Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VanCongNQ36VC. Show all posts
Showing posts with label VanCongNQ36VC. Show all posts

Sunday, 28 August 2022

ĐÂY LÀ BẰNG CHỨNG ĐƯỢC TỰ VIỆT CỘNG XÁC NHẬN./-TC Lãnh

TRƯỚC KIA KHI HẢI NGOẠI BIỂU TÌNH CHỐNG VĂN CÔNG VIỆT CỘNG - BỌN NẰM VÙNG PHẢN ĐỐI VỚI LẬP LUẬN " CÁC CA SĨ ĐÂU PHẢI LÀ NGƯỜI CỦA VIỆT CỘNG HỌ CHỈ KIẾM TIỀN CÁ NHÂN".
QUA VĂN THƯ NẦY CHO THẤY "KHÔNG CÓ CA SĨ (NGHỆ SĨ) NÀO NẰM NGOÀI TỔ CHỨC HAY KIỂM SOÁT CỦA VIỆT CỘNG CẢ"- ĐÂY LÀ BẰNG CHỨNG XÁC ĐÁNG NHỨT DO VC XÁC NHẬN - KHÔNG XUYÊN TẠC HAY CHỤP MŨ GÌ CẢ./-TC Lãnh
__________________

TP.HCM nghiêm cấm các nghệ sỹ tự ý đi nước ngoài mà không xin phép.

Click image for larger version

Name:	245aac38617a8824d16b.jpg
Views:	0
Size:	14.1 KB
ID:	2103646  
Theo quy chế mới được ban hành, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh nghiêm cấm các nghệ sỹ tự ý đi nước ngoài mà không xin phép hoặc khi chưa được sự chấp thuận của lãnh đạo.Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định số 1673/QĐ-SVHTT về quy chế quản lý và xét duyệt công chức, viên chức, văn, nghệ sỹ khi đi công tác ở nước ngoài.

Nội dung gồm 22 điều, trong đó tại điều thứ 4 của quyết định, Sở Văn hóa và Thể thao nghiêm cấm các nghệ sỹ tự ý đi nước ngoài mà không xin phép hoặc khi chưa được sự chấp thuận của lãnh đạo.

Ngoài ra, nghệ sỹ không tự ý ở lại nước ngoài quá thời gian quy định; không sử dụng ngân sách Nhà nước để đi nước ngoài vào việc riêng; phải trung thực trong việc kê khai mục đích đi nước ngoài...

Nhấn mạnh về trách nhiệm, nghĩa vụ khi đi nước ngoài, Sở Văn hóa và Thể thao yêu cầu các nghệ sỹ phải có trách nhiệm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, chấp hành các quy định pháp luật của nước sở tại. Sau khi về nước, trong thời gian 7 ngày làm việc, nghệ sỹ phải báo cáo chuyến đi cho đơn vị trực thuộc.

Ngoài ra, quyết định cũng nêu rõ nghệ sỹ phải chấp hành luật pháp Việt Nam và luật pháp của các quốc gia (vùng lãnh thổ), giữ gìn hình ảnh quốc gia, dân tộc, báo cáo cho lãnh đạo khi ở quá thời gian xin phép... Trường hợp cá nhân nghệ sỹ gia hạn ở nước ngoài vì việc riêng phải làm đơn trình bày lý do, thời gian, cung cấp tài liệu liên quan gửi về đơn vị chức năng.

Trong trường hợp buộc phải ở lại do yếu tố khách quan, nghệ sỹ cần báo cáo cho lãnh đạo Sở và phòng, đơn vị đang công tác qua hộp thư điện tử công vụ, tin nhắn điện thoại hoặc các phương tiện, hình thức liên lạc khác, xác nhận được xin phép và nộp đơn ngay sau đó. Việc cho phép phải được đơn vị chức năng thể hiện bằng quyết định hành chính (thay vì qua trao đổi riêng).

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có số lượng các nghệ sỹ đi nước ngoài khá nhiều, trong đó có những nghệ sỹ đi nước ngoài để tham gia biểu diễn, làm việc. Việc ra quy chế sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị trực tiếp quản lý có cơ sở để giám sát, quản lý người lao động hoạt động khi đi nước ngoài, trong đó có nhiều đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh với đội ngũ nghệ sỹ đông đảo như Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang, Nhà hát Giao hưởng Nhạc vũ kịch (HBSO), Nhà hát ca múa nhạc dân tộc Bông Sen, Nhà hát nghệ thuật phương Nam...

Qua quy chế này, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh kêu gọi văn nghệ sỹ khi ra nước ngoài phải ý thức trách nhiệm công dân và giữ gìn hình ảnh người của công chúng, dù là nghệ sỹ thuộc khối công lập hay hoạt động tự do./.

Wednesday, 11 November 2015

VIỆT CỘNG KÊU GỌI NGƯỜI VIỆT HẢI NGỌAI XÓA BỎ "MẶC CẢM" VỀ VC CƯỚP CỦA , GIẾT NGƯỜI, CẮT BỎ BUỒNG TRỨNG CỦA CÁC NỮ HỘ LÝ ... VÌ CÁC TỘI ÁC ẤY DO HỒ CHÍ MINH BIỂU PHẢI LÀM NHANH, GỌN ĐỂ GIÀNH THẮNG LỢI./- Mt68

Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Khôi ‘’hồi đáp’’ chỉ thị 45/TƯ của CSVN sặc mùi trơ trẻn…
Nguyễn Ngọc Khôi
 Innebygd bilde 1
Lời bạt của Nguyễn Ngọc Khôi MD: Thư gửi VNEXPRESS về Nghị Quyết 36 và Chỉ Thị 45 của bộ chính trị cộng sản Việt Nam. Rất tiếc là tờ báo này của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nên không thể có cuộc đối thoại thẳng thắn, trực diện với họ. Họ không có quyền đối thoại ngay thẳng, thật thà với chúng ta.
Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần viết lên những nhận định riêng để rộng đường dư luận. Tôi không mong gì họ có phương tiện đọc được những dòng này. Hoặc có đọc thì cũng ngậm câm cái miệng, không thể trả lời, vì trả lời sao được khi (họ) còn là bồi bút cho chuyên chính độc tài và khoác loác ? Vậy xin phép anh em cho tôi được phép viết cho họ vài lời dù không mong gì họ có thể đọc.
Trước khi đọc bài trả lời của tôi dưới đây, xin quý vị cùng anh em xemChỉ thị số 45-CT/TƯ về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TƯ của bộ chính trị khóa 9 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới phía dưới (1)
oOo
Thư gửi Ông (Bà) Xuân Hoa VNEXPRESS
Tôi có cơ hội đọc bài đang trên VNEXPRESS ngày thứ ba, 26.5.2015 nói về việc bộ chính trị kêu gọi ngưởi Việt ở nước ngoài xóa bỏ mặc cảm, định kiến.
Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi bộ chính trị của các anh có gan viết những dòng điêu ngoa, giả nhân giả nghĩa này. Dù biết các anh không thể đọc những dòng tôi viết, tôi vẫn muốn nêu lên đây những lỗi sai ngữ vựng cùng văn phong của bộ chính trị các anh:
‘’Định kiến’’ ? Tại sao lại định kiến ? Tất cả những gì đảng cộng sản Việt Nam đã làm cho dân Việt khốn khổ còn đầy đủ tang chứng. Sao có thể gọi là định kiến. Nếu cộng sản Việt Nam thật tâm yêu nước, xóa bỏ hận thù, nếu đừng hứa đi học tập cải tạo 1 tháng rồi cầm tù kẻ thua trận hàng chục năm, xử tử hay bỏ họ đói thì ai cần phải có định kiến với cộng sản làm gì ? Nếu không thảm sát người dân Huế năm Mậu Thân thì ai cần giữ định kiến là người cộng sản tàn bạo hơn loài muông thú ? Ai cho phép các anh đòi hỏi chúng tôi khép lại quá khứ khi các anh giết người không gớm tay ? Đánh đập kẻ thù không thương tiếc ? Ai cho phép các anh đòi chúng tôi khép lại quá khứ khi hàng chục ngàn thương binh Việt Nam Cộng Hòa, cụt tay, cụt chân bị các anh đuổi ra khỏi các Quân Y Viện khi các anh vào chiếm miền Nam và cho đến bây giờ họ còn sống vất vưởng trên hè phố Sài Gòn, mà các anh đã đổi thành Thành Phố Hồ chí Minh.
Thành phố Hồ chí Minh, tên anh hùng của các anh sao có nhiều người khốn khổ đến như vậy ? Làm sao chúng tôi khép quá khứ khi các anh còn để những lở loét do chiến tranh gây nên còn vất vưởng trên đường phố Sài Gòn của chúng tôi ? Và cả trên mặt các anh nữa, với những lời tuyên bố ồn ào, đạo đức giả ? Ai cho phép anh khuyên chúng tôi quên quá khứ khi cán bộ của các anh lấy mỗi người hàng chục lượng vàng để làm lơ cho người liều chết bỏ xứ đi trên những con thuyền mỏng manh để rồi 90 phần trăm làm mồi cho cá mập ?
Ai cho phép các anh đòi hỏi chúng tôi phải bỏ định kiến khi mà những ngày đầu của phong trào Cải Cách Ruộng Đất, người nạn nhân đầu tiên bị xử bắn lại là một ân nhân của các anh, một người đàn bà ? Bà đã mang hết của cải, vàng bạc ra cúng ‘’Cụ’’ và ‘’Cách Miệng’’ của các anh. Chưa hết, khi bỏ hình hài của bà vào áo quan, bọn cán bộ mất dạy thay mặt các anh đứng lên thây người ta giộng xuống như bỏ vào va-ly. Các anh còn nhớ tên bà nạn nhân bất hạnh nay không hay các anh lâu ngày đã quên rồi ? Để tôi nhắc các anh: Đó là Bà Nguyễn Thị Năm, có cửa tiệm Cát Hanh Long ở Hải Phòng. Thời đầu cách miệng, Bà Năm nuôi ăn ở trong nhà những tên như Trường Chinh, Võ nguyên Giáp, Lê đức Thọ v.v...Thế mà chúng và ‘’Cụ’’ của các anh bất nhân bất nghĩa không cứu vớt. Lúc đó tôi mới 10 tuổi. Giờ đây, tôi trên 70. Thế mà tôi vẫn còn ‘’định kiến’’ đấy các anh ạ.
‘’Mặc cảm’’. Tại sao chúng tôi lại mặc cảm với các anh dù thua trận ? Người thành Athènes thua người thành Sparte, họ có mặc cảm đâu ? Vì văn hóa Athènes so với văn hóa Sparte một trời một vực. 25 thế kỷ rồi mà nhân loại vẫn nhắc Athènes và văn hóa của họ với những lời nể vì và quý trọng. Có ai nhắc tới văn hóa Sparte nữa đâu ? Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi hơn các anh nhiều lắm. Các anh cứ hỏi những chiến sĩ trong quân đội các anh khi vào đến Sài Gòn bị ngộp như thế nào khi đứng trước sự giàu có không những về vật chất mà về tinh thần của dân Sài Gòn ?
Lính của các anh khi vào đến Sài Gòn, chiếm nhà dân, thấy cái cầu tiêu ngồi của dân Sài Gòn, có chút nước phía dưới, bèn thả cá trong đó. Trình độ như vậy, việc gì chúng tôi lại mặc cảm với các anh ?
Khi Nguyễn minh Triết sang thăm Hoa Kỳ, được vào nhà Trắng, anh ta mặc một bộ âu phục nhưng vì lạnh, thay vì mặc áo choàng manteau, anh đánh một cái áo len bên trong, trông như ngố rừng mới ra tỉnh. Các anh thử kiểm soát lại cái hình chụp thời đó xem tôi nói có đúng không. Lại nữa, khi đi thăm Đại Học Harvard, đứng cạnh một bức tượng, ‘’ngài’’ còn với tay lên vịn chân bức tượng, giống như ‘’sến’’ của chúng tôi chụp hình hay có thói với tay vịn lên cành hoa.
Nguyễn tấn Dũng trang phục khá hơn. Nhưng khi sang thăm Pháp, lúc đó Thủ Tướng Pháp tên là Jean-Marc Ayrault. Khi đọc tiếng Pháp thì phải đọc ‘’Mác Ê Rô’’, Thủ Tướng nhà các anh lại đọc diễn văn gọi ông Thủ Tường Pháp là ‘’Monsieur Maquereau’’. Maquereau tiếng Pháp là Ma Cô. Đài truyền hình Pháp chế riễu Thủ Tướng các anh trong suốt một tháng. Tôi không trách Nguyễn tấn Dũng vì ông ta xuất thân là Y Tá của các anh (không phải Y Tá của chúng tôi giỏi hơn nhiều). Nhưng Trưởng Ban Nghi Lễ của các anh đâu ? Giáo Sư Tiến Sĩ, Phó Tiến Sĩ khét danh Ngoại Ngữ của các anh đâu mà để Thủ Tướng ứng xử thảm hại như vậy ? Mất thể diện Quốc Gia!
Các anh có bao giờ thấy Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu xử sự như vậy đâu ? Họ trang trọng, học thức hơn các ‘’vị lãnh đạo’’ của các anh nhiều. Vậy làm sao chúng tôi lại phải ‘’mặc cảm’’ với người cộng sản được ?
Chính quyền các anh cho tên thứ trưởng (tép riu) Nguyễn thanh Sơn sang Hoa Kỳ vận động ngoại giao người Việt Hải Ngoại. Khi được vô tuyến truyền hình phỏng vấn, hắn mặc mộ bộ đồ quần nọ áo kia, bụng phưỡn ra, áo hở cổ, không cà vạt (coi YouTube), ngồi vắt chân như anh hàng thịt. Thử hỏi các vị làm tại Bộ Ngoại Giao thời Đệ Nhất hay Đệ Nhị Cộng Hòa của nước tôi có dám trang phục như vậy mà còn mong giữ được việc không bị đuổi không ? Dĩ nhiên quen với phong tục trang nhã, chúng tôi có định kiến, chúng tôi không thể có mặc cảm với tên Nguyễn thanh Sơn, chỉ có thương hại.
Tội nghiệp cho Nguyễn thanh Sơn. Hắn ta cũng cố gắng làm theo nghị quyết số 36 của các anh. Cũng có thiểu số về thăm Trường Sa, Hoàng Sa với hắn (khi Trung Cộng đi ngủ không canh gác). Cũng có thiểu số đón gió bàn tới chuyện Hòa Hợp, Hòa Giải. Môi trường Dân Chủ nó thế. Không phải cái gì cũng phải ‘’nhất trí’’ như các anh. Nhưng chỉ là thiểu, thiểu số. Ngay trong báo các anh, các anh chỉ dám đăng lên hình các em du học sinh, con cháu các anh ở Nhật. Nhật Bản không phải là xứ người Việt tỵ nạn cộng sản di trú. Sao các anh không sang miền Nam California, hay miền Đông Hoa Thịnh Đốn, sang Đức, sang Pháp, nơi Nguyễn thanh Sơn hoạt động ráo riết ? Nơi có thật đông đồng bào tỵ nạn cộng sản ? Mỗi lần những nhân vật lãnh đạo các anh đến những nơi trên, đều được chúng tôi tiếp đón bằng cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tình phản đối. Chủ Tịch các anh, thằng Trương tấn Sang, không giết được chúng tôi, chúng tôi thoát khỏi gông cùm cộng sản, hắn trở mặt ‘’nhân nghĩa bà Tú Đễ’’ (tôi còn nhớ câu rất Bắc Kỳ này) cám ơn Tổng Thống Obama đã lo cho dân gốc Việt Nam. Đánh không xong, tha mày làm phúc. Ai nhờ nó (Trương tấn Sang) cám ơn Tổng Thống Mỹ ?
‘’Cùng hướng tới tương lai’’: Tương lai nào ? Có phải tương lai làm quận huyện cho quan thầy Trung Cộng không ? Hồ chí Minh, Võ nguyên Giáp lạy Mao Trạch Đông xin viện trợ. Nó gửi Trần Canh qua cố vấn, đánh trận Cao Bắc Lạng. Lã Quý Ba sang cố vấn chính trị, Vi Quốc Thanh sang điều khiển trận Điện Biên Phủ. Giờ này chúng đòi các anh trả nợ. Các anh nhường Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên) cho chúng khai thác Bauxite. Tỉnh nào cũng có đặc khu (nơi đặc biệt) cho Tàu Cộng. Người dân không có quyền bén mảng vào. Cả bãi tha ma của chúng cũng không được vào. Tương lai tối quá.
Chỉ có một lối thoát: Muốn xa Trung Cộng, phải lật đổ đảng cộng sản. Các anh khuyên chúng tôi ‘’nên tin cậy lẫn nhau’’ . Làm sao tin cậy các anh khi các anh bán nước cho Trung Cộng ? Thằng Nguyễn phú Trọng nó có lên tiếng chống Trung Cộng đâu ?
Cộng sản làm gì có tương lai. Người Ba Lan, Đông Đức, Hung Gia Lợi biết thế. Các anh không biết vẫn theo con đường cụt cộng sản. Làm gi có tương lai ? Làm gì có tương lai khi làm nô lệ cho Tàu Phù ?
‘’Chấp nhận những điểm khác nhau’’: Chu choa! Cộng sản chấp nhận quan điểm khác nhau từ hồi nào vậy ? Khởi đầu ‘’Cách Miệng’’ của các anh, người nạn nhân đầu tiên chỉ vì không cùng quan điểm với các anh là Thượng Thư Bộ Học Thượng Chi Phạm Quỳnh. Khi giết ông, các anh nhẫn tâm dùng xẻng đập vỡ đầu ông, các anh hành động như thú. Sau Phạm Quỳnh, biết bao nhiêu người bị các anh thủ tiêu chỉ vì không đồng quan điểm. ‘’Chấp nhận những điểm khác nhau’’ ...lại còn thêm ‘’không trái với lợi ích chung của dân tộc’’. Thế nào là không trái với lợi ích của dân tộc ? Ai định nghĩa thế nào là không trái với lợi ích của dân tộc ? Các anh, chúng tôi hay có Tối Cao Pháp Viện ? Mà các anh có Tối Cao Pháp Viện không nhỉ ? Vậy ai giải quyết khi các anh và chúng tôi không đồng ý ? Hay các anh lại dùng súng thủ tiêu chúng tôi ? Thật là viên thuốc độc bọc đường! Các anh nói cho Mỹ nó nghe, đừng nói với chúng tôi như vậy. Và có lẽ tôi đúng, các anh đang nói, hy vọng làm vừa lòng ông John Mc Cain, mới sang thăm các anh, ông Tổng Thống Obama với hy vọng nước Mỹ sẽ che chở cho các anh khỏi nạn phương Bắc. Sao các anh thơ ngây quá vậy. Hoa Kỳ và Trung Cộng có trò chơi riêng của cường quốc. Việt Nam chỉ là con chốt trên bàn cờ của họ
Rõ ràng, cách đây 10 năm, các anh đã đẻ ra Nghị Quyết 36 đối phó với người Việt tỵ nạn cộng sản. Các anh đã không thành công vì không ai tin các anh. Nay lại ra cái Chỉ Thị 45 này. Và rồi còn bao nhiêu Nghị Quyết, Chỉ Thị nữa ? 45, 57, 69, vân vân và vân vân ? Thôi các anh đừng tốn công. Với cố gắng của các anh đã có người dại nghe theo, mang tiền của về làm ăn với các anh, bị các anh lấy luật này luật nọ, tịch thu tài sản của người ta, họ lại mò về Mỹ. Có người mộng về hưu tại quê nhà. Khi đau vào nhà thương các anh, bị Bác Sĩ được các anh huấn luyện vòi tiền, cũng bèn mò về...Mỹ. Tôi biết có một Bác Sĩ rất thành công miền Bắc California, ông thành công và thừa tiền, chỉ muốn về giúp đỡ dân Việt. Ông bèn mua đủ mọi dụng cụ Y Khoa, đủ máy thông động mạch tim. Ít lâu sau, ông ta cũng bị các anh ‘’mời’’ ra đi vì có lẽ ông này ngoài việc giảng dạy chuyên môn, đã trót dạy và nói nhiều về Tự Do Dân Chủ ở Hoa Kỳ nhiều quá ?
Thôi các anh hãy để tên Nguyễn thanh Sơn trong cương vị thứ trưởng đi. Dù không được việc gì, đó không phải vì lỗi của hắn mà vì chúng tôi hết tin tưởng các anh. Các anh cứ để Nguyễn thanh Sơn trong công việc các anh giao phó. Ít nhất, hắn đã trở thành trò tiêu khiển của chúng tôi. Trưởng thành trong nôi của Việt Nam Cộng Hòa, không phải một quốc gia công an, trải qua 40 năm sống tại các nước dân chủ, làm sao các anh kiếm được người thuyết phục chúng tôi ? Chúng tôi sẽ dạy con cái về cái chính thể cộng sản công an của Cộng Hòa Chủ Nghĩa Xã Hội Việt Nam. Chúng sẽ dạt ra xa cho đến khi các anh tự chôn các anh với những lời láo khoét và tâm hồn chồn cáo. Rồi chúng sẽ về giúp lớp trẻ xây dựng lại một nước Việt Nam hùng cường, tư cách hơn, không học cái điếm đàng, ăn gian nói dối của Tàu Cộng.
Khi nào các anh có tự do viết những gì các anh nghĩ như tôi đang thoải mái viết lá thư này, các anh báo cho tôi biết, tôi sẽ lại vui lòng tiếp chuyện. Tôi không cấm được các anh viết cho người trong nước vì đó là phận sự do mấy tên đầu nậu Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang, Nguyễn tấn Dũng của các anh giao phó. Nhưng khi các anh viết như thế này mà gửi ra ngoại quốc, con vẹt JoJo (tôi nuôi con vẹt Phi Châu xám rất giỏi nói tiếng người) của tôi nó kêu lên ‘’Khỉ ơi, xạo quá!!’’. Thôi, xin các anh đừng lấy vải thưa che mắt thánh nữa (lại một câu rất Bắc tôi còn nhớ).
Chào các anh,
Nguyễn Ngọc Khôi, SVHD16
oOo
(1) Bộ chính trị ban hành chỉ thị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới
LTS của báo VNexpress- Ngày 19-5-2015, Bộ chính trị ban hành Chỉ thị số 45-CT/TƯ về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TƯ của Bộ chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TƯ, ngày 26-3-2004 của Bộ chính trị (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 36), công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều tiến bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng. Đã góp phần tích cực vào việc tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ, động viên người Việt Nam ở nước ngoài nâng cao ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương đất nước, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào nước sở tại.
Đến nay, một bộ phận lớn bà con đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội nơi họ đang sống và làm việc. Tiếng Việt được sử dụng là ngôn ngữ chính của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài song hành cùng tiếng nói của nước sở tại. Bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc Việt Nam được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tiếp theo. Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng nâng cao, thực sự là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là cầu nối quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước sở tại, đồng thời góp phần tích cực xây dựng quê hương, đất nước.
Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết 36 thời gian qua còn một số hạn chế, bất cập. Việc ban hành và thực hiện một số cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài bảo tồn, phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa của dân tộc và góp phần xây dựng đất nước còn chậm, chưa đồng bộ, kết quả còn hạn chế. Một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài chưa có địa vị pháp lý ổn định. Một số bà con vẫn còn giữ thái độ định kiến, mặc cảm, một số ít người còn có tư tưởng, hành động không phù hợp với lợi ích dân tộc.
Những hạn chế, bất cập trên, chủ yếu là do một số cơ quan Trung ương và địa phương nhận thức chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, thống nhất về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan trực tiếp làm công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài phối hợp chưa chặt chẽ, còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức, cán bộ và kinh phí cho công tác này chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Trong quá trình nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục gia tăng cả về số lượng và địa bàn cư trú, có cuộc sống ngày càng ổn định, có tiềm lực về tri thức và kinh tế, có vị trí và ảnh hưởng trong xã hội nước sở tại. Tình hình quốc tế, trong nước và những yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời gian tới đòi hỏi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần được tăng cường, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục phát triển vững mạnh, nâng cao uy tín, tham gia tích cực vào việc tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước sở tại, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập, Bộ chính trị yêu cầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả những chủ trương, phương hướng công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã nêu trong Nghị quyết 36, đồng thời, tập trung thực hiện thật tốt những nội dung trọng tâm sau:
1- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục thể hiện đầy đủ và phát huy tốt truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung…, xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2- Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tăng cường hơn nữa sự gắn bó của người Việt Nam ở nước ngoài với đất nước. Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích, tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Tiếp tục quan tâm, sớm có giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trên tinh thần cởi mở, chân thành, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Kiên trì vận động, thuyết phục những người còn giữ định kiến, mặc cảm.
3- Người Việt Nam ở nước ngoài là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống. Phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú. Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh, người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài.
4- Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, phương hướng và nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết 36, đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài khi về Việt Nam sinh sống và làm ăn, sớm cấp lại quốc tịch cho những người có đủ điều kiện, tạo thuận lợi hơn nữa trong việc sở hữu nhà ở tại Việt Nam, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, đầu tư, chuyển, nhận và sử dụng kiều hối.
Thường xuyên tổ chức cho người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp ý kiến và tham gia vào các sự kiện chính trị-xã hội lớn của đất nước.
5- Rà soát, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật tạo hành lang pháp lý thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về đầu tư, sản xuất kinh doanh, góp phần vào thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ từ các nước vào Việt Nam và thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài. Có chính sách thu hút, sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực thiết yếu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
6- Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, hỗ trợ dạy và học tiếng Việt hiệu quả, sớm triển khai chương trình, dạy tiếng Việt qua mạng phù hợp với từng địa bàn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu văn hóa, tinh thần của bà con theo truyền thống dân tộc và phù hợp với đặc thù, pháp luật của nước sở tại.
7- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại bằng nhiều hình thức phù hợp (các kênh phát thanh, truyền hình phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài, phát thanh, truyền hình đối ngoại, truyền hình qua mạng IPTV hoặc hệ thống truyền hình của nước sở tại…). Tranh thủ, phát huy các phương tiện truyền thông của cộng đồng nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho người Việt Nam ở nước ngoài về tình hình đất nước và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Thông qua người Việt Nam ở nước ngoài, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền và vận động bạn bè quốc tế.
8- Đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả các hình thức tập hợp, vận động người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là thế hệ trẻ, mở rộng vận động, tiếp xúc những cá nhân có uy tín, ảnh hưởng lớn trong cộng đồng. Nghiên cứu xây dựng chính sách, hỗ trợ các tổ chức hội đoàn, lực lượng nòng cốt trong cộng đồng, nghiên cứu thí điểm công nhận các chi hội người Việt Nam ở nước ngoài là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam...Đẩy mạnh công tác khen thưởng người Việt Nam ở nước ngoài có công với đất nước và công tác cộng đồng.
9- Kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế phối hợp triển khai công tác về người Việt Nam ở nước ngoài từ Trung ương đến địa phương theo nguyên tắc thu gọn đầu mối, rõ ràng, rành mạch về chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, không làm tăng biên chế.
Kiện toàn bộ máy Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng chuyên sâu, làm tốt vai trò cơ quan tham mưu, thống nhất quản lý công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
10- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo rà soát, bổ sung, sửa đổi, xây dựng mới các văn bản pháp luật và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài.
Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo ban hành và tổ chức thực hiện ‘’Chương trình hành động về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36- NQ/TƯ của Bộ chính trị khoá IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2015-2020’’.
Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy các đơn vị sự nghiệp Trung ương và cấp ủy trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, tổ chức phổ biến, quán triệt và xây dựng kế hoạch triển khai, định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị.
Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng ủy Ngoài nước, Ban Đối ngoại Trung ương và các ban, ngành, đoàn thể liên quan và các cấp ủy địa phương tổ chức phổ biến Chỉ thị này đến cán bộ, đảng viên, nhân dân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, chịu trách nhiệm giúp Bộ chính trị, Ban Bí thư theo dõi, định kỳ tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị.
Chỉ thị này được phổ biến, quán triệt đến chi bộ để thực hiện.

