Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label NguyenNgocCuongDS14. Show all posts
Showing posts with label NguyenNgocCuongDS14. Show all posts

Wednesday, 23 March 2016

PHÂN ƯU MỘT GÓC VƯỜN QGHC./-TCL/Mv.

Tưởng Nhớ Anh Hoàng Phương
 
Nguyễn Ngọc Cường
 
Anh Hoàng Phương ở cùng lầu 2 với tôi tại ký túc xá của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh vào những năm theo học Ban Đốc Sự khóa 14.

Anh là người tuy to, cao, “dềnh dàng” nhưng lại hiền lành, xuề xòa, dễ tính, tốt bụng, hay giúp đỡ bạn bè trong khả năng của bản thân.  Cứ đến buổi cơm trưa hay chiều tối anh đều cầm ca khua loong coong đi khắp tầng lầu để nhắc nhở mọi người xuống câu lạc bộ dùng bữa.  Sau khi tốt nghiệp anh và tôi cùng trấn nhậm 2 quận sát cạnh nhau  nằm ép mình bên dòng Lại Giang thuộc miền bắc tỉnh Bình Định. Anh ở Hoài Nhơn với thị trấn Bồng Sơn sầm uất, nên thơ, trữ tình, còn tôi ở Hoài Ân, quận miền núi, nằm trơ vơ quạnh quẽ trên dẫy đồi trọc không xa chỗ đóng quân của sư đoàn 3 Sao Vàng VC.  Những lúc rảnh rỗi hoặc để tạm quên hiểm nguy của quận, tôi cùng vài nghĩa quân hộ tống, đi bộ khoảng gần nủa tiếng tới quận đường của anh tán dzóc.  Lần nào anh cũng đãi tôi vài ly đế.  Tôi biết uống rượu từ khi đi làm phó Quận Hoài Ân nhờ những ông Xã, Ấp trưởng và cũng nhờ người bạn cùng khóa Hoàng Phương.  Sau này những khi “khề khà” tôi đều nhớ đến anh.

Hai năm sau anh chuyển về tỉnh Định Tường còn tôi đi tỉnh Ninh Thuận.  Thế là xa nhau, mất hẳn liên lạc với nhau cho đến ngày mất nước.  Tôi tự tra chân vào tù, sau đó vượt biển và định cư tại New York city từ năm 1984 tới ngày nay.

Đến đầu năm 2004, lớp ĐS 14 hẹn gặp nhau ở miền nắng ấm Nam California tại nhà anh Bùi Đắc Danh. Bạn bè gọi nhau ơi ới để nhắc nhau đi trong đó có anh Hoàng Phương.  Mừng hơn “mở hội”, tôi hấp tấp “dự hội” 14 mong gặp lại những bạn cùng lớp và nhất là gặp anh, một người đầy ắp kỷ niệm với tôi.

Anh vẫn như thuở còn đi học, hầu như không khác gì.  Bạn bè gặp nhau nói những chuyện chẳng đâu vào đâu, gần như tranh nhau để nói.  Riêng anh vẫn chỉ cười cười, ít nói, đặc biệt hôm đó anh mang theo chai rượu mạnh (chứ không còn là rượu đế như xưa) và mời mọi người cụng ly.  Tôi ngồi cạnh anh, được anh tiếp rượu nhiều nhất .  Anh bảo nhỏ tôi uống đi để nhớ lại ngày ở bắc Bình Định, không biết “leo lên bàn thờ” lúc nào.  Tôi ngất ngư theo anh rồi từ từ chẳng còn biết gì.  Ngày hôm sau, ngồi uống cà phê với nhau tại một nhà hàng tôi mới biết là tôi đã gục, bạn bè chở về nơi cư ngụ, còn anh vẫn tiếp tục uống như uống nước lã.  Tửu lượng anh mạnh quá, hơn tôi xa, mà hình như anh hơn tôi về đủ mọi chuyện.

Sau đó hàng tháng tôi vẫn liên lạc bằng điện thoại cho đến cách đây khoảng 3 tháng không ai trả lời, tôi nghĩ anh đã di chuyển đâu đó, Cho đến sáng hôm nay đọc email mới biết. Bàng hoàng, đau xót, một bạn thân đi xa.

Vẫn biết Sinh Ký Tử Quy, có đến thì phải có đi, nhưng sao vẫn thẫn thờ như vừa đánh mất một báu vật.

Anh Hoàng Phương ơi, xin Tạm Biệt anh.  Một ngày không xa tôi sẽ gặp lại anh tại Cõi Hằng, mình lại bên nhau và cụng ly như ngày nào.
Yên nghỉ anh Phương nhé.
 
New York city
22 Tháng 3 Năm 2016
Nguyễn Ngọc Cường

Saturday, 29 March 2014

"TÔI XA HÀ NỘI NĂM LÊN 16 ..."- CHỨ KHÔNG PHẢI "HÀ NỘI CÁI GÌ CŨNG RẺ...."./-Mt68

HÀ  NỘI,  MỘT  HOÀI  NIỆM

An  Bình

Sau khi dùng bữa tối ,  An ngồi lặng lẽ một mình nơi phòng khách tĩnh lặng và nhìn ra khung cửa kính phía ngoài.  Ánh đèn từng chiếc xe chiếu sáng con đường hiu quạnh rồi tắt ngúm trả lại sự êm đềm, lặng lẽ thường lệ cho khu phố chung quanh đã bao lâu như vậy.  Quá khứ ngập tràn tâm tư v Hà Nội, thành phố cổ kính, trang nghiêm, mang đầy tính thơ với liễu rũ bên hồ Gươm, tô điểm bằng Tháp Rùa, Cầu Thê Húc cong vút dẫn vào đền Ngọc Sơn luôn phủ trầm hương nghi ngút, thơm ngát, thành phố đã cưu mang An từ tấm bé, nơi chàng đã ngọng nghịu cùng run rẩy tay khi tập đọc, tập viết chữ Phú Lang Sa và chữ Việt đầu đời lại hiện về.
An không thể nào quên được nơi chốn đã cư ngụ tại phố Nguyễn Thượng Hiền, gần Hồ Ha Le (giờ gọi là Hồ Thuyền Quang)  Nhưng chàng lại thường xuyên ra Hồ Hoàn Kiếm vì hồ này nên thơ hơn hồ Ha Le nhiều tuy phải đi bộ xa hơn
An dạo chung quanh hồ cùng với hai chị em láng giềng với An.  Lúc mỏi chân thì ngồi bệt xuống ven hồ và thi nhau xem ai ném những viên sỏi nhỏ rơi xuống hồ xa nhất hoặc thẩy ngang nhẩy trên mặt nước nhiều lần nhất để rồi thấy vật đó từ từ chìm nghỉm dưới mặt nước sâu phiá dưới.

Cô chị tên Trinh, cô em tên Mi, hai tên tiền định lạ và buồn như cuộc đời.  An tỏ vẻ thân với cô chị nên cô em hiểu ý An và từ từ lảng tránh những cuộc dạo chung ấy.  Trinh tỏ ý vui vì không còn cô em gái cứ quấn quýt sánh bước chung bên cạnh An nữa.  Tuy chỉ có hai người, nhưng vì e lệ, dụt dè thường tình trời ban cho phái nữ nên thường thì Trinh cúi đầu e lệ đi trước, còn An lẽo đẽo, ngẩn ngơ theo sau người bạn bé nhỏ, đôi khi lạng choạng muốn ngã vì vấp phải mô đất.  Hai người cứ lặng lẽ nối bước nhau như vậy thường thì cuộc dạo chung này chỉ chấm dứt khi người nhà đi tìm vì đã quá giờ dùng bữa cơm chiều khi thì Mi tìm, lúc là mẹ An vì chàng là con một chẳng có anh, chị hay em gái gì cả nên người Mẹ thường đi tìm con đứa con trai duy nhất về nhà, sợ bị ai đó bắt cóc đi mất, bỏ bà ở lại bơ vơ trên cõi trần gian.  Tuy vậy hình như cha mẹ của Trinh lẫn An đều hiểu tình cảm hai đứa trẻ dành cho nhau và chấp thuận mối tình nở sớm nếu tính số tuổi của cả hai người và mong mỏi hai đứa nên duyên vợ chồng với nhau khi khôn lớn.

Chưa kịp thề nguyền cùng đính ước gì với nhau vì có lẽ đều nghĩ rằng đã là của riêng nhau rồi thì hai người đành xa nhau vì nguyên do thời cuộc xa vời vợi xẩy đến mà cả hai, cũng như người dân của đôi miền đất nước Việt Nam đều không hiểu nguyên do vì đâu lại xẩy đến: Hiệp Định Genève chia đôi đất nước với ranh giới là Vĩ Tuyến 17.
Thế là xẩy nghé tan đàn, thế là vĩnh viễn chia lìa, đôi khi một gia đình chia hai, chẻ ba, xé nhỏ, kẻ ở lại phương Bắc, người xuôi Nam.  Bố Mẹ An lôi tuột chàng di cư vào Nam trên chiếc máy bay DC 3 của Pháp, gia đình Trinh Mi chọn ở lại Miền Thăng Long Ngàn Năm Văn Vật vì còn nhiều bất động sản chưa kịp bán hết để rồi cha mẹ Trinh Mi chết thảm sau cuộc đổi đời đó không lâu vì cuộc đấu tố với tội địa chủ do Cộng Sản Việt Nam cố tình dựng lên để gây chia rẽ.
An và Trinh gạt lệ trước khi nghìn trùng xa cách cùng hẹn hò sẽ gặp lại nhau vào một ngày không xa và không ngờ điều đó là sự thật, dù là sự thật não nề, bi đát sau này: giữa người thắng và kẻ thua, giữa cai tù và tên tôi đồ của chính quyền mới vì đã phạm phải một tội đáng chết bằng bị tùng xẻo, chết từ từ vị bị gọt da, xẻ thịt, cắt từng ngón tay, lóc gân chân: tội đi theo “ngụy quân, ngụy quyền” để “bán nước, hại dân”.
Trinh chọn vào ngành công an của Cộng Sản vì muốn mọi người quên đi gốc gác địa chủ của cô và quan trọng nhất là nhà cầm quyền lúc bấy giờ muốn vậy để tô son, điểm phấn cho chế độ còn cô em Mi trôi giạt phương trời nào thì không ai rõ.  Cao Xanh đã nghiệt ngã để Trinh gặp lại An khi nắm quyền sinh sát một đội tù gồm khoảng 40 người lẫn lộn quân nhân, công chức, cảnh sát các cấp của Chế Độ Miền Nam chậm chân nên còn kẹt lại Việt Nam sau biến cố Tháng 4 Đen Năm 1975, trong đó có An.
Đôi trai gái tình tự năm nào đã gặp lại nhau như vậy.  An dù đã lớn tuổi hơn xưa nhiều, nhưng nét mặt không khác mấy nên có lẽ Trinh đã nhận ra và nàng xuống tay trả thù như để rửa nhục cho chế độ.
An quằn quại đau đớn, khổ sở, chết dở, sống dở dướt sự hành hạ dã man, tàn bạo của cai tù cái Việt Cộng tên Trinh : bị cùm hai chân chéo vào nhau, hai tay còng sau lưng vì An toan tính vượt ngục bằng cách khoét vách tường đắp bằng đất của trại giam vào ban đêm.  Đằng nào thì cũng chết, chết trong hy vọng sống còn nếu cuộc vượt ngục thành công cho dù xác xuất nhỏ nhoi thì vẫn hơn và chàng đã bị bắt lại trong khuôn viên trại tù khi vừa chui ra khỏi lán tù.
Mỗi ngày được hưởng một xuất cơm thiu đựng trong cái gáo dừa xứt mẻ thêm chút muối hột rắc vào cùng một gáo dừa khác đựng nước uống. Với chân tay bị cùm cùng còng chéo sau lưng như vậy, vì bản năng sống còn, An chỉ còn biết cố trườn, lết đến chỗ gáo dừa đựng cơm, nước mà gục mặt vào liếm láp y hệt một con chó ghẻ lở, đói khát.

