Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Tuesday, 21 August 2018

ĐẰNG GIAO VIẾT BÁO GIỚI THIỆU MÀ KHÔNG GHI ĐỊA CHỈ TIỆM LÀ MỘT THIẾU SÓT KHÔNG PHẢI CỦA NGƯỜI KHÔN CHO LẮM./-TCL

 Mt68 bổ túc địa chỉ cửa tiệm ông Vũ Hùng:
 rvn-vu-hung


Làm nghề bán phù hiệu của quá khứ kiêu hùng
Click image for larger version

Name: (1).jpg
Views: 0
Size: 77.4 KB
ID: 1263032   Click image for larger version

Name: (2).jpg
Views: 0
Size: 66.5 KB
ID: 1263033   Click image for larger version

Name: (3).jpg
Views: 0
Size: 63.7 KB
ID: 1263034   Click image for larger version

Name: (4).jpg
Views: 0
Size: 92.4 KB
ID: 1263035

Click image for larger version

Name: (5).jpg
Views: 0
Size: 73.5 KB
ID: 1263036  

Vietbf.com - Ông Vũ Hưng, người mở tiệm bán từng mảnh phù hiệu của quá khứ kiêu hùng, mà chỉ ghi vỏn vẹn tại tiệm bảng hiệu : “Huy chương, quân phục, phù hiệu”, nhưng ông Vũ Hưng, chủ tiệm lại rất hãnh diện có cơ hội đóng góp một phần những người từng làm việc dưới chế độ VNCH, từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho đến một người lính bình thường.”


Ông Vũ Hưng, người phục vụ các chiến sĩ QLVNCH một cách âm thầm trong 20 năm qua. (Hình: Đằng-Giao/NV)

Bảng hiệu tại tiệm tại Westminster của ông chỉ ghi vỏn vẹn: “Huy chương, quân phục, phù hiệu”, đơn giản như tính khí ông.

Ngay phía trước cửa hiệu, chiếc xe Zeep màu quân đội và những bao cát xếp tại một góc vừa đủ gợi lại hình ảnh quen thuộc của một thời QLVNCH.

Bước vào tiệm, cả một không gian rực rỡ sắc màu huy hiệu của đủ mọi binh chủng như nhắc nhở một niềm tự hào chưa bao giờ phai nhòa trong tâm khảm những cựu quân nhân từng đổ máu cho quê hương.

Chỉ những món đồ trong tiệm, ông nhỏ nhẹ nói: “Đây không phải là những món trang trí cho vui. Đây là những sản phẩm có giá trị tinh thần, tượng trưng cho cả một quá khứ huy hoàng của những chiến sĩ lưu vong.”

Một trong những hãnh diện của ông là có cơ hội góp phần vào sự trang nghiêm cho tang lễ của Tổng Thống Thiệu và tất cả những ai là người của VNCH.

“Khi người nhà ông Thiệu nhờ tôi may cho họ mấy lá tướng kỳ, cờ của một vị tổng tư lệnh, có hình con rồng, tôi xin góp ý rằng theo nghiên cứu, sưu khảo của tôi, phải là con đại bàng mới chính xác. Sau cùng gia đình đồng ý. Tôi vui vì làm được một việc đúng,” ông kể.

Tiệm của ông Hưng là tiệm duy nhất có đầy đủ phù hiệu, huân chương và quân phục QLVNCH nhất thế giới, theo ông biết.



Từ cờ nhỏ đến đại kỳ, cỡ nào cũng có. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

“Thực ra, tôi chỉ có sẵn chừng bốn ngàn mẫu khác nhau trong tiệm thôi,” ông Hưng nói. Tuy nhiên, theo lời khách quen, ai có bất cứ yêu cầu gì về huân chương hay phù hiệu, ông Hưng đều có thể đáp ứng cho tất cả, kể cả khi khách không biết chắc rằng mình muốn gì.

Khách của ông là những cựu quân nhân của một chế độ thất thời nhưng không bao giờ quên được trọng trách với quốc gia luôn trĩu nặng trên hai vai.

Họ đến đây như để tìm lại chính mình của một thời chiến tranh, chỉ để trao đổi vài câu hỏi thăm thân mật với chiến hữu.



Niềm vui giản đơn của một vị lính già. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông Lê Trọng Dũng, từng thuộc binh chủng nhảy dù quân y, tỏ ra rất hãnh diện khi sưu tập được những miếng phù hiệu hiếm có để may lên trước và sau áo. Cầm áo trên tay, ông hớn hở như vừa đạt được những thành tích đáng kể đối với thù.

Ông nói: “Không phải dễ dàng mà kiếm được những phù hiệu nhảy dù này đâu. Tôi phải kiếm khắp nơi. May lên áo, mặc lên người là vui rồi.”

Niềm vui của một người lính giản dị như thế đấy.

Một khách khác, ông Nguyễn Thanh Thảo, vui vẻ nói: “Tôi đến đây rất thường để mua những bộ quân phục không có chỗ nào bán hết. Chỉ có tiệm này mới bán quân phục có đầy đủ huân chương, phù hiệu và cấp bậc theo đúng điều lệ trong binh thư.”

Ông cần một bộ quân phục của Trung Tâm Huấn Luyện Thủ Đức để tham dự buổi họp ngày 2 Tháng Chín tại Dallas, Texas.

Ông tiếp: “Cả gia đình tôi đều rất thích khi thấy tôi mặc lại quân phục. Ai cũng đòi chụp hình với tôi. Nhất là mấy đứa cháu. Tụi nó có bao giờ thấy tôi mặc đồ nhà binh đâu. Con tôi còn chưa thấy chứ đừng nói tới cháu. Sau 1975, làm gì ai có dịp thấy tôi ‘lên đồ’ đâu.”

Nhìn quanh, ông Thảo tiếp: “Đối với tụi tôi, tiệm này bán những gì đáng được trân trọng nhất và vô giá nhất. Đó là thời vàng son của tụi tôi.”

Là người không thích nói về mình, ông Hưng làm việc một cách âm thầm trong suốt 20 năm qua, cặm cụi, truy tìm từng mảnh nhỏ của một quá khứ huy hoàng đối với những người bảo vệ đất nước.

Khi được hỏi lý do nào xui khiến cho ông mở tiệm này, ông Hưng hồi tưởng: “Tình cờ lắm, hồi đó tôi cần mua một số phù hiệu, huy chương của địa phương quân vì trước 1975, tôi là thiếu úy binh chủng này. Thế nhưng, sau một thời gian tìm kiếm, tôi mới biết là không ai bán những món này.”

Mắt dõi xa xăm, ông tiếp: “Rồi tôi nghĩ, ‘Tại sao mình không mở một tiệm, vừa giúp mình, vừa giúp những người muốn tìm lại những kỷ niệm đã mất.’ Rồi không đắn đo, tôi cho khai trương tiệm.”

Tin rằng đây là một cách để đóng góp cho cộng đồng, nhất là cho tập thể những người lính không quên nhiệm vụ với quê hương bỏ lại sau lưng, ông luôn tìm cách phát triển ngôi tiệm. “Ban đầu, tôi định làm sơ sài, thô sơ thôi, rồi rao bán ở ‘eBay’, nhưng rồi tôi không thể ngưng phát triển được.”

Nhờ gặp cơ duyên, ông tiếp xúc với một cựu quân nhân Hoa Kỳ, được người này để lại cho ông một số tài liệu vô giá từ Bộ Quốc Phòng Mỹ, phối hợp với những tài liệu khác về cấp hiệu, quân phục, quân kỳ, lệnh kỳ và phù hiệu của QLVNCH, ông Hưng như chim được chắp cánh, có thể tái tạo gần như bất cứ phù hiệu, huy chương của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Một phần nữa là do kiến thức kỹ sư của ông. “Tôi áp dụng những hiểu biết và khả năng của mình để làm lại những sản phẩm về quân đội bằng kim loại,” ông thành thật nói. “Từ những hình ảnh, kích cỡ trên giấy, tôi chuyển thành những con số có tính chuyên môn, sao cho máy móc đọc được làm ra một sản phẩm cụ thể có ba chiều.”

Có những món, ông Hưng phải bỏ ra cả ngày để hoàn tất.



Phù hiệu nào cũng có, hiếm đến mấy cũng tìm được. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Sản phẩm của tiệm giá từ $5, $10 thôi. Họa hoằn lắm mới có món lên đến $60. “Nhưng đó là những món rất hiếm có người cần tìm,” ông Hưng cho hay.



Phù hiệu và cấp bậc bằng kim loại nhẹ do ông Hưng tái tạo. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Vẫn với giọng nhỏ nhẹ, khiêm tốn, ông nói: “Hơn 90% những cựu quân nhân QLVNCH qua đời ở khu Little Saigon đều mặc quân phục và mang phù hiệu, huy chương của tôi khi được tẩm liệm. Đó là lý do tôi hãnh diện với nghề này trong 20 năm qua.”

Ông có khách quen trên toàn quốc và nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Việt Nam, ông cho biết.

Từng tình nguyện giúp bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, cựu trung tá, chủ tịch Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH, ngay từ lần đầu bà tổ chức triển lãm và nhiều lần sau đó, ông Hưng còn tham gia những chương trình thiện nguyện giúp đỡ thương phế binh trong và ngoài nước.

“Tôi biết khách hàng của tôi ngày một ít đi với cấp số gia tăng, nhưng tôi vui và hãnh diện với công việc hiện tại.”

“Năm nay ngoài 70 tuổi rồi, chừng 10 năm nữa tôi sẽ tặng tất cả những gì tôi có trong cửa hiệu cho hội QL VNCH, ‘the Living History’,” ông chia sẻ. “Tôi nghĩ tặng cho viện bảo tàng là không đúng vì QLVNCH chưa chết như một đế chế Chàm hay một triều đại xa xôi.”

