Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label ChuyenDiaNgucDaoKohKra. Show all posts
Showing posts with label ChuyenDiaNgucDaoKohKra. Show all posts

Tuesday, 19 November 2024

 ĐẢO ĐỊA NGỤC KOH KRA CỦA VŨ THANH THỦY VÀ DƯƠNG PHỤC ./-Mt68

 ĐẢO ĐỊA NGỤC KOH KRA CỦA VŨ THANH THỦY VÀ DƯƠNG PHỤC./-Mt68

Monday, 18 November 2024

 CHUYỆN ĐẢO ĐỊA NGỤC KOH KRA CỦA VŨ THANH THỦY & DƯƠNG PHỤC./-Mt68

Sunday, 17 November 2024

 MỘT PHẦN TƯỜNG THUẬT VỀ ĐẢO ĐỊA NGỤC KOH KRA CỦA VŨ THANH THỦY./-Mt68

Friday, 15 November 2024

ĐẢO ĐỊA NGỤC KOH KRA- VẾT THƯƠNG BIA ĐÁ CỦA NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN SAU 1975./-Mt68
____________

Nhật ký tháng Tư – Đảo địa ngục Koh Kra 2016 

Vị trí địa lý của đảo Koh Kra trong Vịnh Thái Lan. (Google Map)
NGỌC ÂN 


 Địa danh Koh Kra là ở đâu vậy? Mở Google kiếm thử, bạn sẽ tìm thấy rất nhiều bài báo trong thập niên 80 viết về hòn đảo địa ngục này, như sách “Hải Tặc Trên Vịnh Thái Lan” phát hành năm 1981 tại Hoa Kỳ của các nhà văn, nhà báo Nhật Tiến, Dương Phục, Vũ Thanh Thủy thuật lại sau khi được cứu thoát khỏi đảo Koh Kra năm 1979. Tài liệu tiếng Anh, xin trích dẫn bài báo: “Người Tị Nạn Bị Hãm Hiếp và Tàn Sát Trong Tay Ngư Phủ Thái” –New York Times ấn bản ngày 23 tháng 11, 1979, do ký giả Henry Kamm tường thuật:

“Mười-bảy người tị nạn Việt Nam, trong đó có bốn em nhỏ, đã bị ngư phủ Thái tàn sát trên biển, và hầu hết 37 phụ nữ trên bốn con thuyền tị nạn đã bị khoảng 500 ngư phủ hãm hiếp nhiều lần trong suốt 22 ngày những thuyền nhân sống sót bị giam giữ trên đảo Koh Kra – một hòn đảo hoang ngoài khơi miền nam Thái Lan. Cảnh Sát cho biết 57 tàu đánh cá của Thái đã ngừng lại đảo này, cướp bóc, hãm hiếp, đánh đập thuyền nhân. Những nạn nhân sống sót được nhân viên Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc phỏng vấn tại Pak Phanang thuật lại phụ nữ bị hành hạ ngày đêm, trong khi đàn ông bị đánh đập tàn nhẫn để họ không thể đến gần vợ con đang bị bọn ngư phủ hãm hiếp. Nạn nhân nhỏ tuổi nhất mới chỉ có 12 tuổi.

“Một người trên trực thăng tình cờ bay qua đảo trước khi nạn nhân được giải thoát cho biết ông nhìn thấy xác người nổi trên mặt nước, trong khi 12 tàu đánh cá vây chung quanh. Hải tặc ném các trẻ em trên thuyền tị nạn xuống biển để buộc mọi người lớn trên ghe nhảy xuống mước theo. Một phụ nữ kể lại khi cô và các cô gái khác trốn trong bụi cây trên đảo, hải tặc nổi lửa đốt để các cô phải tự bò ra, một cô bị phỏng trầm trọng.

“Cảnh sát cũng cho biết thêm hồi đầu năm 1979 đã có bảy hải tặc Thái bị kết án cướp bóc, hãm hiếp thuyền nhân Việt Nam, trong số đó, một tên bị bắt tại Songkhla trong khi đang tìm cách bán 5 cô gái Việt Nam tuổi từ 11 tới 22 cho động mãi dâm. Tên đồng phạm thứ sáu bị bắt tại Nakhron Si Thamarat.”

