Nhận định bài viết của Cù Huy Hà Vũ
“Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc”
Bài viết “Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc” của Cù Huy Hà Vũ ngày 14/5/2015 đề cập một số vấn đề liên quan cuộc chiến VN qua các quan điểm then chốt (xâm lăng, quốc hận, giải phóng, nội chiến, hận thù) thiết nghĩ cần có nhận định rõ ràng.
1.Vấn đề xâm lăng/xâm lược/ quốc hận:
Hãy xem, Củ Huy Hà Vũ (CHHV) viết rằng: “quan điểm cộng sản Việt Nam xâm lăng miền Nam” và vì thế coi đó là “Ngày Quốc hận”. Quan điểm này có nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo chủ nghĩa cộng sản và Việt Nam Cộng hòa theo chủ nghĩa chống cộng là hai “quốc gia”, là hai “nước” riêng biệt. Thực vậy, “xâm lược” là việc quốc gia này dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ của quốc gia khác. Cũng như vậy, “Quốc hận” thể hiện tình cảm của người dân “mất nước” khi “nước” mình bị quốc gia khác đô hộ hoặc sáp nhập bằng vũ lực vào quốc gia đó. Tuy nhiên quan điểm này không đứng vững khi đối chiếu với chính lịch sử của Việt Nam Cộng hòa”.
Chủ điểm lý luận của CHHV là không có 2 Quốc Gia (QG), không có 2 nước cho nên:
- không có xâm lăng vì không phải là 2 QG / 2 nước để nu6ớc này xâm lăng nước kia.
- không có xâm lược vì xâm luợc là việc quốc gia này dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ của quốc gia khác nhưng không có 2 QG .
- không có quốc hận vì “Quốc hận” thể hiện tình cảm của người dân “mất nước” khi “nước” mình bị quốc gia khác đô hộ hoặc sáp nhập bằng vũ lực vào quốc gia đó; không có mất nước nên không có quốc hận.
Ý nghĩa của lập luận là gì? Xâm lăng /xâm lược đòi hỏi có 2 nước; vì không có 2 nước riêng biệt nên Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) không xâm lăng, không xâm lược miền Nam! Xét về hiểu biết đơn giản thông thường (nước VN - một nước- có miền Bắc và miền Nam) thì lập luận có vẽ hữu lý nhưng không chính xác về pháp chế cũng như về thực tại; lập luận không có 2 QG không vững ổn sẽ được phân tích thêm tại phần sau. Xét về chữ nghĩa (danh từ hay động từ), mở tự điển, phần định nghĩa chữ “xâm lăng” không có , không liên hệ đến quốc gia hay nước mà là “hành động tiến vào một nơi, một vùng do kẻ địch kiểm soát để chinh phục hoặc chiếm lấy bằng vũ lực(invasion : an incursion or an act of entering a place or area that is controlled by an enemy for conquest or plunder) . Xét về hành động thực tế được kiểm chứng thì không thể phủ nhận việc CSBV tổ chức, phát động, điều khiển “chiến tranh nhân dân”du kích chiến suốt 15 năm phá hoại miền Nam, huy động binh lực, bất chấp ranh giới, vĩ tuyến, phân chia 2 miền tiến đánh lấy, cưỡng chiếm miền Nam (vốn có hẳn một hệ thống quyền hành quản trị lãnh thổ) bằng vũ lực vào 1975. Hội đủ các yếu tố theo định nghĩa vừa nêu nên hành động của CSBV đúng là xâm lăng / xâm lược.
Theo CHHV, vì Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) không bị một nước khác đô hộ, không bị sáp nhập”,không thể gọi ngày 30 tháng 4 là “Ngày Quốc hận” vì đã không có chuyện “mất nước” vào ngày đó”. Như vậy, có 2 yếu tố chỉ ra, xác định việc “mất nước”: đô hộ + sáp nhập. Ý nghĩa là nếu không có 2 yếu tố này thì không có mất nước; không mất nuớc thì tất không có ngày quốc hận!