Wednesday, 1 July 2015

Hữu Nguyên Phỏng vấn Ông Lê Phụng về Nghị Quyết 36 VC Hữu Nguyên (huunguyen@saigontimes.org) 


Cuối tháng 5 và suốt tháng 6.2015, toàn bộ mạng lưới lãnh đạo đảng, chính quyền và truyền thông VC, từ trung ương đến địa phương, trong nước cũng như hải ngoại, đều thi nhau học tập và phổ biến "chỉ thị số 45-CT/TW" do Bộ Chính trị VC ban hành, với nội dung then chốt: "Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị Quyết 36 đối với người Việt ở nước ngoài trong tình hình mới". Để có thể góp phần nhỏ bé trong việc đối phó với âm mưu, thủ đoạn của VC, sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng Quý vị, bài phỏng vấn ông Lê Phụng, đăng trên báo Saigon Times Úc Châu ngày 8.4.2004, ngay sau khi VC ban hành Nghị Quyết 36. Hy vọng, qua bài phỏng vấn cách đây 11 năm, cùng với những gì đã xảy ra trong cộng đồng người Việt hải ngoại suốt thời gian qua, Quý vị sẽ thấy rõ, chính sự thâm độc của VC, ĐÃ VÀ TIẾP TỤC LÀ NGUYÊN NHÂN, gây nên tình trạng bạn thù "sớm nắng chiều mưa", cùng sự phân hoá và băng hoại của một cá nhân, tổ chức, trong cộng đồng người Việt hải ngoại. 

