Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label TSNguyenDuongDonParis. Show all posts
Showing posts with label TSNguyenDuongDonParis. Show all posts

Saturday, 8 March 2014

HẦU HẾT NHỮNG NHÀ TRÍ THỨC SỐNG Ở PARIS THỜI PHÂN CHIA NAM, BẮC ĐỀU BỊ VIỆT CỘNG LUNG LẠC

NGUYỄN DƯƠNG ĐÔN TUY CÓ THỜI PHỤC VỤ VNCH - NHƯNG NAY CÓ TÀI LIỆU CHO THẤY ÔNG TA CŨNG LÀ MỘT TAY VC NẰM VÙNG ĐƯỢC VC CÀI VÀO GUỒNG MÁY VNCH - (Hiện tài liệu chưa rõ ràng nên chúng tôi chỉ đăng tin báo động và hy vọng chúng tôi sẽ nhận được những tài liệu chính xác hơn.) ./- Mt68

Nguyễn Dương Đôn là nhà khoa học, giáo sư trường Khải Định, Huế (1939-1945), giáo sư Toán Viện Đại Học Hà Nội (1945-1946), Tổng Giám Đôc Trung Học Vụ tại Huế (1945) và Hà Nội (1952), Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục (1954 - 1957), Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Ý, tòa thánh Vaticanvà Tây Ban Nha (1957 - 1966).


