Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label LamSơn 719 HaLao. Show all posts
Showing posts with label LamSơn 719 HaLao. Show all posts

Wednesday, 31 January 2024

NHÂN ĐỌC THẤY MỘT CHÚT CHI TIẾT VỀ BÁC SĨ ĐƯỜNG THIỆN ĐỒNG (BS. Đường Thiện Đồng sống sót trận Hạ Lào, hốc hác lội bộ về thấu tiền trạm.)

Mt68 XIN MẠN PHÉP BỔ TÚC THÊM MỘT CHÚT SỰ THẬT Ở ĐỒI 31 HẠ LÀO: 
"Sau khi BCH đóng trên đồi 31 bị tràn ngập, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ bị bắt cùng nhiều sĩ quan khác. Riêng BS Đường Thiện Đồng đã chạy thoát ra ngoài trong lúc hỗ loạn. Cùng thoát nạn còn có một BS khác tên là DƯƠNG DUY SỬ, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù.
BS Sử là BS Trưng Tập, chọn Binh Chủng Dù. Sau khi học căn bản quân sự và học Bằng Dù (7 Saut)- BS Sử về làm Y Sĩ Trưởng TD6 Dù. 
Trận Lam Sơn 719, lúc đó BS Đồng và BS Sử cùng có mặt tại BCH Đồi 31. BS Đồng và BS Sử may mắn không bị VC bắt như ĐT Thọ và các Sĩ Quan khác. Hai BS Đồng và Sử chạy len lỏi trong rừng để về hướng Đông Hà. Mấy ngày sau thì về đến khu an toàn. 
BS Đồng và BS Sử có lên truyền hình tường thuật sơ lược về hành trình thoát nạn bằng đường bộ của mình.
Sau trận Hạ Lào BS Sử được chuyển về Bịnh Viện Đỗ Vinh cho tới 30-4-75.
BS Dương Duy Sử, vượt biển năm 1980 và hiện định cư tại Houston, Texas.
Quý Huynh nhảy dù có thể xác nhận về BS Sử. Chắc chắn các giới chức nhảy dù hay các Quân Y Sĩ nhảy dù cư ngụ quanh Houston đã rõ. 
*BS Sử hiện chỉ làm việc trong bịnh viện, không có phòng mạch tư.  Bạn thâm giao với BS PHẠM NGỌC GIAO, Houston (BS Giao đã qua Đời)./- Mt68
___________________

NHỮNG VỊ BÁC SĨ THIÊN THẦN MŨ ĐỎ


 
50 năm, một nửa thế kỷ của cuộc đời đã trôi qua từ khi tôi về đảm nhận chức vụ Y sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù (TĐ2ND). Trí nhớ cũng phôi pha theo thời gian. Thế nhưng một chặng đường gần 6 năm đội chiếc Mũ đỏ vẫn là một dấu ấn khó quên, vì đó là một giai đoạn của tuổi thanh niên đầy nhựa sống, tích cực hăng hái đóng góp bàn tay bảo vệ Tự do cho Quê hương, vừa gian lao vừa hãnh diện.
Chiến tranh Quốc Gia - Cộng Sản từ năm 1965 bắt đầu sôi động dữ dội. Rối loạn chính trị miền Nam tạo cơ hội thuận tiện cho quân chính qui Bắc Việt dễ dàng xâm nhập khắp thôn ấp và các vùng ven đô thị.

Sau 7 năm dùi mài kinh sử, chúng tôi là sinh viên quân y hay dân y trưng tập đều được phân phối về các đơn vị chiến đấu hay các bệnh viện dã chiến để băng bó các vết thương của bom đạn.

Làm sao tránh khỏi lo âu và xúc động khi chỉ nội trong năm 1964 - 65 mà đã có 7 y sĩ hy sinh tại chiến trường.

BS. Đoàn Mạnh Hoạch ngã gục trước lằn đạn địch ở Quảng Ngãi 1964.

