Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label NganHangQGVNCH. Show all posts
Showing posts with label NganHangQGVNCH. Show all posts

Wednesday, 3 December 2025

Nhân đọc bài viết về LÊ THÀNH ÂN (TLS Mỹ tại Sài Gòn 2010) có ghi VỢ của LT Ân tên là LÂM CHÍ TÂM (Con gái của một Cựu Thống Đốc Ngân Hàng VNCH) - Theo Danh Sách các Cựu Thống Đốc Ngân Hàng VNCH bên dưới không thấy có ai là HỌ LÂM cả?./-Mt68
///////////
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam



Mặt tiền của trụ sở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được in trên tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng phát hành năm 1971

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là ngân hàng trung ương của Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa hình thành ngày 31 tháng 12 năm 1954 và hoạt động đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngoài việc phát hành tiền tệ, cơ quan này đảm trách việc quản lý tài chính và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Lịch sử

Thành lập

Ngày 4 tháng 6 năm 1954, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho Việt Nam. Bản hiệp ước do thủ tướng Nguyễn Phúc Bửu Lộc của chính phủ Bảo Đại và thủ tướng Pháp Joseph Laniel ký ghi nội dung điều khoản 3: Pháp cam kết trao trả lại cho Chính phủ Việt Nam các thẩm quyền và công vụ mà Pháp còn phụ trách. Trong đó, họ trao trả lại quyền tự chủ tiền tệ, tức giải tán Viện phát hành tiền tệ Đông Dương của mình để trao trả lại quyền phát hành tiền cho Việt Nam.

Ngày 21 tháng 12 năm 1954, quốc trưởng Bảo Đại ký dụ số 18 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Viện hối đoái riêng. Tuy nhiên trong thời gian đầu, tiền Việt Nam vẫn nằm trong khu vực đồng franc có tỉ giá 1 đồng Việt bằng 10 đồng franc.

Ngày 1 tháng 1 năm 1955, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam chính thức hoạt động tại số 17 Bến Chương DươngSài Gòn. Đồng bạc Đông Dương (piastres) được thay thế bằng đồng bạc Việt Nam. Trong những hoạt động đầu tiên là thu hồi tiền tệ do Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào (Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam) cho lưu hành, để thay bằng tiền mới của Ngân hàng Quốc gia.

Ngày 17 tháng 12 năm 1955, tiền Việt chính thức tách ra khỏi các thỏa ước tiền tệ với Pháp trước đó bằng việc thủ tướng Ngô Đình Diệm ký dụ số 15, bắt buộc tất cả hoạt động tiền tệ đều nằm dưới quyền kiểm soát của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Không còn nằm trong khu vực tiền Pháp, đồng Việt Nam được ấn định tỉ giá theo đôla Mỹ, thời điểm này 35 đồng bằng 1 USD, 98 đồng bằng một bảng Anh và 0,1 đồng bằng 1 franc.[1]

Tờ giấy bạc giá trị năm đồng do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành

Theo nghị quyết số 48 thì Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập với bốn độc quyền:

  1. Phát hành giấy bạc và tiền kim loại tại Việt Nam, tức đồng tiền của Việt Nam Cộng hòa
  2. Tự do mua bán các quý kim và các ngoại tệ,
  3. Bảo đảm các tài khoản mua chịu của nhà nước,
  4. Kiểm tra các cơ sở tài chánh trong nước.

Hoạt động

Đối với các ngân hàng tư nhân ngoại quốc hay quốc nội hoạt động ở Việt Nam thì luật pháp bắt buộc các ngân hàng tư phải ký thác vào Ngân hàng Quốc gia 10-20% tổng số vốn.[2] Khi đổi ngoại tệ thì ngân hàng thương mại phải ký thác 25-100% tiền Việt Nam Cộng hòa vào Ngân hàng Quốc gia tương đương với lượng ngoại tệ mua vào.[3] Tuy nhiên Ngân hàng Quốc gia không nhận nhiệm vụ kiểm soát hối suất giữa tiền Việt Nam Cộng hòa và các ngoại tệ. Phận vụ này thuộc về Viện Hối đoái, một cơ quan tự trị thuộc Bộ Tài chánh.[4] Về mặt giao dịch, nhất thương vụ và việc cho các ngân hàng khác vay thì Ngân hàng Quốc gia ủy thác cho cơ quan phụ thuộc có tên gọi là Ngân hàng Việt Nam Thương tín (Crédit Commercial du Viet-Nam, Commercial Credit Bank of Vietnam). Tính đến năm 1975 thì Ngân hàng Việt Nam Thương tín là ngân hàng hoạt động quy mô nhất trong lãnh vực ngoại thương tại miền Nam.

Tính đến Tháng Chạp năm 1963 thì tổng sản vàng và ngoại tệ trong ngân khố trị giá 174,5 triệu USD trong khi số lượng tiền lưu hành là 16,645 tỷ đồng.[5]

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là sáng lập viên của Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank, ADB) năm 1966 cùng là thành viên của Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund, IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB). Sau năm 1975 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kế thừa vai trò cũ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trong các tổ chức này.

Khó khăn về ngoại tệ và vàng

Một khó khăn đối diện Ngân hàng Quốc gia từ lúc đầu là số lượng vàng dự trữ ở Việt Nam tổng cộng 33 tấn sau khi Đế quốc Nhật Bản bại trận năm 1945 thì Quân đội Pháp đã tiếp nhận vào chuyển về Pháp năm 1955. Chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm phải điều đình đòi hoàn lại. Khó khăn thứ hai là lượng ngoại tệ trong ngân khố phần lớn là tiền franc Pháp mà chính phủ Pháp hạn chế việc hoán đổi, mỗi năm chỉ được đổi lấy một lượng nhỏ sang Mỹ kimbảng AnhĐức mã hoặc yên Nhật. Trong khi đó thì đồng franc Pháp bị phá giá liên tục khiến giá trị lượng ngoại tệ của Việt Nam Cộng hòa bị cuốn theo những đợt giảm giá. Sau mấy lượt thương thuyết hai bên mới đồng thuận ký kết giải quyết việc tài chính kể cả việc Pháp giao lại 33 tấn vàng vào năm 1958. Kể từ đó Việt Nam chấm dứt lệ thuộc vào khu vực đồng franc (franc zone).

Tích sản năm 1975

Khi chính thể Việt Nam Cộng hòa tan vỡ thì trong kho hầm sắt của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có 1.234 thoi vàng và một số tiền cổ bằng vàng. Tổng cộng là hơn 16 tấn [6] (Về sau, lượng vàng này được đưa qua Liên Xô bán cùng với các loại vàng có trong nước gồm tất cả 40 tấn để trả nợ và giải quyết các nhu cầu khó khăn của thời bao cấp)[7] và 5,7 tấn vàng gửi tại ngân hàng Thụy Sĩ.

Ngoài ra, một số vàng khá lớn và đá quý do các tư nhân ký gửi vẫn còn ở ngân hàng. Theo cuốn Lịch sử ngân hàng Việt Nam, toàn bộ số tiền mặt của Việt Nam Cộng hòa thu được hơn 150 tỉ đồng. Trong đó, tiền các loại thu được trong kho Ngân hàng Quốc gia 125 tỉ đồng, gồm cả những tờ mệnh giá 1.000 đồng in hình các con thú mới chuẩn bị phát hành vẫn đang niêm phong dưới tầng hầm Ngân hàng Quốc gia. Tiền quỹ lưu dụng 7,8 tỉ đồng và tiền quỹ của các ngân hàng tư nhân trên 19 tỉ đồng.

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam còn có nhiều trương mục ký thác dự trữ ngoại tệ ở ngoại quốc như Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ ở hai chi nhánh New York và San FranciscoNgân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank of International Settlements, BIS) ở BaselThụy SĩBank of America và Citibank. Số ngoại tệ này phần lớn đầu tư vào công khố phiếu.[8] Tổng dự trữ ngoại hối là 252,2 triệu USD, số dư có 138.798.820 USD do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và 26 ngân hàng thương mại gửi ở nước ngoài mà chủ yếu là Mỹ và Thụy Sĩ.[9]

Tích sản của Việt Nam Cộng hòa ký thác ở Hoa Kỳ nói chung lập tức bị niêm phong, chính sách cấm vận của Mỹ đã phong tỏa hơn 93 triệu USD.[10] Số ngoại hối còn lại cũng chưa thể rút ngay được, trong khi lượng ngoại tệ bằng tiền mặt tiếp quản được cả hệ thống ngân hàng Sài Gòn chỉ hơn 201.000 USD.[9]

Sau này, số ngoại tệ khả dụng của Việt Nam Cộng hòa gửi ở nước ngoài cũng được Vietcombank tiến hành các thủ tục rút dần về nước để giải quyết tình trạng khan hiếm ngoại tệ nghiêm trọng. Riêng hơn 93 triệu USD bị Mỹ phong tỏa cũng được thu hồi sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Theo ông Nguyễn Duy Lộ - nguyên phó tổng giám đốc Vietcombank, Việt Nam không chỉ thu hồi được tất cả số tiền gốc ngoại tệ ký gửi ở nước ngoài mà còn lấy được cả lãi với tổng số lên đến gần 396 triệu USD.[11]

Giải thể

Sau năm 1975Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và thông qua danh nghĩa của chủ ngân hàng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMFWBADB và phát triển Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.[12]

Đáng kể nhất chính nhờ nghiệp vụ sổ sách chặt chẽ, khoa học, đặc biệt là tinh thần trách nhiệm của toàn thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã giúp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam nắm được chính xác tất cả tài sản quốc gia mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa để lại.

Trụ sở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sau này được trưng dụng làm trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: số 17 đường Võ Văn Kiệt (đường Bến Chương Dương cũ), Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1Thành phố Hồ Chí Minh.

Lãnh đạo

Tuesday, 27 December 2022

Những ngày cuối cùng của ​Ngân hàng Quốc gia VNCH
28/04/2017 11:51 GMT+7
TTO - Cuối tháng 4-1975, lẫn trong các đoàn xe tăng, bộ binh giải phóng đổ về Sài Gòn có những người lặng lẽ làm nhiệm vụ đặc biệt.
Ngân hàng Quốc gia VNCH - Ảnh: tư liệu

Trung tuần tháng 4-1975, sau một tuần giao tranh khốc liệt với quân giải phóng do tướng Hoàng Cầm chỉ huy, phòng tuyến Xuân Lộc - hy vọng cuối cùng của quân đội VNCH - đã chuyển sang thế chiến bại.

Tuy nhiên, cùng thời điểm đó ở Sài Gòn, các hoạt động thường nhật của Ngân hàng Quốc gia, đầu não của nền tài chính miền Nam, vẫn bình thường.

Phòng vệ đặc biệt

Buổi chiều hết giờ làm việc, chiếc cổng sắt nặng nề của Ngân hàng Quốc gia ở số 17 Bến Chương Dương đóng chặt lại, tách biệt hẳn với đường phố ồn ào bên ngoài. Vài nhân viên nghiệp vụ không ra về mà ở lại phía trong cánh cửa, tiếp tục vào phiên trực.

Từ khi chiến cuộc diễn biến ngày càng khốc liệt, theo chủ trương của chính quyền Sài Gòn, tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia đã cho thành lập tổ tự vệ riêng của các viên chức nghiệp vụ ngân hàng.

Từ cấp chánh sự vụ trở xuống, không ai được phép vắng mặt trách nhiệm “nhân dân tự vệ”. Thay phiên nhau vài đêm mỗi tháng, họ cũng được phát vài khẩu carbine nhưng chưa bao giờ phải nổ súng.

Cùng gác với họ còn có hai lực lượng chuyên trách khác. Phía ngoài cổng là vành bảo vệ của đội cảnh sát dã chiến.

Từ cuộc chiến đường phố Tết Mậu Thân năm 1968, điểm phòng vệ này còn thường xuyên xuất hiện những chiếc thiết giáp. Nó đậu ở sát bức tường hông tòa nhà, khẩu trọng liên chĩa thẳng ra đường sẵn sàng chiến đấu.

Riêng bên trong, ngoài đội “tự vệ” còn có đội bảo vệ đặc biệt của thiếu tá Sang. Ông ta chỉ huy đội cảnh sát phòng vệ lớp thứ hai bên trong tòa nhà.

Chiến cuộc 20 năm gần đến hồi kết ở Sài Gòn, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rồi ông Trần Văn Hương, Dương Văn Minh lên thay đều quan tâm bảo vệ tòa nhà đặc biệt này.

Họ rất sợ Ngân hàng Quốc gia có vấn đề gì, ảnh hưởng đến cả nền tài chính lẫn tâm lý người dân đô thành, mà đặc biệt là giới thương nhân.

Dưới tầng hầm, kho vàng 16 tấn dự trữ quốc gia vẫn còn nguyên vẹn ở vị trí cũ sau khi kế hoạch chuyển ra nước ngoài bị dừng lại.

Bên cạnh những hộp vàng thoi, các thùng tiền mặt, gồm tất cả tờ 500, 1.000 đồng chuẩn bị phát hành vẫn nằm nguyên dưới lớp niêm phong.

“Huyết mạch” kinh tế miền Nam vẫn hoạt động cho đến gần giờ cuối cùng của Việt Nam cộng hòa, khi những chiếc xe tăng T54 quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập.

Cảnh sát dã chiến bảo vệ vòng ngoài Ngân hàng Quốc gia VNCH trong những ngày tháng 4-1975 - Ảnh tư liệu
Cảnh sát dã chiến bảo vệ vòng ngoài Ngân hàng Quốc gia VNCH trong những ngày tháng 4-1975 - Ảnh tư liệu

“Chứng nhân” 3 thế kỷ

Trong lịch sử, tòa nhà Ngân hàng Quốc gia do người Pháp xây dựng này là chi nhánh chính của Ngân hàng Đông Dương ở Sài Gòn.

Ngân hàng này đầu tiên ra đời ở Paris vào tháng 1-1875. Chỉ bốn tháng sau, nó đã hiện diện ở thuộc địa Nam Kỳ, số 22 bến Arroyo Chinois, Cochinchine (số 17 Bến Chương Dương hiện nay).

Đây là một trong những công trình được xây dựng bề thế, kiên cố nhất Sài Gòn lúc bấy giờ gồm năm tầng, trong đó có một tầng hầm được sử dụng làm kho cất vàng dự trữ quốc gia và tiền tệ chưa phát hành.

Những bức tường bằng đá dày bảo đảm chịu được mọi loại súng cầm tay của bộ binh thời đó.

Tầng trệt của tòa nhà là văn phòng thống đốc, Nha điện toán, Nha ngân quỹ, phòng giao dịch với các ngân hàng thương mại. Các tầng trên là phòng làm việc của các nha khác như Nha kiểm soát, Nha thanh tra, Nha hối đoái...

Ngày 4-6-1954, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho Việt Nam.

Bản hiệp ước do thủ tướng Bửu Lộc của chính phủ Bảo Đại và thủ tướng Pháp Joseph Laniel ký ghi nội dung điều khoản 3: Pháp cam kết trao trả lại cho Chính phủ Việt Nam các thẩm quyền và công vụ mà Pháp còn phụ trách.

Trong đó, họ trao trả lại quyền tự chủ tiền tệ, tức giải tán Viện phát hành tiền tệ Đông Dương của mình để trao trả lại quyền phát hành tiền cho Việt Nam.

Sáu tháng sau, ngày 21-12-1954, quốc trưởng Bảo Đại ký dụ số 18 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Viện hối đoái riêng.

Tuy nhiên trong thời gian đầu, tiền Việt Nam vẫn nằm trong khu vực đồng franc có tỉ giá 1 đồng Việt bằng 10 đồng franc.

Ngày 1-1-1955 tại số 17 Bến Chương Dương, Sài Gòn, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam chính thức hoạt động. Đồng bạc Đông Dương (piastres) được thay thế bằng đồng bạc Việt Nam.

Khoảng một năm sau, ngày 17-12-1955, tiền Việt chính thức tách ra khỏi các thỏa ước tiền tệ với Pháp trước đó bằng việc thủ tướng Ngô Đình Diệm ký dụ số 15, bắt buộc tất cả hoạt động tiền tệ đều nằm dưới quyền kiểm soát của Ngân hàng Quốc gia.

Không còn nằm trong khu vực tiền Pháp, đồng Việt Nam được ấn định tỉ giá theo đôla Mỹ, thời điểm này 35 đồng bằng 1 USD, 98 đồng bằng 1 bảng Anh và 0,1 đồng bằng 1 franc.

Thống đốc, người có quyền lực cao nhất ở Ngân hàng Quốc gia đầu tiên là ông Dương Tấn Tài, cựu bộ trưởng tài chính của chính phủ Bửu Lộc trước đó.

Thống đốc Tài được đánh giá là người cực kỳ liêm chính. Tuy nhiên, ông không tại vị lâu ở ngân hàng đầu não vì cuối năm 1955, ông được bổ nhiệm làm cố vấn phủ tổng thống. Người thay chức vụ cũ của ông là tiến sĩ kinh tế Vũ Quốc Thúc.

Suốt 20 năm chiến cuộc kể từ khi đất nước bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, Ngân hàng Quốc gia trở thành “chứng nhân” bao cuộc thăng trầm, biến loạn của Sài Gòn. Những thống đốc đầu tiên như tiến sĩ Vũ Quốc Thúc có công đưa nền tài chính miền Nam thoát khỏi cái bóng đô hộ 100 năm của người Pháp.

Nguyên bộ trưởng Trần Hữu Phương lên thay. Kế tiếp ông là những gương mặt rất giỏi như tiến sĩ kinh tế Harvard Nguyễn Xuân Oánh làm thống đốc năm 1964 trong nội các Nguyễn Cao Kỳ.

Sau đó là Nguyễn Hữu Hanh, Nguyễn Văn Dõng. Và thống đốc trẻ tuổi cuối cùng là Lê Quang Uyển ngồi vào chiếc ghế thống đốc năm 36 tuổi, từ năm 1970 cho đến ngày quân giải phóng vào cắm lá cờ mới lên tòa nhà này.

Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập, tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng cho rằng Ngân hàng Quốc gia sẽ là mục tiêu sau khi Sài Gòn thất thủ.

Trong cuộc họp nội các ngày 1-4, tổng trưởng Hưng đề xuất bán vàng dự trữ của Ngân hàng Quốc gia để mua đạn dược trong tình hình không thể hi vọng quân viện từ Mỹ.

Cuối cùng, diễn biến chiến sự quá nhanh, việc mua đạn dược không kịp, việc chuyển vàng ra nước ngoài cũng bất thành, trong đó có cả lý do bất đồng của một số nhân vật trong nội các như phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo (Tuổi Trẻ đã đăng chi tiết năm 2006 trong hồ sơ “Câu chuyện 16 tấn vàng ngày 30-4”).

“Có lẽ chính nhờ những điều này mà hầm dự trữ của Ngân hàng Quốc gia vẫn không có gì xáo trộn trong tháng cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Chúng tôi vẫn đến sở làm bình thường. Bản phúc trình thường niên năm 1974 vẫn được trình lên” - ông Huỳnh Bửu Sơn, một viên chức của Ngân hàng Quốc gia cũ, kể lại.