Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label ChTuongTranQuangKhoi. Show all posts
Showing posts with label ChTuongTranQuangKhoi. Show all posts

Thursday, 5 February 2026

 CHUẨN TƯỚNG TRẦN QUANG KHÔI

TÀI LIỆU LỊCH SỬ 30/4/1975 



BIÊN HÒA ĐA KHÔNG THẤT THỦ

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi - Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.

CHUẨN TƯỚNG TRẦN QUANG KHÔI

Trần Quang Khôi (24 tháng 1 năm 1930 – 1 tháng 4 năm 2023[1])- Hưởng thọ 93 tuổi, nguyên là một tướng lĩnh Kỵ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia thành lập trên cơ sở trước đó là trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Pháp. Được sự hỗ trợ huấn luyện của Quân đội Pháp nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ Quân đội Quốc gia trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Thời gian tại ngũ, ông đã tuần tự giữ từ chức vụ nhỏ trong chuyên ngành của mình cho đến chức vụ Chỉ huy một đơn vị Kỵ binh cấp Lữ đoàn, trách nhiệm yểm trợ cho một Quân khu.

Ông sinh ngày 24 tháng 1 năm 1930 trong một gia đình đại điền chủ giàu có. Ông sinh ra ở quê ngoại[2] tại làng Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, Tỉnh Bến Tre (nay là Xã Mỏ Cày, Tỉnh Vĩnh Long), ông là người con thứ 5 trong tổng số 12 anh chị em. Ông lớn lên ở làng Vĩnh Thanh Vân, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Do gia đình có điều kiện nên khi còn là học sinh Trung học ông được học ở những ngôi trường danh tiếng. Từ năm 1943 đến năm 1945, ông theo học ở trường Trung học Tabert, Sài Gòn. Năm 1946 đến năm 1949, trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ và từ năm 1949 đến năm 1951 trường trung học Le Myre de Vilers, Mỹ Tho. Tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần Pháp (Part II).[3]

Cuối năm 1951, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/119.246. Theo học khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh tại trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 12 năm 1951. Ngày 1 tháng 10 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[4] Ra trường, ông được chọn về Binh chủng Thiết giáp và tiếp tục theo học khóa căn bản Binh chủng tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn Đông của Quân đội Pháp tại Vũng Tàu.

Tháng 4 năm 1953, sau khi mãn khóa căn bản ông được điều động về Đại đội 5 thuộc Tiểu đoàn Thám thính giữ chức vụ Trung đội trưởng Trung đội 4 kiêm Đại đội phó đồn trú tại Thái Bình, Bắc Việt do Trung úy Trần Văn Ái[5] làm Đại đội trưởng.

Tháng 6 năm 1954, ông chuyển sang làm Trung đội trưởng Chiến xa Obusier 75 ly kiêm Đại đội phó Đại đội 3 Thám thính tại Nam Định do Đại úy Nguyễn Duy Hinh làm Đại đội trưởng. Sau Hiệp định Genève (ngày 20 tháng 7), ông cùng đơn vị di chuyển vào Nam đồn trú tại Đà Nẵng. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Sau đó một tháng, ông được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp Kỵ binh tại trường Saumur, Pháp đến trung tuần tháng 8 năm 1955 mãn khóa.




Tháng 8 năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Chi đoàn trưởng chi đoàn Thủy Xa Cua thuộc Liên đoàn 5 Thủy Xa tại Nhà Bè, Gia Định. Đến tháng 9 năm 1956, chuyển đi làm Trưởng ban 3 Trung đoàn 2 Thiết giáp tại Mỹ Tho. Giữa năm 1957, ông được chỉ định làm Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Huế. Giữa năm 1958, ông được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại Trường Thiết giáp Lục quân Fort Knox, Tiểu bang Kentucky, Hoa Kỳ. Tháng 6 năm 1959, mãn khóa về nước ông được giữ chức vụ Chỉ huy phó trường Thiết giáp kiêm Giám đốc Huấn luyện tại Thủ Đức do Thiếu tá Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc làm Chỉ huy trưởng. Kế tiếp, ông được cử đi học khóa 2 ở trường Chiến tranh Chính trị tại Sài Gòn.

Tháng 6 năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tá và được chỉ định làm Trung đoàn phó Trung đoàn 6 Thiết giáp tại Quảng Trị. Tháng 12 cùng năm, chuyển sang làm Trung đoàn phó Trung đoàn 3 Thiết giáp tại Pleiku.

Đầu tháng 2 năm 1964 sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 các tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng để lên nắm quyền lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được biệt phái sang đơn vị Bộ binh giữ chức vụ quyền Chỉ huy Trung đoàn 41 thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh đóng tại Kontum do Thiếu tướng Linh Quang Viên làm Tư lệnh Sư đoàn. Tháng 7 cùng năm, chuyển về Bộ Tư lệnh Quân đoàn II tại Pleiku giữ chức vụ Trưởng phòng 3 Kế hoạch hành quân, Tư lệnh Quân đoàn là Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. Tháng 12 cùng năm, chuyển trở lại binh chủng cũ, ông được cử làm Chiến đoàn phó Chiến đoàn 5 Chiến xa tại Gò Vấp.

Tháng 8 năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Thiết giáp tại Xuân Lộc, Long Khánh. Đến đầu năm 1967, được lệnh bàn giao chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 lại cho Thiếu tá Phạm Đăng Chương.[6] Tháng 7 cùng năm, ông được cử đi làm Tham vụ báo chí ở Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Seoul, Nam Hàn do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Đại sứ. Tháng 8 năm 1968, về nước được chỉ định làm Chánh văn phòng Tư lệnh Quân đoàn III do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Tư lệnh.

Tháng 6 năm 1969, ông được thăng cấp Đại tá, một lần nữa biệt phái qua Bộ binh giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 18 Bộ binh tại Xuân Lộc, Long Khánh do Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ làm Tư lệnh Sư đoàn. Đầu năm 1970, ông được chỉ định làm Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh tại Biên Hòa. Tháng 8 năm 1972, ông được cử đi du học khóa Tham mưu cao cấp (khóa 1972 - 1973) thụ huấn 42 tuần tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ,[7] sau khi bàn giao Lữ đoàn 3 Thiết giáp lại cho Đại tá Nguyễn Kim Định.[8] Đến tháng 5 năm 1973, mãn khóa về nước ông nhận nhiệm vụ làm Trưởng khối Huấn luyện Chiến thuật tại trường Chỉ huy & Tham mưu ở Long Bình, Biên Hòa, Chỉ huy trưởng là Trung tướng Nguyễn Bảo Trị. Ngày 7 tháng 11 cùng năm, tái nhiệm chức vụ Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh tại Biên Hòa. Ngày 1 tháng 4 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.




Huy chương

Huy chương Việt Nam Cộng hòa:

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng)

-Hai mươi hai Anh dũng Bội tinh (9 nhành dương liễu, 4 sao vàng, 9 sao bạc)

-Chiến thương Bội tinh và một số huy chương quân sự, dân sự khác

Huy chương Ngoại quốc:

-Huy chương đồng Bronze Star (Hoa Kỳ)

-Huân chương Chung Nu (Đại Hàn).

Gia đình

Thân phụ: Trần Quang Chiêu

Thân mẫu: Lê Thị Hòa (Hai cụ sinh 12 người con (7 trai, 5 gái), tướng Khôi là thứ 5).

Nhạc phụ: Lâm Đức Hương

Nhạc mẫu: Trương Thị Sâm.

Bào huynh: Trần Quang Bính, Trần Quang Cần, Trần Quang Hiển.

Bào tỷ: Trần Thị Trầm

Bào đệ: Trần Quang Nghĩa, Trần Quang Đồng, Trần Quang Tấn.

Bào muội: Trần Thị Thân, Trần Hồng Liên, Trần Cẩm Vân, Trần Thị Trinh.

Phu nhân: Lâm Tú Anh

Ông bà có 4 người con (2 trai, 2 gái)

Trần Quang Phong, Trần Thanh Hương, Trần Thanh Xuân, Trần Quang Trung.

-------------------------------------

Một tài liệu quý qua cuộc phỏng vấn Chuẩn Tướng (1) Quân Lực VNCH Trần Quang Khôi – chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh có nhiệm vụ phòng thủ thành phố Biên Hòa vào những ngày cuối cuộc chiến 1975:

“Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biệt khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói đúng.

Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của Miền Nam Việt Nam, phi trường Biên Hòa còn là nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III và Vùng III Chiến Thuật, đầu não của bộ máy quân sự miền Đông.

Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam Việt Nam.

Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày…”

(Theo “Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi: 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam “ )

***

” Đã sang ngày 28 tháng 4, như Bộ Chỉ Huy chiến dịch thông báo, hầu hết các hướng phát triển thuận lợi, các binh đoàn chủ lực đã tới trước cửa ngõ Sài Gòn, còn ở hướng đông, Quân Đoàn 4 chúng tôi vẫn gặp phải khó khăn trong nhiệm vụ phát triển về hướng Biên Hòa, vì địch lập tại đây một tuyến phòng thủ và cũng tại đây “lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, địch cấu trúc các tuyến hào chống tăng để chặn đối phương.

Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rãi mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hỏa điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hỏa tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta. ” ( trích Hồi ký Hoàng Cầm ).

Lữ Đoàn 3 cùng Liên Đoàn 33 Biệt Động Quân, Trung Đoàn 8 Bộ Binh – thuộc Sư Đoàn 5, cũng như Địa Phương Quân và Nghĩa Quân Biên Hòa đã chặn đứng cuộc tấn công vào Biên Hòa của quân đội Bắc Việt – Sư Đoàn 341 do Thượng tướng Việt cộng Hoàng Cầm chỉ huy. Họ đã đứng vững, bảo vệ thành công thành phố Biên Hòa đến ngày 30/04/1975.

Đến rạng sáng ngày 30/04/1975 quân đội Bắc Việt rút lui bỏ Biên Hòa, đi đường vòng qua Biên Hòa để hợp quân đánh vào Sài Gòn. Chuẩn tướng Trần Quang Khôi đã quyết định chia Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn 3 thành ba cánh quân trong vòng trật tự, quân phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng rời thành phố Biên Hòa về giải cứu thủ đô Sài Gòn. Trên đường hành quân thì nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng Thống Dương Văn Minh.

“ Ngày 29/4/1975 vào khoảng 18 giờ, địch quân bắt đầu xâm nhập vào vị trí từ Mạn Bắc và Ðông Bắc đụng phải Chiến Ðoàn 322 và 315 và bị đẩy lui. Tình hình sau đó trở nên khá yên tĩnh. Khoảng 23:45 giờ khuya: địch quân lại bắt đầu pháo kích dữ dội vào thành Phố Biên Hòa và đồng thời tập trung một lực lượng gồm bộ binh và chiến xa tấn công vào hướng Bộ Tư Lệnh QÐIII. Chiến Ðoàn 315 xông ra chặn địch và Cộng quân phải rút lui. Lúc 03:00 giờ sáng: địch lại pháo kích dữ dội và chính xác hơn vào TP Biên Hòa. Ðoàn chiến xa của địch vừa xuất hiện đã bị bắn hạ và chúng tháo chạy ngược ra xa lộ Biên Hòa. Kể từ đó, TP Biên Hòa lại trở lại yên tĩnh.“

***

Trước đó, cuộc lui binh rối loạn ở Vùng I Chiến Thuật miền Trung đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài ra, những tin tức về sự thất thủ chưa xác thực với tình hình chiến sự ở các thành phố lớn như Nha Trang, Đà Lạt… của các đài nước ngoài như BBC cũng gây ảnh hưởng hoang mang không ít.

Đến khi Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi được tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ sau 17 năm tù đày trong trại cải tạo cộng sản, tướng lĩnh Mỹ mới biết sự thật rằng Biên Hòa không hề thất thủ.

Trong khi Liên Xô và Trung Quốc tăng cường viện trợ thêm nhiều khí tài tối tân cho đồng minh Cộng Sản của mình là quân đội Bắc Việt cho cuộc chiến Việt Nam, thì chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm rất lớn và đột ngột viện trợ cho Quân Lực VNCH – sau khi đã rút hết quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Quân viện VNCH đã bị hạn chế đáng kể: ”

Hồi đó mỗi khẩu pháo 105 ly bắn 1000 trái hoặc không hạn chế. Sau đó chỉ được bắn 6 trái một ngày… “

Theo lời kể của Chuẩn Tướng VNCH Trần Quang Khôi: Sau cuộc chiến '75, trong hồi ký “Đại Thắng Mùa Xuân” của Đại tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng đã không nhắc đến trận Biên Hòa. Ngay cả Thượng tướng Việt cộng Hoàng Cầm – người chỉ huy trực tiếp đánh chiếm Biên Hòa không thành công, cũng đã im lặng. Mãi đến năm 1995, khi Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi công khai nhắc đến trận chiến này, Thượng tướng Hoàng Cầm mới cải biên trong Hồi Ký của ông về sự thật này.

Trong hồi ký ” Chặng đường mười nghìn ngày “(in lần thứ hai ) của Thượng tướng Việt cộng Hoàng Cầm khi tấn công Hố Nai – Biên Hòa có đoạn:

“Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rãi mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hóa điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hỏa tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta.”

Về vấn đề Sư Đoàn 341 của Thượng tướng Hoàng Cầm bỏ Biên Hòa, đi đường vòng hợp quân tấn công Sài Gòn được viết một cách khéo léo như sau:

” Nhưng địch ở đây – căn cứ Biên Hòa – khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả, kể cả những tên đang lẩn lút. Các đơn vị Quân Đoàn chưa vượt sang tây sông Đồng Nai. Bốn giờ sáng, phân đội đi đầu của Sư Đoàn 7 tiến đến cầu sắt xe lửa Biên Hòa nhưng tăng không qua được vì cầu này yếu, trọng tải chỉ bảo đảm xe 12 tấn. Cầu Mới bị địch phá.

…

Theo Wikipedia tiếng Việt thì:

Sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn thống nhất quyết tâm bằng bất cứ giá nào phải đánh chiếm cho được Biên Hòa trước 0 giờ ngày 30 tháng 4, tôi lệnh cho các đơn vị:

– Sư Đoàn 6 bỏ các vị trí, các căn cứ còn lại ở Hố Nai, tiến theo bên trái đường số 1, đánh chiếm sở chỉ huy Quân Đoàn 3 và cầu Ghềnh, thọc sang bờ tây sông đánh chiếm đầu cầu, giữ bàn đạp.

– Sư Đoàn 341 vòng qua phía bắc, đánh chiếm sân bay Biên Hòa.

– Sư Đoàn 7 đột phá từ Hố Nai, đập vỡ lá chắn địch ở ngã ba Tam Hiệp, cố gắng đưa đội hình sang tây sông Đồng Nai trong đêm.

…

Khi được tin sở chỉ huy nhẹ của Quân Đoàn 3 chuyển về Gò Vấp tối 29 tháng 4, qua đài kỹ thuật Lê Minh Đảo cầu cứu Bộ Tổng Tham Mưu ngụy rút quân sang bờ tây sông Đồng Nai, trong khi các lực lượng ta vẫn còn bị địch chặn ở ngã ba Hố Nai đi Biên Hòa. … Sau khi điện xin ý kiến và được Bộ Chỉ Huy chiến dịch chấp thuận về trường hợp Sư Đoàn 7 không theo kế hoạch cũ, tôi ra lệnh, lúc ấy là 6 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975. “

***

Bài viết của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi cũng có đoạn:

“Bây giờ là 8 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của địch nữa.”.“Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản Bắc Việt đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.”

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của quân Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Dưới đây là trích đoạn bài viết (đã bị xóa) của tờ báo “Quân Đội Nhân Dân” viết về Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi:

Khoảng 5 ngày trước khi chính thể VNCH, thủ đô Sài Gòn sụp đổ, Trần Quang Khôi vẫn “thể hiện” với quân lính và cấp trên sự “can trường” của mình. Sáng 30-4-1975, khi thấy Biên Hòa đã không còn là mục tiêu bị tấn công bởi Quân Giải phóng đang tập trung tiến về Sài Gòn, trong “canh bạc” cuối, Trần Quang Khôi đã họp bàn với chỉ huy các đơn vị thuộc lực lượng xung kích Quân Đoàn 3 để đi đến quyết định: Kéo toàn bộ lực lượng về tiếp cứu Sài Gòn. „


////////////



Điếu văn do Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn đọc trong Tang Lễ Cố Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi.

 

 

 

 

Cố Chuẩn Tướng Thiết Giáp George Trần Quang Khôi

 

 

 

Cháu xin thay mặt gia đình cố Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, các bác, các chú, các cựu chiến binh QLVNCH cũng như thay mặt bố cháu, cố Đại Tá Nguyễn Tuấn, để được đọc tiểu sử của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi. Chú Khôi không chỉ là một vị tướng anh hùng của QLVNCH, người đã được sĩ quan Mỹ ví như danh tướng Potton của thế giới, mà còn là một người thân trong gia đình cháu. Bố cháu cũng như chú Khôi đã từng phục vụ chung trong một đơn vị Thiết Giáp tại Quảng Trị. Hai người tuy không phải là anh em ruột, nhưng đã vào sinh ra từ trên các chiến trường, thân với nhau còn hơn anh em ruột. Thật là một vinh dự cho cháu hôm nay.

 

Chúng ta có mặt ở đây để giã từ một vị tướng của QLVNCH, một người tướng đã trở thành biểu tượng hào hùng bất khuất của một kỵ binh đã cống hiến cả đời trai trẻ cho Tổ Quốc, cho Quân Đội. Chưa bao giờ lùi bước trước kẻ thù. Đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Đã ở lại để cùng chia xẻ với các chiến sĩ đủ mọi quân binh chủng, những nghẹn ngào cay đắng tủi nhục của một người lính bại trận. Đã ở 17 năm trong ngục tù mà vẫn giữ phẩm chất và tinh thần cao đẹp của người chiến sĩ QLVNCH.

 

Ông đã từng tuyên bố: “Tôi kông bao giờ ăn năn về những gì tôi đã làm, cũng không bao giờ phàn nàn về việc bị giam cầm. Nếu lịch sử tái diễn trở lại, tôi vẫn chọn con đường của tôi như cũ. Dù biết rằng làm như thế qua những kinh nghiệm đã trài qua, tôi sẽ bị mất tất cả, ngoại trừ cái DANH DỰ của tôi”.

 

Năm 1952, tốt nghiệp Thiếu Úy, ông được tuyển chọn phục vụ trong binh chủng Thiết Giáp rồi theo học khóa Thiết Giáp tại Vũng Tàu. Ông cũng đã theo học Trường kỵ binh Pháp tại Saumur năm 1955, Trường thiết giáp quân đội Hoa Kỳ tại Fort Knox năm 1959, và Trường chỉ huy tham mưu quân đội Hoa Kỳ tại Fort Leavenworth năm 1972-1973. Sau 17 năm tron glao tù, định cư tại Hao Kỳ, ông tiếp tục học và lấy được bằng Cao Học Văn Chương Pháp.

 

Ông đã từng chì huy các đơn vị thiết giáp từ trung đội cho đấn cấp Trung đoàn, Lữ Đoàn. Ông đã từng làm chánh văn phòng tùy viên cho Trung Tướng Đỗ Cao Trí, 1968, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 18 Bộ Binh, 1969, Tư Lệnh Liên Đoàn 3 Kỵ Binh, 1970,, Giảng viên Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, 1973 Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ, 174 và Tư lệnh Xung Kích Quân Đoàn 3, 1974. Khi giữ chức Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ, ông đã tạo nên những chiến thắng thật oanh liệt, vẻ vang.

 

Đầu năm 1970, chiến đoàn 318 của ông đã dẫn đầu cuộc tấn công của liên quân Hoa Kỳ và VNCH vào Campuchia phá hủy cơ sở “hậu cần” lớn và gây thiệt hai nặng nề cho các lực lượng chính quy của Cộng quân.

 

Tháng 11 năm 1970, ông chỉ huy, tổ chức, huấn luyện Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ bảo vệ vùng biên giới Vietnam-Campuchia trước sự xâm nhập của Cộng quân vào Quân Khu III.

 

Tháng 3 năm 1974, Sư Đoàn 5 Bộ Binh Bắc Việt bao vây căn cứ Đức Huệ do Tiểu Đoàn 83 BĐQ/QLVNCH trấn giữ. Gần hơn một tháng, các đơn vị bạn không giải vây được vì Cộng quân đã phối trí quân trên các trục tiến của ta. Ông đề nghị xử dụng kỵ binh, bộ binh tấn công mạnh, nhanh vào hậu cứ và các cơ sở pháo binh của cộng quân trên đất Campuchia. Trong 3 ngày, dưới quyền chỉ huy của ông, Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ đã phá vòng vây, đánh bại Sư Đoàn 5 Bắc Việt, bằng cuộc vượt sông ban đêm táo bạo và phản công bất ngờ tại Campuchia.

 

Trong những ngày cuối cùng của chiến cuộc VN, lực lượng Xung Kích Quân Đoàn III do Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy đã bảo vệ thành phố Biên Hòa, đánh bại Sư Đoàn 341 Bắc Việt trong vùng lân cận, buộc địch phải bỏ giao tranh và rút lui với số lượng thương vong rất nặng. Đây là trận giao tranh cuối cùng của QLVNCH.

 

Sau đó Cộng quân tập trung toàn bộ lực lượng hơn 15 sư đoàn tấn công Sài Gòn. Sáng ngày 30-4-1975, Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III rời Biên Hòa xông vào tiếp cứu Sài Gòn nhưng phải ngưng chiến khi Tướng Khôi nghe Tổng Thống trên đài phát thanh ra lệnh toàn thể QLVNCH ngưng bắn đầu hàng.


Tướng Khôi đã từ chối không rời khỏi nước dù có phương tiện và đã bị giam cầm ở Bắc VN cùng các chiến sĩ của mình. Nhờ sự giúp đỡ của TNS John McCain, Cộng sản mới thả ông ra khỏi tù sau 17 năm để ông được đoàn tụ với gia đình tại Virginia vào tháng 5 năm 1993.

 

Ông đã nhận lãnh Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tam Đẳng, 9 anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, 1 chiến thương bội tinh và nhiều huy chương khác.

 

Ông đã nói: “Tôi rất tiếc về kết quả của cuộc chiến, nhưng tôi đã cố gắng hết sức. Tôi đã cho quân lính của mình thực hiện mệnh lệnh cuối cùng của Tổng thống. Bản thân tôi, tôi không còn gì để nói. Nhưng từ sâu trong tim tôi, tôi thầm cám ơn tất cả các chiến sĩ đã dũng cảm hy sinh, cống hiến cho đến phút cuối cùng của cuộc chiến. Cùng nhau chúng ta đã hoàn thành nghĩa vụ và lời thề trung thành cho Tổ Quốc.”

 

Tướng Khôi đã từ trần ngày 1 tháng 4 năm 2023.

 

Thưa chú, chú đã làm tròn nhiệm vụ của một người lính Việt Nam Cộng Hòa.

 

Nguyện xin chú an nghỉ trong tình yêu của Chúa.

 

 

English Version:

 

 

Brigadier General Tran Quang Khoi is not only a heroic general of ARVN, who has been likened by American officer to the world’s famous General Patton, but also a dear friend of my family. My father and Uncle Khoi once served together with an armored unit in Quang Tri, VN. Although the two were not siblings, they were battle buddies, and thus have an unbreakable bond with each other. He is a general who has become a Hero to many of us, a patriot who has dedicated his youth to the ARVN, to his nation. Never back down from a fight with the enemy. Fought to the bitter end of the war. Although he has the mean to leave the country, he decided to stay back with his fellow soldiers, to share with them the bitterness and misery of defeated soldier. HE spent 17 yers in prison but keep the pride and fighting spirit of a soldier.

 

Colonel (Deceased) Battreall, US Army, said this about BG Khoi: “He is one of the finest Armor leaders I ever met: bold and daring, but not foolhardy, he knew full well how to use mobility and firepower to produce shock even in terrain like Vietnam’s. He also had the imagination and flexibility to task-organize in such a way as to get the most from his available assets. Had Khoi been a tank battalion commander in Third Army during World War II, General Patton would have acknowleged two peers: Creighton Abrams and Tran Quang Khoi.”

 

General Khoi once reflected, “I never repented of what I did, nor did I ever complain about being imprisoned. If history repeats itself, I will still choose my path as before. Even though I knew that by doing so, I would have to lose everything, except my HONOR”.

 

He has commanded armored units from platoon to brigade level. While he was the Commander of 3rd Armored Brigade, he won many victories. In early 1970, his 318th Task Force led the combined allies force US/ARVN assault on Cambodia destroying major logistics facilities and inflicting heavy damage on regular communist forces.

 

In March 1974, NVA 5th Infantry Division surrounded Duc Hue Base defended by ARVN 83rd Ranger Battalion. The siege last over a month until Gen Khoi took action. In 3 days the 3rd  Cav Brigade broke the siege defeating the NVA 5th Division by a night river crossing and a supprise counterattack in Cambodia.

 

During the last days of the VN War, the III Corps Assault Force under BG Tran Q. Khoi command defended Bien Hoa, defeated NVA 341st Division in its vicinity, forcing the enemy to give up the fight and withdraw with very heavy casualties. It is the last major action between ARVN and NVA before the war ended in April 1975.

 

He said, “I regret the outcome of the war, but I did my best. I have my troops carry out the President’s final order. Myself, I have nothing more to say. But from the bottom of my heart, I secretly thank all the soldiers who bravely, sacrificed and devoted themselves to the last minute of the war. Together, we have fulfilled our duty and oath of allegiance to our country.”

 

Rest in Peace General Khoi.

*Mt68:


Được biết sau ngày 30-4-75. Tướng Khôi về lại quê nhà Rạch Giá định tìm đường ra khơi. Nhưng bị phát hiện và bị VC bắt giam tại khám lớn cùng với người em Trần Quang Đồng và Tướng Trần Quang Minh, Tổng Thanh Tra NQ/ĐPQ OK4 (Anh em Chú/Bác với Tướng Khôi); sau độ 10 ngày thì VC đưa ra khỏi khám lởn RG. Mãi nhiều năm sau mới biết Tướng Khôi bị đưa ra Bắc và sau 17 năm bị giam cầm tại Bắc Việt. Tướng Khội được thả ra và Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. - Tướng Khôi đã qua đời cách nay vài năm. Suốt cuộc đời binh nghiệp Tướng Khôi không hề dính líu vào bất cứ một thị phi hay lỗi lầm nào về dân sự hay quân kỷ. Một vị Tướng ưu tú và trong sạch còn mãi được vinh danh và kính trọng trong QL/VNCH./- Mt68

 

Thursday, 13 September 2018

TƯỚNG TÙ CẢI TẠO TRẦN QUANG KHÔI...

CHUYỆN CÓ THẬT 100% - CHUẨN TƯỚNG KHÔI SAU 30 THÁNG TƯ MẤY NGÀY VỀ RẠCH GIÁ TÌM TÀU ĐÁNH CÁ VƯỢT BIỂN NHƯNG BỊ VIỆT CỘNG BẮT GIAM TẠI KHÁM LỚN 1 THỜI GIAN NGẮN ....

TÔI CÒN NHỚ RÕ: 
CH.TƯỚNG KHÔI BỊ GIAM TẠI PHÒNG RIÊNG KHÁM LỚN RẠCH GIÁ VÀ ÔNG ẤY VẪN MẶC QUÂN PHỤC MÀU VÀNG ĐẦY ĐỦ LON LÁ VÀ CASQUE SĨ QUAN VNCH - VC RA LỊNH ÔNG KHÔI PHẢI GỠ LON VÀ CỞI ĐỒ LÍNH VNCH - ÔNG KHÔI YÊU CẦU GẶP CHỈ HUY ĐỒNG CẤP VC TỚI NÓI CHUYỆN VÀ ÔNG KHÔI VẪN KHÔNG LỘT LON HAY THAY QUÂN PHỤC- MẤY NGÀY SAU LÚC BAN ĐÊM VC CHỞ ÔNG KHÔI ĐI MẤT - SAU NẦY MỚI BIẾT LÀ VC ĐƯA ÔNG KHÔI RA BẮC- AI KHÔNG TIN CÓ DỊP HỎI ÔNG KHÔI VỀ CHI TIẾT NẦY SẼ RÕ LÀ THẬT 100% (*Cùng bị bắt với ông Khôi có cả người em Trung Úy Đồng và Tướng Trần Văn Minh- Anh em chú bác với ông Khôi là Chỉ Huy Trưởng ĐPhương Quân và NQuân Quân Khu 4 cho tới 30.4-)./-TCL

==================

 

XIN HƯỞNG ỨNG LỜI KÊU GỌI TÍCH CỰC ỦNG HỘ DONALD TRUMP.



CHUẨN TƯỚNG THIẾT GIÁP KỴ BINH/ VNCH  

(ARVN BRIGADIER GENERAL)



TRẦN QUANG KHÔI



1.- (a) Sinh và Trú quán:Tướng TGKB Trần Quang Khôi, sanh ngày 24-01-1930, tại làng Đa Phước Hội, Quận Mỏ Cày, Tỉnh  Bến Tre (Kiến Hòa),



Miền Nam VN. Thuở nhỏ sống tại làng Vĩnh Thanh Vân, Châu Thành Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang.

Cha : Ông Trần Quang Chiêu; Mẹ: Bà Lê  Thị Hòa.



(b) Trong hơn 20 năm chỉ huy quân sự chiến đấu trên khắp các chiến trường Miền Bắc, Miền Trung, và Miền Nam VN, và ngoại biên trên lảnh thổ Campuchia, vào sanh ra tử nhiều lần, Chuẩn Tướng TGKB Trần Quang Khôi luôn  luôn chiến thắng, chưa bao giờ bị thất trận.



(c) Đặc biệt trong 2 năm 1974-1975, sau khi quân đội Mỹ rút hết quân, rút hết cố vấn quân sự ra khỏi VN, và cắt viện trợ quân sự, Tướng TGKB Trần Quang Khôi đã liên tiếp đánh bại Sư Đoàn 5 CSBV (gần 10,000 quân) tại căn cứ Đức Huệ, Tỉnh Hậu Nghĩa ngày 30-4-1974 (giải cứu Tiểu Đòan 83 BĐQ/VNCH),



và đánh tan Sư Đoàn 341 CSBV, thuộc Quân Đoàn 4 CSBV, ở ngoại vi phòng thủ Thành phố Biên Hòa, ngày 30- 4- 1975.



(d) -Với 2 chiến thắng vang dội nầy, Tướng TGKB Trần Quang Khôi đã được Thượng Nghị Sĩ (Senator) Richard H. Black, nguyên là Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại chiến trường VN, vinh danh trước ThượngViện Quốc Hội Tiểu bang Virginia, ngày 10-tháng 02- 2014.



2.-Học Vấn: Tướng TGKB Trần Quang Khôi tốt nghiệp:

- Trường Võ Bị Quốc Gia VN ở Đà lạt năm 1952 (Khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh, hạng 6/200).

- Trường TGKB Saumur (Khóa cao cấp), năm 1955 ở Pháp.

- Trường Thiết Giáp Lục Quân Hoa Kỳ Fort Knox, Tiểu Bang Kentucky (Khóa cao cấp) năm 1959.



Tướng Trần  Quang Khôi có 2 văn bằng Master Degrees:

(a)-MMAS Degree (Master of Military Arts and Sciences) from US Army, Command and General Staff College, Fort Leavenworth, Tiểu Bang Kansas, class of 1972-1973.

(b)-MA Degree (Master of Arts in French Studies (Litterature, Political and Social) from George Mason University, Virginia, in 1998.



3.- Ước Vọng:

(a) Tôi tha thiết kêu gọi mọi người VN tỵ nạn CS trên toàn thế giới lên tiếng ủng hộ triệt để Tổng Thống Donald Trump đang bị đảng Dân Chủ đối lập đe dọa trầm trọng.  Đặc biệt tôi kêu gọi tất cả người Việt Nam tỵ nạn CS trên toàn nước Mỹ hãy kêu gọi nhau đi bầu, dồn phiếu cho TT.Donald Trump và đảng Cộng Hòa của ông. Đây là vấn đề sống chết của dân tộc và đất nước VN chúng ta.

                                                                                   

Bọn Tàu cộng phương Bắc, Tập Cận Bình đang giãy chết. Đừng nghe lời kêu gọi của cựu Tổng Thống Obamavà cựu Tổng Thống Bill Clinton, và tất cả báo chí của Mỹ và của VN cánh tả, chống Tổng Thống Donald Trump..



Nên nhớ, Tổng Thống Donald Trump là vị cứu tinh của dân tộc VN và của nước VN độc lập, dân chủ và phú cường.



Xin hảy tin lời kêu gọi của tôi.



(b)- Sau khi CSVN bị diệt vong, tôi ước mong được trở về sống ở VN, và sẽ tham gia vào việc đào tạo thế hệ trẻ VN trở nên những cán bộ quân sự kiệt xuất của một nước VN độc lập, dân chủ và phú cường./.

                    

Virginia, ngày 01 tháng 9, 2018

Chuẩn Tướng TGKB Trần Quang Khôi.