Hình do ông Ted Schweitzer chụp khi giải cứu thuyền nhân trên đảo Koh Kra năm 1979. (Hình refugeecamps.net và searescue.org)
Hình do ông Ted Schweitzer chụp khi giải cứu thuyền nhân. (Hình refugeecamps.net và searescue.org)

Cuối tháng Ba 2016, chuyến đi “Về Bến Tự Do” do Văn Khố Thuyền Nhân tại Úc tổ chức lần đầu tiên về lại Koh Kra. Sáu tiếng trên biển, hai con tàu chở gần 40 người từ Úc, Mỹ, Pháp, Canada khởi hành tại bến tàu Pak Phanang từ tờ mờ sáng cho kịp thuận con nước như lời hướng dẫn của ngư phủ địa phương. Vì là lần đầu tiên, ai cũng nao nao trong lòng, có cảm tưởng như đang vượt biên một lần nữa, vì đã được khuyến cáo vùng biển này vẫn là sào huyệt của cướp biển, quyết định đi là chấp nhận rủi ro, vì lỡ có chuyện xảy ra, không ai có thể đến cứu kịp.

Đảo Koh Kra. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Càng đến gần đảo, đoàn càng hồi hộp, tàu bắt đầu chạy chậm lại, thăm dò, vì vào vùng biển san hô không dễ cho tàu chạy nhanh như trên biển lớn. “Có tượng Phật kìa!” ai đó la lớn.

“Duyên lành rồi! Tưởng là đảo hoang như ngày xưa!”

“Bà con làm ơn giữ trật tự, nhóm đầu tiên vô đảo chuẩn bị.”

Tượng Phật trên vách đá. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Hai chiếc tàu chở đoàn ‘Về Bến Tự Do 2016’ sửa soạn cặp bến. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Tàu lớn neo lại cho ghe nhỏ vào bãi san hô. Các Sư Thái ngạc nhiên đứng quan sát trên bãi. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Như đã được chia nhóm, chúng tôi gồm có Trưởng Nhóm Trần Đông, cô thông dịch viên Thái Việt, anh chuyên viên quay hình và tôi cùng hồi hộp xuống ghe nhỏ vào đảo, càng đến gần chúng tôi càng thấy rõ, không chỉ có tượng Phật, mà còn thấy có người, mầu áo cà sa của các vị Sư Thái rõ dần, năm, sáu vị cũng chạy từ trong đảo ra, mắt nhìn về phía ghe chúng tôi, hai bên cùng kinh ngạc.

“A Di Đà Phật,” anh Trần Đông chắp hai tay trước ngực, cô thông dịch viên cũng chắp tay cung kính, “A Di Đà Phật.”

Chân chạm đất, mắt vẫn không thể rời các vị Sư Thái, nhưng tim tôi đau nhói, đã có đôi giày thể thao thật tốt, lòng bàn chân vẫn như bị cứa ngang vì đá san hô lởm chởm dưới chân, đồng bào tôi ngày xưa vào đến đảo này chỉ có chân đất, san hô như gai nhọn cứng cứa lòng bàn chân trần của những đôi chân tị nạn. Sư Ông chân trần lớn tuổi nhất nhìn chúng tôi mỉm cười, khẽ gật đầu ra dấu đi theo ông. Qua thông dịch viên, chúng tôi được biết các vị từ một ngôi chùa ở Pak Phanang, cũng lần đầu tiên ra đảo Kohh Kra theo một khóa tu học của Viện Phật Học Thái. Sư Ông quay về phía máy quay phim, ra dấu cứ tự nhiên, Sư vui mừng không kém chúng tôi, vì biết đây cũng là lần đầu tiên có nhóm cựu thuyền nhân trở về thăm đảo, vì cũng như chúng tôi, Sư không nghĩ có người đến đảo hoang này.