Quần áo một bộ tù xanh nhạt duy nhất với dấu chữ “Cải Tạo” đóng bằng hắc ín đen ngòm phía sau lưng, bám trên người An đã lâu, rách bươm, mục nát.  Bị cùm trong thùng connex do quân đội Mỹ để lại và chẳng có thứ gì lót cái lưng trơ xương nên chàng lại càng cảm thấy buốt lạnh tận xương tủy về đêm và nóng hừng hực như đổ lửa làm tan da, nát thịt vào ban ngày.  Với điều kiện sống như vậy, vào lúc đó, An không thể nghĩ rằng chàng có thể tồn tại đến ngày hôm sau.

Nhiệm mầu thay Quyền Năng cao cả của Thượng Đế, An sống sót sau những đòn thù giáng xuống thân thể còm cõi của chàng và thất thểu về lại dương thế như bộ xương khô biết đi mà trở về nhà với vợ dại, con thơ ở Sài Gòn khi chúng thả chàng ra sau sáu năm bị đầy ải.  Tiếp theo những vất vả gian nan thăm nuôi chồng trong trại tù Cộng Sản, vợ An lại tần tảo chăm sóc chồng chóng bình phục khi đi tù về và rồi lại lo cho An vượt biển.  Sau nhiều chuyến đi thật bị lộ phải bỏ nửa chừng cũng như bị lừa, An đã đến được bến bờ tự do, bến mà mọi người đều cho là ảo mộng vì xa xôi quá, là viễn vông, là mộng tưởng, là hoang đường : hải đảo Pulau Bidong của Malyasia rồi cuối cùng đặt chân lên nơi định cư An đã sinh sống từ ngày đó cho đến tận bây giờ: thành phố New York nơi Tượng Nữ Thần Tự Do ngự trị với cây đuốc tỏa sáng trên tay như để hướng dẫn mọi người đến được vùng trời tự do.

Cai tù VC tên Trinh hoàn toàn biến mất khỏi cuộc đời An cũng như ý nghĩ của chàng kể từ khi Cộng Sản chuyển trại nhốt An xoành xoạch cho đến tận ngày hôm nay .

Dù sao thì An cũng mong mỏi Trinh luôn được an bình trong cuộc sống dù biết rằng cô bạn nhỏ bé ngày trước khó mà tồn tại trong mọi cuộc thanh trừng nội bộ của Cộng Sản vì bản tính Cộng Sản là đa nghi và chúng đã tồn tại vì đã áp dụng triệt để cùng cứng ngắc nguyên tắc căn bản này.

An hy vọng sẽ gặp lại cô bạn thanh thanh, dễ mến ngày xưa này để cùng nhau nhắc nhở lại những ngày đánh đáo, nhẩy dây với nhau và cùng nhau thưởng thức món bánh tôm thơm lừng trên đường Cổ Ngư tình tứ nằm uốn mình giữa hai hồ nổi tiếng trong số hàng nghìn hồ của Hà Nội : Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch.

Đâu đây tiếng hát nữ mềm mại vang lên thật tha thiết, ngọt ngào và trữ tình:

“….Hà Nội ơi những ngày vui đã qua đi , Biết người còn nhớ nhung chi, hết rồi giây phút phân ly

Hà Nội ơi dáng huyền ngây ngất đê mê
Tóc thề thả gió lê thê, biết đâu ngày ấy anh về….”

Phải, xâu thẳm trong tâm thức, An vẫn mong muốn có ngày trở về lại Miền Đất thanh lịch ngày xưa: Thăng Long Thành cổ kính trong thơ mộng, hiền hoà nhưng trang nghiêm nhưng rồi lý trí An ngăn cản, không muốn chàng trở về Quê Cũ khi quân thù vẫn còn ngự trị, làm mất đi hình ảnh thân yêu một thời.

“…Quê Hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai…”


 New York City, Tháng 4 Đen Năm 2014

An Bình Nguyễn Ngọc Cường  ĐS 14
 tức Người Bên Lề Nữu Ước

MỘT GÓC NHỎ QGHC- BẠN TA QUÊN CHUYỆN NGƯỜI ĐẸP HỌ ĐỒNG XỨ GÒ CAO RỒI... CHĂNG ?!./- Mt68

Nhớ  Gò  Công

Nguyễn Ngọc Cường
       
Gò Công, một địa danh, không xa Thủ Đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hoà là mấy, không phải nguyên quán, sinh quán hay trú quán của người viết bài này nhưng lại là nơi có nhiều kỷ niệm dù rằng thời gian cư ngụ tại miền đất đó không lâu.


Hôm nay, vào một ngày tuy nắng vàng nhẩy múa tung tăng rực rỡ nhưng nhiệt độ vẫn xuống thấp, thật lạnh, cái lạnh như cắt da, xẻ thịt, trên bầu trời thành phố New York, tôi nhận được Đặc San Gò Công Xuân Giáp Ngọ 2014 do Hội Ái Hữu Gò Công Miền Nam California gửi tặng.

Lòng tôi ấm lại.  Nắng có vẻ rộn ràng hơn, người cảm thấy tỉnh táo hơn và vui hơn tuy mọi cảnh vật chung quanh tôi vẫn không có gì thay đổi và thời tiết cuối mùa đông của Miền Đông Bắc Hoa Kỳ vẫn còn lạnh như thường lệ tuy năm nay có phần khắc nghiệt hơn những năm trước : tôi đang cầm trên tay quyển Đặc San Xuân Giáp Ngọ Gò Công năm 2014.  Tôi có thêm người bạn mới bên cạnh, thì thầm kể lại những gì xẩy ra ngày xưa tại Miền Địa Linh Nhân Kiệt và quan trọng nhất, nhắc nhở việc Thần Linh đất này đã bảo vệ tôi tai qua nạn khỏi trong những ngày đi tập sự tại Tỉnh Gò Công, nằm trong chương trình đào tạo viên chức điều hành nền hành chánh địa phương của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VNCH, không bị gục ngã do đạn thù Cộng Sản Việt Nam định tiêu diệt Quân Dân Cán Chính  vào trận Mậu Thân 1968, giáp ranh giới tỉnh Long An.

Ngày ấy, một ngày không bình thường khi tự nhiên ngưng hẳn những tiếng súng nổ phát một do du lích Cộng Sản tại địa phương bắn quấy phá đồn bót, bắn vào toán quân tuần tiểu VNCH, ì oằng nổ những trái hỏa tiễn B40, 41, đại bác 61 ly, 175 ly, người Phó Quận Trưởng Quận Hòa Bình, Gò Công, nơi tôi tập sự, bỏ nhỏ vào tai tôi khi tiễn tôi về lại Sài gòn và khuyên tôi nên cẩn thận hơn trên đường đi, tuy không xa xôi gì.  Tôi chỉ âm ừ cho qua chuyện, vì chẳng hiểu phải làm gì để gọi là cẩn thận hơn hay không cẩn thận gì cả, vả lại lòng tôi đang reo vui vì trở về lại Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông với đèn sáng lung linh, mờ ảo về đêm, phố xá tấp nập người qua lại, không hề nghe, thấy hay ngửi được mùi chiến chinh xâm lăng của quân thù Cộng Sản đang ngập tràn quê hương Việt Nam yêu dấu. 

Đó là ngày chót hạn tập sự tại điạ phương, các sinh viên Ban Đốc Sự khóa 14 về lại trường để bước vào năm thứ hai tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, thu thập thêm kiến thức sách vở do các ân sư nổi tiếng thời bấy giờ  truyền đạt, cùng trình bầy những điều mình đã trải qua tại các tỉnh khác nhau với nhiều đặc tính triêng biệt về địa lý, nếp sống, phong tục, giọng nói …. từ Bến Hải vào mũi Cà Mâu và cùng các bạn trong lớp thảo luận về phương cách giải quyết vấn đề sao cho hợp tình, thuận lý cũng như không trái với luật lệ cùng đạo đức của người dân hiền hoà nước Việt yêu dấu.

Tôi đi (về) tập sự tại tỉnh Gò Công chỉ là một chuyện ngẫu nhiên.  Các tỉnh gần Sài Gòn mà tôi định chọn là Gia Định, Long An, Định Tường, nhưng các bạn đứng đầu sau kỳ thi cuối năm thứ nhất đã chọn, tôi chỉ còn Gò Công là nơi gần Thủ Đô VNCH nhất so với các tỉnh khác còn lại mà thôi . Tôi không hề biết rằng Gò Công là nơi sinh trưởng của những nhân vật lẫy lừng trong sử sách Việt Nam từ trước như Đức Từ Dũ Hoàng Thái Hậu, Nam Phương Hoàng Hậu và gần nhất là Giáo Sư Nguyễn Văn Bông, Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Khi về trình diện Tòa Hành Chánh tỉnh Gò Công để nhận nhiệm sở tập sự với ba người bạn cùng lớp, người Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh, lúc bấy giờ là một Đốc Phủ Sứ già thời Pháp thuộc còn lưu lại, đã chỉ định tôi về quận Hòa Bình và ba người kia về ba quận còn lại.