Hãy xét về việc có “mất nước” hay không? CHHV cho rằng không có mất nước nhưng thực tại có nhiều sự kiện chứng tỏ có mất nước. Theo thới gian qui chế một QG tạm thời chia đôi (theo Hiệp Định Paris 1954) trở thành hai QG về thực tại và được xác định rõ trong hiến pháp của 2 nước. Về pháp chế, các hiến pháp CSVN 1946 đến 1975 ấn định miền Bắc là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ 1976 đến hiến pháp CS 2013 tên nước đổi thành Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (The Socialist Republic of Vietnam); hiến pháp VNCH 1956, 1967 ấn định miền Nam làNước Việt Nam Cộng Hòa (The Republic of Vietnam), có 2 thể chế (độc tài, chuyên chế / tự do dân chủ). Về địa lý có 2 vùng lãnh thổ. Về nhân văn, mỗi lãnh thổ có số đông dân sinh sống với 2 quốc tịch khác nhau trong 2 hệ thống công quyền. CSBV đã làm gì? Như đã phân tích, CSBV đã dùng vũ lực, chiếm, sáp nhập miền Nam vào miền Bắc, xóa bỏ thể chế VNCH và áp đặt thể chế độc tài chuyên chế CS. Có 2 QG và 2 hành động đô hộ + sáp nhập mà CHHV nêu lên xét ra đều có. Vậy là có “mất nước! Không còn đất, không còn quốc tịch VNCH, không còn chính quyền, không còn sống tự do dân chủ, phải lưu lạc khắp 5 châu thì phải chăng đây là tình trạng “mất nước”? mất nước về tay CS? Thí dụ đơn giản hơn: trước đây 1 người làm chủ 1 ngôi nhà; nay tuy nhà vẫn còn đó nhưng đã có chủ khác nên chủ cũ không thể cư ngụ, không thể sữa, cho thuê, bán theo ý muốn thì có phải là “mất nhà” hay “không mất nhà” ? Nhà, Nước thấy đó nhưng hẳn là mất đi rồi! Có 2 QG, có áp đặt thể chế công quyền CS (“đô hộ”), có huy động binh lực tiến đánh, chiếm lãnh thổ phía Nam bằng vũ lực và có sáp nhập lãnh thổ chiếm đoạt vào lãnh thổ của CSBV nên CSBV đúng là xâm lăng / xâm lược và đúng là có mất nuớc!
Tiếp đến, hãy xét về Quốc Hận, về lý do thù hận. Lập luận của CHHV hạn hẹp vì chỉ lý luận với 1 lý do duy nhất: lý do “không mất nước”; đã không mất nước thì không có Quốc Hận! “mất nước” quả nhiên có. Thù hận vì lý do mất nước phải có, quốc hận vì lý do mất nước phải có. Lòng thù hận, uất hận có nhiều nguyên do mà tác nhân hành động tác tệ quan trọng là CSVN. Nói khác đi, thù hận là hậu quả của nhiều nguyên nhân. Không phải bị mất nước mới gọi là quốc hận và cũng không phải chỉ có người Việt ở hải ngoại mới quan niệm có quốc hận! Lập luận của CHHV công nhận có thù hận nhưng cố ý giới hạn vào số “người Việt từng phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa và gia đình họ “, vào số người Việt tỵ nạn CS sống ở hải ngoại mới thù hận, mới quan niệm có quốc hận! Tại 1 đoạn khác, CHHV viết rõ: “các cựu quân nhân và viên chức Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ bị chính quyền cộng sản tước đoạt những quyền cơ bản của con người, của công dân …Không dừng lại đó, chính quyền cộng sản còn đang tay đẩy rất nhiều người đã sống dưới chế độ cũ vào chỗ chết khi đứng ra tổ chức hoặc bật đèn xanh cho các cuộc vượt biên…dẫn đến cái chết thê thảm của hàng trăm nghìn người…Một chính quyền táng tận lương tâm như thế, hỏi sao mà không oán hận chất chồng để trở thành thù hận! Cụ thể hơn, tính bằng số lượng thì theo CHHV, chỉ có “1.321.506 người” bị gọi là “ngụy quân” “ngụy quyền” mới hận thù!. Thế nhưng dân chúng không phải là CS đang sống tại VN dưới chế độ CS có phải nhất loạt tán thành, hoan hô nhà cầm quyền CSVN, không có hận gì cả? Oán hận không phải chỉ vì bị cầm tù” cải tạo” mà chính vì bị áp đặt 1 chế độ độc tài CS không thực sự phục vụ cho dân được sống an toàn, no ấm, hạnh phúc, thăng tiến trong tự do dân chủ và nhân quyền mà bị cai trị hà khắc bất công, vô pháp luật, trả thù, cướp đoạt tài sản ruộng đất nhà cửa cơ sở tôn giáo, tham ô hống hách, đe dọa, sách nhiểu, khủng bố, bắt bớ, đánh đập, cầm tù, sát hại, đời sống đại đa số lầm than cùng cực đói khổ, đạo đức suy đồi, tín ngưỡng bị ngăn cản, bị kiểm soát triệt để, tàn phá tài nguyên QG, hèn nhục dâng đất biển cho Trung Cộng, gia đình ly tán lưu lạc, tử vong bi thương v..v… Chính CHHV trước đây cũng đã tố giác, đã kiện viên chức CSVN kể cả Thủ Tướng CS Nguyễn Tấn Dũng vi phạm hiến pháp, vi phạm luật pháp!
Vậy, không thể nhắm mắt, mù lòa chỉ thấy 1 nguyên nhân. Không thể lầm lẫn nguyên nhân và tính cách. Nguyên nhân gây hậu quả; tính cách bổ túc, nói rõ tình trạng (tốt, lành / xấu ác, tệ hại), mức độ (nhẹ, thấp, tươi sáng / nặng, trầm trọng, thê thảm), phạm vi (hẹp / rộng, cá nhân / toàn dân, 1 vài nơi / toàn quốc). Hai chữ “Quốc Hận” rất chính xác và vững ổn. Danh từ “Quốc” bổ túc cho danh từ “Hận” để nói lên tính cách. Đó là nỗi uất hận triền miên có tính cách bao trùm toàn quốc toàn dân, quốc nộị lẫn hải ngoại.
2.Vấn đề VNCH cũng chủ trương “giải phóng” miền Bắc?
CHHV viết: “… không chỉ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và các lực lượng cộng sản ở miền Nam dưới vỏ bọc “Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” quyết “giải phóng” miền Nam mà cả Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam cũng quyết “giải phóng” miền Bắc để thống nhất đất nước”. Lập luận có ý nghĩa rằng lên án CSBV xâm lược giải phóng miền Nam là thiếu sót là không đứng vững vì không phải chỉ có BV giải phóng miền Nam mà chính VNCH cũng chủ trương “giải phóng” miền Bắc!
CHHV nêu lên một số sự việc để chứng minh, chạy tội cho CSBV “giải phóng” miền Nam. Chính CHHV cũng không phủ nhận việc VNCH không ký tên vào hiệp định Paris 1954. Từ đó, VNCH không bị Hiệp định này ràng buộc, không đồng ý việc chia cắt cho CSBV ½ lãnh thổ; yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ (miền Nam) tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập và Tự do cho xứ sở." Rõ ràng hơn, VNCH chủ trương “nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ". Trong cuộc tranh đua dân chủ, hoà bình này miền Nam, đặc biệt trong thời Đệ I Cộng Hòa, đã tiến triển rất quan trọng trên đường thực hiện, mang no ấm, hạnh phúc cho dân. CSBV thấy rõ rằng nếu tiếp tục để miền Nam yên ổn phát triển thì miền Bắc CS sẽ bị thua sút rõ rệt, sẽ thua trận chiến phát triển hòa bình. Do đó, CSBV không thể / không dám chấp nhận cạnh tranh trong hòa bình mà quyết định là phải phá hoại, phải gây bất ổn thường trực và phải chiếm đoạt luôn ½ VN còn lại. Trong khi chính CSBV ký tên Hiệp Định tất có nghĩa vụ phải tôn trọng. Họ đã bất chấp, không tôn trọng và dùng vũ lực chiếm đoạt miền Nam.
3.Vấn đề nội chiến?
CHHV có nhận xét quan điểm của VNCH như sau: “Tóm lại, theo quan điểm chính thống của Việt Nam Cộng hòa thì ở Việt Nam chỉ có một quốc gia, miền Nam và miền Bắc chỉ là hai phần lãnh thổ của quốc gia Viêt Nam, cuộc chiến giữa hai miền là cuộc chiến ý thức hệ, giữa miền Nam chống cộng và miền Bắc cộng sản. Nói cách khác, chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam giai đoạn từ 1955 đến 30/4/1975 là một cuộc nội chiến và vì vậy không phải là chiến tranh giữa hai quốc gia, giữa hai “nước”,..Do đó không thể dùng từ “xâm lăng” cho việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc đưa quân vào miền Nam để cùng các lực lượng cộng sản tại chỗ chống lại Việt Nam Cộng hòa”. CHHV lại lập luận không có 2 QG, và dù có nêu lên quan điểm của VNCH là cuộc chiến ý thức hệ nhưng ngay sau đó tự ý diễn dịch cho là cuộc nội chiến!
Thế nào là nội chiến? Tại sao chiến tranh VN là cuộc chiến ý thức hệ chứ không là nội chiến? CHHV lý luận: chiến tranh VN là nội chiến trong 1 nước của 1 QG chứ không phải chiến tranh giữa 2 QG, giữa 2 nước. Có 4 tiêu chuẩn cần xét:
a).Tiêu chuẩn pháp chế: 1 QG chỉ có 1 chính thể; VN có 2 chính thể; mỗi miền 1 chính thể, xem như là qui chế 2 miền tạm thời, 2 chính thể khác biệt, có giới tuyến phân định rõ ràng, có dân số riêng, hệ thống điều hành riêng, chờ ngày thống nhất bằng tuyển cử tự do (1956), không ai được tự ý/tự quyền lấn chiếm, cưỡng chiếm, áp đặt thống trị, nhất là bằng vũ lực. Như đã phân tích, về thực tại có 2 nước CHXHCNVN và VNCH được xác định trong hiến pháp của 2 nước; tức là có ít nhất 2 QG đối địch lâm chiến.
b).Tiêu chuẩn phạm vi địa lý của VN không hẳn có ý nghĩa là nội chiến!
c).Tiêu chuẩn lực lượng chiến đấu: Sự tham gia của đồng minh (Nga
Sô+ Trung Cộng – Hoa Kỳ+các nước khác nói lên chiến tranh VN không phải là nội chiến, giữa 2 lực lượng của 2 miền/nước mà mang tính cách chiến tranh vì ý thức hệ, giữa 2 ý thức hệ tự do / độc tài CS.
d).Tiêu chuẩn khởi phát cuộc chiến: theo BV, cuộc chiến tự khởi trong nội bộ miền Nam, nhân dân miền Nam tự mình chống chính phủ VNCH chứ BV không hề có vai trò nào cả!! Tức là không phải giữa 2 miền! VNCH bác bỏ lý luận này: không có chiến tranh tự khởi của dân chúng miền Nam mà do CSBV tổ chức, chỉ đạo, điều khiển, ra lệnh Măt trận Giải Phóng Miền Nam, chiến đấu bằng chính lực lượng, quân lính, vũ khí của BV + Sô viết+Trung Cộng.
4.Vấn đề hóa giải hận thù?
Công nhận có hận thù (dù giới hạn!) CHHV chủ trương ” trong bất cứ hoàn cảnh nào tồn tại một hận thù như vậy là có hại không kể xiết cho quốc gia Việt Nam…”. Như thế, có phải là tất cả cần xóa bỏ hận thù vì hận thù là có hại? CHHV nói rõ hơn về phần CSVN “ …Chính quyền cộng sản Việt Nam cam tâm bán nước cho Trung Quốc nên mới cự tuyệt đến cùng hòa giải dân tộc. Do đó, với những ai giòng giống Lạc Hồng, mau chóng giải thể chính quyền độc tài này không chỉ là cách duy nhất để cứu nước mà còn là cách duy nhất để xóa bỏ hận thù dân tộc vì một Việt Nam hiển vinh trên trường quốc tế.”
