| Born | Howard Walter Florey 24 September 1898 Adelaide, South Australia |
|---|---|
| Died | 21 February 1968 (aged 69) Oxford, United Kingdom |
| Nationality | Australian |
| Education | St Peter's College, Adelaide |
| Alma mater | University of Adelaide Magdalen College, Oxford |
| Known for | Discovery of penicillin's properties |
| Awards | Fellow of the Royal Society (1941)[1] Nobel Prize in Physiology or Medicine (1945) Lister Medal (1945)[2] Knight Bachelor Albert Medal (1946) Royal Medal (1951) Copley Medal (1957) Lomonosov Gold Medal (1965) Wilhelm Exner Medal (1960) |
| Scientific career | |
| Fields | Bacteriology, immunology |
| Institutions | University of Adelaide University of Oxford University of Cambridge University of Sheffield Australian National University |
| Influences | Charles Sherrington[3] |
Sự khám phá ra Penicillin.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Penicillin được Alexander Flemming phát hiện ra một cách rất tình cờ.
Penicillin là kháng
sinh đầu tiên mà mà các nhà y khoa học đã khám phá ra. Cũng như một số
các các kết quả nghiên cứu khác, sự tìm ra kháng sinh là một kết quả
của sự tình cờ và cực kỳ mới lạ.
Số là một sinh viên y khoa người Anh, Alexander Flemming (1881-1955) có ý định trở thành một y sĩ.
Anh ta làm việc tại
phòng Chủng Ngừa của bệnh viện St Mary London trong vòng 49 năm. Vào
năm 1928, một đĩa cấy vi khuẩn bị nhiễm một loại mốc meo, không phải do
bay qua một cửa mở như đã đoán mà có thể là từ một phòng
thí nghiệm đang nghiên cứu về một loại mốc hiếm. Hộp này bị bỏ quên
trong khi Alex đi nghỉ hè ba tuần lễ. Thời tiết mới đầu đủ lạnh để mốc
meo mọc rồi lại đủ ấm để vi khuẩn phát triển, đã giết các vi khuẩn kế
cận. Mốc meo đã tiết ra một loại kháng sinh rất
mạnh mà Alex đặt tên là “penicillin”.
Tiếp tục nghiên
cứu, Alex thấy Penicillin rất công hiệu tiêu diệt các vi khuẩn gây ra
nhiều bệnh nhiễm nguy hiểm nhưng không gây ảnh hưởng gì tới tác dụng
của bạch huyết cầu. Anh ta cũng nhận thấy chất này không gây nguy
hiểm gì cho các động vật khỏe mạnh. Tuy nhiên anh đã không dùng kháng
sinh này cho các xúc vật đã được cố tình tiếp nhận vi khuẩn độc hại. Lý
do thầm kín của quyết định này là sau khi chộn lẫn penicillin với máu
trong phòng thí nghiệm, kháng sinh này mất
rất nhiều công hiệu. Dù là một chuyên viên cực giỏi, Alex không nhận ra
rằng sự việc xảy ra trong phòng thí nghiệm khác với sự việc trong cơ
thể. Rồi đến năm 1929, anh ta phổ biến qua loa về kết quả này và chuyển
sang nghiên cứu khác, không bao giờ nhắc lại
khám phá này nữa.
Có lẽ Penicillin
không bao giờ trở thành thuốc kháng sinh nếu không có một nhà bác học
xuất sắc nhưng dễ nổi giận người Áo Howard Florey. Vào năm 1935, ở tuổi
37, Howard Florey (*sinh tại Adelaide Úc, tốt nghiệp Đại học Adelaide, sau đó nghiên cứu tại Đại Học Oxford -Anh-TCL) đã đứng đầu bộ môn Bệnh Lý Học tại Oxford. Tại đây,
ông ta đã mời nhà sinh hóa học xuất sắc người Đức gốc Do Thái mới
thoát thân khỏi cảnh tù đầy của Đức Quốc Xã là Ernerst Chain. Hai người
sát vai nhau tìm kiếm kết quả nghiên cứu khoa học để về các chất kháng
sinh.
Sau khi duyệt xong
hơn 200 nghiên cứu, Ernt đọc được kết quả nghiên cứu của Alex. Họ đã có
sẵn một mẫu mốc Penicillin notatum và bắt đầu cấy chúng. Ngay sau đó, họ
gặp những khó khăn khi tách những chất chính từ lớp mốc
meo vì chỉ có 2/triệu là penicillin nguyên chất. Họ có thể đã bỏ cuộc
nếu không có sự tiếp tay của nhà sinh hóa học người Anh Norman Heatleay
khi tìm ra cách chuyển penicillin trở lại trạng thái nước bằng cách
thay đổi độ acit của nó.