Hoà Bình, với quận đường ở xã Bình Luông Đông, tôi đã ngủ ngay tại trụ sở quận này khi về đêm về, sau khi học việc ban ngày, với tiếng ếch nhái kêu ùm oằng như tiếng kẽo kẹt của chiếc võng đong đưa mẹ ru con ngủ, buồn khôn tả.  Đôi khi có những đêm không ngủ vì tránh đạn pháo kích của Cộng Sản, theo bản năng sinh tồn Tạo Hoá ban cho loài người, đạn tránh người chứ còn người làm sao tránh được đạn lạc tên bay.  Mệt nhoài  nhưng tôi đã trưởng thành, về tinh thần, theo thời gian ở quận Hòa Bình.  May mắn thay sáu tháng sau tôi chưa biến mất mà vẫn còn tồn tại trên cõi trần gian này để trở về tỉnh lỵ Gò Công theo như chương trình huấn luyện và cư ngụ tại một phòng nhỏ sau Niệm Phật Đường (tôi đã quên hẳn tên), được dùng như một công quán, trong phạm vi tỉnh lỵ Gò Công với hương trầm tỏa ngát hương thơm nồng quanh năm suốt tháng cùng tiếng tụng kinh, gõ mõ của các tín đồ mộ đạo (lúc đó tôi nhớ hình như đã thuộc lòng câu kinh, tiếng kệ vì quen nghe hàng ngày)  

Khoảng trống nhỏ với 4 ghế bố xếp cá nhân kiểu quân đội dành cho ba sinh viên QGHC (vì một sinh viên cư ngụ tại nhà trưởng ty công chánh sở tại, người thân thuộc) và một cho Trưởng Ty Xã Hội Gò Công, mới được bổ nhiệm từ Sài gòn về chưa được bao lâu) cũng ngủ qua đêm tại đây.
Vào một buổi tối ngày đẹp trời Tết Mậu Thân năm 1968, Cộng quân đã vi phạm thỏa thuận tạm đình chiến 3 ngày Tết cổ truyền dân tộc do chính chúng đề nghị, để tấn công bất ngờ toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.  Khi nghe tiếng nố khắp nơi vang rền, cả bốn người chúng tôi lôi thôi, lếch thếch, tay kéo quần, tay dụi mắt rời chỗ ngủ để rồi chỉ vài phút đồng hồ sau đó bàng hoàng nhìn toàn thể Niệm Phật Đường biến thành biển lửa cháy rát mặt do đạn pháo kích quân thù rót vào tỉnh lỵ, nhằm tiêu diệt cả thường dân vô tội cũng như tạo sự bất ổn cả một hậu phương rộng lớn. 

Vì chỉ là sinh viên tập sự chưa có nhiệm vụ gì chính thức, rõ ràng, cả ba sinh viên chúng tôi (còn bạn kia tôi không rõ) theo bản năng sinh tồn mà Thượng Đế đã ban cho mọi người, cùng dân chúng lũ lượt rời tỉnh lỵ Gò Công bằng mọi phương tiện có sẵn của mỗi người: xe hai bánh, xe đạp, xe lam, xe thồ và nhiều nhất là gồng gánh chạy bộ theo mọi lộ trình túa ra khỏi Gò Công mặc dù không biết đi đâu.  Chúng tôi vô tình đã theo con lộ về Sài Gòn qua ngã Cần Đước tỉnh Long An thay vì dùng con lộ dẫn về Mỹ Tho qua quận Hoà Đồng và Bắc Chợ Gạo, tương đối an toàn tuy xa hơn đường qua Cần Đước. 

Chen lấn, chà đạp lên nhau để chỉ mong có một chỗ trên chiếc phà không được lớn cho lắm thoát khỏi Gò Công mịt mờ khói lửa thuộc bến phà Mỹ Lợi thuộc quận Cần Đước, tỉnh Long An để tìm đường về Sài Gòn.  Phà rời bến để sang bên kia bờ sông rộng khoảng vài trăm thước chưa được bao lâu thì một tiếng nổ xé trời phủ chụp lên ngay giữa chiếc phà, cắt rời phà ra làm hai mảnh, tung lên cao và hai đầu, đuôi phà bật lên, xuống vài lần để rồi chìm sâu đưới mặt nước lạnh.  Thây người bị tan vụn bay tơi tả vào hư không, xác người bị chất nổ xé nát tản mác bốn phía, một số người bị hất tung lóp ngóp xuống dưới mặt nước, trong số đó có tôi, một trong những người chạy loạn.

Hình như tôi lùng bùng chìm dưới dòng nước lạnh của phụ lưu sông Cửu Long trôi ra biển Đông không bao lâu thì có một đôi bàn tay lôi tuột tôi ra khỏi dòng nước oan nghiệt của thủy lộ dẫn ngược lên Thủ Đô Phnom Penh của Xứ Chùa Tháp.  May mắn tôi đã không bị chết đuối vì bản than tôi không hề biết bơi, (song thân tôi đã cấm tôi tuyệt đối việc mon men đến gần mặt nước của ao, hồ, sông rạch sợ tôi chết đuối chỉ vì tôi là con một thuần túy, không có anh, chị em trai gái gì cả, độc nhất một mống)

Sau những gian nan, vất vả, tôi về lại Sài Gòn an toàn và hoàn tất chương trình huấn luyện của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh như đã dự định.

Như vậy tôi đã cư ngụ trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Gò Công đúng một năm, thời gian quá ngắn của một đời người bình thường nhưng đối với tôi hình như đủ dài để không thể nào quên vài kỷ niệm đã ghi sâu trong lòng: thoát chết trong đau thương vì đạn thù Cộng quân, mà sau này tôi đã thêm nhiều lần thoát hiểm do sự che chở nhiệm mầu của Đấng Tối Cao đầy Quyền Năng khỏi những sự hãm hại khi làm việc tại nhiều nơi khác nhau thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà sau khi tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh.

Tôi không hề biết một bản nhạc nào nói về tỉnh Gò Công nên tôi mượn tạm bài hát nói về Hà Nội (tức Thăng Lòng Thành) nơi tôi khôn lớn, của Hoàng Dương, để nói lên lòng tôi đối với Gò Công :

“…Hà Nội ơi dáng huyền ngây ngất đê mê
Tóc thề thả gió lê thê, biết đâu ngày ấy anh về….”  

Ừ, biết đâu một ngày nào đó tôi sẽ về lại Gò Công, sống lại với kỷ niệm xưa cũ : tập tành, học việc của những người cùng nghề đã đi trước để phục vụ chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa.


New York City,
Tháng 4 Đen 2014


Nguyễn Ngọc Cường  ĐS 14

Tuesday, 23 July 2013

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ QGHC 14

NGƯỜI NẦY THẬT RA KHÔNG PHẢI LÀ "NGƯỜI BÊN LỀ NỮU ƯỚC" - ANH Ở RIDGEWOOD NGAY TRUNG TÂM NEW YORK - NHƯNG QUAN TRỌNG HƠN LÀ LÚC NÀO ANH CŨNG Ở TRONG LÒNG QUÝ MẾN CỦA BẰNG HỮU QGHC KHẮP NƠI./- Mt68



LẠC VÀO KHUNG TRỜI CŨ,

 tự truyện



Đây là những dòng tâm tình, nhờ một cơ duyên nào đó tự biết mình sắp “đi xa, đi thật xa, xa lắm”.  Do vậy, nếu vô tình lọt vào mắt của một vị nào đó, nhận thấy bản thân người này được nêu lên trong tự truyện, thì cũng xin vị đó không oán trách hay la mắng gì đối với lời trần tình hay nói bình dân hơn là sự trăn trối của kẻ sắp lìa cõi trần gian này.  Xin chân thành cám ơn.

Hình như ít lâu nay tôi có cái cảm giác mình sắp sửa đi xa, thật xa.  Tôi thấy lòng mình thật bình yên, thanh thản trước ý nghĩ đó nếu thực sự xẩy đến cho bản thân tôi.  Hạnh phúc chăng, có thể, vì thú thực với chính lòng mình, cho đến giây phút này, tôi vẫn chưa tìm ra ý nghĩa đích thực của hai chữ HẠNH PHÚC.  Nếu cho đó là sự êm ả, sự thoải mái đầy ắp những gì mình ước mong, đợi chờ của một đời người bình thường, thì thực sư tôi đã sống trong hạnh phúc, nhất là luôn có bên cạnh tôi người BẠN ĐỜI chung thủy, vẫn thường xuyên đi với tôi dù trong những giây phút oan nghiệt, đớn đau cùng cực của cuộc sống trên trần gian này.

Dưới mắt gần như rất nhiều người mà tôi đã gặp, nói với nhau vài câu vô thưởng, vô phạt hoặc chỉ thoáng thấy nhau, gật đầu chào rồi bắt tay nhau theo đúng cung cách của một người có giáo dục gia đình (chứ không phải có bằng cấp này, nọ… ) thì tôi chỉ là một thứ “Công Tử Bột” chỉ biết ăn chơi, hưởng thụ mà chẳng biết cái gì cả.  Tôi chỉ khẽ “nhếch mép”, không tán thưởng mà cũng chẳng cần phản đối vì tôi tự nghĩ nhận xét đó chẳng ích lợi hoặc ảnh hưởng gì đến bản thân tôi, không làm tôi mập hoặc ốm đi, cũng không làm cái túi áo quần tôi đầy hay vơi hơn  trước.

Thực ra, Tạo Hóa đã cho tôi phải trải qua những gì có thể gọi là nghiệt ngã nhất, khó có người nào hoặc nếu có thì cũng rất ít người trên cõi đời này đã đi qua.  Qua những lời mô tả trong tác phẩm đã làm nhà văn người Nga, Solzhenitsyn, nổi tiềng và đoạt giải Nobel Văn Chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển năm 1970 thì những gì ông phải trải qua, đã nếm mùi Ngục Tù Cộng Sản trong “Quần Đảo Ngục Tù ” (The Golag Archipelago) hay “Tầng Đầu Địa Ngục” (One Day In The Life Of Denisovich) thì thật ra chẳng thấm vào đâu cả, đúng như tên gọi là tầng đầu địa ngục, nếu có chăng chỉ là tầng đầu tiên trong một building với nhiều tầng, trong đó có tôi, một mình, chỉ một mình tôi mà thôi, đang ở dưới basement tăm tối, không thể nào có thể tối hơn được nữa, của cái building đó.  Sorry, very sorry, Nhà Văn quá cố này khi đành phải phạm thượng mà thốt lên lời trên.

Ngày xưa tôi luôn là hình ảnh thật bụ bẫm của một trẻ thơ trên hộp sữa bột Babilac, luôn tươi cười và liếng thoắng như 1 trẻ thơ, ngày nay, trong khung trời của một Quốc Gia Hoa Kỳ đa chủng với lòng từ tâm, nhân đạo bao la khi đã cưu mang bản thân tôi, gia đình tôi cùng rất nhiều gia đình Người VN Tỵ Nạn Cộng Sản khác khác nữa, tôi mang tên “Cường Bụt” thì lúc bấy giờ các bạn tù của tôi đã không ngần ngại (và có lẽ đúng nữa) gọi tôi là “Cường Tỏi” (với nghĩa đen là tôi đã ăn nhiều tỏi băm nhỏ do “My House” tiếp tế để ngăn ngừa bệnh sót rét rừng tại khu tăm tối, bạt ngạt cây cối vùng Xuyên Mộc (Tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa), rất gần mật khu Mây Tào của VC ngày trước và cũng là nơi giao tranh với VC, gây tổn thất nặng nề cho những đơn vị TQLC  VNCH tham dự (tôi không còn nhớ rõ năm xẩy ra)  nghĩa bóng là họ tin rằng tôi không thể nào còn sống sót sau những trận đòn thù, nhục hình giáng xuống thân thể còm cõi tàn tạ của tôi khi bị biệt giam trong 1 căn phòng tăm tối với hai chân đặt chéo vào nhau trong cùm cộng thêm hai tay bị còng sau lưng.

Những ngày còn thơ, những ngày dệt mộng lúc bắt đầu khôn lớn của tôi có thể gọi là tuyệt vời cho đến khi tôi tốt nghiệp Học Viên Quốc Gia Hành Chánh (QGHC) Ban Đốc Sự Khóa 14 và trấn nhậm nhiệm sở đầu tiên mà tôi đã mô tả đầy đủ trong truyện ngắn đầu tay QUẬN ĐẦU ĐỜI.  Thực sự ra tôi không hề có ý định vào học QGHC dù đã phải trải qua cuộc thi tuyển mà lần đầu tiên tôi tham dự thật là “trần ai khoai củ” (lựa khoảng 100 người trong số trên dưới 3,000 thí sinh) dự kỳ thi tuyển.  Tha thiết xin ai đó đó đừng kết tội tôi đã ăn cháo đái bát, vừa được ăn vừa được gói đem về hoặc là giờ này không được hưởng Ơn Mưa Móc do việc xuất thân QGHC đem lại nên mới ăn nói vô trách nhiệm như vậy mà chỉ vì bản chất lãng mạn, đến chết vẫn không chừa của tôi.

Ngày xưa, lúc chưa lớn khôn, tôi đã đôi lúc theo chân người chú, một nhạc sĩ nổi tiếng VNCH với những nhạc phẩm hình như được giới thưởng ngoạn mến chuộng cho đến tận bây giờ (Chiều Tím, Tình Quê Hương… ) vào tận các khiêu vũ trường mà chẳng hề hiểu để làm gì (nơi chú tôi trình diễn với tiếng nỉ non, than khóc của cây violon, hoặc than thân trách phận thật trầm buồn, ai oán của chiếc kèn đồng saxophone alto) Người chú này, khi dẫn tôi vào trong các vũ trường, việc đầu tiên ông làm là ấn tôi ngồi vào 1 cái ghế  góc phòng không xa chỗ ông trình diễn và cho tôi 1 chai nước uống.  Tôi say sưa cùng ngẩn người chiêm ngưỡng ban nhạc cùng những cặp đang khiêu vũ, rồi thầm mong mình sẽ sống chết với cây saxophone alto như vậy cùng lả lướt trên sàn nhẩy như những đôi nam nữ đang ẩn hiện trước mắt tôi trong tiếng nhạc du dương êm đềm, dù lúc đó tôi chưa đủ lớn để khiêu vũ.   May mắn là giờ đây tôi đã thực hiện được gần như một nửa giấc mơ đó: việc thường xuyên dập dìu trên nhiều sàn nhẩy khác nhau tại nhiều nơi, nhiều thành phố dưới ánh đèn mờ, lấp lánh huyền ảo.  Gần đây tôi tình cờ quen biết một tay xử dụng loại kèn đồng này thật xuất sắc khi cho tiếng kèn đồng của anh như uất nghẹn, như cố kìm hãm nhưng rồi vẫn thoát ra trong nỗi ray rứt, nghẹn ngào thật thương tâm, trong một ban nhạc tại một thành phố cách nhà tôi trên 100 dặm trường (vì yêu mến tôi nghĩ đó là 1 ban nhạc địa phương.  Đúng là khi thương thì củ ấu cũng tròn)  Hình như rất ít ban nhạc có thành viên xử dụng cây kèn đồng này dù ngay tại Nam California, Thủ Đô Tỵ Nạn, tại sao lại có thể như vậy được nhỉ, khó quá chăng ?!


Sau đó tôi đã quyết định không đi học chữ nữa và trình diễn saxophone alto như người chú nhạc sĩ.  Bố tôi đã hỏi ý kiến người này và rồi cấm tuyệt tôi theo chân chú tôi vào các khiêu vũ trường cùng ra lệnh tôi đi học tiếp.  Tôi đã nghe theo và tiếp tục đi học (vì không đủ can đảm sống cho nỗi đam mê, có thể coi là lành mạnh, có thể kiếm đủ sống ít ra cho bản thân tôi)  Sau này khi được biết Nhạc Sĩ Nguyễn Ánh 9 đã hiên ngang rời khỏi căn nhà ông đang sống với bậc sinh thành khi hai người này ra “Tối Hậu Thư” buộc ông phải lựa chọn ở lại nhà và hoàn toàn bỏ hẳn nhạc nhiếc vớ vẩn để đi học hoặc bước chân ra khỏi nhà mà sống cho sự đam mê trong khung cảnh mờ ảo, quyến rũ tại các nơi trình diễn âm nhạc hay tại các khiêu vũ trường.  Ông đã không ngần ngại bỏ nhà ra đi hầu tiếp tục ấp ủ cây đàn dương cầm yêu quý.  Có lẽ nhờ vậy chúng ta mới có những bản nhạc tuyệt vời thường làm lòng người nghe ngẩn ngơ, say đắm mỗi khi thưởng thức dù không phải là lần đầu, điển hình là tác phẩm “Cô Đơn”, đã “thấm” vào hồn tôi, làm tôi như điên đảo khi nghĩ rằng mình cũng giống như vậy dù rằng tôi không có cái DŨNG, hoặc TỰ TIN để bỏ nhà ra đi như người nhạc sĩ này.  Xin Vong Linh Bố tôi đừng giận vì tôi không bao giờ có ý định oán trách ai cả, nhất là đối với đấng sinh thành đã nuôi nấng cùng dậy dỗ tôi nên người.

Sau khi  xong mảnh bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (hay Tú Tài 1 gì đó) thêm một lần nữa tôi lại kính cẩn thưa với ông bố nghiêm khắc của tôi (tôi ảnh hưởng ai nhỉ mà không hề nghiêm nghị như bố tôi và cũng chẳng hiền hậu như mẹ tôi, hình như tôi hơi “ba, bốn hoặc năm trợn”) là tôi muốn đầu quân làm pilot, lái khu trục cơ chiến đấu, tung mây lướt gió, mà Không Quân VNCH lúc đó đang cần, sau khi tôi đã nuốt trọn tác phẩm “Đời Phi Công” của nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh tức Đại Tá Tư Lệnh Không Quân VNCH Nguyễn Xuân Vinh thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm (một giấc mơ tôi giữ kín trong lòng sau chuyến bay di cư vào Miền Nam năm nào)

Bố tôi đã trợn trừng đôi mắt nhìn tôi hình như không hiểu cũng như tức giận vì có lẽ ông đã không quên cái chết trận bi thương của người thân trong gia đình, Nguyễn Ngọc Long, 1 trong những pilot khu trục đầu tiên của Không Quân VN (cùng thời, có lẽ cùng khóa huấn luyện pilot tại Marakech, Maroc, tức Moroco, một xứ nằm ở phía bắc Phi Châu, thuộc địa cũ của nước Pháp với Ông Râu Kẽm, mang nhiều tai tiếng sau này.  Tôi đã có dịp đối ẩm riêng với ông tại 1 tiệm ăn của vợ ông mang tên Miss SaiGon, thuộc thành phố El Monte, gần Quận Cam Calif. năm nào khi ông chưa đầu hàng VC rồi lãnh nhiệm vụ trung gian giữa giới kinh doanh Hoa Kỳ chỉ biết thu tiền với Cộng Sản VN.  Tôi đã được giới thiệu với ông là, thật sai lầm, tôi làm việc cho riêng Quốc Vương VN khi trước, người đã có quá nhiều hiềm khích với ông khi đã  tranh chấp nhau giành độc quyền, cùng với các tướng lãnh Miền Nam khác, cho việc “hy sinh” cứu toàn quân, dân VNCH.  Ai mà lại chẳng muốn “hy sinh” như vậy dù rằng chẳng có tài cán gì như bản thân tôi (?!)

Hình như Ông Râu Kẽm đã tỏ vẻ e ngại khi tôi ngồi đối diện với ông.  Người bạn đời của ông lúc bấy giờ, không phải là nữ tiếp viên Air VN, tức Air “Rồng Lộn” vì cái logo con rồng đang bay lộn cổ in rõ ràng trên đuôi các máy bay của hãng đó hay phù hiệu trên cổ áo của các nữ tiếp viên, mang ra bình trà đặc biệt mà Ông Râu Kẽm gọi là SàiGòn Tea và trịnh trọng rót vào ly cho tôi cùng mời tôi cụng ly.  Tôi bàng hoàng khi có cái “vinh dự” đó cùng nhận ra trà này là một thứ chất lỏng tôi đam mê từ lâu.  Đựng rượu mạnh XO trong bình trà để tránh những ánh mắt tò mò có thể có của các thực khách vô tình đang hiện diện nơi đó chú ý, như vậy Ông Râu Kẽm đúng là “một tri kỷ” của tôi trên phương diện “DZÔ” !

Bố tôi ra hiệu tôi ngồi vào chiếc ghế trước mặt rồi từ tốn hỏi một câu làm tôi “cứng họng” không thể trả lời (từ đó tôi đã tập cách nói làm người đối thoại với mình á khẩu như vậy với âm điệu thật từ tốn, nhẹ nhàng, có thể còn êm ái nữa là đằng khác, khi cần)  Đại ý bố tôi nói nếu tôi xin đi Hải Quân ông sẽ dễ chấp thuận hơn, dù không chắc (tôi là con một, đúng nghĩa, chẳng có anh chị em trai gái gì cả) vì nếu lỡ con tầu tôi đang trôi nổi trên đó hỏng máy hoặc giản dị hơn là lỏng một con ốc nào đó cần vặn chặt lại ngay lập tức chẳng hạn, thì tôi sẽ dễ dàng bơi mà làm chuyện này (dù tôi không hề biết bơi, do việc là con một nên người bố đã cấm tuyệt tôi bén mảng đến chuyện bơi biếc), còn nếu ốc lỏng (chưa nói đến việc chết máy) khi đang bay thì tôi phải đáp ở tầng mây thứ mấy để làm ???  Xin các vị “có thẩm quyền” cho tôi câu trả lời.  Thôi thì đành hẹn kiếp sau, Nhà Văn Toàn Phong ơi!  Rồi lại đi học tiếp như một chuyện đùa cợt.  và cuộc đời  “đưa” tôi vào QGHC (hình như Nhà Văn Mai Thảo đã “dẫn” tôi tới ngôi trường danh tiếng này qua tác phẩm “Viên Đạn Đồng Chữ Nổi”), ra trường và đi tỉnh Bình Định.

Tôi còn nhớ rất rõ người chỉ huy trực tiếp của tôi khi tới quận Hoài Ân (trên giấy tờ) là một đại úy công binh kiến tạo.  Quận này có thể nói là một quận nguy hiểm nhất của tỉnh Bình Định mà tôi miễn cưỡng tới trình diện vì sự lầm lẫn tai hại của chính tôi khi chọn tỉnh đi làm việc tại Bộ Nội Vụ.  Đầu tôi lựa tỉnh Bình Thuận (với thị trấn Phan Thiết, quê hương nước mắm, 1 tỉnh tương đối an toàn và gần Thủ Đô SàiGòn, còn lại khi đến phiên tôi chọn) thì cái miệng của tôi lại nói là Bình Định (với thị trấn Quy Nhơn, Liên Khu 5 cũ của Việt Minh, tức VC sau này).  Tôi nhớ rõ là tôi còn tự thưởng mình bằng cách rung đùi thật là đắc ý trong khi các bạn cùng lớp đều nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên vì đều biết rõ tôi chẳng có liên quan gì đến tỉnh Bình Định cả.  Đến khi biết mình nói lộn thì đã quá muộn màng, hai người bạn xếp hạng sau tôi đã lấp đầy hai chỗ mà tỉnh Bình Thuận cần.  Sau đó thì dù thích hay không tôi cũng đã phải “khăn gói quả mướp” đi Quy Nhơn trình diện.

Có lẽ vì cái bản mặt búng ra sữa của tôi (khi còn học ở QGHC, không biết người bạn cùng lớp nào đó đã  “âu yếm” gán cho tôi cái biệt danh Cường Babilac, hình ảnh thật bụ bẫm của một baby trên nhãn hiệu sữa bột Babilac hồi đó và còn tồn tại cho đến tận bây giờ khi tôi sắp lê chân vào một Thế Giới Xa Xăm nào đó) hay vì dáng dấp có vẻ nghênh ngang, bất cần đời của tôi, nên một quan đàn anh QGHC đang đảm nhận chức vụ Phó Tỉnh Bình Định đã chẳng cho tôi quyền lựa hay chọn gì mà ngài liệng tôi thẳng về quận Hoài Ân không một chút luyến tiếc, ngại ngùng, một chỗ mọi người ở tỉnh này đều nghĩ là chắc chắn tôi phải leo lên bàn thờ thật vội vã để ngồi nhìn đời chơi mà không kịp rửa ráy chân tay cho sạch sẽ ???

Tiện đây cũng xin thưa lại với các bạn cùng lớp ĐS 14 là Cường Babilac với vẻ mặt búng ra sữa này không trẻ như các bạn đã nghĩ với năm sinh trễ nải được ghi trên tờ Thế Vì Khai Sinh của tôi (Thế Vì mà lại, chứ có phải thật sự đâu)  Bố mẹ tôi đã dẫn tôi, cùng những người thân khác, chạy loạn tứ tung lung tàn từ làng Hành Thiện tỉnh Nam Định, đi nhiều nơi và rồi ở luôn tại Miền Đất Thăng Long, Ngàn Năm Văn Vật, Thanh Lịch là Thành Phố Hà Nội cho đến khi di cư vào Miền Nam năm 1954 trên chiếc phi cơ DC 3 của Pháp.

Thành phố với Tháp Rùa lung linh mờ ảo trong sương mù trắng đục trên Hồ Hoàn Kiếm, với cây cầu gỗ cong cong đỏ hồng không nơi nào trên thế giới này có thể có được là cầu Thê Húc dẫn vào Đền Ngọc Sơn.  Tôi đã tả kỹ càng chuyện này trong bài viết MUỘN MÀNG là tôi đã chung nhà với hai cô bé duyên dáng, dễ thương tại căn nhà ở Phố Nguyễn Thượng Hiền, gần Hồ Ha Le, giờ đây được gọi là hồ Thuyền Quang, mà vào Tháng 4 Oan Nghiệt xa xưa đã đưa đẩy tôi gặp lại Cô Chị tại trại tù Long Thành.  Cô này là cai tù, VC gọi là quản giáo, trực tiếp chăm sóc đội tôi.  Có lẽ cô đã nhận ra tôi nên không ngần ngại hành hạ tôi tơi tả, rách hơn một chiếc mền cũ kỹ tung bay trong gió.  Tại sao vậy hỡi Cô Bạn Bé Nhỏ của tôi ơi?  Các bạn tù ngày đó chắc chắn không biết gì về nỗi niềm riêng của tôi về uẩn khúc này vì tôi chẳng hề tiết lộ.  Tuy cô nhẫn tâm, ác độc như vậy nhưng, trong truyện ngắn, tôi vẫn viết những dòng chữ tốt đẹp về cô, nói lên sự chung thủy cùng can đảm của cô.  Bây giờ cô có còn tồn tại trên cõi trần này chăng?  Nếu còn thì cô cư ngụ tại đâu nhỉ ?  Tôi vẫn mong gặp lại cô để tìm lại hình dáng một cô bé thanh thanh năm nào chứ đừng mang vẻ nặng nề, phục phịch y hệt bao gạo chỉ xanh biết cục cựa lúc còn là Công An “săn sóc” tôi quá kỹ, Bé nhé !

Trước khi vào học QGHC tôi đã tập tành kỹ lưỡng nếu không muốn nói quá cường điệu: nghiên cứu môn Khoa Học Huyền Bí gọi là Tử Vi Đẩu Số do ông Nguyễn Phát Lộc viết, cùng xem tướng mạo con người để có thể đoán biết tính tình người mình đang tiếp xúc.  Tôi đã tròn mắt ngạc nhiên khi được rõ tác giả quyển sách này là 1 cựu sinh viên QGHC (một trong những khoá QGHC đầu tiên và đang phụ tá việc điều hành cho người đứng đầu cơ quan Tình Báo Trung Ương VNCH tại SàiGòn.  Hình như việc an vị các Sao tùy theo ngày cùng giờ và năm sanh tính theo âm lịch vào các Cung Bản Mệnh, Phụ Mẫu, Thiên Di, Nô Bộc, Tài Lộc …. của mỗi một người…. đã cho tôi thấy một trong Hai Bậc Sinh Thành của tôi sẽ “ra đi” thật bất ngờ trong những này sắp tớí, không biết khi nào.   Cứ nghĩ là việc giải tử vi của bản thân mình chưa đủ vững nên đoán sai cho đến khi mẹ tôi đột ngột qua đời khi tôi vừa tốt nghiệp QGHC được vài tháng.  Tôi giật mình kinh sợ và bỏ luôn chuyện bấm số tử vi nhưng vẫn giữ việc quan sát “dung nhan” của từng người khi có dịp để tránh sự thất bại nếu có thể hoặc tự an ủi mình là số mệnh đã an bài không thể tránh khỏi mỗi khi gặp 1 điều gì không hay xẩy đến cho mình.

Khi tôi trình diện, quan anh Phó Tỉnh Bình Định đã đưa tay ra bắt tay tôi nhưng cái mặt quan thì lại hướng về nơi không phải chỗ tôi đứng, hình như để tỏ ra coi thường cựu sinh viên QGHC dù ngài cũng xuất thân từ ngôi trường này ???  Tôi bất mãn trước thái độ khinh khỉnh đó, nhưng chẳng thể nào làm gì được cả với thân phận kém cỏi của bản thân mình nên, để phản đối, tôi đã không làm đầy đủ công việc của một Phó Quận Trưởng.  Có lẽ đây cũng là một yếu tố đã góp phần vào việc tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác hiện giờ phải sống xa quê cha, đất tổ.  Sau này tôi còn được biết mình là một cựu sinh viên QGHC đầu tiên trấn nhậm quận này, trước đó Phó Quận Trưởng hay Quận Trưởng thường là người địa phương hay một thư ký luống tuổi đảm nhận.  Như vậy đủ rõ quan anh đã tận tình chiếu cố tôi như thế nào, dù rằng tôi đứng đầu danh sách ba người về Bình Định và trước đó tôi chưa hề gặp mặt và chả biết một tí gì về quan này cả.