Sau khi nấu nướng, ăn uống, chiều đã xuống, quí Sư dời vào bụi cây đá lởm chởm phía trái đảo, nhường chỗ cho chúng tôi bãi san hô trắng bằng phẳng duy nhất trên đảo, là nơi quí sư đã giăng lều dự trù nghỉ ngơi trong tuần lễ tu học. Sư ông căn dặn đêm xuống nếu thấy gì bất thường thì đừng tự ý hành động, nên báo cho Sư biết để các ngài đối phó.

Đem không ngủ, nghe câu chuyện của một vài nhân chứng cùng đi trong đoàn đã sống sót trên đảo thời 1979. Ánh lửa bập bùng, tiếng guitar thùng, giọng kể có lúc nghẹn ngào về những người con gái bị hải tặc Thái bắt đi trên biển, đến thảm cảnh phụ nữ phải chịu trên đảo, những người đàn ông cố gắng bênh đỡ các cô bị hải tặc đánh đập như thú vật, thuyền nhân sống sót còn phải tuyệt vọng vật lộn với cái nóng như nung người của san hô trong tình cảnh không lương thực, không nước uống, chỉ còn chờ chết nếu không được cứu.

Trăng sáng càng làm khó ngủ hơn, bỏ lều, tôi ra sát bờ nước nhìn ra khơi, lung linh ánh sáng của hai chiếc tàu chở chúng tôi đậu ngoài xa. Xa hơn nữa, nhìn thấy như có dải ánh sáng kéo dài, nghe tiếng giải thích của ai đó đứng gần, “Chắc đèn của ngư phủ đánh cá ngoài khơi, mùa này bắt đầu mùa lưới cá của họ.”

Tiếng chân đi xa dần, rồi tất cả im lặng, chỉ còn ánh trăng lấp lánh sắc lạnh, tiếng sóng vỗ vào vách đá, cả tiếng ngáy của hai người Thái được đoàn thuê đi theo bảo vệ, nghe nói là có mang vũ khí! Quay trở lại lều, tôi nằm lên ngồi xuống, thấy tim mình đau thắt, nằm xuống bãi san hô lởm chởm, có cảm tưởng như nằm trên xác đồng bào đã nằm xuống năm nào, từng vách đá, từng bụi cây, cả tiếng sóng, nghe như có tiếng thở dài, nghe như có nỗi ngẹn ngào, hờn tủi, “Sao bây giờ mới đến!”

Kéo tấm bạt dày che máy quay phủ lên người, nước mắt trào ra, trong cơn nức nở đó, tôi nghe như sóng vỗ vào vách đá gần lều lạ hơn, còn có tiếng động gì khác, không phải tiếng sóng vỗ. Chung quanh im lặng, hai người bảo vệ nằm ngoài trời vẫn ngủ say, rõ ràng có tiếng động gì đó, tôi bắt đầu thấy nỗi sợ thấm vào người, tê cứng, bất động! Có ánh đèn quét qua chỗ hai người bảo vệ, bóng hai người đàn ông kéo một chiếc ghe nhỏ vào sát vách đá, từ từ đi vòng quanh vách, qua lều tôi, di chuyển nhanh chóng vào phía trong đảo vòng cung như cánh quạt, có vẻ như chúng biết rõ địa hình của bãi san hô như nhà của chúng.

Quay đầu qua phía tận cùng bên trái của bãi san hô, thấy có bóng người đi, ai vậy, hình như người trong đoàn, làm sao đây nếu hai tên có vẻ như cướp kia đang đi về phía đó. Đột nhiên có ánh sáng, bóng Sư Ông, phải không, đúng rồi, Sư Ông quay về phía hai tên cướp đang di chuyển, rồi có vẻ như các Sư khác cũng thức dậy. Trong tích tắc, có tiếng chân chạy ngược lại, qua lều tôi, qua hai người bảo vệ, kéo chiếc ghe dấu ở vách đá bên phải, tiếng chèo tay vội vã, rồi biến mất vào bóng đêm.