Trong khi đó thì
nước Anh đang có chiến tranh. Mặc dù thiếu ngân sách và luôn luôn bị đe
dọa bị oanh tạc, các khoa học gia tiếp tục tinh chế dược phẩm và bắt đầu
thử dùng dược phẩm này. Vào ngày thứ Bảy, 25 tháng 5 năm
năm 1940, họ cấy vào tám con chuột với một lượng vi khuẩn streptococci
lớn; bốn con được cho dùng Penicilln. Tới sáng ngày , những chú chuột
không được chữa với penicillin đều chết trong khi những con đã được dùng
penicillin đều sống và khỏe mạnh. Bình thường
Howard rất khiêm nhường, phải đã kêu lên : ‘ Thật là phi thường’.
Nhận thấy khả năng
của dược phẩm mới khám phá, đặc biệt là đối với các chiến binh bị thương
trong thế chiến thứ nhì, Howard đã chuyển bộ môn của mình thành cơ sở
sản xuất thuốc này. Heatly nhận thấy rằng cái bình đi tiểu
tiện-đại tiện tại nhà thương là dụng cụ tốt nhất để nuôi mốc meo
penicillin. Sau chót , họ nghĩ là đã có đủ penicillin để thử trên người
bệnh. Và cảnh sát viên Albert Alexander được lựa chọn. Anh này mang trên
mình những mảng nhiễm trùng rất trầm trọng.Vì
có quá ít penicillin, trong ngày đầu chữa trị, các bác sĩ đã phải vớt
vát trong nước tiểu số thuốc được thải ra để dùng cho y vào ngày thứ
ba. Chẳng may sau đó thuốc không còn và anh cảnh sát mãn phần.
Sau đó nhóm khoa
học gia bắt đầu chữa cho bốn bệnh nhân và họ đã thành công mỹ mãn. Một
trong số các khoa học gia nhận thấy không đủ ngân khoản để tiếp tục thử
nghiệm, họ cầu cứu tới công ty dược phẩm British. Chẳng may
là khi đó công ty phải lo cung cấp cho nhà nước đang lâm cảnh chiến
tranh. Vào tháng Bảy năm 1941, quá thất vọng, hai khoa học gia của nhóm
là Norman Heatley và Howard Florey phải qua Hoa Kỳ cầu cứu.
Nơi đây, Florey gây
được sự lưu tâm của ban tham mưu Bộ Canh Nông và được giới thiệu tới cơ
sở Northern Regional Resaearch Laboratory ở Peoria, Illinois. Đây là
nơi có rất nhiều chuyên gia hạng nhất về cách thức lên men.
Heatley làm việc ở
đây mấy tuần lễ với khoa học gia Andrew J. Moyer. Ông này khai thác kết
quả nghiên cứu từ khoa học gia Anh tới tối đa nhưng từ chối chia sẻ kết
quả nghiên cứu của mình. Tới khi đó thì Hoa Kỳ tham dự vào
Thế chiến thứ nhì, Moyer gia tăng sản xuất tới 34 lần và 3 công ty dược
phẩm tỏ ý muốn đầu tư.Thấy nguồn lợi quá lớn, chính phủ Hoa Kỳ cũng
nhập cuộc và ngân khoản dành cho dự án này được dành ưu tiên như ngân
sách phát triển bom nguyên tử.
Florey trở lại Anh
quốc với lời hứa là sẽ có đủ penicillin để nghiên cứu nhưng cay đắng
thay là chỉ nhận được có ba mẫu cỏn con và lâm vào cảnh rất giới hạn tại
phòng thí nghiệm của mình tại Oxford. Tất cả penicillin được
dành ưu tiên cho quân đội Hoa Kỳ!!
Vào năm 1943, các
công ty sản xuất dược phẩm của Anh tung ra thị trường rất nhiều
penicillin và đến tháng Năm, Florey sang Bắc Phi và dùng thử kháng sinh
này cho các chiến binh và hết sức thành công. Penicillin cũng chữa
khỏi các bệnh lậu mủ và các tướng lãnh đã dùng thuốc để chữa binh sĩ bị
bệnh để họ có thể tham dự vào cuộc giải phóng Sicily.
Đến ngày D-Day vào
tháng Sáu năm 1944, có vô số kháng sinh để chữa cho quân đội đồng minh
bị thương tích . Các quốc gia như Ý Đại Lợi, Nhật Bản, Đức chưa bao giờ
góp phần vào việc tìm ra penicillin cho nên sau đại chiến
một số lớn chiến binh bị thương ở chân tay đều được gửi về điều trị tại
quê hương của họ.
Vào năm 1945, bộ ba
khoa học gia Alexander Fleming, Howard Florey và Earnest Chain chia
nhau giải Nobel vì đã tìm ra penicillin. Dù đóng góp rất lớn trong việc
khám phá này nhưng Norman Heatly không nhận được phần thưởng
nào ngoại trừ lời khen đãi bôi suông. Andrew Moyer đã giữ kín kết quả
các nghiên cứu của mình và xuất bản dưới tên riêng mặc dù các công trình
nghiên cứu căn bản là của Heatly.Sau đó ít lâu, Moyer xin bản quyền
kết quả nhiên cứu vế penicillin tại Anh và
thu về cả mầy triệu mỹ kim. Đáng buồn là phải đợi tới tháng Mười năm
1990, Norman Heatly mới được ban cho tước vị danh dự bác sĩ tại Oxford
University.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức