Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVGSNguyenManhHungQGHC. Show all posts
Showing posts with label VCNVGSNguyenManhHungQGHC. Show all posts

Saturday, 24 January 2026

 ĐỂ TRÁNH KHÔNG NGHE RÕ ÔNG NÓI GÀ BÀ NÓI VỊT GIỮA ÔNG NGUYỄN MẠNH HÙNG VÀ GS KHƯƠNG HỮU LỘC - ÔNG LỘC ĐANG CA TỤNG HAY BÀI BÁC AI ĐÂY?! KHIẾN ÔNG HÙNG NÓNG MÁU./-Mt68

/////////////////////

Sunday, 12 June 2022

NẾU KHÔNG BIẾT NGUYỄN MẠNH HÙNG LÀ AI ? CHẮC CHẮN QUA LỜI LẼ NẦY AI CŨNG TƯỞNG NGUYỄN MẠNH HÙNG LÀ MỘT CỐI CUM VIỆT CỘNG RẤT THUỘC BÀI BỐ LÁO CỦA VIỆT CỘNG./-TCLãnh

NHƯNG THỰC SỰ NGUYỄN MẠNH HÙNG LÀ MỘT GIÁO SƯ VNCH DU HỌC MỸ, DI TẢN MỸ 1975 ... VÀ SAU NẦY LẠI VỀ GIÚP VIỆT CỘNG MIỆT MÀI ... NHƯNG VẪN VỀ MỸ THIẾT THA ỈA ĐÁI Ở MỸ./-TCLãnh
_____________
*Mt68: Khi chúng tôi đăng tài liệu GS Nguyễn Mạnh Hùng tự khoe thành tích cống hiến cho VIỆT CỘNG - Thì chúng tôi lại nhận được Comment của một Sĩ Quan HQ/VNCH như vầy đây "Go easy on ALL CAPS. Sorry, but YOU’RE SHOUTING AND IT’S RUDE! If you’re really that angry, perhaps you should calm down before sending ...
Thank you! "- Chúng tôi rất kính trọng mọi Comments dù khác biệt nhưng không khỏi chua xót khi thấy một đồng đội lại quay về phía BÊN KIA, họ không còn màng gì đến bạn bè, thân nhân và hàng triệu người Việt khác đã nằm xuống bên nầy Hiền Lương cho chúng ta còn được sống tự do cho đến hôm nay./-tcl
___________________
Chính sách đối ngoại của Việt Nam sau Đại hội 13: Trung Quốc, Hoa Kỳ và Biển Đông.

15 Tháng Hai, 2021
Nguyễn Mạnh Hùng

Đại hội lần thứ 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn ra 18 Ủy viên Bộ Chính trị, những lãnh đạo cao nhất trong Đảng. Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Viện Đại học George Mason và Viện CSIS, về một số dự đoán về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong tương lai gần. 

1. Sau khi có kết quả sắp xếp nhân sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam sau Đại hội 13, xin Giáo sư cho một số dự đoán về chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Hoa Kỳ những năm sắp tới. 

Nguyễn Mạnh Hùng

Chính sách ngoại giao của Việt Nam đối với Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng hai yếu tố tương phản nhau. Về phương diện chiến lược, Việt Nam cần Hoa Kỳ như môt đối trọng với Trung Quốc. Về phương diện kinh tế, Việt Nam cần thị trường của Hoa Kỳ và đầu tư ngoại quốc trong đó có Hoa Kỳ, để phát triển. Tuy nhiên, Việt Nam không tin Hoa Kỳ vì đã từng là nạn nhân của những cuộc mặc cả giữa các nước lớn, cộng thêm với nghi ngờ rằng Hoa Kỳ muốn dùng áp lực nhân quyền để tạo “diễn biến hòa bình,” thay đổi thể chế chính trị Việt Nam.

Việt Nam đã tạo được thế lơ lửng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc phù hơp với nhu cấu chiên lược của họ. Quan hệ hai nước từ ngày nối lại bang giao đã tiến triển thuận lợi vê mọi phương diện, cho nên tôi nghĩ là Việt Nam sẽ tiếp tục theo chiều hướng đó, trừ khi có biến động lớn trong khu vực hay trên thế giới.

2. Một số nhà quan sát tình hình Biển Đông cho rằng Trung Quốc sẽ còn tiếp tục hung hăng hơn trên Biển Đông. Theo ông, chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc, đặc biệt là vấn đề Biển Đông, sẽ như thế nào trong những năm sắp tới? 

Nguyễn Mạnh Hùng

Hiện nay, Việt Nam là nước kiểm soát được nhiều thực thể nhất ở Biển Đông, khoảng 22 hay 29 thực thể, tùy theo cách tính. Mục đích của Viêt Nam là giữ được chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên trên đảo và biển mà mình hiện có. 

Đối với chính sách hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc, Việt Nam theo đuổi chính sách vừa cộng tác vừa đấu tranh, nhượng nhịn nếu cần (như trường hợp ngưng hơp đồng khai thác dầu khí trong khu vưc bãi Tư Chính với Repsol năm 2017 và 2018, với Rosneft năm 2020), và tranh đấu nếu phải làm (như trường hợp của dàn khoan Hải Dương 981 năm 2014). Ngoài ra, họ sẽ tiếp tục những biện pháp hiện có. 

Thứ nhất tiếp tục chính sách ngoại giao “ba không” – không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nươc này để chống nước kia, không cho nước ngoải đặt căn cứ quân sự hay sử dụng lãnh thổ để chống nước khác—nhằm trấn an Trung Quốc, nhưng lại cảnh cáo “tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết…”

Thứ hai, chỉnh đốn quân đội và mua vũ khí ngoại quốc để tăng cường khả năng phòng thủ và củng cố lực lượng trên những thực thể trên biển mà mình đang kiểm soát.

Thứ ba, thi hành một chính sách cân bằng quyền lực mềm (soft balancing) bằng cách tăng cường hợp tác quốc phòng-an ninh với Hiêp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước lớn có khả năng đối trọng Trung Quốc, đặc biêt là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ.

Thứ tư, khuyến khích các cuộc tuần tra bảo vệ tự do lưu thông hàng hải và khẳng định sức mạnh của Hoa Kỳ, hoặc hành động đơn phương hoặc hợp tác Hoa Kỳ với các cường quốc quan tâm đến Biển Đông như Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, và Pháp, hoặc có sự hiện diện của một hay nhiều quốc gia Đông Nam Á.

Thứ năm, tranh thủ sự ủng hộ của thế giới bằng hai cách. Một mặt thì tích cực tham dự và nâng cao vai trò của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế và khu vực; mặt khác thì phổ biến và giải thích lập trường hợp lý, hợp pháp cùa mình căn cứ trên luât quốc tế, công ước về Luật Biển năm 1982, và phán quyết của của Tòa Trọng Tài Quốc Tế năm 2016

3. Giáo sư có nhận xét về ông Phạm Minh Chính như một ngôi sao sáng sau Đại hội 13. Ông Chính từng là lãnh đạo Quảng Ninh, một trong những lãnh đạo lực lượng tình báo ngành công an, lãnh đạo tổ chức nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo ông, ông Chính sẽ theo đuổi chính sách kinh tế đối ngoại như thế nào? 

Nguyễn Mạnh Hùng

Ông Nguyễn Xuân Phúc đã thành công phần nào trong nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế. Ông Chính sẽ phải cố gắng làm tốt hơn những thành quả ấy, và không thể rời mắt khỏi mục tiêu dài hạn là đến 2045 Việt Nam phải trở thành một nước “phát triển, thu nhập cao.” 

Điều này có nghĩa là phải thu hút và quản lý tốt đầu tư ngoại quốc, phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích việc thành lập các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao, và khai thác hội nhập quốc tế. 

Việc trước mắt ông Chính phải làm là chuẩn bị khả năng thi hành các nghĩa vụ và khai thác các quyền lợi qua một loạt những hiệp ước thượng mại tự do mà Việt Nam đã ký kết như Hiệp định thương mại tự do Viêt Nam-EU (EVFTA), Hiệp định đối tác Kinh tế tòan diện khu vục (RCEP), Hiệp đinh Thượng mại tự do Việt-Anh (UKVFTA).

Ngoài ra, khi làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, ông Chính còn là Phó Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về xây dựng các đơn vị hành chính-kinh tế. Khi lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, ông Chính đã tỏ ra ủng hộ viêc thành lập các đặc khu kinh tế được tổ chức “tinh gọn và hiêu quả.” Viêc dùng đăc khu kinh tế như môt thí điểm đã thành công ở Trung Quốc, là môt việc nên làm, và ông Chính đã có kinh nghiệm liên quan đến vấn đề này.

Tất cả những hoạt động kinh tế thương mại kể trên đều có liên quan đến an ninh quốc gia, không nhiều thi ít. Việc ông ấy có kinh nghiệm trong ngành tình báo, công an, không phải là môt điều dở nếu được áp dụng một cách hiệu quả và sáng suốt.

4. Một số nhà quan sát cho rằng Việt Nam muốn giữ được thế cân bằng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong những năm sắp tới. Ông đánh giá như thế nào về chiến lược này? Theo ông, các lãnh đạo sau Đại hội 13 cần làm những gì, và có thể làm được gì để giữ thế “cân bằng” này? 

