dạn đi vào những trải nghiệm giới tính của nhân vật nam cô đơn, mặc cảm không tự tin trước tình yêu và hôn nhân như nhân vật “tôi” trong Con gà chết đi xông hơi thử cho biết mà sợ người ta biết cái cù lần của mình chưa một lần bước vào chốn này, cả người căng cứng xấu hổ… Hay nhân vật bà Tư trong Chuyện nàng Tiên Dong tân thời. Tác giả khéo léo xây dựng tình tiết rất tự nhiên mà cũng rất thật về mấy chàng công nhân vô tư khoe của trước mắt bà khiến bà lên huyết áp phải đi ngay vô bệnh viện và kiện cái xí nghiệp Tàu làm ô nhiễm môi trường. Yếu tố tính dục được đề cập trong những mối quan hệ hôn nhân cũng rất nhẹ nhàng. Nhân vật luôn chừng mực, trân trọng nâng niu mối tình thơ mộng. Thật cảm động khi Điền đi đón Niệm - người bạn cách 30 năm trước ông từng ngỏ lời yêu- về khách sạn khi cô nói sợ ở một mình, đã ngắt lời thẳng thắn trấn an cô: “Anh thề sẽ giữ gìn cho em” như hơn 30 năm trước có lần ông đã nói với cô như thế để trấn an cô khi ông rủ cô đi cắm trại với các bạn trên Bảo Lộc, Lâm Đồng” (Nhớ Huế, tr14). Ôi, mẫu người này chắc chỉ còn trong truyện ngắn Phạm Thành Châu. Lớp trẻ sẽ không tin là ông cha nó từng xử sự với nhau như thế…Hoặc đa dạng hơn, ông mượn thi pháp huyền ảo pha màu huyền bí ma quái của Bồ Tùng Linh trong Bức hoạ khoả thân cũng khá thu hút người đọc tò mò đi đến kết truyện về bức tranh ma quái ấy. Liễu Chương Đài tuy nói về 3 cô gái bán bar, sỗ sàng, lém lỉnh nhưng cái trong veo trong tâm hồn họ vẫn làm anh thầy dạỵ kèm không khỏi ngậm ngùi cảm thương.

Cách kết cấu truyện nào cũng dẫn dắt người đọc đi từ những tình tiết thuận theo logic tâm lý thông thường của người đời nhưng rồi lại cho một kết thúc thật bất ngờ. Một kết thúc đẹp. Happy Ending. Tên truyện là Anh chàng họ Sở và đúng là hắn cũng trăng hoa bừa bãi nhưng có ai ngờ câu chuyện đã kết bằng một tình huống hoàn toàn bất ngờ: “Hắn” lấy người vợ hiện tại để có tiền mua thuốc thang chăm lo người vợ trước đang bệnh nằm liệt. Vậy thế nào là họ Sở? Kén chồng cho con, Nắng chiều, Buổi chiều ở thị trấn Sông Pha, Liễu Chương đài, Nhất Chi Mai… đều man mác cảm động những mối tình thuỷ chung hiếm hoi trong thời đại hôm nay. Bom đạn chiến tranh hay những nghiệt ngã giữa con người -con người có tàn bạo khủng khiếp đến đâu, tình yêu của những con người bị số phận cho gặp nhau, yêu nhau rồi trong vô tình của lịch sử lại đẩy họ xa nhau vẫn cứ lặng lẽ đi qua mọi giông bão, đợi chờ thương nhớ vượt qua cả cái chết, và họ đã gặp lại nhau, đã có lại nhau. Tuy chỉ là truyện ngắn nhưng dòng hồi ức trong nhiều truyện của Phạm Thành Châu còn có khả năng tái hiện những diễn tiến của cả một đời người. Lời tỏ tìnhBí mật của ông thầy Thọt, Nhất Chi Mai

