Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 25 September 2024

 Cô Bắc Kỳ Rạch Giá

LHXung , 

Nguyễn Trung Trực 1963 

*Ghi Chú Nhỏ:
Bài viết nầy nếu may mắn được lọt vào mắt ai, Người Rạch Giá, sẽ dễ dàng nhận diện, sẽ đồng điệu thương cảm tâm tình cùng quê, cùng trường dễ hơn, nhiều hơn. Rất tiếc không còn tìm thấy Bài Viêt "MỈM CƯỜI" mà sau nầy có đông đảo Cựu Học Sinh NTT cùng thời đã xác nhận Tác Giả tên thật là Nguyễn Thị Hồng Sâm (?), hiện định cư ơ Hoa Kỳ./-lhx



      Tôi rất cảm động khi đọc qua bài viết, nói về Rạch Giá thân yêu của một tác giả cùng quê; hay đúng hơn là nghe được tâm tình của Cô Em Bắc Kỳ Rạch Giá. Nhỏ nhẹ nói về mình, viết về bạn bè thân thiết ở chốn ấy với những tháng năm xa tít mù khơi. Bằng một giọng văn gọn gàng, trong sáng, bình thường hiếm có, cô đã đưa người đọc trở về thăm quê, đi lại những nẻo đường quen thuộc, ngửi mùi khô cá đuối, nghe sóng vỗ ì ầm dọc theo bờ đá của con đường Hoàng Diệu. Từng chữ, từng lời gợi cho tôi một nỗi nhớ nhung ray rứt trong lòng. 

Ðây là một bài văn lộng lẫy, gói trọn riêng tư và cả một khung trời kỷ niệm của lứa tuổi học trò mộng mơ, nội dung vượt ra ngoài khuôn khổ đạm bạc thường hữu của Rạch Giá. Hình như tôi chưa từng được đọc của bất cứ một người cầm bút nào khác, nói cặn kẽ về thành phố biển bùn lầy ấy chỉ trong một vài trang cô đọng ngọc ngà.

Hầu như rất ít khi một văn phẩm, một tạp chí nào chịu cho đăng 2 lần ở hai kỳ phát hành kế tiếp như các Ðặc San Kiên Giang. Bài viết có một sức hấp dẫn và lôi cuốn mãnh liệt. Tôi đã đọc mỗi kỳ vài lần ở cả 2 giai phẩm và đặc san, mà vẫn còn thấy mới, thấy lạ! Tôi không tin rằng người phụ trách đã lâm vào tình trạng thiếu bài vở, nên đành phải cho đăng lại thêm một lần .

Xin cảm ơn tác giả đã cung cấp cho tôi nhiều dữ kiện, làm sống lại những ngày có Hòa, Danh, Tuấn, Xuân, Thạnh, Ngọc, Tuyết, Ánh Nguyệt ... cùng nhau miệt mài đi tìm chữ nghĩa cho tương lai. 

Mấy chục năm qua, đôi khi dấu tích ngôi Trường Nguyễn Trung Trực chợt về, nhưng chỉ trong khoảnh khắc, đứt đoạn. Không như lần nầy nó đã lưu lại dài lâu hơn, đậm đà và rõ nét hơn. Mặc dù ra đi từ năm 79, nhưng tôi vẫn nghìn trùng xa cách, chưa một lần quay lại. Dù Mẹ Già đã luôn mong chờ trước khi hóa ra người Thiên Cổ. Mẹ tôi đã lìa đời lúc chưa gặp lại con sau bao năm dài chia cắt .

 Tôi chưa hề biết tác giả là ai, tôi chưa thấy tác phẩm "mỉm cười", nhưng văn kỳ thanh đã cho phép tôi có cảm tưởng như thật thân quen, vì cảm kích có thời đã cùng chung một mái trường .

Tôi xin mượn đôi hàng ngăn sông cách núi nầy để kể lể một đôi điều phía trước 1963 của ngôi trường NTT mé biển, cuối đường Trương Vĩnh Ký! 

Sau khi chỉ còn chừng 30 đứa chịu ở lại với lớp đệ 1 Tỉnh lẻ, bao gồm cả A lẫn B, cộng chung Anh lẫn Pháp Văn và ngôi trường hãy còn ở vị trí cũ. Tôi còn nhớ vì là huynh trưởng cho cả trường nên thấy mình cũng oai oai, chúng tôi được trường xem như ngoại lệ, các thông cáo cấm kỵ chuyện nầy, chuyện kia cuối cùng đều có ghi câu "Thông cáo nầy không áp dụng cho lớp Ðệ Nhất". Học được nửa năm thì xảy ra cuộc đảo chính 1-11-63, chúng tôi bắt chước các trường trung học khác trên toàn quốc, lập ra Ban Ðại Diện ủng hộ chính phủ cách mạng. 

