Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label CoDoHue. Show all posts
Showing posts with label CoDoHue. Show all posts

Wednesday, 7 January 2026

Trận cuồng phong Ngầy 11-9-1904 lớn nhất trong lịch sử khiến Huế tan hoang. 

 Năm 1904, một trận cuồng phong dữ dội chưa từng có đã ập xuống Huế, chỉ trong vài giờ biến kinh thành trù phú thành bãi hoang tàn. Cầu Trường Tiền gãy sập, nhà cửa đổ nát, hàng nghìn người thiệt mạng, để lại một dấu mốc bi thương trong lịch sử thiên tai của cố đô mà hơn một thế kỷ sau vẫn còn ám ảnh.

Cơn bão này đã phá hủy gần như hoàn toàn cây cầu sắt nối khu phố Tây và khu phố Ta. Trong số 6 nhịp cầu, 4 nhịp bị đánh sập, mỗi nhịp dài 65m, nặng 150 tấn. Sáu ngôi nhà của người Âu bị bão san phẳng, nhiều làng mạc của người bản xứ bị tàn phá, hàng ngàn người bị ảnh hưởng trực tiếp do bão. Lượng mưa ghi nhận trong ngày hôm đó lên tới 230 mm, con số này còn thấp hơn so với thực tế bởi sức gió quá mạnh. Áp suất khí quyển giảm xuống mức 720mmHg.


Cầu Huế (cầu Trường Tiền ngày nay) - Bốn nhịp cầu bị đánh sập do trận bão ngày 11/9/1904, chỉ còn trơ lại trụ cầu, nguồn: https://blogparishue.fr
Trong bản báo cáo ngày 21/9/1904, Hiệu trưởng Trường Canh Nông Huế đã mô tả về cơn bão như sau:

Sau một đêm mưa như trút nước, gió bắt đầu thổi từ lúc 8h30 sáng, mỗi lúc một mạnh hơn, đạt đỉnh vào lúc 12 giờ trưa và kéo dài cho tới 16 giờ.

Bốn nhịp của cây cầu Thành Thái (cầu Trường Tiền) nối hai bờ bị cuốn bay phần mặt cầu và rơi xuống sông. Tòa Khâm sứ bị tốc mái, văn phòng phải đóng cửa 3 ngày để sửa chữa. Không một ngôi nhà nào, dù của người Âu hay người bản xứ, còn nguyên vẹn. Những nhà ít hư hại nhất cũng bị tốc mái và sập trần; những nhà khác bị đổ sập hoàn toàn.

Thiệt hại về cây cối còn nghiêm trọng hơn. Nhiều cây cổ thụ như đề, mù u bị bật gốc và chết hẳn; các cây khác gãy đổ la liệt khắp thành phố và trong thành nội, tạo nên một khung cảnh hoang tàn không bút nào tả xiết. Người dân sống trong cảnh màn trời chiếu đất, vô cùng khốn khổ.

Trong thảm họa đó, trường Canh Nông Huế cũng chịu tổn thất nặng nề. Nhà cửa, cây trồng được đầu tư nhiều tiền bạc và thời gian giờ chỉ còn lại rất ít. Trong số các công trình cũ, nhà ở của Hiệu trưởng là nơi bị hư hại ít nhất, chỉ mất một bức tường và trần nhà hư hỏng một phần.

Các công trình mới gần như bị phá hủy, ngoại trừ hai ngôi nhà của nhân viên người Âu vốn được cải tạo từ kho lương của triều đình (Magasins royaux), chỉ bị tốc một phần mái và cuốn mất một trụ gạch. Nhà ở của giáo sư, kho củi, chuồng trâu, chuồng lợn, khu chăn nuôi gia cầm đều hư hại nghiêm trọng. Văn phòng và phòng học mới do chính phủ Nam triều xây dựng đã đổ sập.

Tóm lại, không một công trình nào còn nguyên vẹn, thật khó để ước tính mức độ thiệt hại, nhưng chắc chắn là rất lớn… Đáng buồn hơn là cảnh vườn cây nơi những giống cây quý như manihot glaziovii, castilloa, cây lai..., phần lớn đang cho quả, đều gãy đổ hoặc bật gốc, không thể cứu vãn.

Chỉ trong 3 giờ đồng hồ, cơn bão đã xóa sổ toàn bộ thành quả của 5 năm nỗ lực xây dựng tại trường Canh Nông Huế. Hoạt động khai thác đình trệ, toàn bộ nhân lực được huy động để sửa chữa các công trình thiết yếu và dọn dẹp khu vườn còn ngổn ngang thân cây và cành gãy”.

Phóng viên Alfred Raquez, có mặt tại Huế để đưa tin về Lễ mừng thọ 50 năm của Hoàng Thái Hậu - thân mẫu của vua Thành Thái, vào đúng thời điểm xảy ra cơn bão, đã thuật lại sự việc trên tờ L’Avenir du Tonkin ngày 23/9/1904 như sau:

“[… Hôm sau, Chủ nhật ngày 11/9, vào khoảng 11 giờ sáng, cơn bão ập xuống Huế. Nó quật ngã, nghiền nát, hủy diệt mọi vật cản trên đường. Những túp lều tranh của người An Nam đổ sập, chôn vùi những kẻ khốn khổ trong đó. Cây cối bật gốc, ngã đổ ầm ầm. Các tòa nhà của Hội thánh Saint Enfance, nhà thờ của Chủng viện Kim Long sụp đổ. Cha Dangelzer bị vùi dưới đống đổ nát. Chuông nhà thờ bị gió cuốn bay.

Những ngôi nhà kiểu Âu bị tốc mái, nước lũ tràn vào làm sập cả trần nhà. Tòa Khâm sứ, một công trình tráng lệ từng tiêu tốn khoảng một triệu quan cũng không thoát khỏi thảm họa, toàn bộ mái nhà bị cuốn phăng trong cơn cuồng phong. [...]

Người Âu hoảng loạn lánh nạn trong câu lạc bộ và tầng trệt của doanh trại ở hữu ngạn sông Hương, nơi các vòm trần vẫn trụ vững trước cơn bão dữ dội.

Cây cầu sắt lớn do “Công ty Creusot” xây dựng cũng không trụ nổi gió bão. Bốn nhịp cầu, mỗi nhịp dài 70m , bị bật khỏi các trụ cầu. Những khung sắt khổng lồ nay nằm ngổn ngang dưới lòng sông.

Huế trơ trụi không còn một bóng cây. Cơn bão đã cướp đi sinh mạng của khoảng 3.000 người bản xứ và làm 3 người Âu bị thương...”.

Như vậy, trận bão ngày 11/9/1904 không chỉ là một thiên tai khủng khiếp mà còn là dấu mốc đau thương trong lịch sử Huế, để lại những tổn thất to lớn về cơ sở hạ tầng, sản xuất và đời sống của người dân cố đô.

Sách Đại Nam Thực Lục cũng cho biết quan và dân trong kinh thành chết 17 người; dân sáu huyện của Thừa Thiên chết và bị thương 765 người nam nữ, đình chùa miếu mạo nhà cửa sụp đổ hư hại 28.220 gian, thuyền bè chìm và mất 787 chiếc.