Cách đây không lâu, có thể nói tôi “vô tình” gặp lại vị quan “khả kính” này tại vùng ngoại ô thành phố Boston, Tiểu Bang Massachusetts (rất gần nơi cư ngụ hiện giờ của ngài), tôi đã không ngần ngại hỏi lại việc bắt tay ngày xưa rất trịch thượng này thì quan anh đã nói có thể do tôi hiểu lầm hoặc hình như anh đang bận việc gì đó (?) chứ hoàn toàn không có sự khinh miệt, tôi chỉ cười, lại cười, một nụ cười rất trẻ thơ y hệt như mình đã hiểu lầm thiệt.  Tôi không hề đả động gì đến việc quan đã đầy ải tôi đến vùng ma thiêng, nước độc Hoài Ân trong khi còn nhiều quận khác tốt hơn trong tỉnh đang cần.

Khi ký Sự Vụ Lệnh đầy ải tôi với công thức quen thuộc: Chiếu…. và Chiếu Nhu Cầu Công Vụ, nay cử Ông….  đảm nhiệm chức vụ…. .

Chịu khó “đắp thật kỹ Mền và Chiếu” như vậy thì ai mà thắc mắc cho được quan nhỉ ???  Tôi và nhiều cựu sinh viên QGHC còn nhớ rõ sau ngày “tan hàng” của Miền Nam, quan cũng vào tù tại làng cô nhi Long Thành, rất gần SàiGòn (1 ổ chứa đầy VC trước 1975 mà Chính Quyền VNCH dù biết cũng không màng để ý gì cả dẫn đến việc nước mất, nhà tan) .  Một chuyện lạ trên thế giới (Tự Do lẫn Cộng Sản) đã xẩy ra:  quan thơ thới sách va li rời trại tù Long Thành để  “Đi Phép” (tù chứ có phải lính tráng đâu mà phép với tắc như vậy ?! hay quan đang tập tành để trở thành lính của VC ???)  Sau khi trở lại trại tù thì quan đảm nhận chức vụ tù trật tự, một thứ  “tù quý tộc” hàng ngày chỉ cầm sâu chìa khoá, đi theo sau ngài là viên cai tù Cộng Sản.  Ngài phụ trách việc đóng cùng mở cửa các trại giam để các tù nhân đi ra, đi vào (bài hát mà giờ này tại miền đất New York City này tôi vẫn tự hát hàng ngày cho chính tôi nghe là ĐI RA ĐI DZÔ, rồi lại ĐI DZÔ ĐI RA, nghĩa là tôi nghêu ngao cả ngày, cả đời mà không hề hết bài hát, ai không hiểu có lẽ đều nghĩ tôi đã khùng, mát giây hay chạm điện, cần đưa vào một trại tâm thần nào đó chữa trị !) cùng đếm số tù để biết rằng các tù nhân còn đủ, chưa có ai vượt ngục.

Do bị đầy ải không nguyên tắc và thái độ khinh miệt của Phó Tỉnh nên có lẽ tôi hơi cứng đầu khi là Phó Quận Trưởng Hoài Ân.  Tôi thường chỉ trích, “chọc quê” những chỉ thị, lệnh lạc sai thấy rõ của viên quận trưởng, một đại úy công binh kiến tạo.  Tôi nghĩ rằng khi được bổ nhiệm làm quận trưởng kiêm chi khu trưởng để giữ gìn an ninh, bình định lãnh thổ thì những vị sĩ quan đó phải thuộc các đơn vị tác chiến hay ít nhất là công binh chiến đấu, còn công binh kiến tạo quá thuần túy về chuyên môn, rất giỏi về làm cầu cống, cầu nổi, đường xá… chứ biết gì về tác chiến mà bình định lãnh thổ ấy là chưa nói đến việc quản trị hành chánh !

Một ngày thật đẹp trời nào đó ngày xa xưa, quan công binh kiến tạo này nói thẳng với tôi là ông ấy sẽ làm cho tôi bị đi khỏi cái “quận chết tiệt” này.  Ngạc nhiên cùng bực tức trước việc không hiểu biết về sự bổ nhiệm một cựu sinh viên QGHC chen lẫn sụ mừng rỡ khi sắp được đi khỏi nơi nguy hiểm tôi đã nói với ngài quận trưởng đại khái là tôi mới ra trường, đồng lương tôi chẳng đủ tiêu, nhưng nếu ngài làm cho tôi đi khỏi quận này tôi sẽ bỏ nguyên một tháng lương tổ chức một bữa tiệc chia tay để đãi ngài cùng các sĩ quan chi khu Hoài Ân.  Ngài ngẩn người thấy rõ khi nghe câu trả này và có lẽ thấy ngài đã nghĩ sai, vô cùng sai lầm khi tưởng rằng tôi đã chạy chọt về đây.

Tôi đúng là một thứ ngựa non háu đá dù vẫn biết an toàn của bản thân tôi có thể bị bẻ gẫy bất cứ lúc nào.  Quận rất mất an ninh, một viên đạn lạc ghim ngay chóc vào tim tôi, một trái mìn nổ banh xác lúc tôi đi ngang qua nơi đó dễ dàng lấy đi mạng sống của tôi và rồi một cái phúc trình ngắn gọn về Tỉnh Bình Định là tôi bị VC phục kích.  Who Cares ?   Chuyện nhỏ, rất nhỏ!  Không mợ thì chợ vẫn đông, Có mợ chợ chẳng vui thêm tí nào.   Tất cả đều như gió thoảng, mây trôi, chìm dần vào quên lãng, một người khác sẽ về làm Phó Quận Trưởng.   Có chăng là chỉ còn lại nỗi xót xa, cay đắng cho những người thân trong gia đình tôi mà thôi.

Ấy vậy mà tôi thoát chết nhiều lần, thật đúng vậy, rất nhiều lần, trong “đường tơ, kẽ tóc” 

Sau này nghĩ lại, có lẽ do tôi biết mạng sống bị đe dọa nên tôi đã nhắn nhiều bạn quen tại Tòa Hành Chánh Bình Định là nếu tôi bị phục kích chết thì có nghĩa là tôi đã bị viên đại úy công binh kiến tạo này ám hại, chứ chẳng phải Vi Xi, Vi Xiếc gì cả, hãy trả thù cho tôi trong khả năng bạn có thể làm được.  Có lẽ cái tin “tức mình” trên đã lọt vào tai vị quận trưởng khả ái này, nên ngài đã cử một toán lính đặc biệt nào đó ngấm ngầm theo sát tôi để bảo vệ an ninh cho tôi, hầu tránh mang tiếng xấu, và cuối cùng, nhờ vậy, tôi còn sống sót cho đến tận ngày hôm nay ???   Xin cúi đầu Tạ Ơn Trên đã che chở.

Tôi đã lặng người khi nghe chính 1 Bạn Cùng Khoá ĐS 14 QGHC thổ lộ riêng cho tôi, tại tư dzinh của bạn này, nơi mà tôi đã ngẩn ngơ như 1 Từ Thức Tân Thời lạc vào Thiên Thai trên đường đến nhà  bạn ấy tại vùng đồi núi núi thơ mộng gần Quận Cam California, để họp mặt lớp ĐS 14 (cách đây khoảng vài năm ở Nam California) là “hình như” tôi đã phạm nhiều lỗi lầm” khi làm Phó Hoài Ân.  Bạn này là Phó quận Cam Lâm (Suối Dầu, nơi có mộ phần Yersin, ngoại ô thành phố biển Nha Trang quanh năm sóng vỗ) cho đến khi tan hàng.  Quan công binh kiến tạo này đã đổi về trấn nhậm quận đó (mới lên thêm 1 cấp tức thíếu tá)  Tôi chỉ nói ngắn gọn để người cùng lớp ĐS 14 này hiểu rằng bạn tin người cùng học 1 lớp QGHC với bạn hay tin một kẻ bá vơ nào đó là quyền riêng của bạn, tôi không thể có ý kiến gì được, rồi tôi lại tiếp tục lối tán dzóc huyên thuyên của Babilac.  Nhưng hình như vị đắng chát của ly cà phê không hề bỏ chút đường nào đã vương vào cổ họng làm giọng nói tôi hơi nghèn nghẹn .

Nhớ lại thuở xưa, lúc mới xong cái Tú Tài II từ một nơi khỉ không thể nào ho, mà cò thì cũng chẳng thèm gáy, chứ chẳng phải danh giá Chu Văn An hay Petrus Ký gì, tôi đã được Hội Đồng Du Học Việt Nam Cộng Hòa (hình như trực thuộc Tổng Nha Kế Hoạch) cấp học bổng du học 4 năm tại Canada (tất cả chi phí đều do Chính Phủ VNCH đài thọ qua kế hoạch Colombo Plan).  Tôi đã lặng người mất ăn, mất ngủ trong nhiều ngày trước vinh dự quá lớn lao này.  Bố mẹ tôi cùng những người thân tôi cũng xúc động không kém vì gia cảnh tôi đủ ăn đã là may mắn lắm rồi, chẳng thể và cũng chẳng biết chỗ nào thậm thụt mà chạy với lại chọt (có chăng là các vị lắm tiền, nhiều của sẵn sàng bỏ ra cùng với “số tiền điếu đóm” để con em họ đi du học.  Sau nhiều năm đi xa các cậu ấm này hãnh diện mang về VN cái bằng ăn chơi to tướng và tài khiêu vũ, các vị này nhẩy nhót giỏi và tài thiệt.  Hình như tôi đã học lóm được vài bước nhẩy của các ấm quan này, xin gửi lời cám ơn rất muộn màng đến các cậu ấm đó.  Giờ này quý vị đang ở đâu nhỉ, cái đầu gối mòn theo thời gian có còn đỡ nổi thân hình quý vị ?!).