Các Giáo Sư bị gom vào trong phòng họp, bên ngoài BÐD tố khổ các GS mà học sinh vốn không ưa. Ông Nguyễn Chuyết là bị nặng hơn cả, BÐD đã tuyên đọc quyết định cho rằng "Không bảo đảm an ninh nếu GS Chuyết còn dạy ở NTT". Chuyện như giỡn chơi, thế mà có hiệu lực thiệt, GS Chuyết bị thuyên chuyển ngay sau đó. Ông ấy có phần hơi lập dị quá đáng, đi trong trường hay ngoài phố khi muốn quẹo phải, trái Ông chặt góc 90 độ như nhà binh đi diễn hành. 

Nghe đâu khi bị gọi vào Thủ Ðức, Ông Chuyết vẫn giữ cố tật nên bị nhốt 301 hoài và cuối khóa bị đánh rớt cho ra trung sĩ. 

Tôi rời Rạch Giá cuối năm 64, sau một năm học ảnh hưởng thật nhiều biến động bên ngoài. Năm ấy có lẽ Cô Bắc Kỳ chỉ mới nho nhỏ, bỡ ngỡ chuẩn bị bước lên trung học, chắc là chưa qua bên kia trường mới ?!

Các bạn đồng song NTT cho phép tôi được mạo muội gợi lại một chút yêu thương của người Rạch Giá. Qua những chi tiết sơ lược mà tác giả phác họa về mình, như người vẫn thường đi trong sương lạnh. Tôi cũng như bao nhiêu người tò mò khác, khi bắt gặp một chuyện hay, thường  dừng lại để xem, mình có biết một chút gì thêm về thân thế của người viết không? Ðây lại là người cùng bản xứ, nên chắc tôi phải dong dài, xa xăm hơn ... mong tác giả và bạn đọc, ai thấy rong rêu hơi nhiều xin miễn chấp cho !

Theo Cô cho biết, sinh quán là Nam Thái Sơn, địa danh khá xa lạ nầy, tôi nhớ như đã có nghe qua, trên miệt Hòn Me, Hòn Ðất , Hòn Chông hay Tín Ðạo, Kiên Lương có đúng không?! Trước năm 75, nghề nghiệp của tôi có dính dấp khá nhiều với xã, ấp  trong Tỉnh Kiên Giang.  Tôi đã qua các nhiệm sở mà đất đai rất bằng phẳng thì không có một địa danh nào có chữ Sơn, chỉ trừ trên Kiên Lương, Hà Tiên mới có núi non. 

Nếu tôi không lầm, hồi VNCH Tỉnh Kiên Giang không có một xã nào có tên là Nam Thái Sơn, có thể chỉ là một Ấp mà thôi. Tuy tôi không làm việc một ngày nào trên Kiên Lương, nhưng tôi thường lui tới nơi nầy là vì tôi có một đàn Anh hành nhiệm tại đây. Anh ta cũng dân NTT, Anh bị Việt Cộng phục kích hạ sát trong một chuyến công tác huấn luyện Nhân Dân Tự Vệ, năm 71 thì phải?! 

Người thay thế lại là bạn cùng khoá với tôi, Anh ta người Bắc nhưng Nam Kỳ hơn cả Nam Kỳ Rạch Giá. Hai đứa gần gũi nhau suốt mấy năm học, khi mãn khóa Anh ta nhất định theo tôi về Rạch Giá-Kiên Giang. Ðêm 29-4, Anh đã ra được ngoài khơi trên một chiếc PCF của Hải Quân thuộc một đơn vị duyên phòng tại cứ điểm Ba Hòn, nhưng không hiểu sao Anh lại quay vào bờ. 

Gặp nhau lúc chiều ngày 30-4, chưa kịp nói năng gì thì nhà tôi bị VC ập vào lục soát  và dẫn tôi ra khỏi nhà, may thay Anh bạn tôi lanh trí lùi ra sau, nhanh chân thóat thân. Mấy hôm sau thì anh tìm được mối quen để vượt biên, định đến Thái. Nhưng mãi sau nầy mới hay có lẽ tàu nhỏ phải chạy cận bờ nên bị Miên Đỏ (Khmer Rouge) sát hại. Vì cũng có rất nhiều quân nhân thuộc Chi Khu Hà Tiên, trong đó có Thiếu tá LQT , một đàn anh Rạch Giá, đã ra đi ngay ngày 30 cũng cùng chung một số phận, không đến được bến bờ Tự Do .

 Trở lại đầu đề, Cô nói mình chính tông là dân Rạch Giá; nhưng trong tờ Thế Vì Khai sinh lại ghi là sinh tại Làng Thụy Phương, Tỉnh Hà Ðông. Thông thường giấy Thế Vì Khai Sinh hay được gọi là Án Thế Vì Khai Sinh, vì thủ tục làm giấy nầy phải ra Toà, phải được Toà tuyên án. Không có cơ quan hành chánh nào có thẩm quyền làm giấy Thế Vì Khai Sinh, Xã và Phường chỉ có quyền làm khai sinh cho trẻ mới sanh có các Nhà Hộ Sinh hay Bác Sĩ  chứng nhận. Khi ra Toà lập giấy thế vì khai sinh, phải có 2 nhân chứng đứng trước Toà cùng với Cha,  Mẹ và đứa bé. Nếu đúng theo cách thức nầy, thì Cô phải sinh trước 1954, vì sanh sau thì không thể nào ghi là ở Thụy Phương Hà Ðông được, đất nước đã phân đôi từ thời điểm đó. 