Ông tin rằng ngày nào còn hậu duệ, ngày đó QLVNCH còn tồn tại. (Đằng-Giao)

Sunday, 19 August 2018

TIN VUI CHO HẢI NGỌAI: CHIÊM QUỐC THÁI Ở CALI VỀ XỨ VC KIẾM CHÁC BỊ CHÉM LÀ PHẢI RỒI - VC CỨ CHÉM, GIẾT MẤY TÊN VIỆT KIỀU VC VỀ LÀM GIÀU - HẢI NGỌAI CHỐNG CỘNG NHƯNG HOAN HÔ VC RA TAY GIẾT CÁI ĐÁM KHỐN NẠN NẦY CÀNG NHIỀU CÀNG VUI CHO HẢI NGỌAI./-TCL

Nhiều uẩn khúc trong vụ truy sát bác sĩ Chiêm Quốc Thái
Click image for larger version

Name: 8.jpg
Views: 0
Size: 38.9 KB
ID: 1262554   Click image for larger version

Name: 8.1.jpg
Views: 0
Size: 106.2 KB
ID: 1262555  



Sáng nay 20-8, VKSND TP HCM đã trả toàn bộ hồ sơ, yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an TP HCM điều tra lại vụ bác sĩ Chiêm Quốc Thái (SN 1971, ngụ quận 1, TP HCM) bị chém trên phố đi bộ Nguyễn Huệ (quận 1) vào ngày 28-3 do còn nhiều vấn đề mấu chốt của vụ án chưa được làm rõ.


Trước đó, sau 4 tháng điều tra, Công an TP HCM đã kết thúc điều tra và đề nghị truy tố 6 bị can về tội "Cố ý gây thương tích", gồm: Vũ Thụy Hồng Ngọc (SN 1978, vợ cũ ông Thái), Phan Nguyễn Duy Thanh (SN 1981; Giám đốc Công ty Vệ sĩ S.T., trụ sở quận Tân Phú, TP HCM); Nguyễn Thanh Phong, Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Trần Thanh Tuấn, Chống Thín Sáng. Trong vụ án này, bà Ngọc được xác định là chủ mưu, cầm đầu.


Bà Vũ Thụy Hồng Ngọc

Phan Nguyễn Duy Thanh là Chủ tịch HĐQT Công ty Vệ sĩ S.T. nhưng thực chất nhiệm vụ chính là nhận hợp đồng đòi nợ thuê kèm theo các hợp đồng theo dõi các cặp vợ chồng ngoại tình.

Sáng 25-3, Thanh tập hợp đàn em vào phòng họp công ty, thông báo mới nhận hợp đồng chém bác sĩ Chiêm Quốc Thái đồng thời cung cấp hình ảnh, ô tô ông Thái để nhận dạng.


Ông Chiêm Quốc Thái

Phong tự nhận làm phó giám đốc Công ty Vệ sĩ S.T., Tuấn và Ngôn là nhân viên nhưng theo Công an TP HCM trong danh sách công ty này không có tên những người này.

Chiều 25-3, sau khi nhận lệnh, Phong đã chạy xe máy đến Bệnh viện thẩm mỹ Việt Mỹ theo dõi nhưng không thấy ông Thái. Đến tối 28-3, ông Thái đi ăn cùng nhóm bạn thì bị nhóm này theo dõi, phát hiện và lên kế hoạch chém. Sau khi ông Thái vừa rời khỏi một quán ăn ở phố đi bộ Nguyễn Huệ, nhóm này chém vào vai ông, gây thương tích 5%.

Sáng hôm sau, sau khi nghe báo cáo vụ truy sát, Thanh yêu cầu cấp dưới chi 150 triệu đồng trả tiền cho các đối tượng tham gia chém ông Thái.

Qua điều tra, công an đã bắt khẩn cấp Phan Nguyễn Duy Thanh cùng 4 đồng phạm. Các đối tượng này khai nhận được bà Vũ Thụy Hồng Ngọc thuê chém ông Thái với giá 1 tỉ đồng. Bà Ngọc đưa trước cho Thanh 500 triệu đồng và việc giao nhận tiền diễn ra tại nhà bác sĩ Trần Hoa Sen (quận 10, TP HCM).

Bà Ngọc bị Công an TP HCM bắt khẩn cấp vào ngày 28-5, tại sân bay Tân Sơn Nhất khi đang làm thủ tục xuất cảnh rời khỏi Việt Nam.

Vừa qua Tòa Thượng thẩm California (Mỹ) đã tuyên vô hiệu hôn nhân giữa ông Chiêm Quốc Thái và bà Vũ Thụy Hồng Ngọc. Ngoài ra, tòa còn buộc bà Ngọc trả lại 1,5 triệu USD mà ông Thái đã đưa bà Ngọc mua nhà, mua xe.

Sau khi có quyết định vô hiệu hôn nhân, ông Thái đã làm thủ tục yêu cầu đình chỉ vụ ly hôn chia tài sản chung mà bà Vũ Thụy Hồng Ngọc là nguyên đơn. Khi nộp đơn ly hôn, bà Ngọc đã yêu cầu TAND TP HCM áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm thời là phong tỏa một nửa số tiền ông Thái gửi trong ngân hàng và cấm giao dịch với nhiều bất động sản đứng tên ông Thái.