Vietbf

Friday, 30 August 2024

 Về Với Huế

 
IMG_2855
hình tác giả cung cấp
         
Buổi sáng mở mắt ngồi trước thềm nhà nhìn ánh nắng xuyên qua cây lá xanh tươi, đang định pha ly cà phê ngồi nhâm nhi ngắm tiếp. Cu Quang phóng xe vô sân, xách một bịch bắp nóng hổi để trước mặt tui.
         
- Dì ăn cho đã thèm đi nghe.
         
- Khỏi nhắc con ơi, dì ghiền lắm nợ.
         
Nói xong tui lột trái bắp có ba màu trắng, vàng, tím, không cần hỏi cháu mua nơi mô, có xa không, tui đoán là ngoài chợ Đông Ba rứa thôi. Chao ơi là hắn ngon ngọt, hạt dẻo bốc lên mùi thơm thanh khiết dễ mê, ui chao tui cạp một lúc ba trái no ứ hự.
         
Mấy ngày ni từ khi về Huế: ngày đầu con Suyền được chị tui báo tin đã vội chạy bay tới.
         
- Ông nội mi, mụ cô mi… bỏ Huế đi lâu dữ rứa, hắn ôm chầm tui chửi liên tục, có điều không nhắc phía ngoại mà chỉ toàn bên nội (chắc hắn thương quê ngoại hơn).
         
- Mi muốn ăn món chi tau chở đi.
         
- Ừ bánh khoái Lạc Thiện hỉ.
         
Rứa là tui được hưởng hai cái bánh nhỏ thanh tao dòn rụm, bột họ pha răng mà mê rứa không biết, kèm mấy lát vả, lát khế, rau sống chấm nước tương pha chế ngon ơi là ngon. Tỉnh táo bao tử rồi hắn chở tui đi vòng thành phố Huế, qua khu Thương Bạc, ủa bữa ni răng mà người đông rứa, bớt vẻ yên tĩnh như ngày xưa, tiệm quán cũng mọc lên khó còn đất trống. Vừa đi hắn vừa kể nỗi gian khổ lúc trẻ, nay thì hậu vận quá tốt, con có địa vị thành công, chồng cưng yêu nhiều hơn lúc tuổi xế chiều, mà nhìn kỹ hắn tươi đẹp mặn mà ghê, chắc hạnh phúc gia đình biến sắc thêm xinh hè. Đi nửa ngày hắn thả tui về nhà” tau bận chút chuyện, sẽ gặp mi sau nữa nghe. Tui cám ơn hắn, gần 50 năm tuy xa mà hắn vẫn nhớ, vẫn đầy tình bạn thân thiết như hồi mô.
         
Kế tiếp những ngày sau, ôi thôi tui được bạn bè tới thăm, đứa xách trái mít, đứa đem vú sữa, con Đào tha một bịch đào trắng, xanh ngọt lịm, con Dung mua chè bột lọc bọc thịt quay. Tui tha hồ nghe tụi nó kể chuyện Huế của ta. Tụi nó dành nhau chửi “mụ cô mi để tao nói hết; ông nội mi nói dài dòng quá...” Tui nghĩ cái tật xấu hơn 50 năm về trước tưởng tụi hắn bỏ rồi, làm gương cho con cháu chứ, ai dè vẫn còn y nguyên, giống khi đứa mô ôm tui cũng don dỏn cái miệng “mụ cô mi, mụ nội tam đợi mi, đi bơ đi luôn...” Tui phải “hét” lên làm mạ tụi hắn một trận kể lại vài chuyện xưa.
Chuyện một:
         
Cạnh nhà tau có chị hàng xóm tên Hà, tình cờ bữa nớ qua trả cặp que đan. Thấy ông nội dưới làng lên thăm cháu, đang giỡn với thằng Hiền con chị, nó nói lại chi tau không nghe rõ, chỉ biết chị Hà đang ngồi làm cá ngẩng lên la nó “ Hiền! ai cho mi hỗn với ôn nội rứa hí, ôn nội mi nờ ...” Đúng lúc tao  xuất hiện thọt vô hông chị nói nhỏ
         
- Ôn nội đứng đó răng chị lại chửi rứa?

Chị nghe giật mình
         
- Chết… chết… chết… thiệt là ôn nội cái thằng mất dạy.
         
Khi nớ làm răng tao quên được nét mặt ôn nội dương đôi mắt to lồ lộ nhìn chị sững sờ, hình như á khẩu. Tụi bây thấy tau giỏi chưa, chuyện hay không nhớ, chuyện thiên hạ ghi tâm cốt dạ thiệt là “tào lao bí đao” hết sức.

Chuyện hai:
         
Có bữa trưa nớ tau tình cờ đi ngang nhà con Phượng nên ghé thăm, hắn làm dâu nhà giàu nên tau cũng e dè, ngại ngùng. Hắn thấy tau mừng lắm, cả nhà đang ngủ trưa. Hắn lôi tau ra sân ngồi dưới bóng mát cây nhãn, mặt hắn buồn dàu dàu:
         
- Mi biết răng không? tau mới bị mạ chồng mắng
         
- U chao... răng rứa?

Cặp mắt hắn chớp chớp như chực khóc:
         
- Thằng cu Tý nghịch quá, người ta trồng cây non trước nhà, hắn đi nhổ hết làm bà con tới mắng vốn, tau xin lỗi, họ về rồi kêu hắn ra “tại răng con cứ phá nghịch hoài như rứa, có muốn mạ đánh cho một trận không hỉ, ông nội mi nghe chưa…” Tau chưa dứt câu mạ chồng bước xuống thang lầu vẻ mặt nghiêm nghị “Phượng con không được lôi ông nội ra chửi cu Tý, ông nội nó là ai, là ba chồng của con” xong bà bước trở lên lầu lại…
         
Tau tự dưng mắc cười quá, ôm bụng cười ngặt nghẽo, cười thắt cả ruột trong khi hắn kể chi thêm tau không còn nghe nữa. Hắn nhìn tau cười như đười ươi tự nhiên cũng cười theo, hai đứa thi đua nhau cười một trận xong, tau mới nói “bà la là đúng quá rồi còn buồn chi nữa, tau biết là thói quen của tụi mình nói chi cũng kèm theo tiếng nớ như đàn ông kèm tiếng ĐM vậy mà, thôi cố gắng sửa lại hí.” Đi lâu năm, từ mái tóc xanh đổi thành tóc bạc, từ được gọi tiếng “em” qua “chị, cô “và chừ thì “mệ” tau tưởng đứa mô cũng bỏ được rồi chứ. Cả bọn đồng cười nói “có thương mới nhắc bên nội đó mà...”
         
Sau đó Như Chương chạy đi tìm gánh cơm hến, ngồi vây quanh nhìn rổ rau có bắp chuối, khế, rau sống, giá, tô ruốc xắn tỏi tươi, mè, đậu phụng, hến xào pha vài sợi miến, nồi nước đục màu cháo lòng thơm mùi gừng… chao ơi là Huế của tui, miệng đứa mô cũng muốn sưng phồng vì nếm ớt cay xé.
         