Chứng tỏ gia đình Cô không thể nào là người Bắc Di Cư, gia đình Cô thuộc thành phần mà người ta hay quen gọi là Bắc Kỳ Cũ, nghĩa là đã vô Nam trước Hiệp Ðịnh Genève. Gia Ðình Cô có mặt ở Nam Thái Sơn trong một thời khoảng loạn ly, tranh tối tranh sáng như thế thì song thân của Cô chỉ là những người phó thường dân. Không dính líu vào cả 3 quyền lực mà cư dân hẻo lánh đều né tránh: "Chạy Pháp, Lánh Bảo Hoàng, Hãi hùng Việt Minh". 

Song Thân của Cô đã đi qua coi như gần hết chiều dài Nước Việt, dừng lại ở một góc trời hoang vắng, chung quanh toàn là những người bản địa. Cho nên nỗi niềm  quạnh hiu của Cô có thể đã được tích tựu từ lâu lắm, cũng như giòng máu văn nghệ của Cô đã có cội nguồn từ Thụy Phương, từ Ông Bác  ruột đàn Tam thập lục lâm ly đến nỗi ma phải núp ngoài song cửa lắng nghe! 

Trước năm 50, người Bắc còn rất hiếm trên đất địa Rạch Giá, tôi chỉ biết có một Bà Bắc mà ai cũng hay gọi nhầm là Bà Huế, bán một tiệm tạp hoá nhỏ gần Thành Cả Bé, sau nầy là Bến Cá Ðồng cách  Chợ Căn Cứ Rạch Sỏi không xa. Bà ấy là mẫu người Ðàn Bà Bắc nguyên vẹn, răng nhuộm vẫn còn giữ, luôn mặc Áo Bà Ba trắng, đầu quấn khăn nhung, xưng hô ngọt ngào. Hình ảnh nầy giúp tôi có thể hình dung được một phần khá nhiều về cảnh sống một mẹ, một con trong một tiệm bề bộn hàng xén. Bước ra khỏi cửa là biển cả mênh mông, lúc trời quang mây tạnh, thấy Hòn Rùa trong một màu xanh biếc, như đã nhích lại gần bờ.

 Bây giờ nói về những năm tháng ấy nghe như có nhiều đắng cay, nhưng qua rồi nhìn lại thấy mình lắm hiên ngang, không kém phần rực rỡ phãi không Cô Bắc Kỳ người Nam của Rạch Giá? Của những năm tháng nồng nàn, có mẹ có con quấn quít bên nhau; nay đã bay xa ngút ngàn, không thể nào kêu về, gọi lại !

Tôi bước tới một chuyển điểm quan trọng mà Cô Bắc Kỳ đã thoáng hé môi, Cô rời Rạch Giá năm 1970. Tôi đoán và tin tưởng rằng năm đó Cô đã xong Trung Học, với một ước vọng muốn tiếp tục lên Ðại Học. Chỉ có một con đường duy nhất là lên Sài Gòn, sở dĩ Cô chọn Sài Gòn làm nơi để tiến thân, mà không thấy nói gì đến Cần Thơ là vì dù sao đi nữa, Cô cũng có người Chị ruột sinh sống lâu năm trên ấy. Có một chi tiết khác Cô không quên nhắc tới là khi Cô lên Sài Gòn ở trọ nhà Chị để học khoá luyện thi Tú Tài, một tuần sau khi xong Cô " về nhà" thấy mẹ mình bị con nợ đàn ông hành hung tím bầm cả mắt. Cô dùng chữ "về nhà", nên đọc kỹ thấy rằng, thời gian đó Cô chỉ đi SG để học luyện thi, chứ chưa rời  RG. Như thế lúc đó phải là trước 1970 và khi xong Tú Tài 2, được vào Ðại Học Cô mới lên ở hẳn trên SG cho tiện việc học hành. Rất có thể mẹ Cô, còn lưu lại ở RG thêm một lúc lâu sau và có lẽ vì quá lẻ loi, nên Bà cũng quyết định theo chân con, không lẽ cứ mỗi người một ngã mãi hay sao ?!

Từ cái mốc khẳng định, năm 1970 Cô đã xong Tú Tài 2, tôi đi lùi lại 7 năm trung học; thì tới lớp Ðệ Thất phải là năm 1963. Nếu không quá sai lệch thì Cô cũng không cách biệt mấy với Cô Sàm Diêu, và Cô "Oanh" là người chăm sóc Thư Viện của NTT sau nầy? 