Therealrtz © VietBF
NHỮNG MẨU CHUYỆN VUI TRONG TÙ CẢI TẠO

Qua những lần tiếp xúc với những con người gọi là “cách mạng”, chúng tôi có cái nhìn chung về họ . Ngoài việc liều mạng đánh nhau trên chiến trường, vì bị nghe lời đảng tuyên truyền bịp bợm,cách ăn nói của những cán ngố thật giống nhau như khuôn đúc . Phải nói là ngô nghê một cách thật tội nghiệp, có thói quen lập lại những gì nghe được qua những buổi học tập chính trị nhạt nhẽo, họ không có một tư duy mới, hay nói đúng hơn không dám nói khác đi những lời khuôn vàng thước ngọc mà Đảng đã dạy dỗ, tôi cảm tưởng rằng họ là những con vẹt biết nói .Theo tôi họ chẳng biết gì nhiều về thế giới bên ngoài, vì bị Đảng ra lệnh bưng bít tất cả mọi tin tức, biến họ thành những con cừu non, ngô nghê ngốc nghếch, đúng với ý đồ của cấp lãnh đạo Đảng CS .Vì thế họ tuyệt đối nghe theo cấp trên một cách máy móc, mà đã là con người bị người ta lường gạt, không có chủ kiến cho riêng mình, tư tưởng bị kiềm chế nên họ tuyệt đối trung thành với Đảng một cách mù quáng .
Trái lại những người Chiến sĩ VNCH, được giáo dục trong một môi trường tự do đầy sáng tạo, nên có một thái độ ứng phó bén nhậy khi gặp hoàn cảnh khó khăn như khi bị tập trung vào những trại tù Cải tạo, nên lúc nào cũng lạc quan về cuộc đời .Lúc còn ở Trại Cà Tót ngày nào cũng thấy cái chết, nên anh em xem rất thường coi như hôm nay anh chết ngày mai đến tôi . Nhớ lại lúc đưa anh Đặng Văn Hai ra rừng chôn, nội tìm chỗ để chôn cũng cãi nhau một lúc, cuối cùng thì cũng chọn được một chỗ có phong cảnh hữu tình để thi hài anh Hai an giấc. Lúc này anh Biên có đi theo chúng tôi, nhưng vì mệt quá nên nằm lăn trên cỏ gần mộ anh Hai . Không có nhang chúng tôi đốt cây rừng làm nhang, anh Cư người bạn thân của tôi sau khi vái anh Hai ba vái xong, quay qua trước đầu anh Biên khấn “ Nếu mày có muốn theo thằng Hai thì cứ đi, chừng nào mày chết tao chôn mày sát thằng Hai cho có bạn “ Quả nhiên ngày hôm sau anh Biên chết, và chôn đúng chỗ anh nằm hôm qua, nghĩ lại nói chơi kiểu này thấy lạnh mình quá .
Có một anh bạn tin tưởng vào lời lường gạt của Chính quyền cách mạng tuyên bố là một tháng sẽ trở về, Tôi nhớ đâu anh lên đợt sau ngày 19 tháng 6 /75 . Tôi thấy trong vạt áo trắng anh mặc có vẽ một tấm lịch 30 ngày, mỗi ngày anh lấy viết ra gạch một ô, nhìn thấy chuyện vui quá nên tôi cười và nói, Anh đừng có tin tụi nó, tôi cá với anh thằng nào ít nhất cũng vài cuốn lịch, quả nhiên anh lãnh đủ hơn năm cuốn .
Một hôm tên Thượng sĩ Hợi, răng hô mã tấu cán bộ trại đến chỗ nằm tìm tôi đưa cho cây rựa bảo đi theo hắn chặt cho một cây Tre thật lớn không biết để làm gì, thật tình mà nói, chặt tre thì thường quá có gì phải lo, thỉnh thoảng tôi cũng có chặt Lồ ô, Le về làm sạp giường nằm có chết thằng nào đâu, nhưng mà cả trại mấy ngàn người hắn không chọn ai lại chọn tôi mới là chuyện lạ, tôi ra chỗ để dụng cụ chọn một cây rựa tốt nhất đi theo hắn, tôi chê cây rưa,hắn đưa vì lụt . Đi ngược theo dòng suối cách Trại khoảng mười phút, hắn chỉ cho tôi thấy một bụi tre rất to trước mặt .
Lần này lại khác, bụi tre hắn chỉ thì có lẽ từ hồi khai thiên lập địa đến giờ chưa ai đụng tới . Cây nào cũng to đường kính ít nhất cũng trên hai tấc, chiều cao thì khỏi nói . Đường kính bụi tre hơn mười mét, gai góc chĩa ra tua tủa, chỉ xong bụi tre hắn bỏ đi về . Nhìn bụi tre tôi thấy sợ quá, muốn chặt một cây tre phải giải quyết hết đám gai cứng như thép này cũng phải mất nửa ngày . Nghĩ nhanh trong đầu, cần phải cầu viện sư phụ mới được, nghỉ là làm ngay tôi lẻn ngõ khác về trại tìm thầy An nhờ giúp đỡ .Sau khi nghe tôi cầu cứu, thầy An cùng tôi ra ngay bụi tre, câu đầu tiên Thầy phán “mày có nghe câu, nhứt gò gái nhì chặt tre không” Quả thật tôi có nghe nhưng để ý làm gì cho mệt, nay nghiệm lại câu này quá đúng .
Thầy giảng cách làm thế nào để chặt được tre, thầy bảo phải làm một cái giàn cao ít nhất hai mét rồi leo lên đó chặt lấy thân nó từ hai mét trở lên mới được . Phán xong thầy cũng bỏ ra về để tôi một mình xoay sở . Còn lại một mình không biết làm sao làm cái giàn đây, Tôi nghĩ ngay tại sao mình không chặt một cái cây đẽo thành cái thang rồi đứng lên đó chặt . Phải mất một giờ mới làm xong cái thang bằng một cây gỗ dài hơn ba mét, bắt lên bụi tre và đứng lên trên thang chặt được một cây vác về giao nạp, phần ăn ít ỏi buổi trưa hôm đó tan nhanh trong bao tử làm bụng đói cồn cào . Từ đó tôi học được một bài học về chặt tre .
Trại Cà tót có hai con Bò được giao cho anh Lưu Đức Thắng chăn, trước đây anh là Đại Đội Trưởng ĐĐ Trinh Sát của tỉnh Bình Tuy, anh tốt nghiệp Sĩ Quan Đà Lạt, nhà ở gần nhà tôi . Hai con Bò này trước đây do một tên VC con chăn, tên này có biệt danh “Cam tích tán” vì bị bệnh Sơ gan Cổ chướng bụng phình như cái trống chầu chỉ chờ ngày chầu Diêm vương, nhưng mà nó hung hăng, thường chửi bới anh Thắng vì hai con bò không chịu để anh điều khiển .Tôi nghe nó chửi anh mà nổi máu muốn đạp cho nó một đạp “ mấy thằng Sĩ Quan ngụy ăn hại, có hai con bò cũng đuổi không đi” Một phần cặp bò của “Cách mạng” nên anh không dám đánh mạnh, vì đánh chó phải kiêng mặt chủ nên cặp Bò không sợ anh .
Tôi phải giúp anh lùa hai con bò qua sông ăn cỏ, đồng thời tôi chỉ cách anh huấn luyện và trừng trị hai con bò này vì hồi nhỏ nhà tôi làm ruộng nên có nhiều Trâu bò nên mấy tháng hè cũng có giúp gia đình chăn Trâu Bò nên tôi biết cách trị nó . Tôi buộc nó vào gốc cây và bảo anh Thắng lấy cây nhè mặt nó mà quất thật mạnh . Sau khi bị đánh dằn mặt hai con bò rất sợ anh Thắng, vì điểm yếu nhất của nó là con mắt, lần sau chỉ cần anh dơ roi lên hai con Bò phóng chạy ào ào trước con mắt kính phục của tên Cam tích tán .
Sắn măng nghe qua thì rất dễ, điều này chỉ đúng với các loại măng nhỏ như măng Lồ ô, măng Le, măng Giang, măng Nứa . Măng này nhỏ sắn rất lâu, vì vậy chúng tôi chỉ sắn loại măng Tre lớn cho mau đầy giỏ .Thường thì mỗi ngày toán chúng tôi phải giao cho nhà bếp ba giỏ măng . Hôm nay anh Bùi Loạn Thời người Chợ Lầu nhưng ở gần xóm Chàm, Tôi nghĩ hồi nhỏ chắc cũng có lên rừng sắn măng, nên anh sắn măng rất giỏi, anh muốn xin theo chúng tôi để mua hàng . Mấy hôm nay có một người Nùng thường cưỡi xe Honda đem hàng hóa lên lén bán cho chúng tôi, chỉ có anh Thắng chăn Bò là có điều kiện để mua về chia lại cho anh em . Vụ này mà bị lộ ra chắc cả đám bị cùm cho muỗi cắn chết mất .
Hôm nay anh Thời xin tôi cho đi sắn măng, mục đích là để tìm mua hàng gồm chao, tương, xì dầu, đường . Tôi phải sắp xếp để anh được đi cùng,vì toán tôi do Hợi du kích chỉ định, nên không được phép thì không đi được .Tôi và anh Thời khiêng chung một giỏ, lần này chúng tôi cố tình đi ra hướng gần đường xe Be từ Thiện Giáo lên để sắn măng, mọi ngày tôi phải sắn khoảng hai giờ mới xong, có anh Thời chỉ sắn nửa giờ là xong một giỏ cần xé to.Tôi đang bỏ măng vào giỏ thì nghe tiếng xe Honda chạy ngoài đường . Vừa ngó lại thì đã thấy anh Thời ban ào ào qua đám cỏ tranh cao tới ngực như lực sĩ nhảy rào . Tôi chỉ kịp kêu chờ tôi với thì anh đã mất hút bên kia đám cỏ, Tôi cố lao theo cho kịp để mua chút hàng hóa .
Bất ngờ tôi nghe tiếng quát, giơ tay lên không tao bắn bễ đầu . Nhanh như chớp tôi nằm rạp xuống đám cỏ tranh và bò tháo lui chạy về rừng tre . Khoảng mười phút sau tôi thấy anh Thời mò về, tôi hỏi chuyện gì vậy thì anh kể cho tôi nghe :
Khi nghe tiếng xe Honda, anh phóng nhanh ra đường không thèm nhìn người lái xe là ai vì yên chí là người Nùng bán hàng nên giơ tay chận xe lại . Nhưng rủi cho anh không phải người Nùng bán hàng mà là một tay Thượng úy VC với cả súng ống đầy đủ . Tay Thượng úy này hoảng quá vì nghĩ rằng đám tàn quân tấn công mình nên rút súng định bắn anh, nhanh trí anh nói : Thưa cán bộ tôi bị con Rắn rất to nó rượt sợ quá nên chạy ra đây . Được biết anh là toán sắn măng cho trại nên tha cho, từ đó anh bỏ ý tưởng theo tôi đi mua hàng, cũng còn hên vì tên Thượng úy VC không nổ súng bắn anh, mặ dù hắn ta đã rút cây K54 chĩa thẳng vào anh . .
Sở dĩ chúng tôi đăng ký vào toán đào mì, sắn măng không ngoài mục đích kiếm thêm miếng ăn vì đói quá . Sau khi đào mì xong, tìm củ nào nhỏ ngon nướng ăn cho no rồi mới về . Tên Hợi răng hô có biết nhưng cũng thông cảm vì tụi tôi bắt gặp hắn đang tù ti với mụ nữ Du kích trong cái chòi vắng trong rừng, và chúng tôi cũng thông cảm với đồng chi Hợi .
Về cái lý lịch của tên Hợi này do hắn kể cũng ly kỳ không it, chuyện này là do một lúc cao hứng hắn kể lại cho toán đào mì chúng tôi nghe . Khoảng mười bốn tuổi hắn đã tham gia vào Việt Minh, theo đoàn quân vào Nam công tác và ở luôn tại rừng này từ đó đến bây giờ, được giao quản lý kho lương thực cất giấu ở đây . Một chữ cắn làm đôi cũng không biết, còn văn minh loài người thì mù tịt, cả cuộc đời trai trẻ chôn vùi chốn rừng sâu . Nếu không có ngày 30/4/75 thì không giải phóng hắn thành kiếp người . Lần đầu tiên một cán bộ VC cưỡi xe Honda từ Phan Thiết lên công tác . Hắn theo xin ngồi đằng sau xe chạy vòng vòng trong sân ra vẻ thích thú lắm . Cũng nhờ có ngày này mà hắn ta mới vớ được một mụ du kích nạ giòng . Ước muốn của hắn là một lần được về ngắm thành phố Phan Thiết cho mở con mắt .
Khi về đến Sông Mao, thì việc đầu tiên của chúng tôi là hàng ngày bám sát hàng rào dọc đường Tự Do để nói chuyện với gia đình . Được mấy hôm đám ác ôn bắt chúng tôi lên Phi trường khiêng vĩ sắt về làm bức tường cao quá đầu ngăn chận .Mấy chị người Nùng ngoài Sông Mao thấy cảnh này tức quá nên cũng chửi bọn khốn kiếp, mấy chị nói : -Mấy ông Sĩ Quan đẻ con so nên sợ gió cần phải che lại .
Không đủ nước tắm, nên cuối tuần VC cho chúng tôi xuống Sông Mao chỗ đập É Chim để tắm . Lúc này mấy chị em ta ở Sông Mao còn đông lắm, nên cũng theo đứng hai bên đường vẫy tay chào mừng chúng tôi, có cô còn lén nhét cho gói thuốc, vài cục đường để cám ơn người lính VNCH trước đây đã từng cưu mang họ . Nghĩ cho cùng những chị em ta cũng còn chút tình người .
Cái sợ nhất của tù Cải tạo là phải ngồi đồng để nghe Chính trị viên Đảng ta nhả ngọc phun châu vào lỗ tai mình, sau đó phải tìm mọi cách để nói láo chính bản thân mình qua các cuộc thảo luận và tự kiểm điểm . Chúng tôi khám phá ra rằng, trong nhà tù Cộng sản nói phét càng hay thì sự tiến bộ học tập càng được đánh giá cao . Tôi nhớ có lần cả tổ ngồi đồng thảo luận về đề tài “Đế quốc Mỹ là tên xâm lược” . Thú thật mười tám thằng trong tổ không tìm đâu ra chỗ nào Đế quốc Mỹ xâm lăng nước ta cả . Chúng tôi chỉ thấy Đế quốc Mỹ đem lại cơm no áo ấm chẳng những cho miền Nam mà còn cho tất cả các nước Mỹ có mặt như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan ...nên phải cố gắng để phịa ra chuyện nói xấu Mỹ, bây giờ nghĩ lại còn thấy muốn cười .