Hết ngồi lê bà Tám, nói dóc trên trời dưới đất, cười ha hả rồi than đau lưng. Cả bọn nằm xếp cá, lăn mình sát mặt gạch ca rô của nền nhà lau sạch láng o, đóng cửa ngủ một giấc ngon say. Thức dậy nghe tiếng rao “bánh canh Nam Phổ mời thời cho nóng đây...” trời đã nóng rồi cần chi thời cho nóng nữa, dù là cuối Hạ chuyển qua đầu thu, nhưng nóng đổ mồ hôi, chẳng ai dám ra đường chút mô hết, rao chi lạ rứa hè...” Mới nghĩ cho vui thì bạn Lệ Hằng nhanh miệng gọi vô. Gánh hàng ăn nhìn thương hình ảnh quê hương lắm rứa tề: một đầu nồi bánh canh đặc sệt lớp tôm màu đỏ nổi trên mặt, đầu kia khuôn bánh cuốn bọc tôm chấy tại chỗ, chung quanh dựng lên ít bánh lọc, bánh nậm gói lá kèm nước mắm pha thả đầy ớt lát, răng mà muốn húp sạch sành sanh rứa hè.
         
Món mô tui cũng thử hết, ăn không muốn nuốt, chỉ muốn ngậm mà nghe. Dại chi không ăn chứ, của chùa không ăn cũng uổng, í quên của...bạn bè đãi mà.
         
Rứa rồi đứa bạn già mô cũng lật đật về kẻo con lo cháu đợi vì đi cả ngày rồi. Tụi hắn không quên dặn nhau ngày mai mặc áo dài tím, thuê dịch vụ xe chở lên đồi Vọng Cảnh, Chùa Thiên Mụ, đồi Thiên An chụp hình ...Chi chớ cái màn nớ là tui mê nhất, và tui biết chắc đứa mô cũng có áo dài tím, sắc tím thủy chung phe phụ nữ đã tuyên thệ gắn bó màu linh hồn của Huế từ lâu rồi.
         
Đêm ngồi trước thềm nhà, giàn hoa ti-gôn rũ xuống mái hiên, ánh trăng chênh chếch xuyên qua cành lá khóm hoa. Hồn tui bay lên cao, tui gặp hồn thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử vang đâu đó:

                   Cả trời say nhuộm một màu trăng
                   Và cả lòng tôi chẳng nói rằng
                   Không một tiếng gì nghe động chạm,
                   Dẫu là tiếng vỡ của sao băng ..
                             .............
                   Ta ném mình đi theo gió trăng
                   Lòng ta tản khắp bốn phương trời
                   Cửu trùng là chốn xa xôi lạ
                   Chim én làm sao bay đến nơi (Trăng)
 
         
Mênh mang theo nhịp điệu vần thơ, đêm càng khuya, ánh trăng càng sáng rỡ, soi vằng vặc khoảng sân yên ắng. Tui lại say sưa ngâm nga mấy câu của Quách Tấn:

                   Gió rủ cành đi ngàn liễu khóc,
                   Sông đưa lạnh tới bóng trăng run.
                   Thuyền ai tiếng hát bên kia vẳng?
                   Ghé lại cho nhau gởi chút buồn (Bên Sông)
 
 Răng mà người ta say rượu, say cờ bạc, còn tui lại say thơ tới lạ rứa không biết.
                   Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
                   Đàn ghê như nước lạnh trời ơi
                   Long lanh tiếng hạc vang vang hận,
                   Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người 
                                        (Nguyệt cầm - Xuân Diệu)
          
Về với Huế của hồn thu tháng tám cho tui đêm tĩnh lặng ngồi ngắm ánh trăng thanh, ánh trăng biết bao mùa kỷ niệm dạt dào khi còn mẹ. Ánh trăng vẫn còn đó mà bao nhiêu người thân đã ra đi ....
         
Rầm... rầm... rầm…
         
Tiếng như trời sập đè lên người, tui mắt nhắm mắt mở giật mình ngơ ngác, nhìn chiếc ti vi còn mở chiếu phim action, chẳng biết phim chi chiếu nhà cửa đổ nát bởi tiếng đạn pháo bắn dữ dội. Tui tỉnh táo dần, đèn sáng trưng, đồng hồ điểm gần 3 giờ sáng, nhớ lại hồi tối nằm xem phim rồi ngủ say khi mô không hay. Thì ra chỉ là GIẤC MƠ VỀ THĂM HUẾ, ui chao là tiếc chi lạ... chưa mặc áo tím chụp hình cảnh Huế, chưa đi tìm con cháu mụ Rớt ăn tô bún bò, chưa đi uống cà phê Dạ Khúc với con Hoàng nữa chớ... Tui tắt ti vi, tắt đèn nằm dỗ giấc ngủ, cũng hơi khó nên cố ôn lại giấc mơ. Nhớ thầy dạy Triết môn đạo đức” Tưởng tượng hay nằm mơ là trạng thái của sự đè nén được giải tỏa.” Chắc tại tui nhớ Huế quá, nhớ bạn bè nên giấc mơ cho gặp, chứ nhiều bạn chừ đã chết, đã ở Mỹ, ở Sài Gòn, ở Đà Nẵng rồi mà. Sực nhớ còn tuần nữa ăn mừng tiệc sinh nhật Huế Online 4 tuổi tại nhà hàng Ngọc Sương đối diện khu Century thuộc thành phố San Jose, hai ngày tới đi tập văn nghệ nữa. Thôi thì cố dỗ giấc ngủ, sáng dậy còn biết bao công việc phải làm thúc sau lưng.
                                                **************
         
Huế Online của miền Bắc Cali có những nhân vật rất đặc biệt đầy tình nghĩa và sự hy sinh. Tui kể sơ cho bà con nghe nì: ngôi nhà anh Bào và chị Cindy là nơi chứa các thành viên luôn nhiệt tình như chị Botin nằm trong ban tổ chức lo phần văn nghệ. Chị Hà Phúc lo phần thủ quỹ. Chị Hà Lan dù xa xôi nhưng luôn có mặt sát cánh cùng chị em.
         
Chị Cindy và chị Botin mua các món nữ trang, xiêm y miền sơn cước cũng như dụng cụ kể cả các thứ cho ban hò hụi, nhờ người đem qua từ VN. Chị Cindy ngày đêm còn may rất nhiều áo bà ba cho mọi người mặc trình diễn. Những lần tập dượt luôn tập trung tại nhà chị Cindy, chị lo phần ăn uống thả dàn, các anh Bào, anh Vỹ phụ đưa đón và giúp nhiều việc.                 
 
Nói thiệt ra chứ tuổi trẻ chừ hắn không thèm chơi với người già, rất trông mong các cháu góp bàn tay, nhưng chúng nó bận quá nhiều việc. Nhìn lui nhìn tới chẳng có ai nên “không có cháu bắt bà già ra… múa“, chao ơi là hắn dị chưa tề khi đội múa thuộc trên dưới U 80, đầu óc nhớ nhớ quên quên, tập đi tập lại rất lâu vì bị lộn hoài, chứ còn màn hát hợp ca, hò hụi thì dễ dàng không lo. Tất cả đều cố gắng vì nể tình chị Cindy quá tốt, hy sinh nhiều việc cho… đại nghĩa, chẳng lý mình không cố gắng được hay răng? Vì rứa ban văn nghệ U80 muốn bày tỏ lòng kính mến anh chị chủ nhà, nên vui vẻ kiên nhẫn tập luyện.
                                               
                                                          *******
         
Ngày họp mặt 18 tháng 8 của “Huế Online “đã tới. Là ngày nắng Hạ còn níu kéo tươi hồng rực rỡ. Lòng người cũng hăng hái đầy năng lực theo. Bước vô nghe rộn rã
         
- Rứa O ở mô.
         