Từ 63 lùi thêm 5 năm nữa là năm 1958  Cô bắt đầu cấp sách đến trường, năm mẹ Cô làm giấy Thế Vì Khai Sinh cho Cô. Từ đây thì ai cũng có thể đoán được năm sinh của Cô Bắc Kỳ RG ! Tôi không dám đến gần hơn cái cổng giới hạn nầy, vì ở các xứ văn minh, mình không nên chi tiết nhau quá đáng, "privacy mà !". hay là các bạn đọc khác cứ tới thử, biết đâu chẳng có ngày sẽ thấy "nhân diện đào hoa tương ánh hồng !"

Tôi trân trọng "xin lỗi " Cô Em Bắc Kỳ RG về những gì mà tôi đã suy đoán bên trên, tôi biết nó đã vi phạm những nguyên tắc lịch sự thông thường cần có cho bất cứ ai, đối với những người có chút ít chữ nghĩa thì lỗi lầm nầy càng trầm trọng hơn phải không Cô ?!  Nhưng vì qua bài viết của Cô, không hẳn chỉ có riêng tôi mà chắc chắn đã có rất nhiều người, đọc xong là muốn biết  "cái thằng tôi" của Cô là ai mà viết văn mượt mà, tài tình đến thế ?! Chính vì nhu cầu hiền từ và khẩn thiết ấy mà tôi đành phải ngứa tay. Mong Cô và cả bạn bè thân thiết của Cô miễn thứ cho !

Bây giờ thú thiệt, tôi cảm thấy vui, vì tôi đã thắp sáng lên được ngọn đèn màu vàng (amber), loại đèn đường chống sương mù ấy mà ! Cô BKRG, từ nay thiên hạ, bạn bè, độc giả ở xa như tui, hân hạnh được biết về người mù mờ ấy một cách khá rõ ràng rồi ! Măc dù qua hư cấu, qua suy luận. Nhưng có dựa vào các bằng chứng ẩn hiện trong nỗi  niềm và "mỉm cười" âu yếm của chính Cô. Chứ có phải đâu hoàn toàn do trí tưởng tượng của một gã khù khờ xa lạ!

Thôi, chúng ta cho qua phần đối chiếu chỗ nọ, ngày kia với nhau nhá ! Từ giờ tôi xin chỉ đề cập đến các phần văn nghệ cho vui . Một người cầm bút nhiều hơn cầm Ðũa như Cô, sở dĩ tôi nói thế là vì  cầm Ðũa chỉ trong lúc bữa ăn, còn cầm bút như Cô thì dài dài .. học hành, đi dạy, viết văn. Chắc cũng có lúc đang cầm bút, chợt "mỉm cười !" Hẳn Cô thừa hiểu một "truyện hay", một bài văn hay, một bản nhạc hay là vì người đọc, người nghe thấy như có chính mình trong đó. 

Như có mình càng nhiều thì tác phẩm văn nghệ càng hay và nhiều người có cùng chung một cảm nhận thì tác phẩm trở thành nổi tiếng, trở thành vang danh. Truyện Kiều thành bất hủ là vì qua những nỗi đoạn trường, đau thương của Thúy Kiều đã làm mủi lòng hàng chục triệu người đọc. Người ta thấy chuyện đời ngổn ngang trong tác phẫm với những câu thơ diễn đạt cảnh éo le, ngang trái cũng có phần như của chính thân phận mình. Hàng trăm năm đã qua đi nhưng chuyện đời vẫn vậy, nên tác phẩm vẫn cứ hay và Nguyễn Du vẫn cứ như còn sống  bàng bạc đâu đây !


                               *Nhà Lồng Chợ Rạch Giá- Từ 1926

Cùng Cô Em BKRG! Càng về sau nầy tôi tự thấy mình đang múa rìu trước mắt thợ, biết vậy nhưng cứ múa là vì đã vững tin vào tình Rạch Giá mí nhau, lỡ có rớt xuống ngựa chắc cũng được tha . Chắc không đến nỗi bị nện cho ngay một búa nặng ngàn cân của Trình Giảo Kim  khiến cho người, ngựa nát như tương. Tôi càng vững dạ hơn nữa vì qua văn phong của Cô, độc giả đã gặp được một người cầm bút hào hiệp . Không hào hiệp sao Cô có được đông đảo bạn bè gắn bó và thâm giao đến như vậy? Toàn là những tên, nghe qua đã thấy mang đầy tính khí anh hùng lương sơn bạc. Mãi tận xa xôi mà vẫn chìa tay tới gần thăm hỏi, không phải chỉ có bằng những lời đầu môi chót lưỡi, nghe Cô tả mà tôi thấy phát mê, ước gì tôi có được chỉ một hai tình bạn tri âm, tri kỷ như bên ấy, chắc tôi sẽ mãi tròn giấc ngủ hương hoa. 