Bình minh trên đảo đẹp và hiền hòa êm dịu, ngược hẳn với ban đêm kinh hoàng vừa qua. Từ năm giờ sáng, đã có năm, sáu người mạo hiểm trèo lên vách đá lên đỉnh cao nhất trên đảo, tìm lại những hang động mà trước kia thuyền nhân sống sót đã trú ẩn trong đó. “Tụi em phải mất tới hai tiếng mới leo lên được đỉnh đảo, không hiểu ngày xưa các cô gái tội nghiệp của mình chạy trốn hải tặc chui vào hốc đá bằng cách nào để có thể trốn được, trượt chân rơi xuống đập vào vách đá chết dễ dàng!”

Vách đá cheo leo dẫn lên đỉnh đảo. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Tìm thấy rất nhiều hang đá trên đường đến đỉnh đàn, nhưng đầy gai, lá cây và bụi đất. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Cầu nguyện trên đỉnh đảo Koh Kra. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Cô bé đôi mươi trẻ nhất trong nhóm vừa thở vừa kể, “Theo sách của nhà văn Nhật Tiến, nhóm em kiếm được rất nhiều hang đá trên đường lên đỉnh đảo, nhưng lá cây, đất đá rất nhiều, không nhìn thấy được bên trong, phần vì tối quá, nhóm lại chỉ có sáu người, không đủ phương tiện, không có dao đi rừng để chặt những bụi gai đan chằng chịt, đảo bây giờ không còn giống như ba mươi mấy năm trước, phải leo vòng qua phía bên kia vách đá để tìm đường lên, lúc xuống ai cũng rách nát tay chân vì gai cào xước da thịt. Nhưng dù sao nhóm cũng đã đặt được một Tượng Đức Mẹ nhỏ trên đỉnh đảo, mong an ủi chút hương linh đồng bào nằm lại đây.”

Dấu tích mộ thuyền nhân. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Dấu tích mộ thuyền nhân. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Trong khi một nhóm nhỏ ba, bốn cô chú khác chân yếu không theo kịp, chống gậy đi vòng vách núi tưởng như không còn đường, thì thấy những cánh bướm trắng bay lên, các cô chú vội đi theo cánh bướm, phát giác những hòn đá xếp theo vòng tròn, có ba hoặc bốn vòng như vậy, đúng là mộ thuyền nhân rồi. Các cô chú có kinh nghiệm đi tìm mộ đồng bào, nói rằng hồi vượt biển hầu hết lúc đó tay không, chôn nhau chỉ biết xếp đá làm dấu. Nhóm quay phim chúng tôi thì tìm thấy dễ dàng ngay sau vách đá bên phải, vòng sâu vào bụi cây, là tấm bia tạ ơn tưởng niệm thuyền nhân và tạ ơn Ông Ted Schweitzer, cựu nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, người đã ngồi trên trực thăng năm 1979 và phát giác có cả người chết lẫn người sống trên đảo Koh Kra này. Chính ông đã giải cứu nhóm thuyền nhân đầu tiên, sau đó tiếp tục can thiệp, và dùng cả tính mạng của mình, để đòi cho được phải có tàu và trạm kiểm soát của Hải Quân Thái tuần tra trên đảo để cứu người vượt biển.

Bia tưởng niệm thuyền nhân và ghi ơn Ông Ted Schweitzer. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Bảng tưởng niệm và ghi ơn có dòng chữ bằng tiếng Anh và tiếng Thái như sau: “Để tưởng niệm hàng ngàn người tị nạn Việt Nam đã bị hành hạ, tra tấn, và ngay cả tàn sát tại đây trên Koh Kra này. Xin đừng bao giờ quên những nỗi khổ đau mà họ đã phải trải qua. Với lòng biết ơn chân thành gởi đến Ông Ted Schweitzer, người đã đóng vai trò quan trọng trong việc giải cứu hàng ngàn thuyền nhân bị bỏ rơi trên hoang đảo.”