-Tui ở ngã Bao Vinh đi về.
         
- Răng tui thấy anh quen quen.
         
- Tui ở trong Thành Nội.
         
Chao ơi! Ai cũng thấy quen quen hết á, chắc tại vì cái giọng “mô tê răng rứa” chớ chi nữa hè. Nhìn mấy mệ mặc kiểu sơn nữ ca, đeo tằm, đeo “hầm bà lằng “trên người xanh, đỏ, vàng, tím thấy trẻ rứa thê, trẻ chớ không ngon mô nợ, vì tuổi sứt càng, gãy gọng kè kè tủ thuốc hết rồi... Bởi rứa dù mặc kiểu lên đồng hà bá vẫn thấy trẻ hơn 20 tuổi đó nợ, cứ rứa mà làm thì niềm vui cũng tới, cho mình tăng tuổi thọ đó thê, rứa hỉ các người già. Tui thì hồi hộp cái màn mấy mệ múa bài “Nhạc Rừng Khuya” còn nhớ động tác không? Và có ai sẽ chê “bầy vịt, bầy heo” đang múa không? Nghĩ tếu mà cười cho vui thôi, chứ nhằm nhò chi mấy cái khen chê ở chặng cuối đời hè. Rứa rồi cũng có người… lộn chút xíu đó nghe, nhưng thành viên của Huế Online dự tiệc dễ tánh, quay phim, vui vẻ thân ái cổ động U 80 làm chị em mừng đã gặp được người có tâm thiện, tâm hoan hỷ của những vị thiện hữu tri thức, nên lòng nhẹ nhõm khỏe re. Màn ca hát với những bài về Huế nặng lòng nhớ thương, anh chị em hát cho nhau nghe trong tình thân mật hài hòa ấm cúng. Đặc biệt có màn muốn nổ tung sân khấu là cặp vợ chồng anh Bào, chị Cindy thuộc U 80, anh bày tỏ hát “60 năm cuộc đời” thì thiệt thòi quá, nên đổi lại “90 năm cuộc đời “. Anh chị mặc quần áo như tuổi teen, vừa đẹp vừa trẻ quá trời, đã rứa còn “Twist” như điên, có ôn mụ mô khỏe như rứa khôn hè.
         
Cũng nhờ Huế Online mà các chị sau gần 50 năm nhận diện ra nhau, ôm chặt mừng rỡ. Tui cũng được chữa bớt bệnh “nhớ Huế” khi bước vô ngôi nhà rộng của Huế, thấy nồi chè đậu ván đang sôi, gánh bún bò đang múc, trời mưa phủ lên bóng Hoàng Thành, những con đường choàng sương mù, cảnh sông Hương núi Ngự, cửa Đại Nội, cửa Ngọ Môn, hồ Tịnh Tâm hay bất cứ ngõ ngách mô của Huế. Chưa kể đọc những bài viết hay về Huế, về lịch sử, về địa lý nhân văn. Tui cám ơn Trung Trực người sáng lập trang Huế Online, và những nhân tài chung tay góp phần làm ngôi nhà Huế mỗi ngày mỗi phong phú từ nội dung tới hình thức thêm.
         
Huế trong tim. Huế nơi ngôi nhà Online để cùng nhau được sống, được thở trên mảnh đất Thần Kinh mà đứa con xứ Huế đã rời xa gần 40 năm qua…
                                                                  
Minh Thúy Thành Nội                                                                  
Ngày 18 tháng 8 năm 2024

Sunday, 12 May 2024

HỒ SEN TỊNH TÂM HUẾ./-Mt68


Giống sen trắng được trồng nhiều ở hồ Tịnh Tâm (thuộc phường Đông Ba), 1 trong 20 thắng cảnh đẹp nhất xứ kinh kỳ thời triều Nguyễn.

Hồ sen trắng tại Tịnh Tâm vừa tạo công ăn việc làm cho những người dân sống trong khu vực vừa giúp hạn chế tối đa việc người dân tiếp tục xả rác xuống hồ gây ô nhiễm nặng. Đặc biệt tạo thêm một điểm nhấn về du lịch vốn có tính văn hóa, lịch sử rất giá trị của Huế.



Tuesday, 9 April 2024

 Một Đời Đau Thương

nguyễn thị huế xưa

Tác giả là cư dân Austin, Texas; Công việc:  y tá trưởng trong một bệnh viện thành phố. Huế Xưa đã góp nhiều bài viết sống động và nhận giải vinh danh tác giả Viết về nước Mỹ 2006. Sau đây là bài viết mới nhất của cô, đặc biệt dành cho kỷ niệm 32 ngày 30 tháng Tư. Nhân vật chính trong chuyện kể là một cựu chiến binh chính gốc Hoa Kỳ mang họ Ngô, dòng họ của người phụ nữ Việt mà ông yêu thương nhất.

°

Chiếc xe lăn bằng điện cồng kềnh to lớn hơn xe lăn khổ thông thường nằm ngay trước cửa phòng 828 làm tôi giật mình để ý.

Khi tôi bước đến gần thì không cần quan sát kỹ tôi đã nhận ra sự quen thuộc của những dụng cụ linh tinh chung quanh chiếc xe lăn rất khác thường này.  Chiếc xe lăn bằng điện to gần gấp hai chiếc xe lăn thường và không có hai cái bánh xe lớn mà lại có bốn cái bánh nhỏ như bánh xe hơi nằm dưới một cái sườn vuông vứt bằng sắt cao chồng ngồng.  Trên cái sườn bằng sắt cao đó là một mặt ghế ngồi có lót bằng một miếng nệm khá dày bằng móp (eggcrate).  Phía bên phải của ghế có gắn một cái đèn chớp màu đỏ giống như đèn báo hiệu trên xe cảnh sát.  Phía bên trái cũng có một cái đèn giống như vậy chỉ khác là màu xanh.  Kế đó là cái tay cầm tròn như tay sang hộp số để điều khiển chiếc xe. Phía sau ghế có một cái khung cũng bằng sắt trong đó có đựng một hộp đổ nghề màu đen và một cái lồng chim bằng gỗ xiên xẹo. Một cái bình đựng nước bằng nylon màu xanh két, một sợi dây xích cũ máng ngay một bên tay ghế, cái áo thun màu đỏ với giòng chữ " Peace not War" bọc sau lưng chiếc ghế.

Mỗi ngày khi ngồi ăn trưa trong văn phòng nhìn qua phía bên kia đường của cái clinic đối diện, tôi thường bắt gặp hình ảnh của một người đàn ông với đầu tóc dài rối bù như chiếc dẻ xoắn lau nhà ngồi trên chiếc xe lăn đặc biệt này với những thứ  đồ lỉnh kỉnh đó.