Suýt chút nữa lại quên, Cô đã có tin tức gì về Cô Mỹ Nga chưa? Cô trưởng lớp Tam C mà Cô đã nhắc nhở hà phương (nơi đâ?)? Xin chúc bạn bè sớm có tin vui về Cô bạn ấy ! Quả thật người xuất thân Ban C, tay cầm viết thấy trơn tru và nhuần nhuyễn hơn những kẻ tùy hứng, nửa nạc nửa mỡ Ban B rất nhiều. Cái thuở chúng tôi NTT chưa có Ban C, nên bây giờ đọc văn người gốc NTT không quá đỗi ngạc nhiên sao được? Rạch Giá mình từ lâu vẫn chỉ nổi tiếng về ăn chơi và rượu chè, tôi không dám thêm hai chữ cờ bạc, vì nghe nói chỉ thịnh hành dưới thời Pháp thuộc, còn số đuôi thì tỉnh nào mà chẳng có. 

Tôi nghĩ kể từ nay, RG đã tẽ vào một khúc quanh mới, tôi thấy có nhiều ngòi bút gốc RG xuất hiện. Ðiển hình, lần đầu tiên tôi đọc thấy Cô BKRG, văn vẻ của Cô làm cho người đọc tỉnh giấc, giống như người dân nội thành nửa đêm nghe tiếng chuông Hàn San Tự, vội vàng cầm lấy hạt tràng tụng niệm "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền".

Chắc Cô cũng đồng ý với mọi người, khi nhìn nhận rằng: Văn tức là người (nhân như kỳ văn). Qua văn chương của một người, khiến cho thiên hạ dù chưa một lần diện kiến cũng sẽ hiểu được về tác giả, dĩ nhiên là không thể nào hiểu hết, vì còn nhiều cái không viết ra, không cho lộ diện thì làm sao ai mà hiểu. Tôi nghĩ thà là kín như Cô vẫn là hay hơn, vì cởi mở quá đáng thì còn gì nữa để cho người ta nôn nóng tìm hiểu. Viết lách như Cô quả là quá khéo, cái gì cũng chỉ ít ít vừa phải, không thể nào nhiều đến nổi phát ngán. 

Ðộc giã đã thấy rồi, chân dung của Cô đã thể hiện bao gồm một chút nghịch ngợm có chừng mực (cái thằng tôi), một chút dí dỏm mô phạm (cua xào lăn, vỏ cá bự lại rẻ, ống chề) , một chút táo bạo có hạn chế (quần xăn cao tới bẹn), một chút thẳng thừng chửi bới không ngần ngại (ăn đầu sóng, nói đầu gió). Dễ thấy hơn cả là cung cách phân giải chuyện đời (khăn áo chỉnh tề đi hoá giải), biết lúc cần ngồi xuống, khi phải đứng lên. Chứng tỏ Cô Em trưởng thành với diện mạo bên ngoài là Rạch Giá, nhưng  tâm hồn vẫn là Thụy Phương, Hà Ðông; do khung trời Bắc Kỳ của Mẹ bảo bọc...

 Trong số những kỷ niệm thâm sâu với bằng hữu, Cô có nhắc đến biệt danh "Sư tử Hà Ðông", dĩ nhiên bạn bè đặt để cho vui vậy mà; chắc Cô thừa hiểu câu chuyện Sư tử Hà Ðông chính gốc của nó là ở bên Trung Hoa, ở miền Hoa Trung thì phải ?! Có một ngôi Làng nằm bên bờ một con sông ở phía Ðông của một Thủ Phủ. Nổi tiếng khắp trung quốc là bởi đàn bà ở đó rất "dữ tợn", Ông chồng vắng nhà đi lén phén là Bà Vợ vác roi đi tìm, cho một trận nên thân; còn Ông chồng mà ngoan ngoãn ở nhà thì muốn gì cũng được. 

Người đời hay nhớ đoạn đầu mà thường  quên hẵn đoạn sau, như vậy là không công bằng cho các bà Hà Ðông bên Tàu. Còn Hà Ðông trong cái tờ thế vì khai sinh của Cô, lại là một Hà Ðông rất dễ thương, đã được Nguyên Sa và Ngô Thùy Miên cho đi vào máu tim của người Việt qua chiếc áo lụa Hà Ðông . Tôi có nói chuyện với anh bạn cùng sở, anh nói Hà Ðông ở ngoại thành Hà Nội của anh ấy, các bà các cô hiền khô, chỉ chuyên trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa quanh năm với mẹ già, nào có biết dữ dằn gì đâu !



Chắc không hờn, nếu có ai hỏi thăm các năm xưa một tí, lúc làm Cô Giáo trẻ ở Long An, có dạy ở Bến Lức hay Thủ Thừa? Có từng thấy vòng tay Nguyễn Thị Hoàng nào chưa ?! Ở tỉnh học trò có đứa học trễ lớn tồng ngồng, Rạch Giá mình thời tôi cũng có vài vòng tay, nhưng là của Ông Thầy cơ ! Có một vòng tay tôi ghét lắm hay hằn học nhất thì đúng nghĩa ở trường hợp của tôi hơn. Vài năm sau tôi có gặp lại Ông Thầy dạy triết Tống văn Ưu, hình như biết chuyện .. . gặp nhau trên phà Vàm Cống, Ông có nói mấy lời an ủi. 

Lần thứ hai tình cờ qua Cô PT Gia-Lai, chúng tôi diện ngộ trong ngỡ ngàng, lúc tôi lên công tác trên Tỉnh Quảng Ðức, thấy Ông mang cánh gà chẳng hiểu làm sao? Giọng Ông buồn hơn cả mưa rừng cao nguyên, xứ ngũ đồi ướt át một năm nào! Tôi vẫn nhớ một đôi lời ngắn ngủi lúc phà qua giữa giòng sông, đứng nhìn cả hai bến bờ đều mịt mờ trong giá rét ban mai, nó giúp tôi thêm sức để thấy đời rong ruỗi xa hơn. Xin được một lần nhắn lời biển dâu cám ơn  Ông Thầy Bắc Kỳ, xấu trai vì cơn bạo bịnh; nhưng tình người thì tuyệt vời, luôn trải rộng .

Qua bài viết của Cô Bắc Kỳ, tôi có cảm tưởng như thấy lại Rạch Giá trong mắt ai ?! Nơi ấy tôi cũng có những kỷ niệm nhiệm mầu, lẫn lộn trong số hành lý tâm tư buồn vui nặng trĩu, hình như nó cứ kéo tôi chìm sâu, ra khỏi thực tại. Chuyện vui với các Ông Thầy NTT , như có một giáo sư nọ chơi trội, bằng cách lái xe hơi đi dạy, thời buổi sơ khai đó làm cho chúng tôi thấy ngứa mắt, thấy một chút ứa gan. Một buổi nọ, chúng tôi ngầm hẹn nhau "giờ D" tuần tự ở nhiều lớp xin ra ngoài trùng giờ, chúng tôi dư sức khiêng chiếc xe "Citroen deux chevaux" đặt trên thềm cao, phía dưới của tầng lầu Văn Phòng. Ông ấy giận lắm không biết có chửi thầm trong bụng không? Nhưng tìm không ra thủ phạm vì chúng tôi đã nguyện thề với nhau 2 chuyện , thủ khẩu như bình và đến nước gì đi nữa cũng không khai . Chuyện kế tiếp là Ông Trần Châu Hồ dạy Anh Văn, Ông có mái tóc chải ngược đời, người ta hầu như ai cũng qua phải nhiều, trái ít (7/3); còn Ông thì đối ứng. Chúng tôi nhờ một Cô thi hành biệt vụ, tới tận nơi hỏi bài thì ít mà dòm ngó thì nhiều. Kết quả chúng tôi loan tin hạn chế, Ông giáo Sư có cái xẹo to và dài trên đầu, nên Ông chải ngược để che nó lại. Từ đó có nhiều thì thầm suy luận thành nhiều nguyên do kỳ bí khác nhau . Ông vào lớp bận viết lách, có khi quên cả giảng bài, chúng tôi phải thay nhau ho để kéo Ông về với hiện trường. 

Ông ấy viết cái gì mà có khi lôi ra từ trong cập thấy dầy cộm, chúng tôi vô cùng thắc mắc. Ðến khi gần xong Ðệ Nhất mới biết quyển "Ba mươi", một quyển truyện dài đầu tay của GS Trần Châu Hồ. Dĩ nhiên chúng tôi đã mua một quyển rồi chuyền tay nhau. Khi viết mấy dòng hồi tưởng nầy, tôi không tìm thấy nội dung trong "bộ nhớ"(sic), nhưng chưa quên cái cảm tưởng nóng bỏng khi vừa đọc xong: vì là chuyện đầu tay nên không được xuất sắc lắm, nghe nói sau nầy khi dạy ở Vũng Tàu, Ông viết lách bay bướm hơn; nhưng vẫn là một nghề không phải là phải tay. 

Tựa đề nầy đã vô tình tạo  cho GS Hồ một Hổn Danh là  "Ông 3O", với hai ẩn ý, một chỉ về nước da, hai là chỉ cái ông 30 mà người ta hay đem ra nhát con nít ấy mà ! Ðúng là nhất quỉ, nhì ma và thứ ba là chúng tôi nhiều hơn những học trò khác. Chúng tôi còn nhiều chuyện để đời về Ông Giáo, Ông Bá, Ông Cường, Ông Duật (?), ... Nhất là Ông Q GS Anh Văn, vào lớp Ðệ Tam B3, mở cửa ra thấy có con Dê chúng tôi nhốt trong lớp, Dê của Ông gác gian nuôi trong sân trường. 

Ông Q. biết học trò chơi xỏ mình, Ông đùng đùng nổi giận lên Văn Phòng thưa với GS. Vân. Ông Vân gọi tôi là trưởng lớp lên xin lỗi, nhưng Ông Q. vẫn không chịu trở lại dạy lớp chúng tôi . Hậu quả một đứa bị đuổi. Từ dạo đó lớp B3 nổi danh là lớp "thất học" vui nhất của trường.

 Viết đến đây, thấy số trang mà tôi hạn định cho mình đã sắp hết, nên tôi xin vội nhắc thêm một vài câu chuyện về một vài người bạn cũ, đang xuất hiện trong đầu, bỏ qua sẽ rất uổng. Tôi vẫn thỉnh thoảng gặp lại những người bạn NTT, gặp nhau ở mãi những vùng xa xôi của đất nước loạn ly, đâu đâu chúng tôi vẫn tràn đầy trong thắm thiết. Gặp lại T. trước Ðài Phát Thanh, gần trường Ðồng Khánh; một buổi sáng mưa phùn, trời lạnh cắt da, uống rượu đế bên đường thay cho tách cà phê nóng. Anh là Sĩ Quan của một đơn vị thiện chiến, đang làm vòng đai an toàn cho thành phố Huế. Hai đứa xí xoá chuyện năm xưa, Anh đón tôi trên đường Kiều Công Tiện, bên hông Nhà Thương, Anh nhờ một bạn khác ôm chặt lấy tôi, Anh đấm tôi bể mặt máu me tùm lum mới chịu thôi. Lý do là Cô Em mà anh chiêm ngưỡng, lại đưa thư lâm ly cho tôi đọc. Chúng tôi không là gì với nhau cả, chỉ có qua lại với các bài toán khó trong lớp.  Lần đầu thật xa xôi, giữa tiếng pháo liên hồi rót vào Hải Lăng, Mỹ Chánh, đang rải dọc theo đại lộ Kinh Hoàng đầy máu và nước mắt, dẫn vào Cố Ðô, chừng ấy chúng tôi mới dễ dàng thương nhau, bỏ qua chuyện bâng quơ ngày trước.

Gặp lại Bửu con Ông Giáo, gặp lại  Ngộ con của Ông Bà chủ quán Phước Thành, kế bên quán Ðông Thành. Cả hai đều ở Trường Bộ Binh Thủ Ðức, tôi bị gọi lại Khoá 1/72 sau khi quyết định hoãn dịch vì lý do công vụ bị hủy bỏ. Từ Quang Trung qua Thủ Ðức, vừa xuống xe là bị các huynh trưởng quần mấy vòng Vũ Ðình Trường, ngồi trong hàng theo danh sách chia từng Ðại Ðội. Bỗng nhiên có một sĩ quan cán bộ đến chỉ tôi hò hét, nói rằng tôi đã ngồi sai đại đội, nhìn kỹ chính là Bửu. Sau mới biết Bửu móc tôi ra khỏi một ÐÐ hắc ám, đem qua ÐÐ 16 có Thiếu Úy Khanh, một người bạn thân của Bửu vừa ở Fort Benning về. Nhờ vậy mà tôi cũng bớt nhọc nhằn, ra trường điểm cao thuộc trong nhóm được lựa một người dõng dạc ra làm Thủ Khoa. Còn Ngộ thì khi tôi hướng dẫn một toán lên trả vũ khí nặng, đang lo rầu vì bị mất một cơ phận mà Ðại Úy Minh lúc nãy có hăm, nếu không trả được thì tôi là Ðại Diện ÐÐ tối nay dã chiến khỏi ngủ. Vừa vào Cổng thì gặp ngay Ngộ là trưởng kho vũ khí, đúng là mèo gặp mỡ, vừa tay bắt mặt mừng vừa khều anh nói nhỏ cái vụ mất một cơ phận. Khoẻ re ! anh nói với Ông thượng sĩ già cứ tiếp nhận, để anh sẽ  gọi Ð/U Minh ký củ; anh lờ luôn cho tình bạn, có phạt phiếc gì đâu !

Khi Cô BKRG  lên Sài Gòn cũng là năm tôi trở về Kiên Giang. Cuộc đời tôi bên ngoài có vẻ thăng hoa, nhưng trong lòng thì lúc nào cũng  âu lo, rắc rối vì chuyện giao tế, không kể đến những hiểm nguy vốn thường trực .

 Nhiệm sở đầu tiên ở Kiên Giang của Tôi bị đàn anh, Chồng của Bích Diễm (Người Tình trong mơ Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn) trù ẻo tận tình là Kiên An, một Quận bất an nhứt trong 8 của Tỉnh Kiên Giang. Thứ Ba Quận Lỵ là một Thị Tứ ruộng đồng nằm bên bờ Sông Cán Gáo, cách Thị Trấn Xẻo Rô chừng non 10 cây số. Nơi đây có một lần, mùa mưa năm 1970? chỗ tôi bị tràn ngập bởi một Tiểu Ðoàn Ðặc Công Việt Công. Tổn thất cho địch khá nặng, vì bị đơn vị của ta nằm kích sẵn bên ngoài, chặn đường rút quân của chúng. Sáng hôm sau thấy đống xác mà rùng mình, toàn là những đặc công to lớn, trên cánh tay họ đều có xăm  các chử "sanh Bắc, tử Nam". Riêng tôi như mất hồn, vì đêm qua khi vừa nghe tiếng bê-ta nổ là chúng đã xuyên qua được mấy lớp kẽm gai phòng ngự, tôi chỉ kịp chùi xuống một mương cạn chỉ có ít cỏ lưa thưa; tôi thấy hai lần chúng quơ đèn qua ngang mà không thấy tôi, nên kể như còn sống sót .