Mỗi bài như vậy phải đào sâu tư tưởng phát biểu đúng trọng tâm trong thời gian một tuần lễ thì chỉ có thánh nhân mới làm được . Ấy thế mà chúng tôi cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập . Tôi nhớ nhiều lần ngồi đồng câu giờ chờ Quản giáo Tùng ghé lại tổ là có niềm vui mang lại . Chỉ cần chúng tôi mở đúng tần số là Tổ chúng tôi qua đi hai giờ thảo luận một cách nhẹ nhàng vì anh ta có năng khiếu nói dài nói dai nhưng không trúng vào đâu cả, nói văng ả nước miếng một cách say sưa, trong đó có nhiều chuyện thâm cung bí sử, mặc dù lạc đề nhưng có ăn thua gì, Quản giáo nói mà .
Quản giáo thì có quyền nói sao cũng được, đâu có thằng nào dám chận ngang .Từ đề tài Đế quốc Mỹ, Quản giáo nhà ta đưa chúng tôi về với trận địa pháo và các trận dội bom kinh hồn của B52 mà đơn vị anh ta gánh chịu hồi nào trong niềm say mê của các cổ động viên . Chính các Quản giáo cũng thừa nhận rằng Mỹ chưa có lấy gì từ tài nguyên của đất nước ta, người Mỹ chỉ tốn tiền và xương máu, nhưng cuối cùng bao giờ cũng kèm theo câu, thằng Mỹ sẽ bóc lột nhân dân ta vì tư bản Mỹ là tên xấu xa nhất . Cách hay nhất để sống còn là chúng tôi chấp nhận Đế quốc Mỹ là tên xâm lược, mặc dù không ai chứng minh được .
Cũng từ những bài học thực tế đó tôi nhận ra Quân đội Cộng sản Bắc việt không thể nào chiến thắng nỗi QL/VNCH nếu người Mỹ viện trợ cho ta đúng với bản Hiệp định Paris . Dù trong hoàn cảnh nào, người Chiến sĩ VNCH vẫn không khuất phục trước Cộng sản . Qua những bài viết bích báo, ta thấy ẩn vào đó những nét châm biếm chế độ mà với trình độ quá thấp kém của một Quản giáo, trình độ lớp ba trường làng thì làm sao hiểu nỗi.
Đi lao động tuy có vất vả thiệt nhưng cũng có cái thoải mái của nó . Đội chúng tôi khiêng đất tại dốc Bà Chá để đổ con đường đất . Hàng ngày phải đi trên Quốc lộ 1, nên gây sự chú ý đến những xe và hành khách qua lại trên đường . Sự thể hiện của những người trên xe đủ cho chúng tôi ấm lòng, vì biết rằng người dân miền Nam vẫn thương và càng thương yêu hơn chúng tôi . Những bao thuốc lá, những trái chuối của những bà mẹ, người chi, đứa em gái không quen biết quăng vào thùng gánh đất cho chúng tôi đủ để nói lên lòng thương yêu vô vàn đó . Có một quy luật bất thành văn giữa chúng tôi và đám Cảnh vệ cùng nhau có lợi . Gói thuốc nào lọt vào thùng là của chúng tôi, gói nào rơi trên đường là của nhà nước XHCN .
Một lần Má tôi biết được tôi hàng ngày cùng anh em khiêng đất ở đoạn đường đó . Má tôi lên Lương Sơn mua đủ loai trái cây, khi đi ngang qua bà bảo xe chạy chậm lại và xô xuống đường nhựa một đống trái cây rồi xe bỏ đi . Tôi ngó thấy bả ngồi trên xe đưa tay ngoắc tôi và chỉ vào đống trái cây, nhưng khi bị Cảnh vệ hỏi của ai thì không ai dám nhận cả, vì nếu nhận sẽ bị kiểm điểm phiền phức, không tốt trong học tập, vì quy phạm nội quy Trại .
Tất cả xe đò đi ngang qua biết là của người tốt bụng cho Tù Cải tạo nên không xe dám cán lên và tìm cách né qua để đi . Mấy tên Cảnh vệ bối rối vô cùng không biết xử lý thế nào . Hỏi của gia đình người nào bỏ xuống thì tất cả lại đều lắc đầu kể cả tôi . Cuối cùng chúng tôi xin ra lấy bồi dưỡng để xe khỏi cán nát, Cảnh vệ đồng ý nhưng với điều kiện phải thanh toán ngay tại chỗ không được mang về trại . Điều này dễ quá mà, chỉ chờ có vậy chúng tôi xúm lại thanh toán vài phút là sạch sẽ .
Có một Cảnh vệ tên Dưa biết nhà vợ tôi nên hỏi tôi có muốn nhắn gởi gì không vì cuối tuần anh ta đi đến đó chơi, tôi cho địa chỉ và nói vợ tôi gởi gì cũng được . Tối hôm Chúa nhật đó trời tối đen, Cảnh vệ Dưa vào lều tôi ở kêu tôi ra ngoài bảo, vợ anh gởi một xoong cá nục hấp, tôi để ngoài bụi cây sát đường QL1, bảo tôi ra lấy vô . Anh ta nói, anh cứ yên trí ra lấy, phiên gác của tôi, và tôi canh chừng cho anh ra lấy . Nguy hiểm trùng trùng trước mặt, tôi lao vào đêm tối tìm ra gốc cây và bưng vào một xoong cá thật lớn, nếu mình tôi ăn phải mất nửa tháng mới hết . Nhưng không thể để cho bất kỳ ai biết ngoài anh em trong tổ vì sợ có anh em nào nổi hứng quyết chí lập công dâng lên Bác và Đảng thì vô cùng phiền phức . Tôi kêu tất cả anh em trong tổ thức dậy và thanh toán thật nhanh không để lại dấu vết nào, kể cả xương cá .
Công việc xây Đập đào mương rất nặng nhọc mà thực phẩm thiếu thốn lại không được thăm nuôi nên rất đói . Chúng tôi mới xin cho người đào củ Nầng về ăn thêm, củ Nầng người Thượng, Chàm thường dùng làm thực phẩm cho Heo ăn . Muốn ăn củ này phải biết cách làm không thì trúng độc có thể chết . Vùng Đập tràn Sông Lũy này củ Nầng đâu cũng có . Một hôm nhà bếp đào Củ về cắt thành lát mỏng đem luộc chín xả nước ba lần, rồi phải đem ngâm ở dòng nước chảy một ngày đêm, lấy lên luộc lại chế biến gia vị vào mới ăn được .
Không ngờ mới đem ngâm hai giờ thì trời mưa lớn, nước sông chảy mạnh, nhà bếp sợ trôi mất nên kéo lên làm cho anh em ăn sáng . Kết quả nguyên cả Đội của tôi đi chưa tới chỗ làm thì đã ngã gục trên đường hết . Hai Đội bạn phải quay trở lại khiêng chúng tôi về trại vì trúng độc, may mà không có ai chết vì anh em sợ nên còn thăm dò không dám ăn nhiều .
Trong đời tôi đã từng đi theo mấy người lính Chàm bắt Ong lấy mật nhiều lần nên cũng có biết chút ít vào nghề này . Một hôm tổ chúng tôi đi vào rừng chặt cây làm Hội trường ở Hàm Trí, chúng tôi thấy một Tổ Ong mật tụ lại ở nhành cây rất lớn như cái thúng, con ong to như cọng đũa ăn cơm, chỉ cần vài con nó đớp thì cũng đủ bỏ mạng .
Trong Tổ có một anh bạn khó ưa tên Lê Đình Thái ( anh đã chết chưa kịp đi HO ). Hầu hết ai cũng ghét anh ta, anh này lại có tánh tham ăn . Mới thấy tổ Ong tôi đã biết ngay tổ này mới đóng chưa có mật . Vậy mà anh Thái tình nguyện bắt Ong, chỉ xin lấy cái Tàng Ong còn mật thì chia đều .Tôi cũng muốn sẵn dịp này mượn Ong nó trừng trị anh ta cho bõ ghét nên nháy mắt với mấy anh bạn đồng ý . Vì sợ bị cắn nhiều quá có thể chết nên chúng tôi cho anh ta mượn thêm quần áo và bịt mặt chỉ chừa hai con mắt khi leo lên chặt cành lấy tổ Ong . Đúng ra thì phải đốt lửa un khói cho nó bay đi rồi mới chặt nhưng anh Thái không có biết, nên leo lên chặt . Ngay nhát rựa đầu tiên chém xuống chúng tôi đã chạy hơn trăm mét mới dám đứng lại, vậy mà anh cứ ráng chặt cho cành cây có tổ Ong bám rớt xuống . Kết quả thật bi thảm, đàn Ong bị động bay ngược lên cắn anh thê thảm . May mà đã bận thêm đồ dầy, mà đến khi chạy được đến chỗ chúng tôi anh té nằm trên đất hôn mê bất tĩnh .
Niềm ân hận dâng lên nghĩ mình sao ác quá vậy, lỡ anh ta chết thì sao . Chúng tôi khiêng anh về trại kịp thời để Y tá chích thuốc giải độc cho anh . Với hơn ba mươi vết cắn, móc Ong còn dính lại đầy trên lưng to như gai quâu quấu, anh ta không chết cũng là chuyện lạ .Việc này BCH trại có hỏi chúng tôi sao để cho anh bắt Ong thì chúng tôi đồng thanh trả lời đó là do anh tình nguyện tự ý làm . Chuyện này dù xảy ra đã lâu mà mỗi khi nghĩ lại tôi cảm thấy sao mình ác quá, chút nữa gây chết người, bạn bè có giận nhau thì nên đem nhau ra thoi vài cái là xong, chứ mượn đao giết người kiểu này thì … .
Các tù nhân Nữ tại trại A30 Phú khánh cũng cần nên nhắc đến . Tại đây có hai đội nữ hơn 400 người, đủ các loại thành phần từ Phục quốc, Chính trị, Hình sự đông nhất là tội vượt biên . Mấy cô ở tù nhưng sướng lắm, nhất là mấy cô vượt biên . Cha mẹ thường giàu có tiếp tế hàng tháng nên có cô chê cơm trại tự nấu lấy ăn . Thức ăn trại phát thì nhường lại cho mấy cô Hình sự và Chính trị không có thăm nuôi .
Khi Chúng tôi được chuyển từ Hàm Trí Bình Thuận ra đây, gia đình không biết ở đâu mà tiếp tế nên rất đói . Gặp lúc trời mưa bão lớn nên toàn trại phải di tản ra xã Thạch Thành, nhà bếp trại bị ngập dưới dòng nước Sông Ba nên chúng tôi phải đói khát cả ngày . Kế bên đội tôi trú đóng là hai đội nữ, mấy hôm nay có thấy bóng dáng mấy em nhưng nội quy trại cấm tuyệt đối quan hệ nên không tiếp xúc được . Đây là dịp may hiếm có để tìm người quen, biết đâu trong đám này có đồng hương của mình . Đang khi không biết làm cách nào để dò tìm thì thấy có một cô tìm đến gặp và hỏi phải anh là anh Sơn ở Phan Rí không ? Lúc này có Lê Đình Thái đứng cạnh nên tôi không dám lên tiếng trả lời, chỉ gật đầu . Cô ta lại nghĩ là không phải nên bỏ đi . Sau gần 20 phút không thấy cô quay lại nói thêm điều gì, tôi liền tìm cách lai gần cô ta và nói, Tôi là Sơn ở Phan Rí đây, cô có chuyện gì muốn nói . Cô ta bảo anh đứng chờ một chút và vào trong phòng lớp học gần đó ôm ra một đống thức ăn gồm bánh tráng, cá khô, chuối khô …nhiều thứ lắm và nói là của cô P… Phan Rí gởi tặng các anh . “buồn ngủ gặp được chiếu manh”, tôi ôm mớ đồ ăn về phát hết cho anh em trong đội và không dám nói là của mấy em tặng, chỉ nói ăn đi .
Quen được mấy cô rất có lợi, khi đội có dịp làm việc gần đội nữ là hôm đó anh em no lòng chiến sĩ . Tình người em gái hậu phương vẫn đậm đà như xưa, có lần các cô được trại phân công gánh Củ Sắn nước về từ chỗ trồng về giao cho trại khoảng cách chừng 1 Km . Qua bảy ngày vận chuyển các em đã tặng cho chúng tôi mấy tấn Củ Sắn ( Củ đậu ) giải lao, chuyện này xảy ra vì cứ trung bình các em gái hậu phương gánh ba gánh thì khi đi ngang qua bất cứ Đội nào thì các em tặng một gánh để giải lao ..
Tổn thất quá to lớn mà trại biết được là do đã biết năng suất trước . Nhưng đã muộn quá rồi vì bị chúng tôi thanh toán một cách nhanh chóng không còn dấu vết, chẳng lẽ lại cùm cả đội nữ nên đành bỏ qua . Tôi còn nhớ lời cô Hoa, trước là Nữ Quân Nhân VNCH bị tù ở đây vì tội Phản động Phục quốc . Mấy anh cứ ăn cho đã đi, mấy anh làm khổ cực thì phải được hưởng thành quả của mình, bất quá nó biết được thì tụi em bị cùm vài ngày là cùng . Ôi người Nữ quân nhân can trường, tất cả nữ tù tại nhà tù này đều rất khí phách còn hơn đám nam nhi . Có lần mấy em còn dám làm bánh Bông lan có khắc chữ “ Thân Tặng các anh Chiến sĩ VNCH” giao cho đám trồng rau đội mang về . Chiếc bánh này được Đức và Bùi Anh Trinh mang về, nhưng để đề phòng chúng tôi xóa hàng chữ "Thân Tặng Các anh Chiến Sĩ VNCH"./-