Tôi đã lựa ngành canh nông (một ngành rất cần tại Việt Nam, dù tôi biết rõ, rất rõ, ngành hóa học hay cơ khí hoặc dầu hỏa kiếm nhiều tiền hơn khi ra trường) với Major Soil, tiếng Việt tạm tạm dịch là thổ nhưỡng (chữ của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc VNCH)  Sau 5 hoặc 6 tháng (tôi không còn nhớ rõ chi tiết này) theo học một khoá English miễn phí kéo dài từ sáng đến chiều mỗi ngày tại Hội Việt Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi SàiGòn, và qua 1 kỳ thi trắc nghiệm năng khiếu English của Trường Đại Học Cambridge của United Kingdom, tôi cùng ba bạn khác (tổng cộng khoảng 20 người đi nhiều tỉnh khác nhau tùy theo môn học) leo lên máy bay để về thành phố Guelph, Tỉnh Ontario rất gần Niagra Falls (tôi biết trên giấy tờ, chứ lúc đó tôi chưa có điều kiện thuận lợi đi thăm thác nổi tiếng này) sau khi nghỉ chân và đổi máy bay tại Hong Kong và Tokyo.

Trời ạ, vậy tôi mà đã thầm khóc mỗi khi đêm về tại Guelph, mắt cay cay, chiếc gối hình như ươn ướt.  Lần đầu tiên xa nhà, quá xa, một đại dương cộng thêm một lục địa, làm sao thấy lại bố mẹ cùng người thân đây, 4 năm trời là bao lâu nhỉ, tôi không thể tưởng tượng được nữa.  Tôi vốn sợ bánh mì, cái bánh mì ổ dài dài kiểu Tây (gọi là bánh tây) cũng như bánh mì lát mỏng sandwich kiểu Mỹ này tôi đều không nuốt được (đến giờ này vẫn thế, chẳng khác chi cả, vẫn sợ, vẫn thích cơm VN) chỉ cố ăn một ít đễ đỡ cồn cào ruột gan mà thôi.  Lúc nào cũng đói, làm sao mà học đây.  Cuối tuần thì thể lệ của cafeteria trong campus trường đại học Guelph lại tai quái bắt người vào ăn phải thắt cà vạt và khoác thêm cái áo vest bên ngoài, khiến tôi đã chán lại càng thêm nản mà vẫn phải làm theo vì làm sao nhịn đói suốt hai ngày trong khi vào thì chỉ nhấm nháp (chứ chẳng phải ăn) vài lát sandwich cho qua bữa.  Vài lần vào cuối tuần vì quá thèm cơm VN nên qua sự hỏi thăm, một lần tôi nhớ tôi đã đủ can đảm leo lên một chuyến xe bus thật xa lạ đi Chinatown chật hẹp của Guelph và hình như tôi đã rất nghênh ngang bước vào một tiệm ăn duy nhất của người Tầu chính cống (Chinese restaurant, làm gì có người VN nào sống tại đó lúc bấy giờ) gọi một dĩa cơm (sau khi đã lục kỹ càng, thật kỹ, cái túi không được đầy cho lắm của tôi, để biết tôi có thể trả tiền món đã gọi cùng với tiền tip khi ăn xong).  Sao tôi cảm thấy hình như mình đang lạc vào một thế giới nào đó, sướng vô cùng tận khi tất cả mọi thứ trên dĩa cơm đã trôi tuột vào bao tử tôi, trong khi những hột cơm đã nuốt thì hình như cứng ngắc có lẽ chỉ thua những viên sỏi trải đường hay công viên các nơi một chút chút mà thôi.  Người bạn cùng khoá ĐS 14 QGHC của tôi, hiện đang cư ngụ tại Hamilton, Ontario, Canada, cách xa Guelph khoảng nửa tiếng đồng hồ lái xe, có thể kiểm chứng việc này dễ dàng.  Tên tôi, Cuong Ngoc Nguyen,  vẫn còn nằm chình ình trên kệ hồ sơ của Trường (có lẽ nhờ lúc đó việc lưu trữ  hồ sơ trên computer chửa có ???)

Tiện đây thì cũng xin lỗi Người Vợ Hiền của tôi một chuyện tôi chưa bao giờ nói với bất cứ ai  (thôi thì chấp nhất làm gì những lời trăn trối nhỉ ???)  Người yêu bé nhỏ của tôi lúc bấy giờ đang học ở ngôi trường nổi tiếng Trưng Vương, nơi tôi đã thậm thụt đến nhiều lần chỉ để ngắm nàng tung tăng cùng bạn bè lúc tan trường.  Nàng đã cất công ra tận Trụ Sở Air VN, đường Lê Thánh Tôn, gần Tòa Đô Chánh SàiGòn tiễn tôi lên đường và dúi vào tay tôi một phong thư cùng dặn dò chỉ được đọc khi ngồi trên máy bay.  Tôi đã tuyệt đối tuân lệnh và yên tâm nghĩ rằng sẽ lại đọc những lời yêu đương nồng nàn cùng hứa hẹn, chờ anh, đợi anh của nàng, cứ làm như anh nàng sắp sửa bước chân vào vùng khói lửa mịt mùng, không hẹn ngày về như trong bài Đường Thi: “…..Túy ngọa sa trường quân mạc vấn / Cổ Lai chinh chiến kỷ nhân hồi ”

Tôi nhớ thân thể của tôi đã bật ngửa trên ghế máy bay, ngỡ ngàng khi đọc những trách móc tôi đủ điều rằng nàng trách tôi đã quá khờ khạo, dại khờ như chú nai tơ chưa đủ lớn, khi không dám hôn môi nàng !  Tình yêu tôi thật là một thứ Platonic, thần thánh, thuần túy tình cảm, cầm tay cũng chưa dám chứ nói gì đến hôn, hít ???   Chuyện chăn gối tôi biết, tôi hiểu, rồi cũng sẽ đến, nhưng đó là chuyện ngày sau, chứ cho đến tận lúc đó, thấy mặt nàng, nghe giọng nói nũng nịu của nàng là đã quá mãn nguyện rồi.   Nàng đoán tôi chẳng thể nào đáp ứng được sự rạo rực cùng đòi hỏi của thế xác nàng….. Đúng là ….

Qua lá thư này tôi thấy mầm mống chia lìa đã đâm chồi, nẩy lộc.  Nàng đã leo lên (hay xuống) một chiếc xe bông mà ai đó đã kết tủa không một lời từ giã.  Có lẽ lúc đó chưa có bản nhạc não nùng, tê tái “Người Đi Qua Đời Tôi” của một cố nhạc sĩ tài danh VNCH sáng tác sau khi đời sống tình cảm cùng gia đình ông đổ vỡ tan tành thật đau thương nên tôi chưa có dịp để hát.  May mắn là tôi đã không nên duyên trăm năm với người này chứ nếu thành duyên thì vào những ngày Đen Tối Tháng 4 Năm 1975, đàn con dại khờ với người đó (chắc chắn đã có nếu là vợ chồng với nhau) phải sống bơ vơ, hay cùng lắm thì được vào trại tế bần vì mẹ tôi đã qua đời từ lâu và bố tôi cũng tự nguyện lê chân vào tù VC (tôi nghĩ câu ai đó đã nói: Con Giống Cha là “Nhà Có Nóc” như đúng vì tôi cũng tự nguyện đi tù VC vậy) !

Thế rồi việc đến các Giảng Đường Trường Đại Học Guelph của tôi diễn ra đều đặn trong tâm trạng của một kẻ bị lưu đầy, cô đơn, nhớ nhà với thời tiết chớm thu giá lạnh ở miền đông bắc Mỹ trong khi tôi biết rõ phải trầy da, tróc vẩy để được đi du học, dù là tự túc nghĩa là cha mẹ người đó bỏ tiền túi  (chứ không phải được Colombo Plan qua Chính Phủ VNCH đài thọ như trường hợp tôi).  Vì là năm đầu tiên, dự bị cho mọi major, nên các sinh viên phải qua một lóp English Literature 1.  Không hiểu tại sao cũng như vì đâu mà tôi đã sánh bước vào cũng như ra khỏi giảng đường môn này với một cô bé người bản xứ.  Tóc Vàng Sợi Nhỏ của cô đã thường xuyên quấn quýt vào mặt mũi tôi như có ý giữ chặt tôi mãi mãi ở bên nàng.  Hình như nàng đã đọc qua bài “Tôi Đi Học” trong tập truyện “Quê Mẹ” của nhà văn Thanh Tịnh ngày xưa nên đã tinh nghịch đôi khi âu yếm nắm tay tôi cùng tựa đầu thơm nồng vào vai tôi để dẫn tôi đi ra, đi vào giảng đường môn English như thấu hiểu tâm trạng cô đơn khi phải xa nhà của tôi hay biết đâu nàng đã muốn nếm thử cái mùi dị chủng, biểu hiệu qua sự khác xa màu da, màu tóc, mầu mắt của nàng.  Có lẽ Tóc Vàng Sợi Nhỏ đã thất vọng não nề khi biết tôi không hiểu việc chung đụng xác thịt nam nữ cũng bình thường như chuyện ăn, uống, hít thở khí trời của người Âu Mỹ (?).

Qua việc đã được lãng du phiêu bồng tại phương trời thật xa lạ mà bất cứ một thanh niên nào, vào thời đó, cũng không thể tưởng tượng đến, tôi đã thấy sự khác biệt căn bản giữa Đại Học tại Canada và Phân Khoa Luật hay Khoa Học SàiGòn mà tôi đã tham dự là ở SàiGòn các sinh viên ngồi lỳ tại 1 giảng đường duy nhất dành riêng cho năm học, Vị Giáo Sư nào đó sau khi làm xong bổn phận lặng lẽ vác cặp đựng tài liệu giảng dậy đi ra khỏi giảng đường, rồi vị khác đi vào nói thao thao bất tuyệt mà chẳng hề để ý đến cái đám người ngẩn ngơ được người đời gọi là sinh viên, đang ngồi dưới kia lóng nhóng để nghe ngóng không khác gì vịt nghe sấm, có hiểu cái gì không.  Công việc chỉ chấm dứt khi xong 1 ngày học.  Trong khi ở Guelph sinh viên phải di chuyển tới các giảng đường khác nhau tùy theo môn học đó thuộc vật lý (physics), hóa học (chemistry), văn chương (literature)….cùng thường xuyên nghe các giáo sư đặt câu hỏi ai có ý kiến gì về bài giảng, nên Tóc Vàng Sợi Nhỏ mới có dịp dìu tôi ra vào literature building như vậy.