Nguyễn Mạnh Hùng

Đó là chiến lược thông thường trong chính trị quôc tế. Cho tới nay, Việt Nam đã duy trì đươc thế này môt cách tuơng đối. Thế cân bằng này tùy thuộc vào khả năng Việt Nam giữ đươc ổn đinh trong nước, lãnh đạo không chia rẽ, và khả năng quốc phòng của chính mình. Nhưng nó tùy thuộc nhiều hơn vào quan hệ giữa các nước lớn. Nêu họ xung đột với nhau, Việt Nam sẽ bị lôi cuốn vào mối xung đột ấy và sẽ phải chọn bên. Nêu họ hòa hoãn và tương nhượng, Việt Nam có thể là “vật hy sinh” cho sự tương nhượng ấy.

5. Năm 2019, Trung Quốc thực hiện một chiến dịch xâm nhập sâu và dài ngày (hơn 3 tháng) vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Malaysia, Philippines. Lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc mạnh hơn lực lượng của cả ba nước này cộng lại. Theo ông, ba nước này có thể thành lập lực lượng cảnh sát biển chung của ba nước không? Một lực lượng chung như vậy có thể đối phó được với Trung Quốc không? Hoa Kỳ hay Nhật Bản có thể giúp gì để hình thành sự liên kết như vậy hay không?

Nguyễn Mạnh Hùng

Câu trả lơi là không, không, và không. Một, không có khả năng ba nước thành lập lưc lương cảnh sát biển chung. Hai, lưc lượng ây, nếu có thành lập, cũng không đủ sức đương đầu với Trung Quốc. Ba, Hoa Kỳ và Nhật Bản không có khả năng giúp thành lập lực lượng chung này.

Bất cứ môt sự liên kết nào cũng cần sự chống lưng của Hoa Kỳ, mà hiện nay các nước nhỏ có tranh chấp chủ quyền biển đảo vơi Trung Quốc không tin tưởng vào khả năng và quyết tâm của Hoa Kỳ trước sự lấn lướt của Trung Quốc.

Nếu Hoa Kỳ có quyết tâm thì điều khả dĩ có thể làm là tuần tra chung của hải quân trong “Tứ giác kim cuong” gồm Mỹ, Nhật, Ấn, Úc cộng thêm với ít nhất hai trong số ba nươc Đông Nam Á kể trên. 

Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ xin chân thành cảm ơn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng đã dành thời gian trao đổi những vấn đề quan trọng này. 

Thursday, 19 May 2022

THÊM MỘT BẰNG CHỨNG GS NGUYỄN MẠNH HÙNG KHÔNG NGẦN NGẠI TỰ KHAI MỐI HỢP TÁC SÂU ĐẬM CỦA ÔNG TA VỚI VIỆT CỘNG ./-TCLãnh

 KHÔNG ÍT TRÍ NGU CHẠY TRƯỚC 30-4 CHƯA THẤY QUAN TÀI VIỆT CỘNG RA SAO- CHO NÊN CHÚNG CỨ MƠ MỘNG VỀ NƯỚC LIẾM VÁI VIỆT CỘNG./-TCLãnh

_________________

TRONG YOUTUBE CỦA ĐQA THÁI BÁO NGƯỜI VẸM CALI GHI LẠI BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA GS HÙNG CÓ BĂNG ĐẢNG VC NẰM VÙNG KIỀU CHINH VÀO NGÀY 2/5/22 VỪA QUA- NGHE YOUTUBE KHÔNG HIỂU GS HÙNG NÓI CÁI GÌ NÊN Mt68 KHÔNG ĐĂNG - DỰA THEO TÀI LIỆU NẦY CHO THẤY GS HÙNG THUỘC BĂNG ĐẢNG CỦA PHAN HUY LÊ ( VC EM CỦA PHAN HUY QUÁT- CON GÁI CỦA PHAN HUY QUÁT LÀ LÊ PHAN - CŨNG MỘT TAY VC NẰM VÙNG TỪNG LÀM VIỆC TRONG BAN VIỆT NGỮ BBC - VÀ LÊ TRỌNG VĂN (LÊ VĂN=BBC) CŨNG ĐÃ TỰ KHAI, TỰ KHOE LÀ VC NẰM VÙNG TRONG DS VC NẰM VÙNG HẢI NGOẠI.) - DƯỚI ĐÂY LÀ THÀNH TÍCH GIA NÔ VC CỦA GS NGUYỄN MẠNH HÙNG- ÔNG ẤY TỰ KHOE- KHÔNG AI CHỤP MŨ CỐI CHO ÔNG TA CẢ./-TCLãnh

________________________

Phó giáo sư Tiến sĩ Sử học NGUYỄN MẠNH HÙNG

Vài nét về tiểu sử

1) Thầy Nguyễn Mạnh Hùng là một sinh viên ngành luật và là học trò của cố giáo sư Vũ Văn Mẫu (giáo sư cổ luật Việt Nam), giáo sư Bùi Xuân Bào (tiếng Pháp), giáo sư Vũ Văn Kính (Hán Nôm) và thầy Châm Vũ Nguyễn Văn Tần – tác giả cuốn sách Nhật Bản sử lược.