Sở dĩ tôi chú ý đến ông ta vì dường như trưa nào đúng mười một gìờ rưỡi người đàn ông này cũng hùng hổ liều mạng lái chiếc xe lăn phăng phăng, bất chấp những dòng xe hơi nhộn nhịp, mạnh dạn băng qua phía bên kia đường để vào một quán café có cái tên là TÈO.  Mỗi lần ông ta rời quán TÈO thì tôi thấy ông ta cầm cái bình nylon màu xanh két dốc lên miệng.  Tôi đoán có lẽ ông ta vào quán đó mua café đổ vào bình.  Tôi không nhìn rõ khuôn mặt ông ta cho lắm vì từ văn phòng tôi nhìn qua khoảng cách khá xa.

Một bữa tôi có hẹn bên văn phòng ông bác sĩ gần đó cũng vào dịp trưa, khi đứng ở cột đèn chờ dấu hiệu đèn xanh bật lên để băng qua đường tôi tình cờ thấy ông ta rõ ràng hơn.  Mái tóc dài màu hung vàng rối bù không biết là dơ vì lâu ngày không gội hay màu hung hung đó là màu tóc nguyên thủy. Bộ râu cùng màu rập rạp che hơn nửa khuôn mặt, chỉ chừa lại cặp mắt dấu sau đôi kính đen to.  Trên người ông ta có lẽ cũng có chừng năm lớp áo mà cái áo ngoài hết là một áo rằn ri nhăn nheo.  Đôi giày bốt nâu bạc màu to như hai chiếc xuồng nằm lửng lơ trên hai miếng để chân mà tôi có cảm tưởng như hai bàn chân của ông ta quá nhỏ so với đôi giày. Ông ta ngồi bất động trên chiếc xe lăn, chỉ có đôi tay di chuyển để điều khiển chiếc xe thôi.  Mỗi khi chiếc xe lăn tới khiến những dụng cụ máng chung quanh tạo ra những tiếng động nhỏ kỳ khôi và cái đèn màu đỏ trên chiếc xe lăn thì cứ chớp liên hồi.

Trong khi tôi kiên nhẫn đứng chờ đèn xanh bật lên để băng qua bên kia đường thì ông ta nhìn tôi thách thức, và qua đôi kiếng màu đen đó tôi đã tưởng tượng được cặp mắt chế giễu trước khi ông ta bạc mạng lái vùn vụt chiếc xe lăn chạy qua phía bên kia lề bất chấp những giòng xe điên cuồng vội vã.

Hai buổi trưa vừa qua tôi nhìn qua cửa sổ không thấy bóng dáng người đàn ông này nên tôi cũng hơi làm lạ, không dè ông ta nhập viện và đang nằm trên lầu thứ tám này. Tôi  bước đến lật hồ sơ của phòng 828 xem, cái tên trên hồ sơ làm tôi khựng lại, Kevin Ngô.

Tôi nhủ thầm như vậy là chiếc xe lăn này để lộn qua phòng người khác rồi vì chủ của chiếc xe lăn có một không hai này không thể là người Việt Nam. Tôi định đẩy chiếc xe lăn qua một bên và đi tìm người chủ của nó thì lúc đó một ông y tá mặt đầy tàn nhang, tóc đỏ hoe đang đi trong hành lang ngừng lại cản tôi:

- Bà đừng đem xe đi vì ông Ngô sẽ giận dữ.

Tôi gặng hỏi:

- Ông Ngô?

Ông y tá tiếp tục nói:

- Đúng rồi, của cải của ông ta chỉ có bao nhiêu đó cho nên tôi phải hứa là "bảo vệ  chiếc xe thì ông ta mới đồng ý để nó ở ngoài này, nếu để trong phòng thì chật chội qúa, mỗi ngày vào chữa trị vết thương cho ông ta không có chổ để máy móc.

Tôi chất vấn:

- Phải ông Ngô nằm trong phòng 828 không?

Nhìn sự thắc mắc trên khuôn mặt của tôi ông y tá lật đật nói:

- Ông Ngô nằm trong phòng đó đã hai ngày.  Bà cần kiểm soát (audit) hồ sơ của ông ta hả?

Tôi không còn kiên nhẫn được nữa nên gật đầu đại cho xong chuyện:

- Ừ! Để tôi coi hồ sơ của ông ta xem sao

Kevin Ngô năm nay 54 tuổi, góa vợ, không nghề nghiệp và vô gia cư.  Ông ta nhập viện cách đây hai hôm với triệu chứng lở loét ở xương chậu (sacral decubitus).  Càng đọc tiểu sử của ông Kevin Ngô tôi càng thấy lạ thêm.

Kevin Ngô là Viet Nam Veteran, theo lý lịch hồ sơ thì ông ta là người Mỹ. Ông ta đã từng bị gãy xương sống, chấn động mạch máu não và sau khi bình phục thì hai chân ông ta rất yếu, đã phải dùng xe lăn từ bao nhiêu năm nay.

Sau khi đọc lướt qua hồ sơ, sự tò mò khiến tôi mạnh dạn gõ cửa phòng của ông để xem có phải đây là chủ nhân của chiếc xe lăn điện không.

Vì cái tên Việt nên mặc dù người đàn ông trước mặt qủa thật là người đàn ông mà tôi đã từng thấy bên lề đường hằng ngày, tôi giới thiệu với ông ta tôi là y tá trưởng và mở lời chào hỏi bằng tiếng Việt Nam:

- Chào anh Kevin, anh có khỏe không?

Đôi mắt không còn giấu sau làn kính đen nữa mà là đôi mắt xanh biếc với cái nhìn rất thờ ơ, ông ta ngạo mạn trả lời:

- Nằm một chỗ như thế này thì làm sao khỏe được.

Tôi ngạc nhiên khi nghe câu trả lời hằn học bằng tiếng Việt khá rõ ràng của ông ta.

- Xin lỗi anh nghe, đáng lẽ phải hỏi là anh có cần gì không thì mới phải.

Đôi mắt xanh bây giờ không nhìn tôi mà nhìn chăm lên trần nhà:

- Lỗi phải chi bà, mà bà có cần gì không?

Lại  là lời thách thức. Tôi từ tốn trả lời:

- Tôi tưởng anh người Việt Nam nên chỉ muốn vào thăm thôi.

 Ông ta nhìn tôi châm biếm:

- Như vậy là bà chỉ thăm viếng người Việt Nam thôi sao? Tôi người Mỹ nhưng nhờ có tên Việt, may qúa mới được bà vào thăm.

Tôi vẫn điềm đạm:

- Nếu có dịp ai tôi cũng thăm cả nhưng có những người Việt Nam không thông thạo Anh ngữ thì họ là những người được tôi ưu đãi giúp đỡ trước tiên.

Kevin bắt đầu dịu giọng:

- Bà giúp được những gì?

Tôi nói với ông ta là tôi thường thông dịch cho những người Việt Nam nếu cần và vì đây là nhà thương công giáo nên chỉ có mấy bà soeur vào thăm mỗi ngày.  Nếu những người đạo Phật muốn cầu an thì tôi có thể liên lạc với thầy ở chùa đến an ủi, cầu an cho họ.

Đôi mắt xanh của Kevin không dưng sáng lên và tia nhìn của ông trở nên thân thiện:

- Bà hay đi chùa phải không? Tôi cũng đạo Phật.