Quả là thất vọng khi mong đợi ở CHHV một giải pháp, diễn trình, hành động cụ thể để hóa giải hận thù! CHHV chỉ chủ trương tổng quát giải thể chế độ CSVN nhưng làm cách nào để giải thể chế độ CSVN? CHHV kêu gọi CSVN hãy “hóa giải hận thù dân tộc” và ”tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị xóa xổ, mong là một cách hòa bình….” .Đó là giải pháp, cách “hóa giải hận thù” của CHHV!
*
* *
Chỉ tóm lược tình cảnh dân và nước cũng quá đủ để không thể nào phủ nhận sự oán hận cuả đại đa số 90 triệu dân tộc Việt đối với chế độ CSVN chứ không phải chỉ có trên 1,3 triệu người, cũng không có việc không mất nước nên không có thù hận!! Nói chung, phải có thù hận vì có thiệt hại nặng nề quá mức. Mất mát, thiệt hại quá mức về phạm vi bao trùm (cá nhân, gia đình, tập thể, xã hội, quốc gia) , về số lượng quá nhiều quá lớn (đại đa số dân) và về thời gian kéo dài tiếp diễn quá lâu (75 năm kể từ 1930 từ khi lập đảng CS Đông Dương, 40 năm từ 1975)!
CHHV đã không vạch rõ chi tiết, hành động như hứa hẹn qua tựa đề lớn“Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc”. Tin và mong chờ “một cách hòa bình” thay vì có hành động, có giải pháp tích cực nhằm giải thể chế độ CSVN! Không hành động mà hãy tin … hãy chờ “một ngày rất gần” … nhưng, ngày rất gần đó sẽ tính bằng tháng / năm / thập niên hay nhiều thâp niên nữa?
Nguyễn Phát Quan
Irvine, 5/2015
On Saturday, May 16, 2015 6:25 AM, "Colleen Ha colleenha@yahoo.com [Daploisongnui]" <Daploisongnui@yahoogroups.com> wrote:
From: "Véronique Thùy Hương
Subject: Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc
http://www.voatiengviet.com/content/chhv-tu-do-se-cham-dut-han-thu-dan-toc/2767507.html
Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc
14.05.2015
Hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4 được chính quyền cộng sản hiện hành ở Việt Nam mệnh danh “Ngày Giải phóng miền Nam”, cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đặc biệt ở Hoa Kỳ mà tuyệt đại đa số sống dưới chế độ cũ - chính thể Việt Nam Cộng Hòa, lại dấy lên quan điểm “cộng sản Việt Nam xâm lăng miền Nam” và vì thế coi đó là “Ngày Quốc hận”. Quan điểm này có nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo chủ nghĩa cộng sản và Việt Nam Cộng hòa theo chủ nghĩa chống cộng là hai “quốc gia”, là hai “nước” riêng biệt. Thực vậy, “xâm lược” là việc quốc gia này dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ của quốc gia khác. Cũng như vậy, “Quốc hận” thể hiện tình cảm của người dân “mất nước” khi “nước” mình bị quốc gia khác đô hộ hoặc sáp nhập bằng vũ lực vào quốc gia đó. Tuy nhiên quan điểm này không đứng vững khi đối chiếu với chính lịch sử của Việt Nam Cộng hòa.
Trước hết cần nhắc lại rằng Việt Nam Cộng hòa thoát thai từ Quốc gia Việt Nam - một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp - tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.
Tại Hội nghị Genève 1954, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Đỗ đã không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam với lý do hiệp định này gây chia cắt Việt Nam. Phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng nêu rõ: "Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập và Tự do cho xứ sở."
Một ngày sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam được ký kết giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 21/7/1954, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ trên toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống để phản đối sự chia đôi đất nước. Tuy nhiên sau đó Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Chúng tôi (Quốc gia Việt Nam) không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ".
Như vậy với tư cách kế tục Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chủ quyền đối với cả miền Bắc Việt Nam chứ không chỉ đối với miền Nam Việt Nam đồng nghĩa thống nhất đất nước là mục tiêu của chính thể này. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, cả Đệ Nhất lẫn Đệ Nhị, cũng đã thể hiện rõ ràng quyết tâm chính trị trên.