2) Thầy Nguyễn Mạnh Hùng làm luận án tiến sĩ sử học với đề tài “Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thông qua công trình Kỹ thuật Người An Nam có lời giới thiệu của Giáo sư sử học Phan Huy Lê.

3) Thầy Nguyễn Mạnh Hùng là giáo sư Việt Nam học, Khoa Thái Việt, Trường Đại học Ngoại ngữ Osaka Nhật Bản từ năm 1988 đến năm 1992.

4) Thầy Nguyễn Mạnh Hùng là người mở đường xây dựng hệ thống đại học ngoài công lập đầu tiên tại Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn) thành Phố Hồ Chí Minh năm 1986 với tên gọi là Đại học Ghi danh – sau này là Đại học không chính quy.

5) Thầy Nguyễn Mạnh Hùng là chủ tịch Hội đồng sáng lập, kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học Dân lập Hồng Bàng 1997  sau đổi thành Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng từ năm 2010 đến năm 2015.

6)  Thầy Nguyễn Mạnh Hùng sáng lập trang web THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC – thanhdiavietnamhoc.com, trang Facebook Hung Nguyen Manh từ năm 2018 và các trang web: Đại từ điển Việt Nam – daitudienvietnam.com, Đại từ điển Bách khoa Vạn vật số hoá Việt Nam học – daitudienbachkhoatulieusohoavietnamhoc.com, Kỹ thuật Người An Nam – kythuatnguoiannam.com, Việt Nam học – Thánh địa đa học thuật – vietnamhoc.netTư liệu bách khoa Vạn vật số hoá Việt Nam học – annamiticapedia.com, internetofvietnamthings.com, Tư liệu bách khoa Báo chí Tạp chí số hoá Việt Nam học – internetofvietnampapers.com, Tư liệu bách khoa Thông linh học số hoá Việt Nam học – internetofvietnamsouls.com, … sẽ sớm ra mắt trong năm 2019.

Wednesday, 18 January 2017

TÊN GIÁO SƯ QGHC GỐC HÀNH THIỆN NẦY CHO ĐẾN CHẾT VẪN NHẮM MẮT XƠI TÁI PHÂN VIỆT CỘNG./-TCL



Sau khi Nguyễn Phú Trọng TBT Việt cộng hối hả sang Bắc Kinh thì tên mệnh danh là giáo sư dạy môn bang giao quốc tế Nguyễn Mạnh Hùng hắn thót lên các đài bô bô bình luận rằng " Phú Trọng đi Bắc Kinh kỳ này chỉ  mang  tính cách chỉ là bình thường theo lối ngoại giao thôi ". Nhưng khi Trong Lú về nước thì hắn ôm cho 15 cái văn kiện giao ước và 7 cái chỉ thị . Vào hoàn cảnh Việt Nam lúc này bằng văn kiện thì có là bình thường không ha chú chú bưng bô Nguyễn Mạnh Hùng ??? Hèn chi mà có lần nhà khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã phủi đít quần vào lỗ mặt tên  gọi là giáo sư bưng bô Nguyễn Mạnh Hùng , nhưng hắn cứ chứng nào tật hắn không cảm thấy nhục  cho cái kiếp bưng bô của hắn . Chắc hắn thuộc và nhớ kỹ châm của của nhóm chóp bu VC đã dạy hắn rằng " Khi ta ( cán bô ) dến công tác một nơi nào đó mà chó nhà đó nó  biết mặt nó không thèm sủa nữa mà công tác chưa hoàn thành  thì ta ( cán bộ ) vẫn cứ đến . Lần trước cũng mấy cái đài này, hắn lên  xa cái giọng mỉa mai khinh miệt Dona Trump ứng viên TT Mỹ  rằng : "ông ta chỉ là một tay kinh doanh , Với cái óc của một cong người kinh doanh thì chẳng làm được chính trị " ."