Tôi ngạc nhiên đến tột cùng.

Cuộc đàm thoại với người đàn ông Mỹ có cái tên Việt này bắt đầu kỳ thú.  Có lẽ bắt gặp cái nhìn nghi ngờ của tôi nên Kevin đưa tay vào cổ áo lôi ra một sợi giây chuyền vàng với cái tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát bằng cẩm thạch rồi giọng buồn kể:

- Vợ tôi tặng cho tôi sợi dây chuyền này khi chúng tôi mới lấy nhau...

Rồi bỗng dưng Kevin ngưng kể, đôi mắt nhắm lại và lắc đầu:

- Chuyện tôi buồn lắm, lúc khác nói chuyện nữa nghe bà.

Tôi biết Kevin không muốn tiếp tục và vừa lúc đó người physical therapist đến phòng để chửa trị vết lở cho ông.

Nhìn cái máy Whirl Pool kềng càng và cái giường khác biệt dành cho những bệnh nhân với vết thương lở nặng, tôi mới hiểu tại sao ban nãy ông y tá bảo là mỗi lần chữa trị vết thương không có chỗ xoay xở trong căn phòng chật hẹp.

Tôi cáo từ Kevin, cho số điện thoại và bảo nếu cần gì thì cứ gọi thẳng cho tôi.

**
 *

Khi tôi bước vào Kevin có vẻ mừng rỡ.

Tôi nhìn thân thể yếu đuối của ông nằm bồng bềnh trên chiếc giường nước (pressure released bed), chưa kịp hỏi han thì mặc dầu kẹt ống Oxygen trên mũi, Kevin cũng gắng đùa, lần này bằng tiếng Anh:

- Tôi được...vinh dự lắm mới được nằm trên cái giường nước này đó bà.

Giọng Kevin không có gì mỉa mai cho nên tôi cũng đùa theo:

- Tại vì anh... đặc biệt...

Thật sự thì khi những người bệnh nhân nhập viện với vết lở khá nặng ăn sâu vào da thịt vì không có đủ khả năng di chuyển nên máu không lưu thông đều, tạo nên áp xuất mạnh gây ra sự lở loét (decubitus) thì chúng tôi phải dùng những chiếc giường nước như thế này để giảm bớt sức ép của mặt giường vào cơ thể với làn da vốn đã rất mỏng manh.

Vì hai bàn chân yếu Kevin phải ngồi trên xe lăn cả ngày, mặc dầu chiếc ghế có lót miếng nệm dày bằng móp như đã nói nhưng vì ngồi một chỗ quá lâu, sức ép của cả thân thể dồn vào phần xương chậu, cho nên Kevin mới phải nhập viện với vết lở đó

Kevin cười buồn:

- Bà coi đó, cái... bàn tọa của tôi thì lở loét, bây gìờ thì cái phổi cũng...lều bều đầy nước.

Tôi an ủi:

- Anh ráng tịnh dưỡng, năm ba bữa sẽ mạnh lại rồi về nhà...

Tôi nói chưa xong câu thì đã biết mình lỡ lời.  Ông bệnh nhân này là người vô gia cư. Dường như đoán được ý nghĩ của tôi, Kevin mệt mỏi thì thào:

- Nhà đâu mà về bà.  Tôi sống trên chiếc xe lăn bao năm nay, nhà là những con đường, những bờ bụi...

Kevin nói tới đây thì thở dài và có ý như không muốn tâm sự nữa:

- Thôi bà đi làm đi, không dám làm mất thì giờ của bà.

Lần này là lần thứ hai Kevin cố ý tránh kể chuyện riêng tư của chính mình.

Tôi làm việc với bệnh nhân lâu năm và lúc nào cũng tôn trọng sự riêng tư của họ, tôi cũng hiểu là đối với Kevin, sống trang trải một mình ngoài đường, góc xó và va chạm những thực tế hiểm hóc trong đời sống trên lề đường thì ông ta khó có thể tin tưởng ai để tâm sự về cuộc đời mình. Tôi chào Kevin sau khi chúc ông ta nhiều may mắn.

Những ngày kế tiếp tôi không đích thân đến thăm Kevin vì tôi nghĩ sự thăm viếng của tôi chỉ làm phiền ông ta thôi mặc dầu tôi vẫn hoài thắc mắc về cái tên họ Việt Nam của ông.  Tuy nhiên, mỗi ngày tôi vẫn theo dõi tình trạng sức khỏe của Kevin qua điện thoại với những người y tá săn sóc cho Kevin. Tôi cũng liên lạc với cô Nancy làm về xã hội nhờ cô lo cho Kevin một nơi chốn cư ngụ khi sau khi xuất viện.

Lúc nói chuyện với cô Nancy thì tôi mới khám phá ra Kevin là " khách hàng thường xuyên" của bệnh viện và cũng là người được cô Nancy dành rất nhiều thì gìờ lo lắng cho mỗi khi ông ta nhập  viện trong những năm qua.

Cô Nancy cho biết là Kevin rất bướng bỉnh vì cô đã từng lo cho Kevin đi đến ở viện dưỡng lão cũng như đến những nhà dành cho những người tàn tật, nhưng Kevin chỉ ở vài hôm sau đó lại bỏ đi ra sống lang thang trên đường phố trên chiếc xe lăn.  Chính cô Nancy là người xin giấy tờ cho Kevin có được chiếc xe lăn bằng điện để tiện việc di chuyển.

Cô Nancy cho tôi hay là Kevin đã và đang trải qua những khủng khoảng tinh thần sau khi rời quân ngũ (post traumatic stress), cho nên tính tình đôi lúc bất bình thường.

Một tuần sau đó thì cô y tá gọi cho tôi hay là Kevin đã đỡ nhiều và đã được đưa trở về lại lầu tám. Kevin có nhắn lại là ông ta muốn gặp tôi.  Tôi trở lên thăm và lần này thấy ông ta gầy guộc hẳn đi.

Sau khi chào hỏi qua loa, Kevin ngập ngừng:

- Có một chuyện làm phiền bà...

Trong khi tôi nhìn Kevin chờ đợi thì ông ta lấy từ dưới cái gối ra sợi giây chuyền có tượng Phật Bà bằng cẩm thạch mà lần trước Kevin đã khoe với tôi.  Lần này Kevin buồn bã nhắc lại:

- Tượng Phật này là của vợ tôi tặng cho tôi khi chúng tôi mới lấy nhau. Sợi dây chuyền bị đứt rồi, nhờ bà giữ giùm vì tôi không có chỗ cất sợ để mất đi.

Tôi cầm sợi giây chuyền vàng, thật sự sợi giây không bị đứt chỉ có cái móc bị gãy thôi. Trong khi tôi còn mân mê sợi giây chuyền trên tay thì dường như Kevin không cầm lòng được nên bắt đầu kể cho tôi nghe về cuộc đời bi thảm của ông.

Nếu nói theo số mệnh thì Kevin là người khổ hạnh cho nên cuộc đời của ông thật nhiều đớn đau.