BS. Trương Bá Hân, Thuỷ quân Lục chiến, tử trận ở Bình Giả 1964.

Các đàn anh chỉ hơn tôi có một lớp, mới ngày nào cùng nhau thực tập trong Bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân, v.v., có anh là nội trú xuất sắc, xứng đáng là bậc thầy trong Y nghiệp, hứa hẹn một tương lai sán lạn, thế mà cũng bị hy sinh tại trận địa mấy tháng sau khi đáo nhậm đơn vị.

Sinh viên Quân y vào năm cuối được liên tục luân phiên gác xác các đàn anh tử trận trong năm 1965.

BS. Phạm Bá Lương ngã gục ở Bầu Bàng.

BS. Nguyễn Văn Nhứt tử thương khi đoàn xe di chuyển bị phục kích ở rừng cao su Dầu Tiếng.

BS. Trần Thái hy sinh tại Bà Rịa.

BS. Trần Ngọc Minh, Y sĩ Trưởng TĐ5/TQLC bị đâm vào ngực trong một trận xáp lá cà với Việt cộng tại Thăng Bình.

BS. Đỗ Vinh, Y sĩ Trưởng TĐ5/ND bị mảnh pháo trúng ngay vào đầu khi đang săn sóc thương binh. Ngày đưa tang, Thiếu tá TĐT/ TĐ5ND Ngô Quang Trưởng và quân nhân các cấp, các đơn vị bạn ngậm ngùi thương tiếc tiễn anh ra mộ huyệt. Tôi vẫy tay chào anh, từ bỏ anh em quá sớm.

Chiếc áo Hoa rừng và Mũ đỏ của Binh chủng hào hùng thiện chiến vẫn có một mãnh lực hấp dẫn máu giang hồ, điếc không sợ súng của chúng tôi, ba thằng bạn xuất thân từ xứ Huế, học cùng lớp, ăn cùng mâm, ở cùng phòng trong trường Quân y ở Chợ Lớn:

-Lê Văn Châu, con của Tướng Lê Văn Nghiêm, tức là nhà văn Trang Châu, còn có biệt danh là “Châu cá ngựa” vì anh có mặt tại trường đua Phú Thọ hằng tuần;

-Đoàn Văn Bá, tục gọi là “Bá điên” còn được gọi là “ I‘homme des situations difficiles” vì anh bạo ăn bạo nói, chỗ nào gặp khó khăn với cấp trên là có anh. Anh bị kẹt lại ở Huế trong chuyến nghỉ phép về thăm nhà, tại trận Mậu Thân, được quân đội Mỹ giải cứu trong gang tấc, đưa anh về căn cứ MAC- V, giúp giải phẫu cứu mạng rất nhiều Quân nhân Mỹ bị trọng thương và được tuyên dương tưởng thưởng Huy chương Bronze Star Hoa Kỳ.

-Còn tôi, Trần Đoàn, được các bạn gán cho biệt danh “Đoàn cái bướm” vì tôi viết bài "Thằng cu hay Cái bướm" đăng nhiều kỳ trong Đặc san Tình Thương của Sinh viên Y Khoa thời ấy.

Bảng hiệu “BỆNH XÁ ĐỖ VINH” nền trắng chữ đỏ mới toanh, còn ướt màu sơn treo trên khu nhà bằng gạch hai tầng của Bệnh xá Nhảy dù 50 giường không làm chúng tôi sợ sệt mà còn cảm thấy một cái gì vinh quang khi trình diện thụ huấn Khóa 68 Nhảy dù vào tháng 8 năm 1965 .

Ba thằng bạn thân, không ai dám rủ ai vào nơi nguy hiểm, đều có mặt. Cổng trại Hoàng Hoa Thám thẳng tắp con đường tráng nhựa rợp bóng mát của hai hàng cây đưa đến các dãy doanh trại xây bằng gạch vững chắc sơn màu vàng, ngay ngắn sạch sẽ, là con đường quen thuộc, thân thương của chúng tôi từ dạo ấy.