Lời mở đầu Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 khẳng định “chánh thể Cộng hòa nhằm mục đích thống nhất lãnh thổ”. Tiếp đó Điều 1 Hiến pháp này quy định: “Việt Nam là một nước Cộng hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 đã tái khẳng định “mục đích thống nhất lãnh thổ” vẫn trên cơ sở nguyên tắc “Việt Nam là một nước Cộng hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Cũng cần nói thêm rằng không có câu nào của cả hai Hiến pháp trên quy định “quốc gia” chỉ gồm miền Nam Việt Nam.
Ngoài ra, sự tách bạch giữa “Quốc gia” và “Việt Nam Cộng hòa” vẫn tại Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa cho thấy “Việt Nam Cộng hòa” là một chính thể hay chế độ chính trị chứ không phải là quốc gia. Thực vậy, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 ghi: “Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân…” và “Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức”. Sự tách bạch này được thể hiện không gì rõ hơn tại Điều 25 của Hiến pháp này: “Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc và chánh thể Cộng Hòa”.
Trên thực tế, các chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có những kế hoạch thống nhất đất nước. Tổng thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch “Bắc tiến” nhằm chiếm lại miền Bắc Việt Nam.Tem thư được in khẩu hiệu "Toàn dân đoàn kết, chuẩn bị Bắc tiến" với đích cắm cờ vàng ba sọc đỏ là Hà Nội, là Chùa Một Cột, biểu trưng của Hà Nội.
Mặc dù chính trị hỗn loạn sau vụ đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, một số lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà vẫn tuyên bố tiến công miền Bắc để thống nhất Việt Nam. Ngày 14/7/1964, Thủ tướngNguyễn Khánh đã công khai tuyên bố “Bắc tiến”. Hai ngày sau, tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng khẳng địnhKhông lực Việt Nam Cộng hòa đã sẵn sàng dội bom miền Bắc. Trung tuần tháng 7/1965, vẫn tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc này là Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương, tức Thủ tướng, đã tổ chức hội thảo “Ngày toàn dân đoàn kết chuẩn bị giải phóng miền Bắc”. Thời kỳ này người ta có thể thấy tại miền Nam các bảng cổ động “Toàn dân đoàn kết để bảo vệ miền Nam, giải phóng miền Bắc”.
Như vậy, không chỉ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và các lực lượng cộng sản ở miền Nam dưới vỏ bọc “Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” quyết “giải phóng” miền Nam mà cả Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam cũng quyết “giải phóng” miền Bắc để thống nhất đất nước!
Tóm lại, theo quan điểm chính thống của Việt Nam Cộng hòa thì ở Việt Nam chỉ có một quốc gia, miền Nam và miền Bắc chỉ là hai phần lãnh thổ của quốc gia Viêt Nam, cuộc chiến giữa hai miền là cuộc chiến ý thức hệ, giữa miền Nam chống cộng và miền Bắc cộng sản. Nói cách khác, chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam giai đoạn từ 1955 đến 30/4/1975 là một cuộc nội chiến và vì vậy không phải là chiến tranh giữa hai quốc gia, giữa hai “nước”, tương tự như những gì đã diễn ra giữa miền Nam và miền Bắc bán đảo Triều Tiên từ 1950 đến 1953. Do đó không thể dùng từ “xâm lăng” cho việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc đưa quân vào miền Nam để cùng các lực lượng cộng sản tại chỗ chống lại Việt Nam Cộng hòa. Cũng như vậy, không thể gọi ngày 30 tháng 4 là “Ngày Quốc hận” vì đã không có chuyện “mất nước” vào ngày đó. Thực vậy, cho đến nay Việt Nam vẫn có tên trên bản đồ thế giới, là thành viên Liên Hiệp Quốc, có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, cho dù lãnh thổ đã bị Trung Quốc chiếm nhiều nơi, nhất là ở biển Đông.
Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận oán hận của những người Việt từng phục vụ chính thể Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ đối với chính quyền cộng sản Việt Nam là vô cùng lớn. Vậy đâu là nguyên nhân?