LGT: Trước khí thế đấu tranh ngày càng lớn mạnh, cùng những chiến thắng vô cùng ý nghĩa qua chiến dịch Vinh Danh Cờ Vàng của cộng đồng người Việt tại Mỹ, và chiến dịch chống VTV- 4 của cộng đồng người Việt tại Úc trong thời gian gần đây [2004], tà quyền VC đã nhận ra sức mạnh to lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại, và nguy cơ của chế độ trước làn sóng đấu tranh giành tự do dân chủ đang dồn dập đổ vô VN từ khắp nơi trên thế giới. Nhằm cứu nguy chế độ, ngày 26 tháng 3 vừa qua, VC đã cho công bố Nghị Quyết 36 do Phan Diễn ký. 

Theo lời ông Lê Phụng, Phan Diễn là một trong hai người con trai của Phan Thanh, người đầu tiên do đảng cộng sản Đông Dương giật dây ra tranh cử và đắc cử Viện dân biểu Trung Kỳ vào năm 1937. Chính thời đó, cụ Ngô Đình Diệm và cụ Ngô Đình Khôi đã nhận ra chân tướng VC của Phan Thanh. Riêng Phan Diễn, người được mô tả là nham hiểm, nét mặt thâm trầm, lông mày cúp, có tướng gian thần. Trước đây Phan Diễn từng là bí thư thành uỷ Đà Nẵng, và hiện y có chân trong Ban bí thư và là Trưởng ban chỉ đạo trung ương đảng VC. Để có thể hiểu được phần nào âm mưu của VC đối với cộng đồng người Việt hải ngoại qua Nghị Quyết 36, Sàigòn Times xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bài phỏng vấn Ông Lê Phụng, được thực hiện vào tối Thứ Hai, 5.4.2004 [...]. 

SGT: Kính thưa ông Lê Phụng, ngày 26 tháng 3 vừa qua, Bộ chính trị VC đã cho công bố Nghị Quyết 36 để đặc biệt đối phó với người Việt hải ngoại. Ông đánh giá Nghị Quyết này như thế nào? 

Ông L.Phụng: Thưa ông, nguyên văn tên của nghị quyết này là “Nghị quyết số 36-NQ/TƯ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, do Phan Diễn, Uỷ viên bộ chính trị VC ký vào ngày 26/3. Nghị quyết này chỉ là một trong những bước VC đã thông qua trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ lần thứ 7 khoá IX. Như vậy có nghĩa, Nghị quyết 36 chỉ là bề nổi, mang nội dung tuyên truyền, mỵ dân, đánh lừa dư luận trong nước cũng như hải ngoại. Còn thực chất bên trong, ta phải hiểu, Nghị quyết 36 là bước đi kế tiếp của VC trên con đường theo đuổi mục tiêu lũng đoạn, thao túng cộng đồng người Việt hải ngoại, để bóc lột tối đa chúng ta trên 3 phương diện chính yếu: Kinh tế, trí tuệ và ảnh hưởng chính trị của chúng ta đối với quốc gia sở tại. Để hiểu rõ hơn điểm này, tôi xin thưa là trong buổi phỏng vấn vào cuối tháng 3 vừa qua, do phóng viên Cẩm Hà của báo Tuổi Trẻ ở Việt Nam thực hiện, Nguyễn Phú Bình, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao VC kiêm chủ tịch cái gọi là “Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài”, cũng đã lên tiếng thú nhận, “đây là lần đầu tiên một nghị quyết toàn diện về công tác người Việt ở nước ngoài được phổ biến công khai”. Qua lời thú nhận của Nguyễn Phú Bình, ta đủ thấy, trước đây, những cái gọi là “nghị quyết về công tác người Việt ở nước ngoài” của bộ chính trị VC đã có, và có rất nhiều, nhưng chúng được phổ biến bí mật. Còn riêng lần này, thì VC cho phổ biến Nghị quyết 36 công khai. Vì vậy, tuy Nghị quyết 36 của VC được “phổ biến công khai lần đầu tiên”, nhưng thực chất, nó là bước tiếp nối của đường lối bành trướng của VC tại hải ngoại. Nói cách khác, trên bề nổi, Nghị quyết 36 có vẻ là bước ngoặt chiến lược của CS. Nhưng bề chìm, ta phải thấy nó chỉ là bước ngoặt chiến thuật nằm trong đường lối chiến lược của VC là nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại, mà ta đã biết từ lâu. Và trong đấu tranh với CS, tôi nghĩ là chúng ta phải có đủ khả năng, nhìn xuyên qua những gì kẻ thù “phổ biến công khai” để thấy được, những âm mưu mà kẻ thù muốn che giấu, cũng như những gì kẻ thù VC đang âm thầm làm. 

SGT: Nếu ông cho đây là bước ngoặt chiến thuật của VC, thì nguyên nhân nào khiến VC phải áp dụng bước ngoặt này? 

Ông L.Phụng: Tôi nghĩ nguyên nhân đầu tiên là do lòng tham không đáy của VC. Cụ thể là về kinh tế, VC muốn người Việt hải ngoại phải gửi tiền về Việt Nam nhiều gấp bội so với hiện nay. Như ông đã biết, hiện nay [theo thống kê năm 2003] số tiền người Việt hải ngoại gửi về Việt Nam trung bình mỗi năm trên dưới 3 tỷ Mỹ kim. Đây là số tiền khổng lồ so với ngân sách của VC. Nhưng số tiền này chỉ bằng phần rất nhỏ so với tổng lợi tức trên dưới 50 tỷ của cộng đồng người Việt hải ngoại. VC biết rõ số tiền khổng lồ này nên chúng muốn trong những năm tới, phải tìm mọi cách để gia tăng gấp bội số tiền người Việt hải ngoại gửi về Việt Nam. VC cũng biết là số tiền khổng lồ người Phi Luật Tân ở hải ngoại gửi về nước mỗi năm chiếm 35% tổng số lợi tức của họ, nên VC tính toán phải tìm đủ cách để trung bình mỗi năm người Việt hải ngoại cũng phải gửi về VN từ 20% cho đến 30% tổng số lợi tức 50 tỷ đó. Nghĩa là thay vì VC chỉ nhận được mỗi năm 3 tỷ như hiện nay, VC muốn mỗi năm người Việt hải ngoại phải gửi cho chúng từ 10 tỷ đến 15 tỷ. Còn về đầu tư của người Việt hải ngoại tại Việt Nam thì có thể nói là cho đến nay, con số đó rất ít ỏi, và VC đã nhận ra sự thất bại của họ trong lĩnh vực này nên Nghị quyết 36 của chúng chính là nhằm giải quyết những thất bại của chúng trong đầu tư. Nguyên nhân kế tiếp là VC muốn thông qua Nghị quyết 36, tạo cho người Việt hải ngoại, nhất là thành phần khoa bảng, trí thức, có ảo tưởng là họ sẽ có được cơ hội đầu tư trí tuệ tại Việt Nam để phụng sự đất nước và dân tộc. Những ai mắc vô ảo tưởng này sẽ bị VC lợi dụng tiền bạc và trí tuệ của họ ngay tại quốc gia sở tại, VC sẽ biến họ trở thành một động lực chính trị, hậu thuẫn cho VC trong các mối bang giao song phương cũng như đa phương trên thị trường quốc tế.