Bóng dáng các đàn anh đeo bằng “Nhảy dù điều khiển” như BS. Văn Văn Của, BS. Trần Tấn Phát..., kích thích lòng tự ái liều lĩnh của chúng tôi trong niềm cảm phục kính nể. Chiếc mũ đỏ được đội lên đầu sau 3 tuần huấn luyện ướt đẫm mồ hôi, bò lết, hít đất, nhảy chuồng cu, và 6 “sauts” nhảy dù ở Hốc Môn - Củ Chi.

Cánh hoa dù T10 xoẹt mở rộng lộng gió tung bay mát rượi trong bầu trời trong xanh ôm trọn một phần của vũ trụ bao la là những giây phút thần tiên ngắn ngủi của người lính Mũ Đỏ. Sau đó thì nguy hiểm bắt đầu rình rập. Saut đêm bị hủy bỏ vào phút chót vì tình hình an ninh bãi nhảy không cho phép, có người lính nhảy xuống bị mất tích không tìm ra dấu vết.

“NHẢY DÙ - CỐ GẮNG” là một khẩu hiệu có mãnh lực xô chúng tôi phóng ra cửa máy bay sau tiếng hét “Go” của Huấn luyện viên, và là châm ngôn giúp chúng tôi vượt qua chặng đường hành quân vất vả, cực nhọc. "Nhảy Dù - Cố Gắng” gắn bó theo giúp chúng tôi suốt cả cuộc đời, nào là khi bị hành hạ xài xể trong trại tù Cộng sản, nào là khi gặp sóng gió, bão tố, ói mửa trong chiếc ghe nhỏ trên đường vượt biển tìm tự do, khi lao động chân tay để có tiền mua sách học lấy lại mảnh bằng hành nghề, khi đau ốm bệnh hoạn và cả khi tu tập chuyển hóa tâm linh.

BS. Lê Trọng Tín biệt phái về làm Y sĩ Trưởng TĐ1ND - Lê Văn Châu TĐ6ND - Đoàn Văn Bá về TĐ7ND - Trần Trọng Nghị về TĐ9ND và tôi về TĐ2ND.

TĐ2ND là 1 tiểu đoàn tân lập đóng ở Bà Quẹo, sát nách phi trường Tân Sơn Nhứt, không xa cổng trại Hoàng Hoa Thám. Thế là tôi may mắn được ở ngay Saigon, sớm tối được về chăm sóc vợ đang mang bầu. Vợ tôi còn là sinh viên trường Dược. Lương Y sĩ Nhảy dù phải gói gém lắm mới đủ sống.

Lần xuất quân thử thách đầu tiên của tôi vào cuối năm 1965 lại là với chức vụ Y sĩ Trưởng TĐ3ND thay thế BS. Nguyễn Đức Liên đi phép về hậu cứ. Trời Saigon 4 giờ sáng còn mờ sương, chiếc C123 rù máy xé tan bầu không khí tĩnh lặng, lạnh lùng cất cánh rồi đáp xuống phi trường Qui Nhơn sau hơn một giờ bay. Phi cơ há miệng đằng đuôi nhả ra hơn trăm binh sĩ súng đạn đầy mình (bỏ: sẵn sàng) ra bổ sung cho chiến trường Tam Quan, Bồng Sơn.

Phi đội trực thăng tiếp tới gắp chúng tôi đưa thẳng vào chiến địa còn hôi tanh mùi máu và thuốc súng, bay sà sát rừng dừa xơ xác ngả nghiêng cháy xám. Y sĩ Trưởng, Thiếu Tá Hoàng Cơ Lân, dẫn tôi vào chào Tướng Tư Lệnh Dư Quốc Đống trong một căn lều. Ông đang ở trần, mặc quần xà lỏn, đen đui đủi, vây quanh bởi các sĩ quan của Bộ chỉ huy, mồ hôi nhễ nhại. BS. Liên đưa tôi về trạm cứu thương TĐ3ND tạm trú dưới một mái nhà tôn đầy dấu đạn.