ĐIỆP GIAN VC LÊ HỒNG QUANG TUYÊN BỐ KHÔNG DÍNH LÍU AI TIN? SAO KHÔNG LỘ DIỆN NẾU MÌNH KHÔNG HỀ LIÊN CAN ? RỐT CUỘC BỌN VC ĐỀU NGU XUẨN NHƯ NHAU BỞI CÁI TUYÊN BỐ NGÁO ỘP NẦY./-TCL

ê Hồng Quang bất ngờ tuyên bố không liên quan tới vụ Trịnh Xuân Thanh

Click image for larger version

Name: (1).jpg
Views: 0
Size: 42.4 KB
ID: 1262157   Click image for larger version

Name: (2).jpg
Views: 0
Size: 49.6 KB
ID: 1262158   Click image for larger version

Name: (3).jpg
Views: 0
Size: 27.4 KB
ID: 1262159  
Vietbf.com - Sau một thời gian “mất tích” cựu cố vấn gốc Việt của cựu Thủ tướng Slovakia Robert Fico bất ngờ ra một bản tuyên bố (bằng văn bản), trong đó ông Lê Hồng Quang bác bỏ tất cả các cáo buộc và đe dọa kiện báo chí truyền thông Slovakia và Đức, và ông không có dính dáng tới vụ 'bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Nhưng cho đến giờ phút này ông Lê Hồng Quang vẫn chưa xuất hiện, không biết ông đang ở đâu?


Ông Lê Hồng Quang trong một sự kiện do Đại sứ quán Việt Nam tại Slovakia tổ chức hồi 2017

Ông Lê Hồng Quang, người từng giữ chức đại biện lâm thời tại Việt Nam, nói trong tuyên bố ra hôm 16/8 rằng ông "không tham gia vào việc chuẩn bị, tổ chức, hay vận chuyển công dân Việt Nam Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam", đồng thời tuyên bố ông "không biết thông tin gì về ông này", truyền thông Slovakia đưa tin.

"Tôi thấy rằng dường như việc tôi bị hình sự hóa là do tôi, cũng giống như hàng ngàn người thuộc cộng đồng thiểu số mà tôi thuộc về, là người Việt," trang webnoviny.sk trích dẫn tuyên bố của ông Lê Hồng Quang.

"Ngoài nguồn gốc và sắc tộc của tôi ra thì không có lý do nào khác khiến cho việc tôi tham gia chuẩn bị cho cuộc họp giữa phái đoàn Việt Nam và Slovakia lại dẫn tới những cáo buộc rộng khắp rằng tôi có tham gia và thậm chí đóng vai trò chủ chốt trong việc tổ chức vụ việc."

Ông nhấn mạnh rằng ông không hài lòng với những cách nhìn nhận tiêu cực, một chiều và những tác động tiêu cực của vụ việc đối với các cơ hội phát triển quan hệ kinh tế của Slovakia tại Việt Nam.

"Tuy nhiên, tôi sẵn sàng hợp tác đầy đủ với giới chức, đặc biệt là với các cơ quan thực thi pháp luật," ông nói.

Chuyến bay từ Slovakia
Trước đó, truyền thông Slovakia nói rằng ông Quang là người có thể cung cấp thêm thông tin về vụ "bắt cóc Trịnh Xuân Thanh" nhưng đã giữ im lặng suốt từ tháng Sáu, trong lúc Đại sứ quán Việt Nam tại Slovakia chỉ trả lời rất ngắn gọn các câu hỏi của Bộ Ngoại giao nước chủ nhà.

Ông Lê Hồng Quang được truyền thông nhắc tới chủ yếu bởi ông được coi là cầu nối giữa chính phủ hai nước Slovakia và Việt Nam, trang webnoviny.sk nói.

Ông thường có mặt trong các cuộc gặp cao cấp giữa giới chức Việt Nam và Slovakia.


Ông Lê Hồng Quang (thứ 5 từ phải sang) có mặt trong lễ ký kết giữa Bộ trưởng Công an Tô Lâm và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ Robert Kaliňák về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tại Bratislava hồi 3/2018

Báo chí Slovakia nói trong suốt một thời gian dài người ta không rõ ông Lê Hồng Quang ở đâu.

Ông Robert Fico, người từ chức khỏi vị trí thủ tướng hồi trung tuần tháng Ba, đã không phản hồi trước câu hỏi ông có còn giữ liên hệ với ông Quang hay không, và có biết ông Quang ở đâu hay không, trang spectator tường thuật hôm 9/8/2018.

Cho đến tận gần đây, ông Lê Hồng Quang vẫn là đại biện lâm thời của Slovakia tại Việt Nam. Ông Quang, hiện mang quốc tịch Slovakia, từng là cố vấn của thủ tướng từ 2015, dưới thời ông Robert Fico, chuyên về lĩnh vực ngoại thương.

Do vụ Trịnh Xuân Thanh, hồi đầu tháng Sáu ông Quang được triệu hồi về nước để tham vấn với Bộ Ngoại giao Slovakia, và từ đó chưa được cử quay lại Việt Nam, theo trang spectator.

Hồi đầu tháng Tám, báo Frankfurter Allgemeine Zeitung của Đức ra bài tường thuật theo đó nói các nhà điều tra Đức không còn nghi ngờ gì về việc lòng hiếu khách của chính phủ Slovakia đã bị lợi dụng trong vụ bức hại ông Trịnh Xuân Thanh.

Đức nói rằng ông Thanh đã bị bắt cóc và bị đưa từ Đức về Việt Nam trong mùa hè năm ngoái.

Tòa án Đức mới đây vừa kết thúc phiên tòa xử nghi phạm 'bắt cóc Trịnh Xuân Thanh' với mức án tù 3 năm 10 tháng cho bị cáo duy nhất, N H Long mang song tịch Czech và Việt Nam.

Giới chức Đức cũng nêu tên nhiều người, trong đó có một số quan chức cao cấp của Việt Nam, như những đối tượng có tham gia vụ việc mà Berlin coi là rất nghiêm trọng, xảy ra trên lãnh thổ Đức.

Sang Đức từ 7/2016, ông Trịnh Xuân Thanh đã nộp đơn xin tỵ nạn chính trị.


Ông Trịnh Xuân Thanh hồi đầu 8/2017 xuất hiện trên kênh truyền hình quốc gia VTV nói ông 'tự nguyện về Việt Nam để đầu thú'

Tuy nhiên, đầu 8/2017, ông xuất hiện trên truyền hình Việt Nam và nói ông đã tự nguyện về nước để "đầu thú". Sau đó, ông bị đưa ra tòa trong hai vụ án riêng rẽ, và bị hai án tù chung thân.

Báo Frankfurter Allgemeine Zeitung tường thuật rằng chiếc xe có gắn định vị vệ tinh có tham gia vụ "bắt cóc Trịnh Xuân Thanh" đã đỗ tại khách sạn Börk Hotel ở Bratislava, thủ đô của Slovakia, vài ngày sau khi ông Thanh được cho là bị bắt cóc giữa ban ngày tại Berlin.

Thời điểm đỗ xe trùng thời gian các quan chức an ninh cao cấp Slovakia và Việt Nam có mặt tại cùng khách sạn này, theo báo Đức

Phía chủ nhà đã cho phái đoàn Việt Nam mượn một chuyến chuyên cơ đặc biệt để đi từ Prague tới Bratislava dự họp, sau đó từ Bratislava đi tiếp tới Moscow.

Ông Quang được cho là đã có mặt trên chuyến bay trên, theo trang spectator.

Ông Lê Hồng Quang tới Slovakia từ thời cộng sản, theo học ngành kỹ sư dân dụng và đã lấy bằng thạc sỹ.

Ông nhập tịch Slovakia vào năm 2001.

CÁC CÂY VIẾT MIỀN NAM SAU 1975./-TCL

 Ở TÙ VỚI...