__._,_.___

Posted by: Thong Do <thongdo92@yahoo.com>

Friday, 8 November 2013

THỜI BUỔI NẦY KHÔNG AI ĐỂ Ý ĐẾN NHỮNG SUY NGHĨ SÁCH VỞ BÁ LÁP NẦY NỮA CHỈ MẤT THỜI GIỜ VÔ ÍCH - XƯNG GIÁO SƯ ĐỂ VIẾT NHỮNG BÀI TỪ CHƯƠNG MÀ THẬT RA CHỈ LÀ LÝ LUẬN SUÔNG CHẲNG CÓ THIẾT THỰC GÌ CẢ - CHO RẰNG TẤT CẢ SUY LUẬN ĐỀU ĐÚNG ĐI THÌ KẾT LUẬN RỐT CUỘC CHỈ LÀ HƯ KHÔNG - KHÔNG ÁP DỤNG CỤ THỂ GÌ ĐƯỢC ? - ĐỂ DẠY HỌC THÌ OK NHƯNG NẦY NỌ NGÒAI ĐỜI LÀ ẢO TƯỞNG./- Mt68

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Rất khó tin Tập Cận Bình – Việt Nam đã nằm trong quỹ đạo Trung Quốc

Đăng ngày: 08.11.2013 ,

VRNs (08.11.2013) – Virginia – Lời Tác giả: Bài Phỏng vấn dưới đây được chúng tôi thực hiện với Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia về Chính trị và Bang giao Quốc tế viện Đại học George Mason nhằm giải tỏa những thắc mắc tại sao trong thời gian vừa qua Trung Quốc đã tung ra chính sách ngọai giao “Con đường tơ lụa trên biển” và  hô hào hợp tác phát triển “cùng thắng” với các nước lân bang  có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh.
Cũng trong cuộc phỏng vấn sẽ được chiếu trên Đài Truyền hình SBTN tối Thứ Sáu (8/11/2013) trong Chương trình “Những Vấn Đề Việt Nam”, Giáo sư Hùng còn giải thích tại sao Trung Quốc phải “cải tổ sâu rộng” trong thời gian tới và có phải Việt Nam đã  “nằm gọn” trong qũy đạo của Trung Quốc, sau chuyến thăm Hà Nội của Thủ tướng Lý Khắc Cường ?
Sau đây là Tòan văn cuộc Phỏng vấn:
H: Thưa Giáo sư, như ông đã biết trong tháng 10 vừa qua, hai Lãnh tụ hàng đầu của Trung Quốc là Tổng Bí thư và Chủ tịch Nhà nước Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đã thăm một số nước trong vùng Đông Nam Á và đồng thời đề nghị khối ASEAN hợp tác để “phát triển trên biển” và cùng nhau xây dựng “Con đường tơ lụa trên biển” trong thế kỷ 21.
Ông có biết tại sao Trung Quốc lại tỏ ra tha thiết muốn hợp tác chặt chẽ với các nước Đông Nam Á vào thời gian này và đâu là lý do khiến họ đặt trọng tâm vào việc yêu cầu khối ASEAN “hợp tác và phát triển trên Biển Đông” ?
Đ: Đây là chiến dịch “tấn công thiện cảm” đợt 2 (second charm offensive) của Trung Quốc theo chính sách “mềm nắn, rắn buông.” Chiến dịch tấn công thiện cảm đợt 1 được khởi động trong những năm đầu thế kỷ nhắm vào các nước Đông Nam Á, trùng hợp với giai đoạn George W. Bush lên cầm quyền với chính sách ngoại giao đơn phương, áp đặt. Nó được thể hiện qua chính sách viện trợ rộng rãi, các ưu đãi thương mại, và việc ký kết “Hiệp ước thân thiện và thân hữu” với ASEAN song song với việc thay cụm từ “trỗi dậy hòa bình” (peaceful rise) bằng cụm từ “phát triển hòa bình” (peaceful rise) để giải tỏa mối lo ngại về hậu quả của sự lớn mạnh nhanh chóng của Trung Quốc.
Tình hình này thay đổi từ khi Trung Quốc công khai công bố “Đường lưỡi bò” trên Biển Đông (2009) và dùng vũ lực để áp đặt đòi hỏi quá đáng của mình. Chính sách này tạo ra phản ứng bất lợi từ phía Mỹ và các nước Á châu khác khiến họ nghiêng  về  Mỹ  và tìm  cách  củng  cố   quan hệ quốc phòng với Mỹ. Thêm vào đó, việc can thiệp trăng trợn và gây chia rẽ trong nội bộ ASEAN khiến tập thể này không đưa ra được thông cáo chung kết thúc hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Nam Vang năm 2012 khiến các quốc gia đó cảnh giác và đoàn kết hơn  trươc áp lực của Trung Quốc. Tình trạng bất lợi này là nguyên nhân dẫn  đến chiến dịch “tấn  công  thiện  cảm” đợt  2, vớí  khẩu hiệu “con đường tơ lụa” và “hợp  tác  để  phát triển trên biển.”