Kevin lớn lên mồ côi cha mẹ, sống với một bà dì góa bụa.  Sau khi xong trung học hai năm thì Kevin bị động quân và được gửi qua Việt Nam đóng binh ở Kontum.  Nơi đây Kevin đem lòng thương một một cô gái miền cao nguyên chất phác, hiền lành.  Cha mẹ cô gái sống trong khu gia binh rất nghèo và đông con nên khi Kevin ngõ lời muốn cưới để đưa cô về Mỹ ở thì hai ông bà đồng ý ngay. Chẳng may sau một đêm khu gia binh bị pháo kích thì cô gái bị trúng đạn chết.  Kevin rất đau khổ và chỉ vài tháng sau khi ra chiến trường thì bị thương trên xương sống rồi được đưa trở về Mỹ.

Khi trở về với tấm thân tàn tật và sự ám ảnh tàn khốc của cuộc chiến điêu tàn ở Việt Nam khiến Kevin bị khủng khoảng tinh thần.  Vì phải mổ xương sống mấy lần nên Kevin nằm nhà thương gần cả năm trời. Lúc xuất viện thì bà dì góa bụa của ông ta qua đời.

Một thân một mình, Kevin sống qua ngày trong căn nhà nhỏ của bà dì cho đến khi bị bệnh chấn thương động mạch máu não thì không thể lo cho chính mình, và sau nhiều lần ra vào nhà thương thường xuyên, Kevin đồng ý vào một viện dưỡng lão ở tạm. Ngày tháng ở trong viện dưỡng lão này là một nỗi đọa đày đối với Kevin. Sống chung đụng với những người già nua nhiều thụ động càng làm cho Kevin qúa chán chường. Nhưng chính nơi chốn buồn tẻ này lại là môi trường mà Kevin đã gặp thêm một phụ nữ Việt Nam khác, người vợ mà ông quí trọng yêu thương nhất.


Cô Lài làm y tá phụ.  Một trong những phận sự của cô là mỗi tối giúp cho Kevin thay áo quần sửa soạn để đi ngủ. Vì hai chân của Kevin qúa yếu nên mỗi lần di chuyển từ cái xe lăn qua tới giường nằm thì cô Lài dường như phải dùng hết sức từ hai cánh tay của mình nâng cả cơ thể của Kevin để đưa qua. Dạo đó Kevin xử dụng chiếc xe lăn thường nên cái ghế không cao như xe lăn điện hiện đang có nên dự di chuyển từ chiếc xe lăn qua giường rất khó khăn.  Kevin thấy cô Lài nhỏ nhắn, mỗi lần cô phụ như vậy thì Kevin thấy rất áy náy.  Cô Lài tiếng Anh thì hạn chế nhưng cô cũng hiểu được sự quan tâm của Kevin đối với cô nên lần nào cô cũng nhắc Kevin là cô tuy nhỏ người nhưng lại mạnh, vả lại đây là nhiệm vụ của cô.

Mỗi ngày cô Lài đi làm vào ca chiều, Kevin ngồi ở ngay cửa nhìn cô thoăn thoắt đi vào và để ý là cô làm việc rất chăm chỉ, ai cô cũng lo lắng rất chu đáo cho nên tất cả mọi người trong viện dưỡng lão đó đều thương mến cô.

Kevin để ý là khoảng sáu giờ chiều sau khi phụ những bệnh nhân ăn uống xong thì cô Lài  ra ngồi một mình trên chiếc ghế đá ở một góc sân  bắt đầu ăn cơm và đọc một cuốn sách nhỏ trong tay. Sau vài tuần để ý thì Kevin mân mê lại làm quen.  Cô Lài lúc đầu còn rụt rè nhưng sau đó với vốn liếng Anh ngữ kém cỏi cô cũng hàn chuyện với Kevin.

Được biết cô Lài lúc trước ở miệt Phan Rang, khi cộng sản chiếm nước được vài năm sau thì  cha mẹ  cô mượn được một số vàng cho cô đi theo chiếc tàu chở mướn  qua được tận đảo bên Mã Lai.

Sau một thời gian đợi chờ mòn mỏi thì cô được bốc qua  Mỹ. Qua đến Texas cô vừa đi học chương trình ESL luyện Anh ngữ và vừa xin đi học ra làm y tá phụ. Với đồng lương có giới hạn của một phụ tá, cô Lài hàng tháng vẫn đều đặn gửi tiền về giúp cho cha mẹ nuôi đàn em ở Việt Nam.  Cô vẫn hằng mong muốn có dịp trở về thăm quê và thăm gia đình nhưng mỗi lần nghĩ tới tốn phí di chuyển thì cô lại tiếc, vả lại số vàng mà cha mẹ cô mượn bây giờ cô phải đi làm trả lại cho chủ nợ ở bên Mỹ này.

Kevin thấy cô cầm một cuốn sách mỏng bằng tiếng Việt Nam và mỗi ngày lại đọc vài trang sau khi ăn cơm. Cô Lài cho biết đó là cuốn phật kinh, cô đọc cho tâm hồn được thư thái. Cô là một phật tử sùng đạo với một niềm tin mãnh liệt là con người phải sống cho chân chính thì mọi việc sẽ tốt lành trong đời sống.

Lúc đầu nghe cô Lài nói thì Kevin chỉ cười ngạo báng, vì mỗi lần nhìn thân thể tàn tật của mình, nhớ tới những cảnh bom đạn, chết chóc trong cuộc chiến mà ông ta từng tham dự ở Việt Nam thì Kevin không khỏi giận dữ.  Kevin đâm ra nghi ngờ sự che chở của đấng linh thiêng.  Cô Lài nghe vậy vẫn không nản chí, cô tiếp tục đọc kinh và nhẫn nại nói về niềm tin của mình.

Sau một thời gian gặp gỡ, trò chuyện với cô Lài, Kevin cảm thấy lòng dịu lại. Nỗi buồn thì còn đó nhưng đã bớt được sự phẫn nộ đối với cuộc đời.  Riêng cô Lài cũng cảm thấy bớt cô đơn. Hai người trở nên tâm đầu hợp ý và môt năm sau thì tất cả mọi người trong viện dưỡng lảo GF hoan hỉ tổ chức một cái đám cưới nhỏ cho cả hai.  Kevin không ngờ đời mình lại may mắn như thế.  Cô Lài nhận lời cầu hôn của Kevin không một chút do dự, đắn đo.  Qùa cưới của Kevin dành cho cô Lài là lời tuyên bố sẽ ra tòa xin đổi họ theo họ của vợ là họ Ngô.

Tôi nghe câu chuyện tới đây thì cảm động rưng rưng nước mắt. Thì ra là như thế nên Kevin mới có họ Việt Nam. Nếu tôi là một nhà văn thì tôi có thể viết nên một câu chuyện tình rất tuyệt vời. Kevin tiếp tục kể:

- Bà biết không, Lài là một người vợ hiền và là một người đàn bà rộng lượng nhất trên đời. Tôi học được cái tính nhẫn nhục, vô vụ lợi của Lài.  Tôi tàn tật không lo được cho Lài, mỗi ngày Lài đi làm thì tôi chỉ biết đợi chờ và trong lúc đó thì tôi tìm hiểu thêm về đạo Phật.  Cuốn sách đầu tịên tôi đọc là cuốn sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh.  Bà đã đọc "Đường Xưa Mây Trắng" chưa? Tôi không biết Phật giáo có bao nhiêu phái chỉ biết là thiền sư này viết sách qúa hay. Tôi càng đọc càng thấm thía những gì Lài đã cố nhẫn nại khuyên răn tôi sống một đời sống đầy ý nghĩa và rộng lượng bao dung bởi vì mai này ai cũng chết, chỉ có những gì mình để lại cho đời mới đáng kể thôi.