Chắc chắn việc bị các lực lượng cộng sản mà nòng cốt đến từ miền Bắc đánh bại khó có thể là nguyên nhân bởi thắng, thua trong chiến tranh là chuyện bình thường đồng nghĩa oán hận này chỉ có thể đến từ hành vi trả thù khủng khiếp của chính quyền cộng sản thời hậu chiến.
Có một thực tế là trong chiến tranh người bên đối phương dù đầu hàng vẫn có thể bị giam giữ và nếu trường hợp này xảy ra thì được gọi là tù binh hay tù nhân chiến tranh. Thế nhưng một khi chiến tranh chấm dứt thì vấn đề tù binh cũng chấm dứt, không ai có thể bị giam, bị cách ly khỏi gia đình và xã hội chỉ vì đã ở bên kia chiến tuyến, trừ những kẻ bị truy tố để rồi bị xét xử do phạm tội diệt chủng – tội ác chống loài người. Do đó việc nhà cầm quyền cộng sản sau 30/4/1975 đã giam không án trong gần trăm cái gọi là “trại cải tạo” từ vài năm đến hàng chục năm trời hàng trăm nghìn cựu quân nhân và viên chức của chính thể Việt Nam Cộng hòa mà nhà cầm quyền gọi một cách sỉ nhục là “ngụy quân”, “ngụy quyền” và hơn thế nữa, buộc họ lao động khổ sai dứt khoát là đòn thù. Tài liệu có bí số “TN/QP-14” của Bộ Quốc Phòng Việt Nam được phổ biến ngày 14/02/1977 không úp mở gọi những người này là “tù nhân”: "Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình, Bộ Quốc phòng giao lại cho Bộ Nội vụ quản lý là 1.236.569 người"!
Ông Bùi Xuân Diệm, đại tá Việt Nam Cộng hòa từng là tù nhân tại “trại cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa kể lại với tôi: “Quản giáo nói với tù nhân chúng tôi rằng: ‘Sau này nếu các anh được thả về, các anh chỉ được đi dưới mương chứ không được đi trên đường!’ Nghĩa là dù có được ra khỏi nhà tù có lính gác, “ngụy quân”, “ngụy quyền” sẽ lại bị giam trong sự khinh miệt và kỳ thị đến tột cùng của nhà cầm quyền cộng sản và lần này là chung thân, là vĩnh viễn.
Mà đâu đã hết, ngay cả gia đình những tù nhân này cũng không thoát khỏi đòn thù của nhà cầm quyền cộng sản. Thực vậy, quyết định ngày 19/5/1976 của Chính phủ buộc “dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân” đi “vùng kinh tế mới” lập tại các vùng rừng núi hẻo lánh không gì khác hơn là nhằm đầy ải họ và nhất là nhằm tước đoạt nhà cửa của họ. Bên cạnh đó, thành viên những gia đình này và những gia đình “ngụy quân”, “ngụy quyền” khác phải chịu một sự phân biệt đối xử gay gắt, hầu hết trong số họ bị cấm đoán vào đại học và cơ quan Nhà nước, ngay cả du lịch hay học tập ở nước ngoài họ cũng không được phép, nghĩa là cụt đường tiến thân trong xã hội. Tóm lại, các cựu quân nhân và viên chức Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ bị chính quyền cộng sản tước đoạt những quyền cơ bản của con người, của công dân và vì vậy họ chỉ còn là “phó thường dân” theo đúng nghĩa đen của từ này.
Không dừng lại đó, chính quyền cộng sản còn đang tay đẩy rất nhiều người đã sống dưới chế độ cũ vào chỗ chết khi đứng ra tổ chức hoặc bật đèn xanh cho các cuộc vượt biên chủ yếu bằng đường biển như bán bãi, bán thuyền nhằm thu vàng và chiếm đoạt nhà cửa của họ, đúng cái kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” mà dân gian thường nói. Thực vậy, những cuộc vượt biên đầy rủi ro này đã dẫn đến cái chết thê thảm của hàng trăm nghìn người hoặc do bị lật thuyền hoặc do bị cướp biển giết, đó là chưa kể hàng nghìn, hàng nghìn đàn bà, con gái bị cướp biển hãm hiếp ngay trước mặt người thân của họ trong tột cùng đau đớn.