Các y tá còn bận rộn thu dọn y cụ vì công việc tản thương vừa mới được hoàn tất tối hôm qua. Thiếu tá Hưng, Tiểu đoàn trưởng, nước da rạm nắng có vẻ âu lo. Đại úy TĐP Trần Quốc Lịch người cao to, đầu trọc lóc trông rất "ngầu", sau này ông lên đến cấp tướng chỉ huy sư đoàn. Hằng ngày tôi làm dân sự vụ, khám bệnh, phát thuốc, chăm sóc ngay cả các bà đang có bầu mà tác giả không ai khác là những du kích địa phương. Lòng nhân đạo của người y sĩ không phân biệt bạn hay thù. Tôi thương người dân, tôi thương những trẻ em lớn lên ở vùng đất mất an ninh này, không biết đâu mà lựa chọn. Tôi thông cảm nỗi khổ của họ khi sinh sống trong vùng xôi đậu.

Đồi 10, một ngọn đồi nổi tiếng khó tiến chiếm vì Cộng quân đào hầm địa đạo từ chân đồi lên đến đỉnh đồi và đặt thượng liên nhắm bắn vào trực thăng bao vùng xạ kích yểm trợ - Một ngọn đồi đẫm máu được ghi vào Chiến sử.

Chuẩn uý Lê Hồng, xuất thân từ hạ sĩ quan, là sĩ quan Ban 3 Tiểu đoàn sau khi thụ huấn xong khóa sĩ quan đặc biệt về. Người anh nhỏ con nhưng giọng nói Quảng Trị rõ ràng chắc nịch qua máy truyền tin vang to suốt cả ngày đêm để điều động các đại đội đang lục soát quanh vùng. Là người lính chăm chỉ, gan dạ và khuôn phép, anh leo dần lên đến chức vụ TĐT/TĐ1ND, rồi Trung tá Lữ đoàn phó khi tàn cuộc chiến.

Sau này, khi qua định cư tại Mỹ, tôi cảm phục sự nhẫn nhục của anh khi thấy anh bất chấp nặng nhọc lao động khuân vác trong một tiệm tạp hóa vùng Arlington, VA, để sinh sống và nuôi ý chí cương quyết về giải phóng Quê hương thoát khỏi gông cùm Cộng sản. Ước nguyện không thành, anh bỏ xác tại vùng biên giới Việt Lào trong niềm thương tiếc khôn cùng của đồng đội.

Trạm Y tế TĐ2ND nằm trong một gian nhà tiền chế của doanh trại, mái tồn nền đất. Y tá trưởng, Thượng sĩ “Hưng mù”, đeo kính cận dầy cộm, có nhiều kinh nghiệm từ hồi còn là y tá trong quân đội Pháp, tháo vát và khéo xã giao, giúp tôi và đội y tá trên dưới 20 người dọn dẹp phòng ốc, sắp đặt dụng cụ thuốc men. Vài ba anh lính trẻ khai bệnh lậu đái ra mủ vì không được hướng dẫn dùng bao cao su khi giao hợp với "chị em ta" phân trần: “Đời lính xa nhà mà Bác Sĩ!”. Tôi làm quen dần với các sĩ quan bộ Chỉ huy và các đại đội.

Chuẩn úy Võ Văn Thu, nguyên là y tá TĐ5ND, vừa thụ huấn khóa Sĩ quan Thủ Đức trở về nắm giữ chức vụ Sĩ quan Hậu cứ, thường lui tới thăm hỏi và giúp đỡ trạm Y tế. Anh được ông TĐT, cũng xuất thân từ TĐ5ND, tin cậy thương mến và nâng đỡ vì tinh thần phục vụ đắc lực của anh. Chức vụ cuối cùng của anh là TĐT/TĐ Yểm trợ/SĐND với cấp bậc Trung tá.

Nghe nói ngày di tản qua Mỹ, sống ở Washington State, nơi xứ lạ quê người, tinh thần anh bị suy sụp. Anh cạo gió cho con anh khi nó bị ho cảm. Mấy lằn vết đỏ sau lưng và trước ngực làm cho cô giáo nghi anh đánh đập ngược đãi trẻ con. Anh phản kháng khi cảnh sát đến còng tay anh. Vì quá uất ức, anh treo cổ tự tử trong tù.

Đại úy Lê Quang Lưỡng, vừa mới được thăng chức Thiếu tá mấy tháng trước, nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND. Ông là người chiến binh mang nhiều thương tích và chiến tích, vào sinh ra tử biết bao nhiêu lần với những chiến công oanh liệt vẻ vang tại mặt trận An Lộc, Huế trong dịp Tết Mậu Thân, và Hạ Lào v.v…. Ông đã được thăng cấp Chuẩn tướng và được bổ nhiệm làm Tư Lệnh/SĐND vào năm 1973 (?) bởi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày đoàn quân xa trên 30 chiếc chở Tiểu đoàn tân lập về Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, Bà Rịa, để thụ huấn, chưa kịp ra tới đầu xa lộ Biên Hòa thì xui xẻo gặp lúc Cộng sản pháo kích vào thành phố Saigon. Vài ba quả nổ tung toé ngay trên đường Phan Thanh Giản giữa lúc dân chúng tấp nập đi làm buổi sáng. Cảnh tượng lúc ấy thật hỗn độn vì mọi người hoảng hốt chạy tìm chỗ ẩn núp sau mấy gốc cây. Đoàn xe bị khựng lại, mãi hơn giờ sau mới tiếp tục lộ trình về đến nơi đến chốn an toàn.

Sau 3 tháng huấn luyện, Tiểu đoàn được chuyển về đóng quân ở vòng đai Saigon, vùng Tân Quí, Hóc Môn, Bà Điểm.

Tiểu Đoàn phó, Đại úy Trần Kim Thạch, nhỏ con, bị thương ở háng nên khó khăn khi ngồi vệ sinh. Ông xuất thân từ hạ sĩ quan của Nhảy dù Pháp, vui tính, lanh lẹ và can đảm. Một buổi chiều, trời chạng vạng tối, tôi thấy ông vừa cười vang vừa hối hả chạy bộ thình thịch về Bộ Chỉ huy với hai người lính cận vệ, trên vai mỗi người đều mang thêm một khẩu AK. Tiểu đoàn phó mà chịu chơi nằm lại phục kích bên bờ lau sậy sau khi cả Tiểu đoàn tảo thanh lùng địch đã rút trở về.

Hai năm sau ông nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND ghi thêm nhiều chiến công oanh liệt cho Tiểu đoàn. TĐ2ND đã đủ lớn mạnh để chuyển vận ra vùng địa đầu giới tuyến.

Ngày quân xa chở Tiểu đoàn từ Huế ra Quảng Trị, một đoạn đường dài hơn cả cây số khi gần đến làng Mỹ Chánh, bị cày nát và còn nóng hổi vết tích bom đạn đầy mảnh vụn của xe bị cháy đen hòa với máu đỏ. Ruộng lúa hai bên xơ xác tơi bời ngả nghiêng, dấu vết của TĐ2TQLC bị phục kích mới ngày hôm qua. Thiếu tá TĐT/TĐ2 Trâu Điên Lê Hằng Minh hy sinh ngay từ phút đầu. Đoàn quân xa dè dặt, thận trọng chậm rãi di chuyển trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Không khí ngột ngạt. Đến thành phố Quảng Trị, tôi bị choáng váng, ngộp thở vì ngọn gió Lào độc địa thổi về. Hôm sau, trực thăng vận thả Tiểu đoàn xuống các ngọn đồi trống vùng Cùa, những ngọn đồi mọc đầy những bụi hoa sim tím. Những cánh hoa còn ướt sương mai lóng lánh trong nắng sớm. Tôi ngắt hoa ép vào quyển nhật ký hành quân và thầm đọc bài thơ “Những đồi hoa sim tím” của Thi sĩ Hữu Loan, mong rằng ngày tôi về vẫn còn gặp nàng…