Tôi nghĩ rằng hình như thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ở thành phố Guelph này, đã học trường này và cũng đã có một Nàng Tiên Nhỏ Bé quấn quýt bên cạnh để dệt nên bài thơ “Mùa Thu Guelph” mà vô tình đã viết lộn hay in sai thành “Mùa Thu  Paris” cho đến tận ngày nay ?!  Bài thơ nổi tiếng (đã được phổ nhạc sau này) hình như nhà thơ sáng tác riêng cho tôi, phải, chỉ cho một mình tôi mà thôi với Tóc Vàng Sợi Nhỏ, như để nhắn tôi hãy ở lại, ừ nhỉ, tại sao mình không tính chuyện mãi mãi ở lại nơi này với nàng khi người yêu đầu đời ở VN đã chê bai mình là tên Cù Lần Lửa!

Hình như cái số tôi dính dấp nặng nề đến những lá thư chia lìa vì đến khi tôi quyết định về lại VN chỉ sau khoảng 5, 6 tuần lễ du học ở Guelph, Tóc Vàng Sợi Nhỏ lại dúi vào túi tôi 1 phong thư với lời dặn chỉ được phép đọc khi ngồi trên xe lửa về lại thủ đô Ottawa của xứ Canada để làm mọi thủ tục cần thiết về VN.  Lần này thì tôi chẳng thể nào đoán được phong thư nói những gì.  Lại tuân lệnh, rồi lại phải kêu lên TRỜI Ạ!  Nàng nói (cũng may cho tôi) dù tôi có ở lại Guelph thì nàng cũng không thể nào kết duyên với tôi được. Nàng viện dẫn 1 bài thơ của thi sĩ nổi tiếng, lúc bấy giờ, Robert Frost, đại ý nói, những khác biệt về ý nghĩ, về nếp sống, về cách sống sẽ làm cuộc sống chung trở thành địa ngục (ví dụ làm sao chịu nổi mùi nước mắm nếu không phải là người VN), thôi thì xa nhau là đúng ???  Nàng thực tế quá chứ chẳng hề mơ mộng như tôi đã nghĩ.  Tôi lại tạ ơn Thượng Đế đã giúp tôi.

Cách đây vài năm tôi đã có dịp lái xe đưa Người Bạn Đời về thăm lại chốn xưa.  Tôi lại say sưa  nằm lăn trên bãi cỏ trước dormitory mang tên Mills Hall mà ngày nào tôi đã mang theo chồng sách nặng chình chịch nằm nghỉ chờ giờ học tiếp vì không thể nào leo lên phòng của tôi trên lầu bốn rồi lại leo xuống chỉ để nhấm nháp vài lát sandwich và lại tiếp tục vào giảng đường.

Thế rồi mọi việc đều đặn trôi qua hình như rất nhẹ nhàng của 1 thiên duyên đã được định trước. Tôi lông bông, rồi là kế toán viên cho một hãng lớn ở SàiGòn và thông ngôn cho Sư Đoàn 7 Không Quân Hoa Kỳ tại Tân Sơn Nhất, cuối cùng vào QGHC học và trấn nhậm thiên đường Hoài Ân, Bình Định.

Sau đó một sự việc xẩy đến dù tôi không muốn, cũng chẳng ngờ: được (bị) đổi về tỉnh Ninh Thuận, một tỉnh nắng cháy da, đất đai nứt nẻ vì thiếu mưa quanh năm nhưng rất thích hợp cho một loại nông sản: củ tỏi tươi tốt, mọng nước không có nơi nào sánh bằng và quan trọng nhất: Quê Hương của Nhà Vua cuối cùng trị vì VNCH cho đến tận Tháng Tư Đen 1975, nơi mà các quan to súng ngắn thậm thụt ra vào để tỏ lòng thần phục rồi sẽ lại được tiếp tục leo lên cái thang danh vọng do Quốc Vương ban cho.  Nếu như ngày ấy ai đó lấy tiền trả cho số  xăng, nhớt xe mà các quan to này dùng với  ba, bốn xe “đùng đùng sát khí” chạy theo hộ tống mà đem đi đối lấy đạn M 16, súng cối 60 , 81 ly hay đạn đại bác 105 thì không biết rằng VNCH có sống còn lâu hơn chăng, hoặc vẫn còn tồn tại, cho đến ngày hôm nay tôi vẫn tự hỏi như vậy ???

Tôi lẩn thẩn tự  nghĩ  Miền đất này đã cho tôi nhiều kỷ niệm đắng cay.  Nhưng dù sao thì vẫn là kỷ niệm nên tôi đã lấy chữ Ninh Thuận làm bút hiệu để nhớ lại tháng năm không vui nơi đó.

Bút hiệu Ninh Thuận tôi đã ký từ 1 bài viết đầu tay vào năm 2000 (đánh dấu năm bước qua Thế Kỷ 21), nhưng rồi sau đó khoảng 3 hay 4 năm không hiểu sao đầu óc trở nên trống rỗng như bị bay hơi, nên tôi ngưng viết)  Những bài viết của Ninh Thuận đã xuất hiện trên nhiều báo chí, đặc san Miền Đông lẫn Miền Tây Hoa Kỳ.

Khoảng năm 2007 hay 2008, trong khi tham dự buổi ra mắt báo xuân 1 tạp chí ở Nam California (bài tôi viết thường xuyên xuất hiện trên báo này tuy không liên tục) Nhân khi người sáng lập tờ báo giới thiệu những thân hữu ở xa về dự nhắc đến tên, tôi đã đứng lên chào mọi người cho phải phép.  Thấy vậy một người bạn đồng môn QGHC (không biết có “xỉn” hay không khi trước mặt bạn ấy có vài vỏ bia nằm chỏng chơ, quạnh quẽ.  Nếu những vỏ bia này có linh hồn để nghĩ là cuộc đời thật bạc bẽo.  Khi cần thì người đời nâng niu, yêu quý mình, khi xong và không cần nữa thì liệng mình vào một cái xó xỉnh nào đó ) ngồi cùng bàn, đã “móc lò” hỏi tôi : “ Ủa, vậy mà tôi tưởng Ninh Thuận là bút hiệu của một Nhà Văn Nữ chứ ” ?!

Tôi lại cười,  nụ cười muôn năm vẫn thế, như  “trade mark” (nhãn hiệu cầu chứng tại Toà) của Babilac.

Ừ, thói đời là “dựa hơi”, là “cầm nhầm” là “cáo đội lốt hùm”.  Tôi hiểu chuyện này nên có ai nghĩ rằng tôi cũng cầm nhầm bút hiệu Ninh Thuận thì đã có sao đâu nào.  Tôi chỉ là kẻ bất tài vô tướng nên thấy “Nhà Văn Nữ’ này “tiếng tăm” nên ký bậy như vậy thôi.  Tôi không hề cải chính.

Cho đến tận hôm nay, người bạn này (ở tại Nam California) đã rõ chuyện chưa nhỉ  ???

Buồn phiền mà làm gì.  Chỉ là cách để trang trải tâm tư mà thôi.  Tôi có sống nổi với cây viết đâu (dù rằng tôi đã từng nhận tiền nhuận bút ít ỏi từ những bài viết đó, không nhiều, chỉ đủ để uống café cầm hơi, nhưng rất bằng lòng cùng vừa ý.  Ly café đó thơm nồng và đậm đà vô cùng vì đã đến từ tim óc riêng tôi, hơn hẳn đồng tiền do tôi đã kiếm được khi làm công bộc thời VNCH hay làm việc từ ngày định cư ở Hoa Kỳ)

Bắt chước nhà văn nổi tiếng Vũ Trọng Phụng (cái này thì thú thật dựa hơi) tôi thấy mình như đã được “sinh ra dưới một ngôi sao Bị Đì”

Quan anh Phó tỉnh Ninh Thuận tiếp tục đì tôi tận mạng cho tới đầu Tháng Tư Đen 1975 tôi mới tá hỏa tam tinh khi biết hai quan Đầu Tỉnh cùng Phó Tỉnh nơi đây đã cao chạy xa bay từ lúc nào mà chẳng ai hay.  Các quan lớn này chạy lẹ thiệt, có lẽ khi phỏng vấn thấy quan ta có chân cẳng dài nên cấp trên đã thuận cho làm phó tỉnh ???  Chưa gì hết đã chạy mất tiêu rồi, quan này có cảm thấy nhục nhã chăng ?   Và nếu có thì nghĩ sao về việc Nuớc Mất Nhà Tan, nay trách ai đây ?

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, quan ạ !

Cuối cùng thì gặp lại nhau ở trại tù nơi làng cô nhi Long Thành.   Hình như  sự ngỡ ngàng, bẽ bàng, sượng sùng đã đến với quan này cùng nỗi niềm uất hận của riêng tôi đối với những quan lớn như vậy.  Chuyện xẩy ra tại địa phương, nơi tôi làm việc nên tôi mới nhắc đến, chứ còn những nơi khác, ngoài sự hiểu biết, không trong tầm nhìn của riêng tôi nên chỉ đọc để biết, để buồn riêng cho vận nước mà thôi, không thể có ý kiến, ý cò chi được.

Ngày đó, phải chi tôi được làm việc tại Cục Quân Cụ ( một việc không thể xẩy ra đối với một viên chức hành chánh ) vì vị Cục Trưởng, Đại Tá Trần Văn Trọng đã xuất thần với tên nhạc sĩ Anh Việt qua bản nhạc “Bến Cũ” làm lòng tôi ngẩn ngơ ( Bến ấy, người đi, biệt ly nhớ nhung từ đây….”

Vì ông mê say âm nhạc nên mới gọi Đại Uý Cao Cự Phúc về làm việc tại Cục Quân Cụ khiến ông đại uý này mất mạng trong một chuyến công tác.  Đó là nhạc sĩ Hoàng Nguyên với những nhạc phẩm “Ai lên xứ Hoa Đào, Đường Nào Lên Thiên Thai, Em Chờ Anh Trở Lại….”.    Mọi việc trên cõi trần này đều có cái giá phải trả hình như hơi đắt như người Mỹ nghĩ khi nói : “ You play, you pay. “

Nay thì tất cả đều chỉ còn là dĩ vãng, nhưng dĩ vãng này không bao giờ nhạt nhòa,  mãi mãi làm lòng ta tan nát với những đớn đau khôn nguôi.

New York City,
Tháng 7 Năm 2013
Ninh Thuận Nguyễn Ngọc Cường ĐS 14
tức Người Bên Lề Nữu Ước