Một đặc điểm đáng chú ý trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả Phạm Thành Châu mà tôi tạm gọi theo cảm nhận cá nhân là “thi pháp xù xì hoá” nhân vật. Các nhân vật nam cũng như nữ của ông hiện ra trong ngoại hình xấu xí, thô ráp, được gọi bằng những cái tên bình dân bình thường, những cái tên mang cả một quá khứ giang hồ, có khi gọi theo tiếng lóng: Tám, Năm, Ba Trợn, Năm Cụt, Tư Xập Xả…; họ xưng hô với nhau cũng dung tục, cộc cằn theo kiểu ngôn ngữ đường phố của những kẻ lây lất gầm cầu, đầu đường xó chợ, có khi pha  nghi kỵ dè chừng: mày-tao, tui-ông, tôi-hắn như một phản ứng lại cái xã hội nhiễu nhương tao tác. Có khi ông đổi sang giọng châm biếm giễu nhại tự trào trong Vợ tôi là nhà thông thái hay Tôi mơ làm nhà văn, Anh chàng họ Sở, Chua chát ngậm ngùi trong Lá số tử vi…Nhưng ẩn sau tất cả những điều xù xì xấu xí bên ngoài ấy, các nhân vật truyện ngắn Phạm Thành Châu lại tự thức tỉnh người đọc về ý thức nhân văn sâu sắc trong từng cử chỉ, hành động và cách ứng xử đầy ắp tình người. Tôi không sao quên anh chàng sinh viên năm thứ hai đã bán cả chiếc xe máy để có tiền chuộc em Hrao, giải thoát cảnh đoạ đày trong tay thằng anh rể-chồng độc ác mượn phong tục tập quán của bộ tộc ràng buộc tương lai em, cưới em làm vợ mà chưa có tiền nuôi, hẹn học xong sẽ cưới về ở chung. Thương sao, cuối cùng do bị lừa chồng đã chết mà Hrao nhịn ăn nhịn uống chết theo anh. Ấn tượng xù xì ấy còn được ngòi bút nhà văn dồn nén qua ngôn ngữ, cách ăn mặc, ăn nói của nhân vật “nó”. Hoàn cảnh bị đẩy ra đường hai mẹ con bán vé số, dắt mối sinh nhai. Bề ngoài “nó” ngang tàng, ăn mặc lôi thôi, ngôn ngữ đường phố, nhưng ẩn bên trong là tấm lòng đứa con có hiếu, sẵn sàng bán “cái ngàn vàng” để lấy mấy chỉ vàng phẫu thuật cho mẹ, trong khi nó ý thức vô cùng chuyện giữ gìn cái ngàn vàng ấy với bất kỳ ai. Câu kết đầy bất ngờ mà dễ thương nữ tính khác hẳn “nó” trước đây luôn phòng thủ dè chừng với nhân vật “tao” bán bánh mì là ân nhân cứu đói cho nó…khi biết ân nhân do sinh kế phải bỏ đi nơi khác ít lâu: ”Có thương em thiệt không?” Kết truyện dừng ở đó nhưng gấp sách lại lần này tôi không rơi lệ mà chợt ấm lòng khi nghĩ đến cảnh Ngọc- tên thật của “nó” rạng rỡ sánh vai cùng “tôi” chủ xe bánh mì thành một tổ ấm của yêu thương.

Vợ mua  một khởi đầu tưởng đơn thuần là thói đời hợm hĩnh qua chuyện mua bán của một lão Việt kiều sinh tật “trâu già gặm cỏ non” về Việt Nam kiếm vợ, cả thói hám lợi có vẻ đáng trách của người mẹ nhưng quá tâm lý thực tế với những người dân quê nghèo không chút tô son trát phấn màu mè che giấu, chấp nhận gả bán đứa con gái lớn cho Việt kiều để đổi căn nhà mặt phố và lũ con không còn ăn đói mặc rách, được học hành tử tế đàng hoàng… Đứa con gái chưa kịp lớn, như nụ hoa mới nhú đã trở thành vật hy sinh. Nhưng người đọc phải thật kiên nhẫn dõi theo từng tình tiết được kể theo diễn biến truyện, từ khi gặp lại, thấy cảnh nhà khốn khó của thằng bạn què học chung trường ngày xưa, một chút mánh khoé nhử lòng tham của con người để cưới được con nhỏ Quê, cưới được nó, đem nó qua Mỹ, chăm chút cho nó lẫn cung cấp gia đình nó mà không đòi hỏi bất cứ điều gì. Có lẽ Phạm Thành Châu đẩy câu chuyện đi quá xa hiện thực chăng? Làm gì có người bỏ cả chục ngàn đô mua vợ trẻ nào mà tâm thánh thiện đến thế! Kết thúc bất ngờ, sau bao năm trời cô Quê (bây giờ là Quế) cự tuyệt, một hôm lão uống rượu quá say, ngủ không còn biết trời trăng gì, “sáng hôm sau tỉnh dậy, lão giật mình thấy cô Quế nằm bên cạnh, một tay gác lên người lão, dụi đầu vào ngực lão. ngủ say”. Chất đẹp trong nhân vật Phạm Thành Châu gói trong vỏ xù xì của ngoại hình, của tính cách, của hành động, cử chỉ là vậy. Người đọc gấp sách lại chắc hẳn sẽ có những phút giây nhẹ lòng thư thái thở phào. Ừ, vậy mới công bằng.

Nhân vật của Phạm Thành Châu luôn giấu kín cái tâm, cái tình, cái đẹp trong phẩm cách con người đằng sau lớp vỏ xù xì ấy. Ai biết cả một biển trời xót xa thương cảm chất chứa bên trong mà tác giả dồn nén chỉ mở ra vào phút chót cho trái tim người đọc được chút ủi an “sau cơn mưa trời lại sáng”, thêm chút tin yêu vực dậy giữa khổ đau đi tiếp cuộc đời này…

Và những câu chuyện tình theo motif: ngày xưa ước hẹn/ trộm nhớ thầm thương- oái oăm-cách trở-lưu lạc/thất lạc-tái ngộ-xum vầy trong tác phẩm Phạm Thành Châu tuy ông nói nhân vật là có thật, nhưng ông đã hư cấu thêm thắt ở tình huống kết thúc truyện như truyện cổ tích ấy phải chăng cũng chính là một cách tự chữa lành những chấn thương mà hoàn cảnh lịch sử xã hội khiến họ bị đẩy vào tình thế tuởng chừng tuyệt vọng chỉ có thể tự giải thoát bằng cái chết.

Cái thi-pháp-xù-xì ấy phải chăng cũng là một cách tự bảo vệ mình trước những chấn thương nghiệt ngã, giông bão rình rập của đời? 

Anna Gotlib cho rằng “Chấn thương không phải là thứ virus để chữa chạy, không phải một câu chuyện để lãng quên, hay một nỗi buồn thẳm sâu cần phải được thay thế bằng một thứ lạc quan nông nổi. Những gì nó có thể làm là trở thành chất xúc tác cho nhiều câu chuyện khác nhau – những câu chuyện sâu sắc hơn về việc chúng ta là ai, chúng ta có giá trị như thế nào và làm sao chúng ta có thể sống “sau” chấn thương. Và những câu chuyện này không thuộc motif đi tìm hạnh phúc – chúng là câu chuyện về sự kiến tạo ý nghĩa, làm lại ý nghĩa.” (Anna Gotlib, 2021,“Trauma Unmakes the World of the Self. Can Stories Repair It?”). Vâng, diễn ngôn chấn thương trong truyện của Phạm Thành Châu và những giá trị nhân văn tác phẩm đem lại thật sự cũng là chất xúc tác để con người tự thức tự chữa lành sau những hồi ức chấn thương cá nhân-tập thể mà lịch sử đã xô đẩy chúng ta vào vòng xoáy hôm nay.

Viết, với Phạm Thành Châu như trở đi trở lại những hoài niệm thương nhớ đớn đau, như Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp chịu hình phạt phi lý suốt đời phải đẩy một khối đá lớn lên đỉnh núi, đứng nhìn khối đá lăn xuống chân núi, rồi phải hì hục đẩy lại hòn đá lên đỉnh, cứ như vậy, lặp đi lặp lại trong vô vọng và vô hạn. Phạm Thành Châu cũng vần lên lăn xuống cái tảng đá hồi ức mất mát tan tác vụn vỡ của từng phận đời sau 1975 mà không sao dứt được như một vết thương chưa bao giờ liền sẹo.

Viết, với Phạm Thành Châu cũng có nghĩa như một sự tự chữa lành những chấn thương quá lớn trong tâm hồn và thể xác không thể nào quên, không thể nào chấp nhận cái hiện thực nghiệt ngã chung riêng.

Viết, với Phạm Thành Châu, phải chăng cũng để làm vật chứng trước thời gian…

Sài Gòn, tháng 4.2023




dan nguyen

4:20 AM (2 hours ago)
to lengnamson@yahoo.comBinhKhieuhuuthieudvu@sbcglobal.netchuphungle@yahoo.com
Một trong những lý do mà chúng ta phải bỏ nước ra đi, chạy trốn Công sản và hậu qủa của cuộc chiến đau khổ ra sao thì dân Miền Nam ai cũng biết...
Đó là Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH đã qúa nhân đạo với bọn CS nằm vùng, bọn phản chiến, bài học còn đó, chẳng lẽ chúng ta vẫn còn "ngây thơ" như trước đây???
Nguyễn Kim Dần   ĐS8 - Canada

LE Van Tu

5:21 AM (1 hour ago)
to Nmh5475@aol.comledanngnamson@yahoo.comBinh
Về Đồng môn Phạm Thành Châu, xin đóng góp ít ý kiến :

1. Khác với Luật sư đoàn, Y sĩ đoàn hay một Hội có quy chế, các tổ chức đó có quy định các chuẫn mực tối thiểu mà một thành viên cần có nên họ có thể sử dụng biện pháp chế tài, còn các tổ chức cựu sinh viên QGHC cũng giống như Hội ái hữu (coi là tình đồng môn) nhưng khác hẳn là đều mặc nhận lập trường quốc gia chống cộng, uy tín của chúng ta đối với Cộng đồng gốc việt khắp nơi có được là nhờ lập trường này, vậy thành viên nào làm oen ố uy tín của tập thể thì các Tổ chức cựu sinh viên QGHC cần phải lên tiếng, nhưng bằng cách nào ?

2. Dùng từ « khai trừ » e không ổn, vậy dùng biện pháp gì ?

Thiển nghĩ các Hội nên công khai minh thị (có thể cả báo chí) là không tán thành lối hành xử của bạn PTC, đồng thời khẳng định lập trường quốc gia chống cộng của Tập thể, dĩ nhiên nếu PTC đang có vai trò nào trong BCH thì cần loại ra và thay thế.

3. Tuy nhiên trước khi có biện pháp nào, các hội cũng cần xác quyết sự thật, nêu rõ chứng tích thuyết phục (tránh theo những tin đồn suông).

4. Phụ thêm là chúng ta có nhiều Đồng môn sinh sống ở VN, họ phải tuân thủ pháp luật hiện hành ở trong xứ, nên chúng ta chỉ giới hạn vào quý Đồng môn gốc việt mà thôi (coi như không chấp nhận chế độ cộng sản –một biểu thị lập trường chống chế độ hiện nay).

Trân trọng,

lvt

____________


Tom Cao

10:34 AM (6 minutes ago)
to HNmehanhchanhmd

Kính thưa tất cả đồng môn QGHC 

Theo dõi tin tức trên Internet, chúng ta biết được việc bầu bán thành phần Ban Đại diện của một Hội csv QGHC là điều không ai quan tâm đến. Nhưng Hội Cựu sinh viên QGHC miền Đông đã và đang có vấn đề trong việc bầu cử Ban Đại diện vừa qua.
Vấn đề gì? Xin thưa đó là việc thành viên PTC được bầu làm trưởng ban báo chí của BCH Hội 
Lý do: Thành viên này đã về Việt Nam ra mắt sách mà anh ta đã viết.
Và đó là vấn đề bị cựu sinh viên QGHC phản đối, trong đó có tôi là Cao Xuân Thức.
Từ đây nãy sinh ra bất hòa.
Theo tôi có thể giải quyết vấn đề dễ dàng:
1- Thành viên PTC tự động rút lui khỏi trưởng ban báo chí Hội ; vì việc vác ngà voi có ai muốn mà anh PTC  bám víu làm gì ?  Do đó để Hội khỏi phải đau đầu, tốt nhất là người trong cuộc tự giải quyết.
2- Nếu không thì trách nhiệm để thu xếp cho êm đẹp là của hai anh chủ tịch: Chủ tịch Hội đồng Quản Trị Lê Hữu Em và chủ tịch Ban chấp hành Nguyễn Kim Hương Hoả .
Kính thưa hai anh chủ tịch 
Tôi không phải là thành viên của Hội nhưng tôi là một cựu sinh viên QGHC, và vì yêu tập thể QGHC nên tôi xin mạo muội nói ra như thế.
Có gì mạo phạm tôi xin lỗi nha 
Cao Xuân Thức 
Đốc sự hành Chánh hạng 3.

*(Mt68: Theo thiển nghĩ của chúng tôi Phạm Thành Châu rất khó tự giác, bởi vì PTC đã giải thích vấn đề ra mát sách theo chiều hướng khác. Khiến cho Hội Miền Đông tuyệt đối "tín nhiệm" ptc, theo anh TN Thăng cho biết thì Hội Miền Đông không có ai thắc mắc gì cả vì tin lời giải thích của ptc coi như không có gì " NGHIÊM TRỌNG" cả. Cho tới nay Hội M Đ đã chọn giải pháp NÍN THỞ QUA CẦU và PTC cũng đã mạnh tin KHÔNG AI LÀM GÌ ĐƯỢC hắn ta. Giải pháp Hội M Đ rút lại quyết định bổ nhiệm khó hy vọng và đáp số ptc tự động rút lui lại mờ mịt hơn !!!?./-tcl/Mt68)
___________