Ông sinh ngày 28 tháng 12 nǎm 1911 tại Dương Xuân Hạ (Huế), học sinh trường Quốc học, trường Albert Sarraut, tốt nghiệp cử nhân Toán trườngÐại học Sorbonne. Tháng giêng nǎm 1939 sau kết thúc học tập tại Paris, GS Đôn trở về quê hương, lên tàu thủy đi Sài Gòn, cùng với gia đình, vợ người Đức và ba con trai sinh tại Paris. Gần cuối nǎm ấy bùng nổ Thế giới Chiến tranh thứ hai.
Sau hai ba tuần nghỉ tại Sài Gòn, giáo sư Đôn trở về Huế, làm giáo sư Toán tại trường Trung Học Khải Định. Tại trường đó, bạn đồng nghiệp của Ông Đôn là các giáosư Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Lân, Ưng Quả, Phạm Đỉnh Ái, Nguyễn Huy Bảo. Đêm 9/3/1945, đảo chánh bùng nổ trên toàn cõi Đông Dương. Quân đội Nhật lật đổ chính quyền bảo hộ Pháp. Các trường học đều đóng cửa. Một tuần sau, giáo sư trường Khải Định hội họp tại một rạp chiếu bóng lúc xưa là to nhất ở Huế, với sự có mặt của một đại diện Quân đội Nhật. Sau khi người sĩ quan Nhật cho phép mở trường lại với điều kiện là bãi bỏ hoàn toàn tiếng Pháp, các bạn đồng nghiệp của giáo sư Đôn bầu Ông làm hiệu trưởng mới. Bất ngờ cho hội họp, giáo sư Đôn từ chối và nhường lại cho giáo sư Phạm Đỉnh Ái. Vì thế Ông Phạm Đỉnh Ái là người Việt đầu tiên thay thế người Pháp điều khiển một trường lớn. Về sau được mời làm Giám đôc Trung Hoc giáo sư Đôn, với sự hợp tác của các giáo sư trường Khải Định, soạn thảo chương trình Trung Học Việt Nam đầu tiên.
Ủy ban Hành chính Bắc Bộ và Trung Bộ được thiết lập thay thế Tòa Khâm sứ Bắc Kì và Trung Kì. Trong Ủy ban Trung Bộ, phụ trách thông tin là ÔngNguyễn Duy Trinh. Giaos sư Đôn được mời làm Ủy viên giáo dục. Vì chẳng ưa thích đời sống chính tri, Ông Đôn đến tìm giáo sư Tôn Quang Phiệt (sau này có lần Ông làm chủ tịch Quốc hội tại Hà Nội) và yêu cầu Ông Phiệt nhậm chức vụ ấy thay cho Ông. Giáo sư Tôn Quang Phiệt nhận lời, nhưng sau đó Ủy ban Hành chính Trung Bộ không chịu đổi ý kiến. Ông Đôn phụ trách giáo dục Trung Bộ mấy tháng, cho đến lúc ra Hà Nội.
Lúc ấy là thời gian thi cử mùa hè 1945. Ngày thi gần đến thì Ủy ban Trung Bộ nhận được mật điện của Ông Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội đánh vào bảo hoãn các kì thi. Hà Nội không tổ chức được kì thi vì phong trào "xếp bút nghiên" của học sinh. Không lẽ vì phong trào xếp bút nghiên, vì hoàn cảnh chính trị mà không làm nổi một việc làm tầm thường như tổ chức kì thi. Nghĩ như vậy nên khi Ủy ban Trung Bộ hỏi ý kiến, thì giáo sư Đôn khuyên cứ tiếp tục tiến hành việc thi cử. Đây là kì thi Tú tài Việt Nam đầu tiên, sau thời Pháp thuộc, được thực hiện tại Huế lúc đó.
Ðầu niên khóa 45 - 46, vì thiếu giáo sư, Viện Đại Học Hà Nội mời ba người ở Huế ra dạy. Ông Ðào Duy Anh, Ông Nguyễn Dương Đôn và Nhà VănHoài Thanh. Ông Đôn lấy xe đi Hà Nội cùng với Ông Ngô Ðình Nhu và Ông Trần Ðǎng Khoa, một cán sự cao cấp Công Chính. Tại Viện Đại Học HàNội hồi ấy (niên khóa 45 - 46), dạy môn toán chỉ có hai người, giáo sư Hoàng Xuân Hãn và giáo sư Nguyễn Dương Đôn. Dạy ngành Cơ học (Mécanique Rationnelle) giáo sư Hãn bắt đầu giảng bằng tiếng Việt. Còn giáo sư Đôn thì trước kia đã có dạy toán cấp Tú tài bằng tiếng Việt, nhưng tự xét chưa dạy được môn Toán Đại học bằng tiếng ta. Nên hồi đó giáo sư Đôn còn phải dạy Toán học Đại cương (Mathématiques Générales) bằng tiếng Pháp. Tết đầu nǎm 46, giáo sư Đôn trở về Huế thǎm gia đình, ở luôn mấy tháng vì được tin chính phủ đóng cửa Viện Đại học Hà Nội. Đầu niên khóa 46 - 47, giáo sư Đôn trở lại Hà Nội, lần này đi tàu hỏa với cả gia đình. Đến Hà Nội, gia đình giáo sư Đôn được giáo sư Ngụy Như Kontum cho ở nhờ, ở chung tại nhà Giám đốc Học Xá Sinh viên tại khu Bạch Mai. Một thời gian sau, giáo sư Hoàng Xuân Hãn lại mời giáo sư Đôn cùng cả gia đình về ở chung trên hiệu thuốc Bà Hãn ở Hà Nội, phố Tràng Tiền. Tuy có nhà vườn ở Bạch Mai, ông bà Hãn có ý mời gia đình giáo sư Đôn vì lúc ấy tình hình xã hội và chính trị rất cǎng thẳng. Đêm 19/12/46, bom đạn nổ khủng khiếp trước hiệu thuốc Bà Hoàng Xuân Hãn tại phố Tràng Tiền.
Sau khi quân đội Pháp trở lại Hà Nội, giáo sư Đôn nghỉ hẳn mọi hoạt động, "trùm chǎn" cho đến ngày vĩ tuyến 17 chia đôi đất nước, giáo sư Đôn vào miền Nam. Chánh phủ Ngô Đình Diệm mời giáo sư Đôn làm Bộ trưởng Giáo Dục từ 1954 đến 1957. Bộ trưởng Quốc Gia Giáo Dục trong giai đoạn khó khǎn và một hoàn cảnh chính trị rất là lộn xộn, ngoài việc phát triển mở mang các trường Trung Học cũ mới, xây dựng Viện Đại Học Sài Gòn, giáo sư Đôn còn thành lập thêm hai cơ sở Giáo dục quy mô tráng lệ vững vàng, Trường Quốc Gia Âm Nhạc và kịch Nghệ và Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mĩ Thuật.
Đầu nǎm 1957, theo lời yêu cầu của ông, giáo sư Đôn được bổ nhiệm làm Đại Sứ tại Ý, tòa thánh Vatican và Tây Ban Nha, ngồi tại Rome. Ngoài công việc đại diện Việt Nam Cộng Hòa tại ngoại quốc, Đại Sứ Nguyễn Dương Đôn cũng là sứ thần của nền Văn Hóa Việt Nam trong những lần hội nghị Quốc tế tại nhiều nơi như Paris, Genève, Bonn, Montevideo, Tokyo, New Delhi. Mở rộng mối bang giao với các tân Quốcgia, giáo sư Đôn đại diện Việt Nam Cộng Hòa đã tham dự các ngày lễ Tuyên Cáo Độc Lâp Mã Lai (KualaLumpur, tháng 9 nǎm 1957), lễ Độc Lâp Sénégal (tháng tư 1961).
Ông qua đời ngày 20 tháng 10 nǎm 1999 tại Roma (Ý).