Niềm ước ao “an ủi hương linh đồng bào” cũng là nguyên nhân hai tượng Phật Bà Quan Âm và Tượng Đức Mẹ khác cũng được đặt ngay trên tấm bia tưởng niệm này.

Tượng Phật Bà Quan Âm và tượng Đức Mẹ được đặt bên trên bia tưởng niệm. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Tượng Phật bà Quan âm và Đức Mẹ đặt bên trên tấm bia tưởng niệm. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Bát nhang và lon Guigoz mà nhà báo Lưu Dân đã kiếm được trên đảo. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Trần Đông (bên phải) và Lưu Dân. (Hình Ngọc Ân cung cấp)
Cabin của một con tàu nằm lại trên đảo. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Giám Đốc Văn Khố Thuyền Nhân Trần Đông và nhà báo Lưu Dân cũng cho biết các anh tìm thấy một khoang nhìn có vẻ như trước đây là cabin của một con thuyền, trong đó có nhiều di vật của thuyền nhân Việt Nam, với hai món mà theo hai anh là biểu tượng nhất: lon guigoz, và bát nhang có hoa văn rồng xanh, rất đặc trưng của Việt Nam.

Sư Ông và Trần Đông sửa soạn nghi thức tưởng niệm thuyền nhân. (Hình Ngọc Ân cung cấp)

Sư Ông và tất cả các vị Sư trẻ trong đoàn tu học tiễn chúng tôi ra tận ghe lớn, sau khi đã cử hành nghi thức tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên đảo. Trong nhóm có bốn anh chị em Công Giáo, cùng hát kinh Vực Sâu và Kinh Hòa Bình: “Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời.” Ai cũng nước mắt ràn rụa. Bước chân lên ghe nhỏ ra tàu lớn, quay lại nhìn màu áo cà sa của Sư Ông bay trong gió, bóng ba tượng Phật óng ánh vàng trên triền đá, nước mặt tôi ứa ra, dưới bóng Phật từ bi, đoàn chúng tôi đã được Sư Ông cứu trong một đêm rằm 2016 trên đảo từng là địa ngục trần gian. Vội vã quá, đường xa vạn dặm, đường biển thăm thẳm thách đố, không sao, chúng tôi sẽ trở lại, còn quá nhiều thắc mắc chưa được giải thích, còn quá nhiều việc có thể làm cho đồng bào nằm lại trên đảo. Câu hỏi lớn nhất của tôi vẫn là tại sao quí Sư chọn Koh Kra làm địa điểm tu học, phải có nguyên nhân gì đó chưa kịp giãi bầy, phải không?

Tháng Tư 2016, về đến Mỹ, qua cô thông dịch viên, chúng tôi nhận được lời nhắn của Sư Ông:

“Ngay sau khi các bạn rời đảo, có cơn mưa nhẹ nhàng rơi, Phật tử đi theo giúp đoàn tu học nói rằng đã từng ở địa phương này cả đời ngư phủ, chưa khi nào chứng kiến những giọt mưa nhẹ nhàng như thế rơi trên đảo san hô hoang vu này. Hay đó là lời cảm ơn của đồng bào các bạn nằm lại trên đảo Koh Kra?”

(California tháng Tư 2021)

Hình ảnh và tài liệu tham khảo:

– Refugees Raped and Murdered by Thai Fishermen, by Henry Kamm Special to The New York Times Nov. 23, 1979

 

Dương Phục-Vũ Thanh Thủy và ‘Tình Yêu-Ngục Tù và Vượt Biển’

 

Ngọc Lan/Người Việt

HOUSTON, Texas (NV) – “Tình Yêu-Ngục Tù & Vượt Biển” – hồi ký của hai cựu phóng viên chiến trường Dương Phục-Vũ Thanh Thủy, cũng là hai người bạn đời đã đi qua những giai đoạn khốc liệt, đau thương nhất của dân tộc này – thật sự cuốn hút người đọc hơn những điều người ta thường nghĩ.