Về Tân Hiệp thì toàn đơn thưa với kiện, bị thương phế binh quần thảo, tay cầm đinh ba kéo đến tìm tôi vì bị người khác né tránh trách nhiệm, đổ thừa tôi ngăn cản không cho các người anh em chiếm chỗ cắm dùi ngay trên bến xe, vừa được trải đá xong. Cũng may hôm ấy tôi bận phối hợp trách nhiệm với các cấp thẩm quyền bên Thốt Nốt, Long Xuyên.

      Tại Rạch Sỏi, không đầy một năm trước ngày 30-4. Chúng tôi phải đối chọi với một cuộc biểu tình của các sư sãi, thiệt thì ít lắm mà kẻ bắt cá hôi thì nhiều, đông  cả ngàn người. Ðàn anh tôi mà vợ là em của một Ông Tướng gốc Thiết Giáp, người Rạch Giá; Ông có vẽ tự hào về binh nghiệp và quyền hành, nên đã để lỡ tay xảy ra vụ nổ súng làm thiệt mạng đến 7 người và bị thương thì la liệt. Tôi suýt bị Ông Tướng Lịch còng tay đem về Cần Thơ vì cái tội không áp dụng thủ tục dẹp biểu tình đúng theo quy định của Bộ Nội Vụ . Nhờ  Trung Tá Lê Khánh cứu tôi, hay đúng ra là nhờ linh tính, tôi thảo ngay một công điện hỏa tốc gởi trình thượng cấp, sau khi ý kiến nguyên tắc của tôi bị thẩm quyền trực tiếp bác bỏ. Nhờ công điện đã gởi đi trước giờ súng nổ. Cũng do vụ nầy mà khi nằm trong cải tạo cứ bị kêu lên làm việc hoài ngay trong giấc ngủ gần sáng . Chuyện kéo dài đến mấy tháng, vì có người anh em lập công báo cáo, nói tôi dã ăn hết số tiền mà Chánh Phủ bồi thường cho nạn nhân. Sự thật nội vụ còn trong vòng phối hợp điều tra chưa có quy trách. 

     Tôi phải mạn phép kết thúc bài nầy với một nỗi niềm ân hận và thương tiếc Ông Thầy NVB, uyên thâm và khả kính của tôi đã bị VC ném chất nổ sát hại tại góc đường Cao Thắng và Phan Thanh Giản năm 71. Ông ấy khuyên tôi đừng nên mang chức tước trở về quê cũ, nhất là nơi ấy mình đã lớn lên trong nghèo nàn, rách nát. Tôi đã không nghe, đã vi phạm điều cấm kỵ "nhất quê cha, nhì quê vợ". Nên về Rạch Giá và trong mắt mọi người tôi mãi mãi chỉ là thằng nhỏ quảy gánh dọn hàng cho một người Cô ở Rạch Sỏi, vào những buổi sáng trước khi thấy bình minh, cắp sách đến trường.

      Tôi vô cùng cám ơn  Ðặc San Kiên Giang, các bạn đã làm vui lây Cái Thằng tôi có lúc ở Chùa Trọng Ni, đêm hay nhờ đèn đường học bài đọc sách, cơm nhà là quán Xã Hội bên kia đầu Cầu Ðúc. Cho nhắn lời kính Thăm BS Trần Văn Chơn, Anh Tư còn nhớ mấy đứa nhậu tay mơ, bạn bè của Nguyễn Minh Bạch? Quảng nó hay lén đổ rượu để qua cầu, Chú ấy đang chững chạc ở San José. Biết bao giờ mới được thấy lại những ngày mến yêu trong hoài niệm nguyện cầu yên bình, tự do sớm trở về với Đất Việt. Rạch Giá tôi ơi , nhớ mãi những đêm nằm nghe đạn pháo, trông chờ bóng tối qua mau?! 

Rất mong đón "mỉm cười" (* Một tập truyện ngắn của Cô Bắc Kỳ, xuất bản ở USA.). Chúc lành và nhiều may mắn! Xin viết tiếp để NTT có thêm hương sắc, trong sắc hương chữ nghĩa của Cô Bắc Kỳ sống giữa đất địa phù sa Nam Kỳ đặc sệt ./. 

  LHXung, NTT 1963

 March 21, 2005 

No comments:

Post a Comment