Gia dình[sửa | sửa mã nguồn]

Thân phụ Ông Nguyễn Dương Đôn là Ông Nguyễn Dương Thuyên (18611910), người Nghệ An, phủ Hưng Nguyên, tổng Phù Long, làng Long Cù. Mẹ Ông là Bà Công Tôn Nữ Thị Sanh (1885 - 1967), cháu nội Tùng Thiện Vương (Miên Thẩm), con thứ 10 của vua Minh Mạng. Ông Đôn chỉ có một người chị ruột là Bà Nguyễn Thị Trâm cao hơn nǎm tuổi, kết hôn với Ông Ưng Thuyên (Phòng Tuy Lý Vương, con trai thứ 11 của vua Minh Mạng). Lúc còn ở tại Pháp Ông Nguyễn Dương Đôn kết hôn với Sophie Josephine Anne Mohr, người đàn Bà Ðức sinh tại Saarbrücken (1911). Tháng 2 nǎm 1962 Bà Sophie Đôn mãn phần tại một Bệnhviện tại Rome sau một cuộc giải phẫu vì bạo bệnh. Hai Vợ Chồng có 5 người con trai:
  • Người con trai cả là Bácsĩ Jean Nguyễn Dương Đôn sinh tại Paris nǎm 07/10/1933.
  • Người con trai thứ hai là Giáo sư Thạc sĩ Nguyễn Dương Hoàng sinh tại Paris (X) nǎm 15/4/1935. Sau khi thi đậu tú tài tại Lycée LouisleGrand (Paris, Pháp) và sau hai nǎm niên học tại Đại học Sorbonne, ông qua Tây Ðức để tiếp tục sự nghiên cứu Hóa học tại Đại học Heidelberg (Ðức). Ông tốt nghiệp học vị Tiến sĩ Hóa học tại phòng thí nghiệm của Georg Wittig, nhà khoa học Ðức đoạt giải thưởng Nobel Hóa học nǎm 1979. Sau khi nghiên cứu ba nǎm tại Hoc viện Sinh lí Đại học Tübingen và sau khi đậu thạc sĩ về môn học Sinh Lí Giáo sư Nguyễn Dương Hoàng dạy tại Đại học Ulm (Nam Ðức) đến nǎm 2000 thì được về hưu. Chuyên ngành của ông là về sinh lí và dược lí Bệnh rối loạn tuần hoàn máu và chứng huyết áp cao.
  • Người con trai thứ ba là kĩ sư Nguyễn Dương Huyền sinh tại Paris (X) nǎm 01/12/1937 và qua đời tại Batangas (Philippin) nǎm 28/5/2004, và
  • Hai người con trai sinh đôi sinh tại Huế (15/3/1943): Kiến trúc sư Nguyễn Dương Văn và Tiến Sĩ Nguyễn Dương Liên.