TRẦN DẠ TỪ VÀ CÁC BẠN KHÁC

 
 
Hồ Văn Đồng
Sơ lược về người viếtHồ Văn Đồng là một nhà báo lớn của miền Nam. Sinh tại đất Quảng, học tại Huế, lập nghiệp tại Saigon, ông từng là tổng thư ký, chủ bút, chủ nhiệm  nhiều nhật báo danh tiếng của miền Nam. Năm 1950, ông là người sáng lập văn phòng Việt Tấn Xã tại Hà Nội. Những năm sáu mươi, ông là người sáng lập, tổng thư ký Nghiệp Đoàn Ký Giả Nam Việt, chủ tịch Hội Chủ Báo. Ông cũng là nhà báo duy nhất của Việt Nam có hai năm tu nghiệp báo chí tại đại học Stanford, tham gia sinh hoạt báo chí quốc tế và là Phó Chủ Tịch Liên Đoàn Báo Chí Thế Giới đặc trách khu vực châu Á. Sau tháng Tư 1975, ông hai lần bị Cộng Sản bắt giam, cộng chung 12 năm. Năm 1989, sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, ông vượt biển, định cư tại Virginia từ 1989, tiếp tục viết bình luận cho nhiều báo Việt ngữ tại hải ngoại. Bài viết sau đây của ông được trích từ sách “Quê Hương Bạn Hữu Tù Đầy” do Trung Tâm Độc Lập, Stuttgard, Cộng Hoà Liên Bang Đức  ấn hành nhân “Ngày Văn Nghệ Sĩ Việt Nam 1990” được tổ chức tại Stuttgard. Nhà báo Hồ Văn Đồng bệnh nặng từ giữa năm 2005 và từ trần sau đó, hưởng thọ 83 tuổi.
( ký họa của Chóe và lời chú thích )
 
Ho Van Dong portrait
Nhà báo Hồ Văn Đồng trong trại tù Gia Trung năm 1978 (ký họa Chóe)
 
Ngày 3 tháng Tư, 1976, khi công an Cộng sản mở chiến dịch hốt gọn văn nghệ sĩ Saigon, tôi đang ở Phan Rang, ngụp đầu trong một cánh đồng mía.
Là một anh nhà báo về già, từ nhiều năm trước 1975, sau khi đóng cửa báo Quyết Tiến, sang nhượng nốt cơ sở nhà in ở đường Võ Tánh cho anh Đặng Văn Bé –chủ nhiệm báo Thách Đố, tôi thực sự về vườn, hiểu cả theo nghĩa đen: Ra Phan Rang, tự tay tổ chức trồng dăm ba mẫu mía, vật lộn với mấy lò nấu đường, mỗi tháng chỉ về thăm nhà ở Saigon vài ngày.
Khi Cộng sản chiếm Saigon, dù có chung tâm sự với anh em làng văn làng báo cũ, tôi vẫn cười cười, biểu họ: “Moa đâu còn là nhà báo. Moa là nông dân. Lê Nin kêu nông dân là liên minh vững chắc của giai cấp tiên phuông. Mao chủ tịch còn sửa lưng cả Lê Nin, kêu nông dân là thành phần cốt cán. Các toa phởn phơ ở thành phố quen hư thân mất nết, ngán đi kinh tế mới. Moa đã tự giác đi kinh tế mới lao động sản xuất từ khuya rồi. Nông dân trăm phần trăm, còn ngán chó gì nữa.”
Ngày 9 tháng 3, khi tôi xách cái bị lát nông dân từ Phan Rang về Saigon thăm nhà, công an Cộng sản đã rình sẵn từ bao giờ, còng tay cái rụp.
Tại sở công an thành phố, trước là trụ sở Nha Cảnh sát đô thành, đường Trần Hưng Đạo, khi cánh cửa sắt nặng nề của phòng giam mở ra, tôi nghe nhiều tiếng cười. Một giọng nói vui vẻ vang lên: “A, Anh Đồng đen đây rồi. Đi đâu giờ này mới chịu mò tới. Nhờ anh tí, bắt anh em chờ mãi.” Vẫn in hệt lối nói quen thuộc trong làng báo miền Nam, thường dành cho anh em tới trễ trong một buổi họp mặt thân mật. Chỉ khác chút xíu: cuộc họp mặt lần này đông đảo chưa từng thấy, mà lại là họp mặt trong nhà tù Cộng sản.
Phòng giam vuông vắn mỗi bề khoảng 5 thước, lố nhố năm sáu chục hình  người, gần như nêm cứng, chen chân muốn không lọt.
“Lại đây nè, cha nội. Xớ rớ chi vậy.”
 
Doan Quoc Sy
 
 
Doãn Quốc Sỹ khuân gạch ngói trong trại tù Gia Trung (ký họa Chóe)
 
Giọng nói quen thuộc lại vang lên. Một anh chàng thấp lùn phe phẩy quạt giấy, mặt mũi vêu vao, đang ngoác miệng ra cười, vẫy vẫy về phía tôi. Tôi nhận ra anh bạn phóng viên Anh Quân. Bên cạnh là anh Doãn Quốc Sỹ, anh Đằng Giao, anh Trần Dạ Từ … Phòng giam nêm chặt kiểu cá mòi đóng hộp, dưới mái tôn nóng điên người, tất cả đều cởi trần, mồ hôi nhễ nhại. Tôi chào tất cả và nói:
“Đông đảo phe ta cả, vui quá há.”
Đáp lời tôi, anh Doãn Quốc Sỹ cười hiền lành:
“Vui thật ông ạ.. Còn Khô Vinh đại sư nữa kìa.”
Tôi nhìn theo mắt anh Sỹ hướng về một góc phòng. Trên bệ cao cầu tiêu chung trong góc, tôi nhận ra còn có thêm anh Nguyễn Mạnh Côn. Khô Vinh đại sư là tên một nhân vật tiểu thuyết của Kim Dung. Anh em gán cho anh Côn biệt danh này trúng quá vì anh vốn gầy gò, người nhỏ thó, xương xẩu giống hệt một nhà tu khổ hạnh. Ngồi trần trụi trên cầu tiêu, Khô Vinh đại sư nhìn tôi cười cười, ra dấu chào.
Phòng giam chúng tôi ở, được gọi bằng một tên hoa mỹ là “Tập thể hai.” Tại sở công an, còn có khu A, khu B, tập thể một, phòng giam nữ, và các phòng biệt giam… Thời điểm này, không kể khám Chí Hòa, Đề lao Gia Định, trụ sở các phường quận, nghe nói bin đinh Đại Lợi và nhiều cao ốc, nhà cửa khác trong  thành phố, cũng đều đã biến thành trại giam. Số văn nghệ sĩ bị giam ở nhiều nơi, nhưng đông nhất vẫn là Đề lao Gia Định cũ, (nay được gọi bằng một bí số: T20) và ngay tại Sở công an.
 
 
Nguyen Tu
 
 
Ký giả Nguyễn Tú (Nhật báo Chính Luận), đã bị bắt cùng với văn nghệ sĩ Miền Nam trong chiến dịch tổng truy lùng của chính quyền Cộng sản ngày 3 tháng 4 năm 1976. Ông gây tiếng vang trong làng báo quốc tế qua những bài báo viết về cuộc rút lui của quân đội Miền Nam từ những vùng Cao Nguyên trong những ngày tháng cuối cùng của mùa Xuân 1975. Nguyễn Tú bị giam ở nhiều trại tù lao động trong 13 năm, ông được thả vào năm 1989 và sau đó vượt biên sang Hồng kông, và được bảo lãnh sang Hoa Kỳ năm 1990
 
Khi công an Cộng sản bắt văn nghệ sĩ, nghe kể, họ bắt luôn vợ chồng Đằng Giao – Chu Vị Thủy và cháu nhỏ mới sinh bẩy ngày. Chị Thủy là con gái nhà báo Chu Tử. Có anh em nói, danh sách bắt bớ này phần chính do Vũ Hạnh đề nghị. Vũ Hạnh thời trước, viết phê bình văn nghệ cho báo Bách Khoa theo lối hiện thực xã hội kiểu Cộng sản, rồi nằm trong tờ Điện Tín của nhóm Lý Quí Chung, chuyên viết những truyện kháng chiến đường rừng.. Báo Sống của anh Chu Tử có hồi chỉ trích đích danh Vũ Hạnh là Cộng sản nằm vùng.
 
 
Chu Vi Thuy portrait
 
 
Chu Vị Thủy và hài nhi trong tù (ký họa Chóe)
 
Khi tôi bị bắt vô sở công an, chị Chu Vị Thủy đã được cho mang cháu nhỏ về quản thúc tại gia. Trong số văn nghệ sĩ nằm tù Cộng sản, chỉ có chị Nhã Ca là phụ nữ duy nhất. Suốt thời kỳ ở sở công an, chị bị nhốt cát sô. Anh Nguyễn Mạnh Côn cười, bảo tôi: “Con mụ dữ quá.” Tuy cười, anh rất quan tâm việc này.
 
 
Nha Ca
 
 
Chân dung Nhã Ca (một tay đeo con thuyền Việt Nam, một tay đeo Chùa Thiên Mụ (ký họa Chóe)
 
Một bữa, sau buổi “đi làm về”, có nghĩa là bị gọi đi hỏi cung, khi trở về phòng, anh kể với chúng tôi: “Moa bảo họ là bao nhiêu tai to mặt lớn ở miền Nam này, đâu có người nào cách mạng bắt đi tù cả chồng lẫn vợ như trường hợp Trần Dạ Từ và Nhã Ca. Nhốt bà mẹ của 6 đứa con nhỏ, có đứa còn chập chững tập đi, thì vẻ vang gì. Nói thật, bà ta chỉ là một bà viết văn bình thường, chẳng hiểu biết gì về chính trị. Nếu sách bà ta có chống cộng, ấy là do tôi mà có. Thả bà ta về, rồi muốn tôi làm trâu làm chó gì cũng được”.
 
 
Ly Thuy Y
 
Tuy Hồ văn Đồng thuật lại rằng “Nhã Ca là phụ nữ duy nhất nằm tù Cộng Sản,” nhà văn Lý Thụy Ý (chủ biên tờ Văn Nghệ Tiền Phong trước 75) cũng bị bắt đi tù lao động ở rừng Bô La 3 năm. Chóe biến bút mực của Lý Thụy Ý thành thập tự trong bức ký họa 
 
Anh Côn hút thuốc phiện lâu năm, đang bị vật lên vật xuống. Nhiều phen phải cấp cứu. Một buổi tối, công an mở cửa kêu anh “đi làm việc.” Vài phút sau đã thấy anh trở vô. Mọi người hỏi sao lẹ vậy, anh đáp: “Tên X. gọi ra. Hắn đưa cho moa một cục, nói là cách mạng chiếu cố. Moa trả lại hắn, bảo tôi không cần nữa. Chỉ có vậy thôi.” Tôi còn nhớ rõ, có người hỏi “cục gì?” Anh Anh Quân, cũng là dân từng nằm bàn đèn thuốc phiện, nháy mắt: “Cái ông này. Cục vàng chớ gì nữa.” Anh Côn bấm vô đầu ngón tay út: “Bằng chừng này này”. Thấy Anh Quân suýt soa tiếc rẻ, tôi nói với anh Côn: “Sao anh không cầm đại vô, rồi cho Anh Quân nó phê cho coi.”
 