Có ai đó nói với tôi rằng, “Những gì có trong quyển hồi ký chắc cũng chả khác mấy với những điều mà nhiều người đã viết trước đây, vì cũng có từng ấy sự kiện, ngày 30 Tháng Tư, rồi đi tù, rồi vượt biên. Nghe hoài, đọc hoài, thấy ai cũng như ai.”

DuongPhuc-ThanhThuy

Vợ chồng cựu phóng viên chiến trường Vũ Thành Thủy và Dương Phục cùng Hồi Ký “Tình Yêu-Ngục Tù và Vượt Biển” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Lời nhận xét đó cho thấy một điều: Họ chưa bao giờ cầm trên tay quyển sách, để có thể lật giở từng trang, để có thể đọc bằng mắt, và rồi bằng cả tâm tư của những người cùng màu da giọng nói về cảnh ngộ rất riêng của một con người, hai con người, nhiều con người, trước khi có thể hiểu một cách tường tận và thấu đáo hơn về cả dân tộc này với tất cả những oan khiên, nghiệt ngã mà họ đã trải qua.

Dĩ nhiên, cảm nhận về hồi ký “Tình Yêu-Ngục Tù & Vượt Biển” vẫn là của riêng mỗi người đi cùng kinh nghiệm sống, nhưng nỗi niềm, suy nghĩ của Dương Phục và Vũ Thanh Thủy đưa đến việc hình thành tác phẩm này khiến chúng ta cảm thấy trân trọng hơn những con người của một thế hệ được xem là chứng nhân của một giai đoạn lịch sử mà bất kỳ ai cũng không mong có sự lặp lại.

Quyển sách viết trong mấy chục năm

“Chúng tôi viết quyển sách này trong mấy chục năm, kể từ hồi đi vượt biển năm 1979, cứ viết lai rai, không có gì gấp rút,” Dương Phục, người đàn ông đã qua tuổi 70, từng là phóng viên chiến trường Đài Phát Thanh Sài Gòn & Quân Đội, mở đầu câu chuyện nói về quyển hồi ký.

Vũ Thanh Thủy, người phụ nữ có gương mặt đẹp cùng đôi mắt nhiều u uẩn, trình bày chi tiết hơn, “Tôi bắt đầu viết từ Tháng Chín, 1979, trên tàu vượt biên. Khi lênh đênh trên biển, cũng như lúc trên đảo Koh Kra, Thái Lan, thì đã hứa rằng sẽ không bao giờ quên những điều này, phải ghi lại những điều này, vì nó hãi hùng ngoài sức tưởng tượng của mình.”

Cứ thế, họ viết, trong hơn 35 năm.

Thanh Thuy

Phóng viên Vũ Thanh Thủy cùng những hình ảnh những ngày ở đảo Koh Kra, Thái Lan. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Cho đến năm 2015,” theo nhà báo Dương Phục, “tất cả mới được gom góp, đúc kết lại. Bởi viết một cuốn sách mà như ba cuốn sách, giai đoạn phóng viên chiến trường hồi chiến tranh Việt Nam, rồi giai đoạn đi tù Cộng Sản, rồi giai đoạn vượt biên, cứ như ba trường đoạn khác nhau được ghép lại cùng nhau.”

Điểm độc đáo đầu tiên của hồi ký “Tình Yêu-Ngục Tù & Vượt Biển” nằm ở chỗ “cả hai tác giả cùng viết mà không cần liên lạc với nhau. Mỗi người viết chuyện của chính mình, sự kiện diễn ra trước mắt mình, rồi ghép lại, một khúc của Phục, một khúc của Thủy.”

Phần xúc động nhất của phóng viên Dương Phục khi dàn trải tâm tư mình chính là ở những dòng viết về hành trình vượt biển, vì “phải chứng kiến nhiều câu chuyện đau lòng.”

Với cựu phóng viên báo Tin Điển, Dân Ý, Sự Thật, Thần Phong Vũ Thanh Thủy thì “Giai đoạn 30 Tháng Tư là giai đoạn rất đau lòng.”