Nên nhớ chính sách này chỉ được áp  dụng  một  cách  tùy  tiện . Trong khi Trung Quốc ve vãn một  số  các nước Đông Nam Á thì họ lại gia tăng áp lực đối với một số nước mà Trung Quốc cho là  cứng đầu và  không  thể  lôi  ra khỏi  quỹ  đạo  của  Mỹ , như Nhật và Phi Luật Tân. Đây là chính sách “cây gậy và củ cà rốt” vừa ve vãn vừa răn đe các nước Đông Nam Á.
H: Theo các Tài liệu mà tôi đọc được thì các nước trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là các thành viên  “có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông với Trung Quốc ” gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Ma Lai Á, Brunei và Nam Dương tỏ ra “rất dè dặt” với đề nghị mới của Trung Quốc.
Theo Giáo sư thì nguyên nhân “dè dặt” của ASEAN bắt nguồn từ đâu ? Vì chưa biết bụng dạ Trung Quốc ra sao hay ASEAN cần có thời gian để suy nghĩ ?
Đ: Lãnh đạo các nước ASEAN không ngây thơ và dễ tin. Họ dè dặt vì muốn chờ xem hành động cụ thể của Trung Quốc như thế nào. Sư dè dặt này bắt nguồn từ kinh nghiệm của họ với những hành vi lấn lướt của Trung Quốc trong thời gian qua, với đòi hỏi về lãnh thổ và lãnh hải quá đáng của Trung Quốc, cũng như quan tâm của họ về ý đồ thực sự của nước này qua chương trình canh tân quân sự, gia tăng nhanh chóng khả năng tấn công của Trung  Quốc.
Tuy nhiên, sự dè dặt của các nước ấy cũng khác nhau về mức độ. Trong những nước mà ông kể thì Indonesia không có tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc và họ còn muốn đóng vai trò trung tâm trong vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) chứ không phải chỉ trong vùng Á châu-Thái Bình Dương. Tương đối họ không ngại Trung Quốc trừ khi Trung Quốc làm hại đến sự đoàn kết ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN (ASEAN centrality) mà Indonesia là một thành phần chủ lực. Đối với bốn nước còn lại, tranh chấp biển đảo với Trung Quốc của Brunei và Mã Lai Á không  gay gắt bằng tranh chấp biển đảo với Trung Quốc của Việt Nam và Phi Luật Tân cho nên sự dè dặt của hai nước sau này cũng lớn hơn.
 H: Trong Bài diễn văn đọc trước Quốc hội Nam Dương ngày 3/10 vừa rồi, Chủ tịch  Trung Quốc Tập Cận Bình nói rằng : “Trung Quốc và các nước ASEAN như môi với răng, cùng gánh vác trách nhiệm giữ gìn hoà bình và ổn định của khu vực… Chúng ta cần phải từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh, tích cực đề xướng quan niệm mới về an ninh tổng hợp, an ninh chung, an ninh hợp tác, cùng nhau giữ gìn hoà bình và ổn định của khu vực”.
Ông thấy đề nghị này của họ Tập có “nghiêm chỉnh không” ? Ông có thấy là giới lãnh đạo mới của Trung Quốc không còn có ý đồ “bá quyền” như  thời “Diều hâu-Bá đạo” Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình không ?
Đ: Bài diễn văn của ông Tập rất khéo với nhiều hứa hẹn đường mật. Mục đích chính của nó là khuyến cáo cần tránh chiến tranh lạnh, vì chiến tranh lạnh sẽ đưa đến thế đối đầu, liên minh quân sự, tranh vùng ảnh hưởng khiến Trung Quốc có thể lâm vào thế bị Mỹ vây chặn với chính sách be bờ mới (containment).
Còn ý đồ bá quyền là ý đồ tự nhiên của nước lớn mạnh nhất trong vùng, không lãnh tụ Trung Quốc nào tránh được hấp lực của nó.
DIỀU HÂU HAY HÒA BÌNH ?
H: Thưa Giáo sư Hùng, cũng trong Bài Diễn văn ấy, ông Tập Cận Bình cũng nói :”Về một số bất đồng và tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, hai bên cần phải trước sau như một kiên trì giải quyết bằng biện pháp hoà bình, xử lý thoả đáng thông qua đối thoại bình đẳng và hiệp thương hữu nghị, giữ gìn đại cục của quan hệ song phương và ổn định của khu vực.”