 
Nguyen Manh Con
 
 
Chân dung Nguyễn Mạnh Côn hút thuốc phiện (ký họa Chóe)
 
Người tù được cử làm trưởng phòng, anh Hoàng Phú Lâm, gia đình chủ Đệ Nhất Khách Sạn, cũng là một quân nhân trong văn phòng ông Đại tướng Cao Văn Viên ở Tổng tham mưu. Anh Lâm từng chính mắt thấy ông bà Viên kính nể anh Côn như ông thầy, nên rất trọng anh Côn. Cả phòng, đối với mấy anh em nhà văn, đều rất quí mến.
Từ lúc hết bị thuốc phiện hành, anh Côn tươi tỉnh hơn, trò chuyện vui hơn.. Các bạn trẻ trong phòng giam thường ngồi quanh anh, để nghe anh kể những truyện khoa học giả tưởng rất hấp dẫn. Trong tù, có gì đâu để ăn, anh cũng nói ăn ngon miệng hơn hồi ở nhà.
Mấy năm trước, Nguyễn Mạnh Côn trở thành nhà thầu khoán có hạng trong quân đội. Anh Trần Dạ Từ đã thu xếp xong từ lâu, việc anh Phạm Duy nhường lại ngôi nhà cũ (một “dinh cơ” đồ sộ trong ngõ Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận) cho gia đình anh Côn. Năm 1975, cùng với Trần Dạ Từ, “nhà thầu” này bao dàn việc ấn loát binh thư cho Tổng cục quân huấn do tướng Nguyễn Bảo Trị làm Tổng cục trưởng. Riêng dịch vụ này đã lên tới cả trăm triệu bạc, lại còn đang khởi công đại tu bổ Nghĩa trang quân đội ở xa lộ. Khi bắt anh Côn và anh Từ, công an cộng sản dùng cả đoàn xe chở đầy nhóc toàn sách binh thư chiến thuật, dạy đủ món, từ thủy lôi tới tổ chức biệt kích. Công an nghe đâu còn thu cả lô quĩ phiếu mấy chục triệu bạc tiền in binh thư chưa kịp lãnh ở nhà anh Trần Dạ Từ, hèn chi họ chả cho là ghê lắm. Các “đồng chí” làm sao tưởng tượng nổi, ở miền Nam, đây chỉ là việc làm ăn bình thường, người thầu khoán vớ vẩn nào cũng có thể như vậy.
Trong tù, nhiều khi vui chuyện có lần anh Nguyễn Mạnh Côn kể: “Một lần hai anh em vô Tổng tham mưu thăm Trung tướng (Nguyễn Bảo) Trị, khi ra tớ bảo Từ hỏng rồi cậu ạ. Một anh thi sĩ, một anh nhà văn, mở miệng ra toàn là thấy tiền với bạc. Xe vô một chỗ thế này thì anh em lính canh phải đứng đón, mở cửa. Vậy thì còn chó gì là thi sĩ với nhà văn nữa. Cứ điệu này, chắc tiêu tùng luôn.”
Anh nói thêm, một cách nghiêm chỉnh:
“Cái vụ anh em mình ai nấy sạch sẽ vô tù, không chừng là vớ bở to đấy các cậu ạ. Tin lời tới đi.. Biết đâu, nhờ đó mà nhà văn nhà thơ tái sinh.”
Anh Doãn Quốc Sỹ kết luận:
“ Mèo lại hoàn mèo.”
 
Nguyen Sy Te
 
 
 
Chân dung nhà thơ, nhà giáo dục Nguyễn Sỹ Tế (còn có bút hiệu là “Người Sông Thương”). Ông bị giam tù 12 năm ở trại Gia Trung và Hàm Tân. Họa sĩ Chóe phác họa chân dung ông như một nhà tù “thâm niên” sống trong thời Trung Cổ ở Âu Châu
 
Chúng tôi đều cười, mừng cho sự tỉnh táo lạc quan của bạn, khi bạn đã chia tay được với nàng tiên nâu.
Nhưng cũng ngay thời gian ở sở công an, anh Côn bắt đầu nói về cái chết. Một bữa, anh bàn với tôi:
“Lần này, sống mà về được, hai anh em mình phải xuống Thủ Đức, tìm một khu đất riêng, làm sẵn một “sanh phần” cho bọn mình, ông ạ.”
Sanh phần là ngôi mộ làm sẵn. Thấy chúng tôi bàn hoài chuyện trồng cây, đào huyệt cho mình, anh Trần Dạ Từ gạt đi, kêu là thời của bọn đỏ mà tính chuyện vớ vẩn.
Anh Côn nói với anh Từ:
“Không vớ vẩn đâu, cậu ạ. Đỏ đen gì cũng chỉ là nhất thời. Thời của họ cũng chẳng lâu lắt gì. Các cậu sẽ được nhìn thấy nó phải sụp đổ như thế nào. Ở tuổi của Từ, điều này chắc như đinh đóng cột. Thế hệ các cậu, chính cậu, sẽ phải góp phần làm cho nó đổ, rồi rán mà gánh vác lấy việc thu dọn sau đó. Còn tớ với ông Đồng đen, bọn tớ già rồi, xong phần mình rồi. Bọn tớ nhất định cứ đi tìm đất làm sanh phần như thường.”
 
Anh Nguyễn Mạnh Côn là tác giả cuốn “ Chống Mác xít,” nhiều năm phụ trách phần bình luận phát thanh bằng tiếng Pháp của đài Saigon. Anh rất giỏi toán học, khoa học, anh viết văn, viết báo hình như bằng thứ chữ nghĩa chính xác của nhà toán  học nhiều hơn là chữ nghĩa kiểu nghệ sĩ. Sau hiệp định Paris, anh Côn cho phát hành cuôn sách dầy cộm, mang tên “Hòa Bình, nghĩ gì, làm gì?” Những người từng chỉ huy ngành chiến tranh chính trị, cao đẳng quốc phòng, như các tướng Vĩnh Lộc, Trần Văn Trung, Nguyễn Bảo Trị… đều tâm phục anh.
Có ông bạn dược sĩ già, nói là thông gia với gia đình nhà báo Đỗ Quí Toàn, ở tù cùng phòng, không khoái mấy chuyện xây sanh phần, nhưng nghe anh Côn bảo thời của bọn đỏ chẳng lâu lắt gì, thì như người vừa uống xong thuốc bổ, nhất định bắt cả anh Côn lẫn tôi phải xài tiếng Pháp, phân tích thật kỹ cho ông nghe.
 
Ông bạn dược sĩ già trong buổi truyện trò năm nào hiện đang ở khu Irvine, Nam California. Vợ chồng Trần Dạ Từ ở  Thụy Điển. Tôi vừa vượt biển vô được đất Mỹ. Đằng Giao, Anh Quân còn bên nhà... Anh Doãn Quốc Sỹ đang tiếp tục nằm trong nhà tù. Riêng anh Nguyễn Mạnh Côn không còn nữa. Lời xưa anh nói, chỉ hơi sai một chút: Chúng tôi không còn dịp cùng nhau xuống Thủ Đức, tự trồng cây, đào huyệt, lo lấy sinh phần cho mình.
Đúng hai năm sau ngày anh Trần Dạ Từ ra khỏi nhà tù Cộng sản, cũng đúng một năm sau ngày Văn Bút và chính phủ Thụy Điển đón tiếp gia đình anh ở Stockholm, ngày 9.9.1989, bạn hữu văn giới ở Hoa Kỳ đã họp mặt mừng anh tại một nhà hàng ở Nam Cali.
 
Cùng với các anh Nguyên Sa, Phạm Duy, Mai Thảo, Tạ Tỵ, Viên Linh, Lê Đình Điểu và nhiều anh em khác, tôi đã có dịp nói về chuyện ở tù cộng sản với Trần Dạ Từ và bạn hữu. Tiếc thay, khi chỉ vừa nhắc tới trái chuối, củ khoai hai anh em có lần bẻ cho nhau trong tù, là tôi đã òa khóc ngay trên diễn đàn, không sao nói được thành tiếng nữa. Sức lực tuổi già tệ hại quá. Bao nhiêu năm trong ngục tù, anh em nhà văn nhà báo bên nhau đâu có ai nhìn thấy nhau khóc. Tất cả chúng tôi, ngay trong ngục tù, vẫn ráng tươi cười với nhau.
 
Tôi thú thật không hề biết gì về văn thơ. Về thơ Trần Dạ Từ cũng vậy. Chỉ biết anh trong nghề làm báo. Tờ nhật báo cuối cùng của anh Từ, trước khi đóng cửa vì luật báo chí VNCH đòi chủ báo thế chân 20 triệu, in trong nhà in của tôi ở đường Võ Tánh.Vị trí làng báo Saigon dành cho Trần Dạ Từ làm tôi ngạc nhiên, cứ tưởng anh phải là một người lớn tuổi hơn. Khi gặp, tôi mới biết anh sinh  năm 1940. Thời đệ nhất Cộng Hòa, cả miền Nam chỉ có 9 nhật báo. Năm 1962, anh Trần Dạ Từ đã là Tổng thư ký nhật báo Dân Việt, một tờ báo gốc Thiên Chúa giáo cánh Bắc. Anh Chu Tử viết truyện dài và mục Ao thả Vịt nổi tiếng, là từ báo này. Sau 1964, bộ biên tập bạn hữu của Từ sẽ còn điều khiển các tờ báo có lúc có số bán vượt mức như Sống, Hòa Bình, Độc Lập.
 