 Những năm trước đây, VC đặt trọng tâm khai thác người Việt hải ngoại trên phương diện kinh tế thuần tuý và trực tiếp qua việc gửi tiền và đầu tư tại VN. Nhưng trong bối cảnh mở cửa bang giao với quốc tế hiện nay, VC nhận ra sức mạnh vô cùng to lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại nếu chúng buộc được cộng đồng đó hậu thuẫn cho chúng. Chính trong phần nhận định về người Việt Nam ở hải ngoại, Nghị quyết 36 đã nêu rõ, tôi xin được trích nguyên văn ở đây: “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.” Qua đoạn tôi vừa trích, ta thấy VC đã nhìn thấy sức mạnh chính trị của người Việt hải ngoại, nhất là thành phần trí thức, và VC cũng nhận thấy, nếu để thành phần trí thức này về VN thì không có lợi cho VC bằng để họ lại ở hải ngoại. Nhưng để có thể nắm được thành phần trí thức tại hải ngoại thì VC phải dùng tới miếng mồi quốc gia, dân tộc, tình đồng hương, đồng song, và những đói khổ của người Việt trong nước phải được VC bi thảm hoá tối đa. Có như vậy chúng mới đánh thức được những tấm lòng cao thượng của trí thức VN hải ngoại và lôi kéo được họ. Và nếu để ý một chút, ta sẽ thấy đúng như quý báo đã có lần đề cập cách đây không lâu, là mấy năm gần đây, có một số nhà khoa bảng của người Việt hải ngoại đã viết bài, vận động hành lang, hậu thuẫn cho VC những khi VC có xung đột giao thương với quốc gia nơi có người Việt cư ngụ, tỷ dụ như tranh chấp với Mỹ về cá basa, về tôm đông lạnh, hay VC kiện một số công ty Mỹ đòi “bồi thường về hậu quả” của chất độc da cam (agent orange) trong thời gian gần đây chẳng hạn. Nhưng đó chỉ là hiện tại. Tương lai, VC tính toán một khi chúng nắm được cộng đồng người Việt hải ngoại, chúng sẽ buộc cộng đồng chúng ta phải vận động chính quyền sở tại hậu thuẫn cho những buôn bán có lợi cho VC. Những vận động này sẽ được VC sử dụng qua nhiều hình thức kể cả việc buộc người Việt hải ngoại biểu tình hậu thuẫn cho VC. Tôi nói vậy là có cơ sở vì năm ngoái, ở Mỹ, chính toà đại sứ VC đã có dự tính vận động một số người Việt làm ăn với VC tổ chức cuộc biểu tình chống lại chính quyền Mỹ để bảo vệ thị trường cho cá basa của VC nhập cảng... Nguyên nhân thứ ba khiến VC phải cho công bố Nghị quyết 36 là do những thất bại của VC trong việc xâm nhập vô cộng đồng người Việt hải ngoại. Nửa thế kỷ trước, ở Việt Nam do trình độ dân trí thấp, hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm, cùng những hậu thuẫn của quốc tế CS, nên VC chỉ mất có 10 năm để cướp Miền Bắc, và 20 năm để cướp Miền Nam. Vậy mà từ 1975 đến nay [2004] đã gần 30 năm, trong khi VC chúng có cả một guồng máy chính quyền, công an, quân đội, tiền bạc bóc lột được của 80 triệu dân, cộng thêm tư thế ngoại giao của VC trên chính trường quốc tế, nhưng cho đến nay VC vẫn bó tay bất lực, chưa thao túng được 3 triệu người Việt hải ngoại. Bằng chứng là bất cứ khi nào, hễ có lãnh đạo VC mon men đến bất cứ quốc gia nào, chúng cũng đều bị người Việt chúng ta biểu tình, chống đối, làm cho chúng phải cắm đầu chui cửa hậu. Rồi điểm quan trọng nữa là chiến thắng ngày càng dồn dập trong chiến dịch vận động Cờ Vàng tại Mỹ, và chiến thắng mới đây của cộng đồng người Việt tự do tại Úc qua cuộc vận động không cho đài SBSTV chiếu chương trình VTV4 của CS. Chính những chiến thắng này đã khiến VC nhận ra lỗi lầm nghiêm trọng của chúng là chúng đã đánh giá nhầm lập trường và sức mạnh chính trị của cộng đồng người Việt yêu nước hải ngoại. Nhận ra nhầm lẫn này nên trong phần II, “Chủ trương và phương hướng công tác đối với người VN ở nước ngoài trong thời gian tới”, Nghị quyết 36 của VC cũng ghi rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.” Nhận định đó chứng tỏ rõ ràng, VC muốn sử dụng sức mạnh chính trị của cộng đồng người Việt hải ngoại hậu thuẫn cho chính sách ngoại giao của VC. SGT: Theo ông, khả năng VC thực thi Nghị quyết 36 sẽ đến đâu? Ông L.Phụng: Theo tôi, nếu chúng ta biết cảnh giác và đoàn kết thì khả năng thực thi Nghị quyết 36 của VC rất hạn chế. Lý do là kể từ sau 1975, ngày càng đông người Việt trong nước cũng như hải ngoại hiểu rõ bộ mặt thật của VC. Vì vậy, mọi trò mỵ dân rẻ tiền, hay mua chuộc, dụ dỗ của VC đối với đại đa số người Việt đều không có hiệu quả như trước 1954 ở Miền Bắc, và trước 1975 ở Miền Nam và hải ngoại. Tôi nhớ là trong những năm của thập niên 1960, VC đã dụ dỗ cả chục ngàn Việt kiều ở Pháp, Tân Thế Giới (New Caledonia), bán nhà cửa, gom góp tiền bạc, của cải về Miền Bắc “xây dựng đất nước”, mà thực tế là ai về cũng bị VC cướp trắng tay. Điều này có rất nhiều người Việt tỵ nạn ra đi từ Hà Nội, Hải Phòng biết rõ. Tôi có quen một người bạn, trước làm đầu bếp ở khách sạn Le Meridien Noumea, bên Tân Thế Giới, ông có cả một sản nghiệp vững vàng. Đến khi nghe lời VC về Hải Phòng, bị VC cướp tất cả, mới tỉnh ngộ, sau này lại vượt biên sang Mỹ. Nói chuyện này để quý vị thấy trước đây VC dễ lừa, còn bây giờ thì rất ít người bị VC lừa. Bây giờ, người Việt dù bất cứ ai, ở bất cứ đâu, nếu đã có lòng yêu nước chân thành, cũng đều hiểu rõ, họ luôn luôn là một bộ phận của dân tộc VN, chứ vĩnh viễn không bao giờ là bộ phận của VC. Người Việt hải ngoại có thể gửi tiền về VN giúp đỡ gia đình, sửa sang mồ mả ông cha, giúp đỡ người nghèo khổ, hay chính họ về thăm quê hương, nhưng không khi nào họ bị VC tuyên truyền. Bằng chứng rõ ràng là cuối năm ngoái, chỉ riêng thành phố Sydney đã có 13,000 người đại diện cho cả chục ngàn gia đình người Việt biểu tình chống VTV4 của VC thì ta đủ hiểu, trong thâm tâm, không có người Việt nào ưa chế độ VC. Nói vậy có nghĩa là VC càng ra nghị quyết, càng mưu mô, tung thủ đoạn để tấn công người Việt hải ngoại bao nhiêu, thì người Việt hải ngoại càng cảnh giác, càng tăng cường sức đề kháng, chống đối VC quyết liệt bấy nhiêu. SGT: Như vậy, bên cạnh dã tâm và tham vọng của VC, ông còn thấy Nghị quyết 36 là bằng chứng cho thấy sự thất bại của CSVN? Ông L.Phụng: Vâng, trên phương diện nào đó, tôi nghĩ đó là một dấu hiệu chứng tỏ VC đã thất bại trong âm mưu lừa đảo cộng đồng người Việt hải ngoại. Vì thất bại, nên VC phải cho ra đời Nghị quyết 36. Tuy nhiên, những bất lợi này sẽ được ta khai thác đến đâu, còn tuỳ thuộc vào sự cảnh giác, tinh thần đoàn kết và khả năng vận động sức mạnh chống cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Hay nói đúng hơn, bên cạnh những dấu hiệu cho thấy sự thất bại của CS, Nghị quyết 36 còn báo hiệu những thủ đoạn nguy hiểm mới của VC đối với cộng đồng người Việt hải ngoại. Thường thì sau khi bị thua cuộc, bị thất bại, chắc chắn VC sẽ tàn nhẫn hơn, thủ đoạn hơn, và nguy hiểm hơn. Vì vậy, chúng ta phải cảnh giác và đoàn kết để đối phó với Nghị quyết 36 này của VC. SGT: Thưa ông, VC sẽ tàn nhẫn hơn, thủ đoạn hơn và nguy hiểm hơn, ở chỗ nào? Ông L.Phụng: Cảm ơn ông đã hỏi câu hỏi này. Sự thực thì phần lớn những điều được VC đề cập trong Nghị quyết 36 đều là những điều được VC âm thầm thực hiện trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cũng có những điều ghi trong Nghị quyết 36, VC đã muốn tay chân của chúng ở hải ngoại làm từ lâu nhưng tay sai của chúng không làm được, nên trong giai đoạn tới, VC sẽ tạo nhiều áp lực, đồng thời gia tăng tiền bạc mua chuộc, để buộc họ phải làm. Tôi lấy thí dụ như trong Nghị quyết 36, ở phần II, mục 2, có câu ghi là VC sẽ vận động những thành phần thân cộng “chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc”. Ở mục 4 phần III, “Nhiệm vụ chủ yếu”, cũng có đoạn ghi là VC sẽ buộc thành phần thân cộng “Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta”. Rồi cũng ở phần III, mục 5, có đoạn ghi là VC sẽ “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. 

Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài”. Đặc biệc, cũng ở phần III, mục 7, Nghị quyết cũng ghi rõ là VC sẽ “Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước”... Như vậy, qua những điểm tôi vừa nêu, ta sẽ thấy, trong giai đoạn tới, cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ phải đối diện với một số khó khăn quan trọng. Thứ nhất, là mức độ trà trộn của thành phần thân cộng trong cộng đồng sẽ gia tăng. Từ giai đoạn ẩn nấp, né tránh cộng đồng trước đây, nay hàng ngũ thân cộng sẽ được lệnh trà trộn, gia tăng sự hiện diện trong các sinh hoạt của cộng đồng, để qua giao tiếp, chúng sẽ khiến ta cả nể, ngại ngùng, thậm chí e sợ, không dám trực tiếp lên tiếng đấu tranh với chúng. Từ những giao tiếp này, chúng sẽ mượn cớ vì lợi ích chung của đất nước, của dân tộc, để lôi kéo người này người nọ đi theo xu hướng xoá bỏ hận thù, quên lãng quá khứ, bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Chúng cũng sẽ mượn bình phong “lợi ích dân tộc”, “bảo vệ sự ổn định của cộng đồng”, “chống gây phân hoá”... để rồi chúng sẽ “chủ động tấn công” công khai với ta trên các cơ quan truyền thông do chúng hỗ trợ, nuôi dưỡng. Thứ hai, VC sẽ chọn người “thích hợp” với từng người để chủ động tiếp xúc, mua chuộc dụ dỗ, hoặc tạo áp lực. Chúng sẽ thực hiện đường lối này đối với những người có lập trường chống cộng kiên định, những người mà Nghị quyết 36 cho là “còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta”. Thứ ba, VC tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là một âm mưu vô cùng nham hiểm của VC, nhằm tạo mối quan hệ “ra vẻ” tình người, tình quê hương đất nước, giữa giới trẻ trong nước với giới trẻ hải ngoại, để qua đó, dần dần đưa giới trẻ hải ngoại vô quỹ đạo của VC. Thứ tư, VC đã biết đưa ra chiêu bài “giúp người Việt hải ngoại hội nhập, thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp sở tại”. Đây là chiến thuật nguy hiểm nhất trong Nghị quyết 36 để VC một mặt tiếm danh đại diện cộng đồng người Việt, mặt khác mua chuộc sự hậu thuẫn từ chính quyền nơi người Việt hải ngoại sinh sống. Để làm điều này, VC sẵn sàng thực hiện những thủ đoạn như bỏ tiền, bỏ của, bỏ công sức để "đóng góp" với chính quyền địa phương, tiểu bang, liên bang... hoặc giả vờ bảo trợ các chiến dịch từ thiện của quốc gia bản xứ, giả vờ thực hiện những chiến dịch “giúp đỡ” người Việt hải ngoại. Đây là sự đầu tư “thả con tôm bắt con cá” của VC. Thông qua những giúp đỡ có vẻ “bất vụ lợi” hoặc làm ra vẻ “thiện nguyện” đó, VC sẽ có được sự hậu thuẫn của chính quyền sở tại. Rồi chúng sẽ dùng uy tín của chính quyền sở tại, tạo sự hiện hữu của chúng trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Kế tiếp, VC sẽ xảo quyệt dùng sức mạnh của cộng đồng người Việt hải ngoại tạo áp lực với dân biểu và chính quyền địa phương, để bảo vệ quyền lợi giao thương cho VC. Khi đó, chính quyền sở tại nhận ra âm mưu của VC thì đã muộn. Thứ năm, điểm bất lợi quan trọng nữa là, cũng trong phần III, ở điều 5, VC nêu rõ, “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt”. Qua điều này ta thấy VC quyết tâm bằng mọi giá, chiếm lĩnh tâm hồn và trí tuệ thế hệ trẻ VN hải ngoại. Đây là điểm đáng lo ngại nhất, nếu cộng đồng chúng ta không có được những đường lối cụ thể và kịp thời, trong việc biên soạn và giảng dậy tiếng Việt cho con em. Và như vậy thì quả thực những người Việt khoa bảng, trí thức cùng các vị lãnh đạo trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đã không làm tròn bổn phận đối với lương tâm và lập trường của 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại cũng như 80 triệu người Việt trong nước. SGT: Xin hỏi ông câu cuối. Từ 1975 đến nay đã gần 30 năm. Trải qua thời gian tương đối dài đó, một số người Việt có ảo tưởng cho rằng VC đã phần nào thay đổi đỡ độc ác hơn. Nhận xét đầy ảo tưởng này sai ở chỗ nào? Ông L.Phụng: Bề ngoài mà nói, VC tỏ vẻ thay đổi để đánh lừa dư luận, nhưng bản chất vô luân và tàn ác của VC thì chắc chắn là không. Tôi nói vậy có nhiều người cho tôi là cực đoan. Xin thưa, tôi không hề cực đoan chút nào. Là những người tham gia một tổ chức đấu tranh suốt hơn chục năm, chúng tôi luôn luôn mềm mỏng và uyển chuyển trong cuộc đấu tranh với CS. Nhưng khi tôi nói, về bản chất, VC không hề thay đổi, là tôi nói đúng với sự thực về con người CS. Nếu những ai có ảo tưởng cho rằng VC thay đổi, xin những người đó mở to mắt mà nhìn cho kỹ, chịu vểnh tai ra mà nghe cho kỹ, và chịu khó dùng trí khôn của mình mà suy nghĩ cho kỹ, thì họ cũng sẽ đồng ý với tôi, VC không những không bớt độc ác, mà còn độc ác, tàn nhẫn thủ đoạn, phản bội… hơn xưa gấp bội. Chính những người VC cao cấp nhất, như Trần Bạch Đằng, Võ Nguyên Giáp, Mai Chí Thọ, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên... trong giai đoạn gần đây cũng đều thi nhau lên tiếng tố cáo những tội ác của VC. Rồi ngay cả Dương Thu Hương, người đã từng là đảng viên cộng sản, từng xung phong đi theo đảng VC để “giải phóng Miền Nam”, cũng đã tố cáo VC trong bài “Những Tên Tôi Tớ Cho Ngoại Bang” qua những dòng chữ rất nghiêm khắc. 

Tôi chỉ xin trích một đoạn như sau: “Trong lịch sử bốn ngàn năm, triều đình Cộng sản là triều đình duy nhất dạy cho con gái, con dâu vu khống bố hiếp dâm; dạy con trai, con rể chỉ vào mặt bố "đả đảo thằng bóc lột"; dạy cho láng giềng tố cáo điêu chác, đâm chém, dày xéo mồ mả của nhau... Tất cả những ai chưa hoàn toàn quên lãng, hẳn hiểu rõ điều đó. Khi con người đã đủ can đảm vu khống, nhục mạ ngay bố mẹ đẻ của mình thì họ thừa sự nhẫn tâm để làm những điều ác gấp ngàn lần như thế với tha nhân”. Đó, nữ đảng viên VC nói về VC như vậy đó. Và tôi biết, bản chất người VC không những tàn ác, bất lương, mà quan trọng hơn nữa là họ không hề biết đến trời đất, Chúa Phật, đến tổ tiên lễ giáo, nên họ chẳng hề ân hận, ăn năn, hối lỗi gì cả. Đã hơn nửa thế kỷ kể từ khi chiếm được Miền Bắc năm 1954, và 30 năm kể từ khi chiếm được Miền Nam, người VC vẫn không có can đảm và lương tâm để ăn năn hối hận về những tội ác hiển nhiên mà họ đã gây ra đối với dân tộc VN. Tội ác thứ nhất là qua bài học thống nhất hai miền Đông và Tây Đức mà không đổ máu, triển vọng sẽ thống nhất Nam Bắc Hàn trong hoà bình, rồi tương lai Đài Loan sẽ hợp nhất với Trung Quốc, ta thấy rõ VC đã sai lầm trong việc xua quân xâm lăng Miền Nam, khiến 4 triệu người Việt bị chết, cả chục triệu người bị thương ở cả hai miền của đất nước suốt mấy chục năm dài. Vậy mà cho đến nay, ta có nghe người VC nào tỏ ra ân hận, xám hối hay không? Rồi tội ác nghiêm trọng thứ hai của CS, là trong cuộc chiến tranh VN, VC đã phạm phải phải nhiều tội ác chiến tranh man rợ, tiêu biểu nhất là thảm sát Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Vậy mà cho đến nay, ta có nghe người VC nào tỏ ra ân hận, xám hối hay không? Thứ ba, chính việc VC ngang nhiên chà đạp các quyền tự do, dân chủ và nhân quyền; cùng những tang thương do VC gây ra trong cải cách ruộng đất tại Miền Bắc, trong các đợt đánh tư sản và các đợt cải tạo tại Miền Nam, là những nguyên nhân khiến người dân VN phải bỏ nước vô Nam vào năm 1954, cũng như bỏ nước vượt biên sau tháng 4, 1975. Bao nhiêu người đã chết qua hai cuộc chạy trốn VC đó? Vậy mà cho đến nay, ta có nghe người VC nào tỏ ra ân hận, xám hối hay không? Trên đây chỉ là mội vài trong số hàng trăm ngàn tội ác do VC gây ra trên quê hương VN. Đó là những thực tế VC không thể nào chối cãi được. Và chỉ khi nào VC CÔNG KHAI VÀ CHÂN THÀNH ĂN NĂN HỐI LỖI, chấp nhận cho người dân VN được tự do bầu cử, lập nên một chế độ dân chủ, khi đó, người Việt trong và ngoài nước, mới chấp nhận tha thứ cho CS. 

Tôi xin nhấn mạnh ở đây, chúng ta chỉ tha thứ cho VC khi nào VC biết THỰC TÂM ăn năn hối lỗi. Đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc phải có. Cũng giống như tôn giáo, dù Chúa hay Phật có bao dung và giầu lòng tha thứ đến đâu đi nữa thì Chúa Phật cũng chỉ tha thứ người có tội khi nào người đó biết ăn năn hối cải. Hiện tại ở VN cho thấy, VC chẳng những không ăn năn hối cải, mà chúng còn tiếp tục phạm thêm những tội ác mới khiến cả thế giới, trong đó có cả những đảng viên CS cũng lên án; thì không có lý nào, chúng ta là những nạn nhân của CS, lại tự động tha thứ những tội lỗi của CS. Tha thứ như vậy, chúng ta vừa thiếu khôn ngoan, vừa phản bội tổ tiên, dân tộc, vừa tự huỷ sức mạnh và uy tín của chính mình, đồng thời phản bội luôn cả lý tưởng tỵ nạn CS của chúng ta, cũng như phản bội quốc gia đã có lòng cưu mang chúng ta. Làm như vậy, chẳng những người Việt yêu tự do trên khắp thế giới coi khinh chúng ta, mà ngay cả tụi VC chúng cũng coi thường chúng ta. Hữu Nguyên huunguyen@saigontimes.org

Sunday, 28 June 2015

HẢI NGỌAI TỴ NẠN ĐÃ DÙNG NGÒI BÚT THÉP ĐÂM THỦNG NGHỊ QUYẾT 36 KIỂU CỦA VIỆT CỘNG - VÀ ĐANG SẴN SÀNG CHỜ KIỂU THỨ 37 CỦA VIỆT CỘNG ./- Mt68

Ngày 19/5, Ban Chấp hành Trung ương đã ra chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.

Friday, 8 May 2015

SAO TRỊNH DU KHÔNG DÁM NÊU TÊN BẦU SHOW- CHÍNH BẦU SHOW MỚI LÀ ĐẦU NẬU RƯỚC VĂN CÔNG HỘ LÝ VC RA HẢI NGỌAI - PHẢI CÓ BIỆN PHÁP ĐỐI PHÓ TRỰC TIẾP VỚI BẦU SHOW MỚI CÓ HIỆU QUẢ THIẾT THỰC./- Mt68

Và ngày 24 tháng 5 năm 2015 nhóm văn nghệ này Chủ nhân nhóm Ruby Blvd Entertainment).qua Houston trình diễn với sự tiếp tay của Nguyễn Ngọc Ngạn (trong danh sách không có tên ca sĩ Dam Vinh Hung NHƯNG ai biết được vào phút cuối hắn xuất hiện?).
(Please call him, Chủ nhân nhóm Ruby Blvd Entertainment).
Chuyện bầu show rước ca sĩ Dam Vinh Hung qua HOA KỲ không phải vì lợi nhuận cá nhân mà vì muốn phá hoại sinh hoạt trong các cộng đồng tỵ nạn hải ngoại. Tôi có nói chuyện với bầu show và người trong ban tổ chức ở San Antonio, cả hai đều tôn vinh tên ca sĩ hèn này. Riêng người đại diện tổ chức ca nhạc ở San Antonio (210-725-4565) lớn tiếng nhục mạ vị chủ tịch cộng đồng San Antonio và mấy người trong gia đình của cô ta chửi đồng hương tỵ nạn CS rất nặng.
Tùy ý quý vị tính sao thì tính, riêng cá nhân tôi không bao giờ tin những ai phản lại tinh thần đấu tranh của chúng ta!
Kính chúc quí vị an bình.

Trịnh Du

Saturday, 18 April 2015

BIỂU TÌNH MÀ KHÔNG CHỐNG BẦU SHOW LÀ NUÔI CỚ ĐỂ BIỂU TÌNH TẠO THÀNH TÍCH TÊN TUỔI DÀI DÀI./- Mt68




Bankstown, 17/4/2015

Dù chỉ biết thông báo biểu tình không đầy một ngày trước đó, tuy nhiên đông đảo đồng hương sau một ngày thứ Sáu làm việc đã tề tụ trước Bankstown Sports Club lúc 7 giờ tối để cùng nhau biểu tình chống đoàn văn công "Danh hài đại náo Úc Châu" sang Úc trình diễn, cương quyết không để nghị quyết 36 của Cộng sản xâm nhập Úc Châu.

Trong Tháng Tư Đen, khi mà hồi ký đau thương về ngày 30/4/1975 vẫn còn in sâu trong lòng người Việt tị nạn, hài kịch “đại náo Úc Châu” trình diễn tại khu vực có nguời Việt cư ngụ đông thứ hai tại Sydney của văn công Cộng sản là một thách thức cho cộng đồng.

Các diễn giả gồm Chiến Sĩ Võ Đại Tôn, Nghị Viên Trần Nhân, Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch CĐNVTD/NSW TS Hà Cao Thắng và LS Trần Công Thúy Định, các vị cựu Chủ Tịch Cộng Đồng BS Nguyễn Mạnh Tiến, LS Võ Minh Cương và KS Phan Đông Bích đã nói lên âm mưu của nhà cầm quyền CSVN qua việc tuyên truyền, lôi kéo người Việt hải ngoại dưới hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí, khi các ca nghệ sĩ từ VN ra nước ngoài trình diễn đều phải nằm trong sự kiểm soát, chỉ đạo của nhà cầm quyền cộng sản, đồng thời kêu gọi các club, các tổ chức show hãy nghĩ đến sự ổn định của Cộng đồng của chúng ta ở hải ngoại mà không tiếp tay cho âm mưu xâm nhập văn hóa của CSVN.
  
Người biểu tình đã cắt thẻ membership của Bankstown Sport Club để biểu tượng cho cho sự bất mãn của hội viên đối với club này khi đã cho đoàn văn công mướn chỗ trình diễn. Số người trẻ đi xem show đã phải che mặt xấu hổ khi nghe đoàn biểu tình hô to shame, shame, shame!!!

Tối mai Thứ Bảy 18/4/2015 đồng hương Melbourne cũng sẽ biểu tình phản đối khi đoàn văn công này đến trình diễn tại L'Amour Reception, St Albans.

AT tuờng trình tại Bankstown với hình ảnh của TPN và QL.

Thursday, 11 December 2014

BAN NHẠC TIẾNG TƠ ĐỒNG ... ĐỎ LÀ CÁNH TAY NỐI DÀI CỦA CON MA TRƠI PHẠM VĂN ĐỒNG./- Mt68

Ban nhạc "Tiếng Tơ Đồng" Đỏ của Hồ thùy Trang giăng lưới phủ khắp Âu Châu ,
 trùm luôn cả Làng Hướng Đạo Nam Quan Pháp Wissous.
- Hứa vạng Thọ -  

Trong những tháng gần đây, dư luận Paris rất sôi động vì chính sách của Việt Cộng dùng văn hóa nghệ thuật để len lỏi và xâm nhập cộng đồng Việt Nam Quốc Gia tại Pháp đã công khai ra mặt, hoặc phá hoại ngầm (??) với 2 buổi trình diễn văn nghệ sau đây:

1- Ngày 19/10/2014 Hội Ái Hữu Người Việt Bussy (Amicale des Vietnamiens de Bussy) do ông Nguyễn Hoài Thanh làm chủ tịch đã tổ chức một buổi lễ Trung Thu 2014 cho các em thiếu nhi cũng có cờ vàng treo khắp phòng hội. 

Rất tiếc là trong phần trình diễn áo dài, nhạc đệm là một loại "liên khúc ca", và cho đến gần hết là có chêm vào bản nhạc Việt Cộng " Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây".( từ phút 33:47 đến phút 35:03 trong clip youtube của anh Louis Lê dưới đây:
https://www.youtube.com/watch?v=dozPkPiMHul  hoặc xem đoạn video của Bà Phan thị Đoan trích ra :https://www.youtube.com/watch?v=ZbSxZY58PV8  ) 

Không cách nào mà cắt ngang nhạc đệm như vậy được trong lúc mọi người đang vui chơi. Lẽ dĩ nhiên là ô. Nguyễn Hoài Thanh là phải chịu "trách nhiệm hoàn toàn" việc nầy dù vô tình hay cố ý. Nếu không, bọn VC nó cười đấy!

Tưởng cũng cần nhắc lại trước đây, dưới sự chủ tọa của thị trưởng Bussy St Georges Hugue Rondeau và bà Thượng Nghị Sĩ Chantal Brunel, trong buổi lễ khánh thành ngày 12.9.2010 tượng đài thuyền nhân "Niềm mơ ước của Mẹ" tại Rond Point Saigon do Christophe Nguyễn chủ xướng, ông Nguyễn Hoài Thanh , một thành phần trong Tổng Hội Sinh Viên Việt nam Paris (phe Việt Tân-Trần Gia Kiểng) , trong bài diễn văn khai mạc, cũng đã có ý kêu gọi mọi người gián tiếp nên "quên đi hận thù" trong đoạn văn trích ra đây (từ phút 2:47 đến phút 3:04 của video kỷ niệm Ngày Khánh Thành do Nguyên văn Đông thực hiện, phổ biến trên YouTube:
https://www.youtube.com/watch?v=Y2TsZstoPKQ#t=10):

"Nhắc lại quá khứ, không phải để gây thêm hận thù, không phải để gây thêm chia rẽ. Nhắc lại quá khứ với ước mong một sớm mai đây, toàn dân VN sẽ có dịp ghép lại cái quá khứ hãi hùng vừa qua cùng nhau xây dựng lại căn nhà Việt Nam mà trong đó tình người phải được đặt lên hàng đầu và như thế toàn dân ta sẽ sống trong tự do, dân chủ và nhân bản. "

2- Ngày 16.5.2014 trong buổi tổ chức văn nghệ MontyLive concert tại Montigny le Bretonneux do Amicale des Vietnamiens de St Quentin en Yvelines , viết tắt AVNSQY(chủ tịch là Mai Quốc Tuấn, con của Mai Viết Triết)  tổ chức với nhiều ban nhạc Pháp và Việt là Tiếng Tơ Đồng của Hồ Thùy Trang.



Xin mời quý bạn hãy nhìn "Affiche" quảng cáo dưới đây,. Miễn bình luận. Fonds đỏ , sao vàng!



Chuyện cũng dễ hiểu vì hội AVNSQ của Mai Quốc Tuấn chủ trương giúp đỡ VN trong hệ thống VFE ( VietNam France Echanges) mà Mai Quốc Tuấn còn là một thành viên. MQT nối gót cha là Mai Việt Triết, chuyện cũng bình thường thôi.Xin đọc : http://vfe-asso.org/index.php/vfe/donateurs-et-partenaires/40-donateurs-et-partenaires

Le Conseil d'Administration
A l'issue de la dernière Assemblée Générale, notre Conseil d'Administration s'est  étoffé, montrant l'intérêt porté à notre association par de nouveaux  bénévoles. Nous sommes heureux de les accueillir et de vous les présenter.

1.    Monsieur André BOURDEL
2.    Madame Catherine BOURDEL
3.    Madame Danièle LIVET
4.    Monsieur Tuấn MAI QUOC
5.    Madame Chantal MODESTE
6.    Madame Thi Hong Yên PHAM
7.    Madame Như Hoa NGUYỄN DUONG 

.........

Nhưng nguy hiểm nhất là ban nhạc "Tiêng Tơ Đồng" của Hồ thùy TrangĐây là một ban nhạc đỏ, có thể coi đó  "ngoại vi của VC". Hồ Thùy Trang là một nhạc sĩ danh tiếng , được đào tạo ở trong nước, tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch nghệ của VC năm 1986, chiếm nhiều giải từ năm 1992, sau đó sang Pháp học bằng Giáo sư dạy nhạc cổ truyền tại Paris, và từ đó sinh sống ở Pháp.. Được Trần quang Hải đỡ đầu nên quen nhiều trong giới nghệ thuật và âm nhạc Pháp.Muốn biết rõ xin hỏi ô. Đổ Đăng Di (hướng đạo làng Nam Quan). 

"Tiếng Tơ Đồng" đỏ  trình diễn cho nhiều hội của sứ quán Việt Cộng tại Pháp, đại diện cho Việt Nam  tại các lễ hội chánh thức Francophonie, của các hội Việt Kiều khắp Âu Châu. Muốn biết thêm chi tiết xin bấm vào link dưới đây:


( TinParis đã có saisie écran/ Chụp màn ảnh)

Nhiều hội đoàn coi như là quốc gia đều mời "Tiêng Tơ Đồng" Đỏ đến giúp phần văn nghệ ( khiến những ban nhạc văn nghệ cổ truyền mất khách rất nhiều), không phải chỉ riêng ở Pháp mà còn ở Ý, Thụy Sĩ, Đức, Anh, v.v.