Ông có lạc quan khi thấy ông Tập Cận Bình đã khẳng định dùng ”biện pháp hoà bình” , thay vì võ lực  để giải quyết tranh chấp và như vậy phải chăng họ Tập đã kìm chế được phe Diều hâu hiếu chiến ở Trung Quốc vẫn hô hào sử dụng võ lực để đánh chiếm cho thật nhanh các quần đảo còn lại trên Biển Đông, phần lớn thuộc chủ quyền của Việt Nam?
Đ: Đề nghị kể trên của ông Tập không có gì hoàn toàn mới, nó chỉ nhắc lại lập trường và cam kết cũ. Chừng nào mà Trung Quốc chưa chính thức bãi bỏ “Đường lưỡi bò” và tương quan lực lượng giữa Trung Quốc với các quốc gia tranh chấp không đồng đều thì khó có thể có sự “xử lý thỏa đáng” thông qua “đối thoại bình đẳng được.”
Nói rằng Tập Cận Bình đã củng cố được quyền lực của mình thì đúng, còn bảo rằng ông kiểm soát được “phe Diều hâu hiếu chiến” thì không đúng hẳn. Tôi không nghĩ rằng việc “hô hào xử dụng võ lực để đánh chiếm thật nhanh” các đảo còn lại trên Biển Đông phản ánh lập trường của một phe có thế lực trong Bộ Chính Trị của Trung Quốc, nhất là của phe quân đội, như nhiều nhà bình luận suy đoán.  Trong tổ chức chính trị của các đảng cộng sản nói chung và của đảng cộng sản Trung Quốc nói riêng thì “chính trị là thống soái,” quân đội luôn luôn phải ở dưới quyền kiểm soát của lãnh đạo chính trị. Nếu đó là áp lực của quân đội thì tại sao Trung Quốc lại đấu dịu ở Đông Nam Á trong khi làm găng với Nhật ở Bắc Á?
H: Thưa Giáo sư, ông là Chuyên viên về Chính trị và Ngọai giao Quốc tế tại Đại học George Mason, ông đánh giá về “con người Hòa Bình” của Tổng Bí thư đảng CS Trung Quốc Tập Cận Bình như thế nào sau khi nghe họ Tập nói câu này trước Quốc hội Nam Dương ngày 3/10 vừa qua : “Trung Quốc sẽ kiên định bất di bất dịch đi con đường phát triển hoà bình, kiên định bất di bất dịch thi hành chính sách ngoại giao hoà bình độc lập và tự chủ, kiên định bất di bất dịch thi hành chiến lược mở cửa cùng có lợi cùng thắng. Sự phát triển của Trung Quốc là sự lớn mạnh của lực lượng hoà bình thế giới, là sự tăng cường cho năng lượng dương hữu nghị, mang lại cơ hội phát triển chứ không phải là đe dọa cho châu Á và thế giới.” ?
Đ: Ở Hoa Kỳ, nếu Tổng Thống Franklin Roosevelt có thể bỏ chủ thuyết Monroe coi Mỹ là thống soái ở Mỹ châu La tinh để thay thế nó bẳng chính sách “láng giềng thân thiện” (good neighborliness) thì người ta cũng có thể hy vọng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thật tâm muốn thay đổi chính sách ngoại giao của Trung Quốc như lời ông nói.
Tuy nhiên, ta cũng nên nhớ rằng các hành động lấn lướt, khiêu khích gần đây của Trung Quốc, như cát giây cáp của tàu Việt Nam và khuynh đảo sự đoàn kết của ASEAN trong hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2012 ở Nam Vang, đều đã xảy ra trong nhiệm kỳ của ông Tập.
Nói đến lời hứa, tôi xin nhắc đến tuyên bố chắc nịch của Ayatollah Ali Khameini. Nhà lãnh đạo tôn giáo tối cao của Iran từng xác quyết rằng Iran sẽ không bao giờ chế tạo bom nguyên tử vì hành động này không những “vô ích, nguy hiểm” mà còn là một “cái tội,” không phù hợp với kinh Quran (kinh thánh của Hồi giáo). Cho đến giờ phút này, tôi tin lời của ông Khameini hơn lời hứa của ông Tập.
TRUNG QUỐC CẢI TỔ VÀ VIỆT NAM
H: Thưa Giáo sư, Hội nghị Trung ương 3 Khoá 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra từ ngày 09 đến 12 tháng 11 này, theo  đó một kế họach được gọi là “cải tổ  tòan diện  và sâu  rộng” nhất từ Cuộc cải cách 33 năm trước dưới thời Đặng Tiểu Bình sẽ được đem ra thảo luận.
Ông đánh giá như thề nào về quyết định cải tổ lần này và tại sao Trung Quốc lại cần phải có một cuộc “cải tổ sâu rộng” như vậy ?