Tu Keu
 
 
Tú Kếu (tên thật là Trần Đức Uyển), tác giả của 1001 bài thơ trào phúng trước 1975, cũng là chủ biên của tuần báo Sống. Sau 1975 ông bị án tù 18 năm vì tội âm mưu tuyên truyền chống chính quyền, nhưng nhờ tài sửa TV trong tù, ông được thả ra khỏi tù trước khi bản án mãn hạn (ký họa Chóe) 
 
Sau khi bị cầm tù thời Phật giáo tranh đấu năm 1963, ra tù, Trần Dạ Từ vẫn tiếp tục làm tờ Dân Việt, nay đã đổi tên thành Việt Báo, do anh Phương Linh làm chủ nhiệm.Tôi còn nhớ đây là lúc thịnh thời nhất của Phật giáo miền Trung. Tờ “Lập Trường” do nhóm các anh Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần xuất bản ngoài Huế, làm mưa làm gió, tới mức đòi phải thiên đô ra Huế. Bài quan điểm đòi Thủ đô chính trị phải là Huế thì viết rằng gần mực thì đen. Thủ đô chính trị phải là Huế, gần đèn, mới mong rạng được.
 
Thời ấy, cánh chính khách theo các thầy ngoài Huế  đang lên chân. Chủ báo Lập Trường được mời vô Saigon làm Hội đồng Nhân Sĩ. Chính nghĩa chống độc tài quân phiệt rạng ngời, phần lại lo bị chụp mũ cần lao, chế độ cũ, làng báo Saigon êm re.
Chính lúc đó trên tờ Việt Báo xuất hiện loạt bài ký rõ tên Trần Dạ Từ, minh danh “hỏi thăm” anh em nhóm Lập Trường, từng điểm một rành rọt. Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, phần quan điểm thời cuộc do anh Nguyễn Mạnh Côn, thường viết với  bút hiệu Đằng Vân Hầu, gọi việc anh Từ ký rõ tên cho loạt bài này là sự dại dột đáng kính trọng của người làm báo. Còn nhớ, lãnh tụ sinh viên nổi danh thời 1964 là anh Nguyễn Trọng Nho, tuyên bố tán thành các luận cứ của Trần Dạ Từ.  Làng báo Saigon bắt đầu hưởng ứng. Báo Lập Trường im, một thời sau, tự đóng cửa. Cao Huy Thuần lấy học bổng đi sang Pháp học. Sau 1975, báo Cộng Sản ở Hà Nội nói Cao Huy Thuần là nhà nghiên cứu, chuyên về tiểu sử Hồ Chí Minh.
 
Sống với nhau trong tù, nhất là qua anh Côn lúc đầu, biết thêm về anh Trần Dạ Từ, tôi càng ngạc nhiên hơn. Hóa ra anh Từ còn lạ hơn tôi tưởng. Thấy anh hồi ngoài hai mươi tuổi đã làm tổng thư ký một tờ nhật báo công giáo, lại là người đưa hồi ký của Linh Mục Cao văn Luận lên báo Độc Lập, tôi đinh ninh anh phải là công giáo thì anh lại là một Phật tử. Trong bộ biên tập anh Từ điều khiển và bạn hữu anh, nhiều người là đại khoa bảng. Tôi đinh ninh anh phải là người học hành ghê lắm, hóa ra anh chưa học xong tiểu học. Tiếng Tây, tiếng Mỹ bập bẹ, cùng lắm chỉ đủ để đoán mò ra nội dung bản tin viễn ký hàng ngày, trước khi trao cho người phiên dịch trong tòa báo. Thì ra, người bạn đồng nghiệp trẻ của chúng tôi, vốn xuất thân chỉ là cậu bé bán báo, mười hai tuổi đã sống ngoài lề đường.
 
Tết năm 1955, trước khi người Pháp rời hẳn Việt Nam, đài Pháp Á ở Saigon tổ chức giải thơ, phần thưởng lớn gấp ba đài Saigon. Người tới đòi lãnh giải nhất là một cậu bé 15 tuổi mặc quần sọoc. Chủ sự chương trình Pháp Á là anh Hoàng Cao Tăng phải họp hội đồng giám khảo lôi cậu bé ra thử tài đủ kiểu, buộc anh Hồ Đình Phương, thư ký hội đồng, phải lập biên bản, ký bảo lãnh, mới chịu phát cho cậu bé mấy ngàn bạc tiền trúng giải. Năm 1956, vẫn cậu bé, lại đoạt giải nhất giải truyện ngắn của tuần báo Nhân Loại, do anh Tam Ích coi ban giám khảo. (Người đoạt giải nhì là anh Lê Vĩnh Hòa, sau này là nhà văn liệt sĩ của Mặt Trận Giải Phóng). Anh Hồ Đình Phương phụ trách trang “Bình Thơ” trên báo Văn Nghệ Tiền Phong dành cả 4, 5 kỳ báo bình thơ cậu bé khác thường này.
 
Bước vô làng báo chuyên nghiệp, cậu bé làm thơ văn ấy phải làm từ việc thầy cò, viết lấp chỗ trống đủ các mục, từ tin cán chó, tới bài quan điểm, rồi mới thành Trần Dạ Từ.
Hồi còn tù ở Sở công an, anh Nguyễn Mạnh Côn có lần nói với tôi: “Có dịp, ông nhớ bắt tên Từ học thêm, phải cho nó thật giỏi tiếng Pháp.” Anh Côn kể từ lâu đã bắt anh Từ học thuộc bản tuyên ngôn của Đảng cộng sản bằng tiếng Tây. Tôi nghe mà phì cười. Học kiểu ấy thì làm sao mà khá cho nổi.
Hồi hai anh em cùng nằm một chiếu ở trại khổ sai Gia Trung, đến phiên tôi dạy anh Từ học thêm tiếng Pháp. Lại có thêm một chuyện buồn cười.. Không khá gì hơn ông thầy Nguyễn Mạnh Côn, anh Từ lại phải tộng cho bằng hết toàn văn Lê Nin bằng tiếng Tây, nhờ hình Lê Nin, mà sách gửi được vô trại tù.
Tụng kỹ Lê Nin quá, có lần anh Từ nói: “Có dịp, anh em mình ph đượcải chú giải lại Lê Nin bằng sự việc ông ạ. Tức cười thật, thì ra trí tuệ phương tây bị chữ nghĩa bắt nạt, chả hiểu gì cả.”
Năm 1977, cũng tại Gia Trung, chị Nhã Ca đi cùng vợ tôi lên thăm, sau đó anh Từ cho tôi biết anh Mai Thảo, sau cả năm bị lùng bắt, đang ở  trong nhà anh trên đường Tự Do. Tôi với anh Doãn Quốc Sỹ nhìn nhau, không biết nói sao.
 
Mai Thao
 
 
Nhà văn Mai Thảo được Chóe vẽ đang ngồi trên xe xích lô đạp (đây là phương tiện giao thông duy nhất của Mai Thảo ở Sàigòn trước 1975). Sau 2 năm ln trốn sự truy nã gắt gao của chính quyền Cộng sản, ông vượt biên thành công và sang Mỹ năm 1978, qua đời ở quận Cam năm 1998
 
Đầu năm 1978, thân nhân anh Mai Văn Lễ (Khoa trưởng luật khoa Huế, nguyên phó chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, rất thân quí anh Từ) lên thăm cho hay chị Nhã và lũ nhỏ bị đuổi khỏi nhà, trục xuất khỏi thành phố.
Suốt cả năm không có tin nhà, chả biết vợ con sống chết ra sao, anh Từ không hề hé răng nói một câu lo lắng, vẫn bình tĩnh tụng Lê Nin toàn tập.
 
Anh Doãn Quốc Sỹ sau này, trong tù, sẽ thay tôi đọc cả chục bài thơ của Trần Dạ Từ, bằng tiếng Tây.
Nói rằng trong tù  không hề khóc, với tôi, cũng sai. Tôi đã có hai lần khóc.
Một lần, khi làm việc trực nhật, xuống bếp trại bưng nồi cơm, thấy mấy hạt cơm rơi phía ngoài nồi, trước mặt đông đủ anh em, tiếc của trời, cho là thường, tôi bốc bỏ vô miệng.
Hôm sau, có người báo là bọn cán bộ bảo đội trưởng phải họp đội, mang tôi ra đấu tố vì tội lượm cơm của đội ăn riêng. Anh Từ bảo riêng tôi: “Nó muốn kiếm chuyện, chọc mình cãi lại cho có cớ bêu xấu rồi nhốt. Chuyện không đáng. Đừng dại húc đầu. Anh đừng thèm cãi tiếng nào. Nhận ngay lỗi, tự mình xin chịu biện pháp kỷ luật nặng nhất. Vậy là hết chuyện để nói qua nói lại.”
 
Phiên họp đội đấu tố được tổ chức. Tôi nói, bao năm rồi tôi vẫn nhớ nguyên từng chữ, như sau: “Tôi xin nhận hết tội lỗi đã bốc cơm của đội và của nhân dân bỏ vô miệng. Năm nay tôi gần 60 tuổi, một người chừng ấy tuổi mà không ra gì, bốc cả đến mấy hạt cơm rơi bỏ vô lỗ miệng, ngay trước mặt bao anh em khác, thật làm tất cả phải xấu hổ. Tôi xin nhận hết tội lỗi to lớn này. Xin các anh em hãy hăng hái phê bình. Xin cán bộ hãy cho tôi hưởng hình phạt nào nặng nhất, như cúp phần ăn hoặc đi kỷ luật, để giúp tôi tự sửa mình. Xin hết.”
 
Mọi người nhìn nhau, không thấy ai đấu tố. Sau đó cũng không thấy hình phạt. Chúng tôi cũng chỉ lặng lẽ cười với nhau. Ít lâu sau, khi nghe tin anh Nguyễn Mạnh Côn chết, lại nghe kể trước khi chết miệng anh còn kêu cơm cơm.. Tự nhiên, tôi bỗng thấy mình khóc.
Tôi còn khóc một lần nữa, khi chuyển trại.
 
Được rời khỏi đội khổ sai nặng nề nhất trại, bị gọi là đội trừng giới, với nhiều người, là cái may. Với tôi, thì vậy là phải xa anh Từ và bạn hữu.. Trong tù, anh Từ là người lặng lẽ, không bao giờ chịu hái một cây rau cọng cỏ hoặc kiếm thêm củ khoai củ sắn, chính tôi vẫn thường lo cho anh.
Gặp nhau lần cuối bên bờ suối, kiếm được trái chuối củ khoai, tôi dúi vội cho anh.
Khi quay đi, một lần nữa, tôi thấy mình lại khóc.
 
Xin các bạn họp mặt hôm 9.9.1989 chào mừng Trần Dạ Từ tha lỗi cho tôi, đã vì khóc mà bỏ ngang phần phát biểu.
 
Hoa Thịnh Đốn, tháng 3.1990
HỒ VĂN ĐỒNG