  Ông kể tiếp cho biết là sau khi làm đám cưới ông và cô Lài thuê một căn nhà nhỏ.  Cô Lài vừa đi làm vừa săn sóc cho ông.  Cuộc sống tuy vất vả vì cô Lài phải cáng đáng mọi chuyện trong nhà nhưng không bao giờ cô than vãn.  Nỗi mong muốn duy nhất của cô Lài là được trở về thăm gia đình.  Vì muốn có một số tiền chi phí cho chuyến đi nên cô Lài đi làm bất chấp gìờ giấc.  Kevin thấy xót xa cho vợ nên trong lúc ở nhà ông ta đóng những cái chuồng nuôi chim nho nhỏ và đứng trước những góc đường bán, hoặc bán cho những người làm trong nhà thương mà ông quen biết.

Nghe Kevin kể, tôi nghĩ tới hộp đồ nghề và cái chuồng chim xéo xẹo của ông trên chiếc xe lăn mà đâm ra tội nghiệp.  Tự nhủ là mai mốt Kevin lành bệnh thì tôi cũng sẽ đặt ông làm cho vài ba cái chuồng nhỏ nuôi chim sau sân nhà.

Kevin còn cho biết là cả hai vợ chồng ông đều ăn chay trường. Cô Lài ăn chay trường vì lời nguyền từ khi biết đưọc tin mẹ cô bị ung thư tử cung.  Cô mãnh liệt tin rằng với sự cầu nguyện hy sinh chân thành của cô thì mẹ cô sẽ tai qua nạn khỏi.  Kevin ăn chay vì trong lòng anh muốn cám ơn bà mẹ vợ đã có công nuôi dưỡng dạy dỗ vợ anh từ thuở nhỏ nên anh mới có được một cô vợ thật thà rộng lượng như vậy.

Tôi nhìn nét mặt khắc khổ của Kevin, không ngờ dưới bộ mặt hung hăng của người cựu chiến binh Việt Nam đó lại chất chứa môt tâm hồn dịu dàng chân thành.  Tôi đang tự hỏi không biết câu chuyện của Kevin kể sẽ đưa đến thêm những chi tiêt bi đát nào nữa thì không dưng Kevin nhìn tôi lạ lùng:

- Như tôi đã nói mai này ai cũng chết nhưng cái chết của vợ tôi thì quá tức tưởi, bất ngờ. Trời Phật không công bằng với tôi cho nên bắt tôi chịu đựng từ những khổ đau này đến tai biến khác.  Có lẽ kiếp trước tôi vụng tu đó bà.

Nói đến đây thì Kevin nghẹn lời, tia mắt quắc lên một tia nhìn giận dữ:

- Quê hương nhỏ bé của bà là mảnh đất oan nghiệt nhất mà tôi thấy trong đời. Chính mảnh đất ấy, bằng cách này hoặc cách khác đã cướp mất những yêu thương trong đời của tôi.  Lài là người đàn bà thứ hai đã bỏ tôi trên cuộc đời đầy cô đơn, buồn tẻ này.

Theo chuyện Kevin kể lại, tôi được biết cách đây ba năm, cô Lài mừng rỡ dành giụm được một số tiền để trở về Việt Nam thăm bà mẹ đang bệnh ung thư.  Kevin khuyến khích vợ nên về ngay để còn có thì gìờ ở bên mẹ trong lúc bà còn tỉnh táo.  Cô Lài hớn hở trở về và tính ở bên nhà cho trọn một tháng.  Hai tuần lễ đầu cô Lài điện thoại về cho chồng kể chuyện về gia đình nghe vui ghê lắm.  Rồi chỉ vài hôm sau đó anh nhận được một tin làm anh bàng hoàng, chới với.  Cô Lài trong lúc băng qua đường phố bị xe tông chết.

Tôi nhớ đến những lần bắt gặp Kevin lái chiếc xe lăn bất chấp hiểm nguy để băng qua đường trong làn sóng xe tấp nập. Phải chăng đây là sự thử thách ngạo mạn của ông với định mệnh? Như định mệnh đã cướp mất người vợ hiền lành cao qúi của ông.

Cô Lài chết trong lúc bà mẹ bệnh hoạn vẫn còn để thầm khóc nhớ thương con.  Kevin cũng thầm khóc thiết tha nhớ vợ. Trên đời này có lẽ không bao giờ anh có thể tìm được một người đàn bà nào khác đầy lòng từ bi như cô Lài.

Từ đó cuộc sống đối với Kevin không còn ý nghĩa, ông đâm ra gàn bướng, cáu kỉnh với mọi ngưòi.  Vài tháng sau Kevin gom góp hết chút tài sản chất lên chiếc xe lăn và ra sống dưới gầm cầu SC.

Tôi lặng người nghĩ đến số phận qúa hẩm hiu của Kevin rồi bỗng thấy xót xa. Còn biết bao nhiêu người là nạn nhân của chiến tranh và nạn nhân của cuộc đời đầy rẫy thương đau này?

Tôi đem sợi dây chuyền đưa ra tiệm nữ trang nhờ người làm lại cái móc cho thật chắc.  Khi nhìn kỹ tôi thấy trên lớp vàng mạ phía sau tượng Phật bà, hai chữ LK quấn quít nhau như tên tuổi và cuộc đời của cô Lài và Kevin đã gắn chặt với nhau như một mối duyên được phật trời sắp đặt.

Ngày hôm sau tôi đi làm thật sớm ghé lên thăm Kevin trước khi đến văn phòng. Khi bước vào phòng của Kevin, tôi đụng ngay chiếc xe lăn bằng điện với đầy đủ "gia tài" của Kevin.  Kevin cho tôi biết là chiều nay ông ta phải chuyển qua một nhà thương dành cho cựu chiến binh cách đây một trăm dặm.  Vết thương lở loét của ông qúa sâu nên phải làm ghép da (skin graft) và nhà thương quân đội SW là nơi sẽ chịu tất cả phí tổn về việc mổ xẻ. Kevin chỉ ngay chiếc lồng chim xéo xẹo trên chiếc xe lăn và nói:

- Không có gì tặng bà làm kỷ niệm ngoài món qùa nhỏ này.  Bà tin đi bao giờ tôi khỏe, tôi sẽ trở về kiếm bà và sẽ sửa nó lại cho thẳng thớm.

Tôi cầm sợi giây chuyền bước đến đeo vào cổ cho Kevin:

- Đây là sự thương yêu của anh, hãy ráng giữ lấy niềm tin.

Trên khuôn mặt phong trần của người thương phế binh Mỹ bất ngờ có hai giòng lệ chảy dài và tôi bắt gặp một nỗi an hòa trong đôi mắt xanh biếc của Kevin khi anh bắt đầu thì thầm lời nguyện cầu: Nam Mô A Di Đà!

 NGUYỄN THỊ HUẾ XƯA