Ỏ Pháp, TinParis chỉ xin nêu tên vài hội tượng trưng tạm coi là Quốc Gia : Amicale des vietnamiens de Sarcelles, Association Bussy Saigon, Chùa Pháp Hoa, Hội Thánh Tâm, Giáo Xứ, và đặc biệt nhất là Scouts Vietnamiens de Wissous ( Hội Hướng Đạo Việt Nam Wissous hay Làng Nam Quan tại Pháp).
Ban Nhạc "Tiếng Tơ Đồng" Đỏ  giúp "văn nghệ" Tết cho làng Nam Quan vào các ngày " Ăn Tết" từ năm 2010, 2011, 2012, 2013..và sắp đến là
Chủ Nhát 8.2.201 lúc 15h (2015 FEVRIER Dimanche 8 : Nouvel an vietnamien à 15h, organisé par les Scouts Vietnamiens (ADSV) à Wissous (91))

Ai chủ xướng công việc nầy hay phải chăng "Làng Hướng Đạo Nam Quan tại Pháp " đã trở cờ? Các ông chống Cộng mà lại mời ban nhạc " Tiếng Tơ Đồng" đỏ đến cộng tác với các ông à? Thế nầy là thế nào? TinParis xin báo động với Hướng Đạo Quốc Gia Hải ngoại được rõ!

Hứa vạng Thọ
11.12.2014

Saturday, 31 May 2014

CHUYỆN CỜ MÁU XUẤT HIỆN Ở HẢI NGỌAI GẦN ĐÂY LÀM CHO CHÍNH QUYỀN CÁC NƯỚC TỰ DO SUY NGHĨ LẠI

VÌ TRƯỚC ĐÂY MỸ, ÚC, CANDA NHẬN NHIỀU SINH VIÊN DU HỌC CỦA VIỆT CỘNG -

 VỚI HY VỌNG LÀ CÁC SV NẦY SAU KHI VỀ NƯỚC SẼ CÓ SUY NGHĨ VÀ HÀNH ĐỘNG DÂN CHỦ KHÔNG GIỐNG ĐƯỜNG LỐI ĐỘC TÀI, ĐỘC ĐÓAN CỦA VIỆT CỘNG
NHƯNG NHỮNG ĐÁM CẦM CỜ MÁU MỚI ĐÂY TỰ CHỨNG TỎ CÁC SINH VIÊN VC VẪN LÀ NHỮNG VIỆT CỘNG CUỒNG TÍN - 

KHÔNG CÓ GÌ THAY ĐỔI SUY NGHĨ CỦA CHÚNG CẢ - 

NGUYỄN THANH SƠN TƯỞNG ĐÃ THÀNH CÔNG - NHƯNG SỰ KIỆN CỜ MÁU MỚI ĐÂY LÀM CHO CHÍNH QUYỀN CÁC NƯỚC TỰ DO VÔ CÙNG THẤT VỌNG - 

NÓ CÒN CHỨNG TỎ CÁC LÃNH SỰ QUÁN VC ĐÃ CÓ NHỮNG TỔ CHỨC TÌNH BÁO NGẦM NHẰM KHỐNG CHẾ SV DU HỌC và KỂ CẢ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN KHÔNG CÒN MANG QUỐC TỊCH VN, HIỆN LÀ CÔNG  DÂN CỦA CÁC NƯỚC TỰ DO./- Mt68

Nói một lần rồi thôi về chuyện MÀU CỜ.





  
Cho đến bây giờ đã gần 4 thập niên trôi qua kể từ ngày VN thống nhất, nhưng lòng người Việt vẫn chưa thể thống nhất. Một trong những biểu hiện rõ nhất là đa số vẫn chỉ có thể chấp nhận đứng dưới một lá cờ: hoặc vàng hoặc đỏ. Chỉ có số ít hoặc không nghiêng về màu cờ nào và dành sự quyết định đó cho tương lai, khi đất nước đổi thay, sẽ có một cuộc trưng cầu dân ý về việc chọn lựa màu cờ; hoặc không chọn cả hai và muốn chính phủ mới sau này sẽ có một lá cờ mới, đoạn tuyệt hẳn với quá khứ.

Về phần mình, tôi tôn trọng quyết định của tất cả những ai xem lá cờ vàng là thiêng liêng, hoặc không nghiêng về màu cờ nào, hoặc không chọn cả hai như vừa nêu trên, tôi chỉ muốn tâm sự đôi điều với những ai cho đến giờ phút này vẫn xem lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản là cờ Tổ quốc.
Nếu đó là người dân bình thường không quan tâm và cũng không đọc/nghe/xem thông tin đa chiều về tình hình chính trị nên chưa nhận thức ra, hoặc nếu là những người từ 40, 50 tuổi trở lên nhưng sinh ra và lớn lên ở miền Bắc vốn nghe tuyên truyền bao nhiêu năm về “chế độ ngụy quyền tay sai bán nước” nên không hiểu hay căm ghét lá cờ vàng, hoặc nếu là người sinh ra sau chiến tranh không từng sống qua cả hai chế độ nên không biết chọn lựa gì hơn lá cờ đỏ…thì không có gì đáng nói.
Nhưng có những người đã hiểu ra tất cả những sai lầm, tội lỗi và hệ lụy đảng cộng sản đã gây nên cho đất nước, dân tộc VN trong bao nhiêu năm qua, thậm chí còn đứng về phía những người tiến bộ, dân chủ, mà vẫn còn lướng vướng lá cờ đỏ thì thật đáng tiếc.
Trước hết, chúng ta đều biết, lá cờ đỏ sao vàng không phải là lá cờ có từ bao nhiêu đời nay của dân tộc VN, do ông bà tổ tiên ta truyền lại, mà đó là lá cờ của đảng cộng sản VN. Cho dù được gọi là quốc kỳ thì cũng chỉ là quốc kỳ của nước VN Dân Chủ Cộng Hòa trước đây ở miền Bắc và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN hiện nay.
Là lá cờ đại diện cho đảng cộng sản, cho một chế độ do đảng cộng sản dựng nên, nhưng trên thực tế, một sự thật mà cho đến nay những ai có lương tri, có hiểu biết đều không thể phủ nhận rằng chính đảng cộng sản trong quá khứ và hiện tại, đã và đang là lực cản lớn nhất trên con đường giành lại tự do dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân và sự cường thịnh cho đất nước. Sau bao nhiêu năm độc quyền lãnh đạo, không có lý do gì để đổ thừa cho bất cứ nguyên nhân nào khác, đảng và nhà nước cộng sản mà phải hoàn toàn chịu trách nhiệm khi:
Để cho VN hôm nay trở thành một quốc gia lạc hậu, thua xa các nước láng giềng hàng chục, hàng trăm năm về mọi mặt.
Để cho người dân ngày hôm nay sống trong một xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền bị chà đạp, đạo đức suy đồi, văn hóa tàn mạt, những bản tính tốt đẹp, nhân văn của con người VN bị hủy hoại đến tận cùng…
Để cho VN bị lệ thuộc nặng nề vào Trung Cộng từ kinh tế cho đến chính trị, VN bị mất đất, mất đảo, mất biển và có nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng…
Đó là chưa kể, vì sự mù quáng của đảng cộng sản mà trong suốt thế kỷ XX, VN bị lôi kéo vào những cuộc chiến tranh liên tiếp hao người tốn của, tàn phá nặng nề đất nước và con người, từ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và miền Nam Việt Nam Cộng Hòa, chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc và biên giới Tây Nam với Khơ me Đỏ-Cambodia…
Chưa kể, chính những hành động ngu muội, đặt tình hữu nghị Việt-Trung lên trên quyền lợi đất nước, dân tộc của đảng cộng sản đã đưa tới bao hệ lụy thiệt thòi, nguy cơ cho đất nước và dân tộc VN, như công hàm của ông Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958 cho tới nay đã luôn bị Bắc Kinh đưa ra làm cứng họng Hà Nội khi mở mồm nói về chủ quyền Hoàng Sa là một trong rất nhiều ví dụ.
Vậy có nên đứng dưới một lá cờ đại diện cho một chế độ, một đảng cầm quyền có quá nhiều sai lầm, mà nếu gọi là cõng rắn cắn gà nhà, bán nước thì cũng không ngoa hay không? Xin tùy cho mọi người suy nghĩ.
Hãy nhìn từ Liên Xô cho đến các nước XHCN cũ ở Đông Âu, sau khi thoát khỏi chế độ cộng sản, có nước nào sử dụng lại lá cờ của đảng cộng sản trước đó hay ngược lại, họ vĩnh viễn cất bỏ tất cả mọi thứ liên quan đến thời kỳ, chế độ cộng sản vào…bảo tàng?
Mong rằng một ngày nào đó, trên khắp nẻo đường VN sẽ tung bay lá cờ của một chế độ tự do dân chủ văn minh tôn trọng con người, lá cờ ấy màu gì cũng được nhưng đừng là màu đỏ gợi nhớ tới màu đỏ máu mà các đảng cộng sản trên thế giới thích dùng, bởi biểu tượng cờ đỏ, búa liềm, ngôi sao là biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản, của toàn thể phong trào cộng sản trên thế giới.
Trong khi ngày nay nhắc lại “thành tích” của các chế độ cộng sản từ Liên Xô, các nước Đông Âu cũ…cho tới Bắc Hàn, Trung Quốc, Việt Nam…người ta chỉ lạnh người nhớ đến những tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh, hay tội ác xâm lược…mà các chế độ này đã từng gây ra đối với nhân dân của họ và của nước khác.
Và cùng với lá cờ mới, là một bài quốc ca mới, không còn những từ ngữ sắt máu, hiếu chiến kiểu như “Cờ in máu chiến thắng…Đường vinh quang xây xác quân thù…”, mà sẽ là những ca từ ngọt ngào tụng ca quê hương VN, tụng ca hòa bình, tình yêu thương.
Chỉ đến lúc đó, mới hy vọng có thể có được sự bình yên và thống nhất trong lòng mọi người con dân Việt, dù đang sống trong hay ngoài nước.
mk