Một chính quyền táng tận lương tâm như thế, hỏi sao mà không oán hận chất chồng để trở thành thù hận!
Tuy nhiên trong bất cứ hoàn cảnh nào tồn tại một hận thù như vậy là có hại không kể xiết cho quốc gia Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc lăm le chiếm nốt quần đảo Trường Sa sau khi đã chiếm một phần quần đảo này vào năm 1988 và nuốt trọn quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974. Nói cách khác, hóa giải hận thù dân tộc là nghĩa vụ đối với Tổ quốc mà chính quyền cộng sản Việt Nam buộc phải thực hiện và hơn thế nữa, cấp bách.
Chính vì lợi ích tối cao đó của quốc gia Việt Nam mà ngày 30/8/2010 công dân Cù Huy Hà Vũ, một người không hề dính dáng tới Việt Nam Cộng hòa, đã gửi Quốc Hội Việt Nam “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lấy “Việt Nam” làm Quốc hiệu để hòa giải dân tộc”. Thế nhưng thay vì làm theo lời nói phải này, chính quyền cộng sản lại lấy đó làm chứng cứ về “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để bỏ tù công dân Cù Huy Hà Vũ. Cáo trạng ngày 17/12/ 2010 của Viện kiểm sát Hà Nội hậm hực: “Vũ bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phê phán Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gây chia rẽ, thù hằn dân tộc bằng lời lẽ: “ ...Tiếc thay cho ban lãnh đạo nhà nước Việt nam thống nhất đã không làm được như thế mà ngược lại - phải nói thật - còn xát muối vào vết thương chiến tranh chưa kịp lên da bằng việc tập trung cải tạo trong hàng năm trời cả trăm nghìn quân nhân viên chức VNCH, ....đẩy không ít người Việt thuộc chính quyền cũ vào vòng xoáy thù hận, dẫn đến một số quay ra chống chính quyền mới để rồi bị kết tội xâm phạm an ninh quốc gia”! (*)
Vậy là rõ: Chính quyền cộng sản Việt Nam cam tâm bán nước cho Trung Quốc nên mới cự tuyệt đến cùng hòa giải dân tộc. Do đó với những ai giòng giống Lạc Hồng, mau chóng giải thể chính quyền độc tài này không chỉ là cách duy nhất để cứu nước mà còn là cách duy nhất để xóa bỏ hận thù dân tộc vì một Việt Nam hiển vinh trên trường quốc tế.
Tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị xóa sổ, mong là một cách hòa bình. Và cái ngày bao mong chờ đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như “Ngày Tự do” (Freedom Day) đồng nhất với dấu chấm hết cho bức tường “30 tháng 4 - Giải phóng miền Nam” cứa lòng dân tộc.
(*) Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng Hoà – Lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc, Bauxite Việt Nam 31/8/2010, http://www.boxitvn.net/bai/10233
Tác giả là một nhà bất đồng chính kiến và tù nhân chính trị Việt Nam, đã hai lần khởi kiện Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng về các quyết định trái Hiến pháp và pháp luật, hiện là học giả tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.
Trích dẫn:
“Việc nhà cầm quyền cộng sản sau 30/4/1975 đã giam không án trong gần trăm cái gọi là “trại cải tạo” hàng trăm nghìn cựu quân nhân và viên chức của chính thể Việt Nam Cộng hòa mà nhà cầm quyền gọi một cách sỉ nhục là “ngụy quân”, “ngụy quyền” và hơn thế nữa, buộc họ lao động khổ sai dứt khoát là đòn thù”
“Với những ai giòng giống Lạc Hồng, mau chóng giải thể chính quyền độc tài này không chỉ là cách duy nhất để cứu nước mà còn là cách duy nhất để xóa bỏ hận thù dân tộc vì một Việt Nam hiển vinh trên trường quốc tế”.
“Tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị xóa sổ, mong là một cách hòa bình. Và cái ngày bao mong chờ đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như “Ngày Tự do” (Freedom Day) đồng nhất với dấu chấm hết cho bức tường “30 tháng 4 - Giải phóng miền Nam” cứa lòng dân tộc