“Nói chung viết hồi ký thì phần nào cũng xúc động, vì phần nào cũng khiến mình sống lại thời điểm đó. Giai đoạn 30 Tháng Tư là giai đoạn rất đau lòng. Khi viết về thời thơ ấu, mình lại có cái xúc động nhẹ nhàng khi nhớ lại quá khứ tuổi thơ với gia đình, cha mẹ, anh em. Giai đoạn sống dưới chế độ Cộng Sản có lẽ là giai đoạn khó khăn nhất, khó khăn hơn cả giai đoạn vượt biển, khó khăn hơn là giai đoạn gặp hải tặc. Bởi vượt biển hay hải tặc thì mình biết chẳng bao lâu sẽ chấm dứt, hoặc mình sống hay chết. Nhưng giai đoạn bốn năm sống dưới chế độ Cộng Sản thì mình không biết ra sao, không có sự hy vọng nào, không biết bao giờ kết thúc. Thành ra nói giai đoạn nào xúc động nhất thì khó nói,” bà giải thích thêm.

Những điều lạ lùng và bí ẩn đã xảy ra

“Câu chuyện nào ông thấy lạ lùng nhất trong cuộc đời khi nhìn lại hết năm tháng đã qua?” Tôi hỏi nhà báo Dương Phục.

Bên chiếc bàn làm việc tại văn phòng của Radio Saigon Houston, cựu phóng viên chiến trường ngày nào từng được mệnh danh là “chai lỳ, xông xáo,” nói một cách điềm tĩnh, “Với tôi, tại sao lại có chữ tình yêu ở đây?”

Ông tiếp tục, “Dù là chiến trường đổ máu, mình chứng kiến bao nhiêu cái chết trước mắt. Rồi ngục tù, bao nhiêu bạn tù chết, vượt biển thì bao nhiêu người bị ném xác xuống đại dương. Nhưng vượt lên hết, mình để chữ tình yêu lên cao nhất, tại vì mình thấy tất cả những may mắn nếu không có Chúa chắc chắn là không có gì hết. Tình yêu này là tình yêu của Thượng Đế với con người, tình yêu giữa con người với con người.”

“Có những điều kỳ lạ xảy ra, có thể có người sẽ chỉ trích tôi, nhưng tôi không sợ bị chỉ trích, vì ngay cả trong chốn ngục tù cũng có một người cán bộ Cộng Sản tử tế với mình. Đó là sự rung động của con người. Hay trong số hải tặc cũng có ‘thằng’ hải tặc tử tế chứ không phải ‘thằng’ hải tặc nào cũng khốn nạn cả, thành ra mình nghĩ có sự rung động giữa tình người, tình yêu,” ông nói, như đang chiêm nghiệm lại những gì đã qua.

Với Thanh Thủy, “Điều đặc biệt nhất khi nhìn lại những biến cố, sóng gió đã qua chính là những điều may mắn xảy ra mà nếu người nào khác kể cho tôi nghe thì chắc chắn tôi không tin, không thể nào ngờ được. Đến giờ đó vẫn là những điều bí ẩn đối với tôi. Không thể nào giải thích được.”

Những “bí ẩn” đó được kể lại khá chi tiết trong phần VI “Trốn Chạy và Vượt Biển” và phần VII “Hải Tặc” của hồi ký

Duong Phuc

Phóng viên chiến trường Dương Phục tại đài Radio Saigon Houston, Texas (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Điều tôi nhận ra là trong những con người xấu, rất xấu, vẫn có những điều tốt tồn tại, để mình không thất vọng. Có những điều rất lạ, như khi đám hải tặc kéo phụ nữ đi hãm hiếp, con bé ba tháng tuổi của tôi bị bỏ nằm vất vưởng giữa mưa gió, vì ai cũng bỏ chạy, thế mà một tên hải tặc đi ngang đã dừng lại cởi áo nó đắp cho con bé. Không thể tưởng tượng được,” bà nêu một dẫn chứng về những điều đặc biệt mà bà có cơ hội nhìn thấy.

Bà Thanh Thủy tâm sự, “Sau mấy mươi năm, khi ngồi đọc lại toàn bộ những gì đã viết, tôi sáng lên nhiều điều. Chúng tôi viết quyển này không phải với cái đầu mà bằng cả trái tim, như một món nợ mà mình phải trả mà phải trả một cách trung thực, như có người nói ‘không được nói Việt Cộng là tốt, vì tất cả chúng đều xấu,’ nhưng thực tế không phải vậy, vẫn có người tốt.”

“Ngay ở trong phòng làm việc của mình, tôi treo tấm hình đảo Koh Kra, để mỗi khi bực mình chuyện gì, tôi nhìn vào đó để thấy rằng không có gì phải phàn nàn nữa hết, bởi khi mình đã đi qua những điều này thì những cái khác đều là chuyện nhỏ. Rồi mình cũng nhìn ra có những sự sống đáng sợ hơn cái chết, nhất là trong hoàn cảnh mình biết là sẽ chết mà không biết chết khi nào, rồi mình biết sẽ bị cái này sẽ bị cái kia, nhưng không biết lúc nào sẽ xảy ra,… những điều đó đáng sợ hơn sự chết rất nhiều,” người phụ nữ chứng kiến quá nhiều giông tố trong đời, suy ngẫm.

Bà cho rằng, “Khi con người còn có hy vọng, thì bất cứ chuyện gì rồi cũng có thể vượt qua.”

Tác phẩm để lại cho thế hệ sau

Cựu phóng viên Thanh Thủy chia sẻ, “Năm 1988 khi ký hợp đồng phim với Sterling Lord Literary Agency ở New York và hợp đồng sách với Robert Barnett, luật sư chuyên về tác quyền tại Washington D.C, chúng tôi mới lại nhìn thấy sự quan trọng của sự chính xác trong câu chuyện này. Vì câu chuyện này đâu còn là của riêng mình nữa, mà là câu chuyện của nhiều người, của cả dân tộc mình. Khi đó chúng tôi nghiêm túc hơn trong việc viết, trong việc sưu tập tài liệu.”

“Chúng tôi viết trong tư cách của một chứng nhân chứ không phải là viết tiểu thuyết. Chúng tôi là phóng viên, không phải nhà văn nên tất cả đều là sự thật, không phải hư cấu, thành ra cần nhấn mạnh để con cháu biết, đây là những sự kiện,” phóng viên Dương Phục nói.

Cũng trong tâm tình đó, ông cho rằng, “Đây là quyển sách để lại cho thế hệ sau.”

“Mục đích chính của cả hai vợ chồng khi viết là để lại cho mấy đứa con, mấy đứa cháu. Chúng lớn lên ở đây nên không biết bằng cách nào thế hệ ông bà bố mẹ mình đến đây, nó chỉ nghe loáng thoáng là đi vượt biển nhưng nó không biết chi tiết. Nó nghe loáng thoáng bố mẹ ông bà đi tù nhưng mà nó không biết tù gì… Thế nên chúng tôi viết để cho thế hệ sau biết. Ngay cả con chúng tôi, tôi cũng muốn chúng biết tại sao chúng có mặt ở đây,” ông nhấn mạnh.

Nhà báo Thanh Thủy khẳng định, “Nếu mình không trải qua nỗi bất hạnh sẽ không hiểu nổi hạnh phúc. Nếu mình không đi qua những khổ đau, mình sẽ không trân quý được cuộc sống. Đó là những thông điệp mà tôi muốn chia sẻ với mọi người.”

***

Hồi Ký “Tình Yêu, Ngục Tù và Vượt Biển” của hai cựu phóng viên chiến trường Dương Phục-Vũ Thanh Thủy do Tủ Sách Tiếng Quê Hương ấn hành, sẽ ra mắt độc giả vùng Little Saigon, Quận Cam vào lúc 2 giờ trưa, Chủ Nhật, 17 Tháng Bảy, 2016 tại Trung Tâm Công Giáo, 1538 Century Blvd, Santa Ana, CA 92703.

Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com