Đ: Trước hội nghị trung ương 3 năm nay của đảng Cộng Sản Trung Quốc, có nhiều tin đồn về “cải tổ toàn diện và sâu rộng” xuất phát từ ngay những người thân cận với ông Tập Cận Bình; họ cho rằng những cải tổ trung ương 3 khóa 18 lần này nếu không quan trọng hơn thì cũng không kém những cải tổ do Đặng Tiểu Bình đề xuất tại trung ương 3 khóa 11.
Lý do cần có những cải tổ quan trọng vì mức độ phát triển kinh tế của Trung Quốc bị khựng lại trước tình hình kinh tế toàn cầu không có gì là khả quan. Cải tổ của Đặng Tiểu Bình đã đi hết chu kỳ của nó. Mô thức phát triển cũ dựa vào xuất khẩu dùng nhân công rẻ để sản xuất hàng rập khuôn hàng nước ngoài không hữu hiệu nữa khi giá nhân công Trung Quốc gia tăng và khả năng tiêu thụ hàng Trung Quốc ở bên ngoài giảm. Nhiều kinh tế gia cho rằng mô thức phát triển mới của Trung Quốc phải dựa vào tiêu thụ nội địa và vào khả năng sáng tạo và phát minh, nhưng khó có thể khuyến khích sáng tạo trong một môi trường chính trị kiểm soát, thông tin bưng bít. Nhu cầu cải tổ chính trị một cách sâu rộng thì có, làm thế nào để cải tổ mà vẫn giữ được ổn định chính trị là một thử thách lớn cho trung ương 3.
Ngay trong trung tâm quyền lực của Trung Quốc cũng có những đề nghị cải tổ mạnh bạo. Thông Đốc Ngân Hàng Trung Ương Chu Tiểu Xuyên hô hào cải tổ lãnh vực tài chính. Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển thuộc Quốc Vụ Viện (Hội đồng Nội các) đề nghị giảm đặc quyền kinh tế của các xí nghiệp quốc doanh, cho nông dân quyền mua bán ruộng đất, và cho chính quyền địa phương rộng quyền hơn trong việc thu thuế và xử dụng thuế. Những cải tổ này không những chỉ đụng chạm đến tín điều căn bản của Xã hội Chủ nghĩa mà còn đụng chạm đến đặc quyền đặc lợi của nhiều người trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Đó là những quyết định nhức nhối mà trung ương 8 của đảng Cộng sản Trung quốc phải cứu xét và chọn lựa.
H: Sau cùng, xin Giáo sư  bình luận về Thỏa hiệp mới về “hợp tác trên biển” giữa Việt nam và Trung Quốc vừa công bố trong Tuyên bố chung tại Hà Nội ngày 15/10/2013, tiếp theo sau chuyến thăm 2 ngày của Thủ tướng Lý Khắc Cường. Tôi muốn hỏi ông rằng, có phải thỏa hiệp Hà Nội đã đáp lại mong muốn của Bắc Kinh như những gì hai ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường đã nói trong các chuyến du hành Đông Nam Á của họ trong 2 tuần lễ đầu tháng 10 vừa qua ?
Đ: Lần trước ông (Chủ tịch Nhà nước) Trương Tấn Sang đi Trung Quốc (19/06/2013) để ký kết “Chương trình hành động giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc về việc triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.” Lần này ông Cường thăm Việt Nam, ký tuyên bố chung làm “sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện” giữa hai nước. Về ngôn từ thì vẫn “16 chữ vàng, 4 tốt, hợp tác cùng phát triển, để ý đến đại cục, xử lý thỏa đáng các vấn đề tồn tại, dễ trước khó sau…” Về bản chất thì những cam kết này chỉ nhằm xây dựng quan hệ chằng chịt giữa hai nước và hai đảng về mọi phương diện, mọi  cấp bậc, qua cả những dự án xây cất đường xá và phương tiện giao thông nối liền hai nước và chương trình nối kết thế hệ thanh niên hai nưóc, khiến Việt Nam khó thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc không những bây giờ mà còn trong tương lai
Riêng vấn đề “hợp tác cùng phát triển trên biển,” tuyên bố chung chỉ đưa ra những nguyên tắc đàm phán. Cụ thể là cam kết “kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động phức tạp, mở rộng tranh chấp” và tìm kiếm các “biện pháp có hậu quả để kiểm soát tranh chấp.” Đó chỉ là những lời hứa. Mà lời hứa thì không mất tiền mua. -/-

Phạm Trần
(06/11/2013)