Toán Tiền sát báo cáo bắt được một cán binh Việt cộng đang ngơ ngác cầm bản đồ và ống nhòm quan sát trận địa. Khai thác cho biết Tiểu đoàn Cộng sản đang trên đường xâm nhập. Chiều về, Tiểu đoàn di chuyển ra khỏi làng và đóng quân trên dãy đồi cao thấp nối tiếp thoai thoải. Chập tối, Ban 3 Tiểu đoàn báo cáo mất liên lạc với Tiểu đội nằm lại phục kích trong làng. Tôi duỗi chân nằm thẳng trên cỏ, đếm sao nhấp nhánh trên trời và thiếp đi, rã rời chân tay. Thình lình nửa khuya, địch nổ súng ồ ạt la hét “hàng sống, chống chết” bò lên tấn công. Giao tranh cận chiến ác liệt. May thay cây thượng liên của chúng đặt trên đồi cao hướng về Bộ Chỉ huy và Toán quân y kế cận chưa kịp khai hỏa thì bị binh sĩ Nhảy dù tiêu diệt. Phi cơ phản lực liên tiếp thả bom Napalm vào khu rừng dưới đồi. Xác địch banh thây cách chổ tôi nằm không quá 50 thước. Băng bó, tản thương không ngừng tay.

Ngay tối hôm đó, đài Cộng sản oang oang nêu thành tích là đã giết được 15 lính ngụy Dù, một con số chính xác mà Ban 3 Tiểu đoàn vừa mới báo cáo thiệt hại về Sư Đoàn buổi sáng sớm. Phải chăng có nội tuyến nằm ngay trong trong BTL/SĐND?, tôi đắn đo suy nghĩ.

Về trạm dưỡng quân ở Đông Hà, tôi gặp BS Vũ khắc Niệm, Y Sĩ trưởng TĐ8ND. Hai anh em rủ nhau đi uống bia cho đỡ thèm khát dưới cái nắng nóng gay gắt của miền Trung. Một chai bia cao hiệu con cọp ướp lạnh giá 50 đồng. Tôi lục lọi mãi hết trong các túi bộ đồ trận lôi ra đếm được 49 đồng. BS Niệm cho tôi thêm 1 đồng.

Tiếng nổ của cây súng AK nghe có phần chát chúa và khiếp đảm hơn cây súng Carbine M1, M2, cổ lổ sĩ hay bị kẹt đạn. Trung Cộng và Liên Sô âm thầm trang bị cho Bắc Việt vũ khí ngày càng tối tân hơn. Đến cuối năm 1966, khi đóng quân ở làng An Hòa ngoài thành phố Huế, TĐ2ND mới được Ngũ Giác Đài phê chuẩn viện trợ súng AR-15, AR-16 thay thế.

Hạnh phúc của người lính trận lội bộ dài ngày khi được về dưỡng quân vùng khá an ninh rất đơn giản là tháo được đôi giày trận và đôi vớ hâm hẩm hôi thối, chùi được các ngón chân mốc meo, rửa được bộ sinh dục bầy nhầy và lắm khi là móc được cục phân cứng như đá ra khỏi hậu môn vì ăn thiếu rau, uống thiếu nước, không có thì giờ đi đại tiện.

Lính Nhảy dù bị bệnh trĩ nhiều là vì nguyên do như thế. Bộ đồ trận tanh tanh mồ hôi và dơ bẩn giặt phơi chưa kịp ráo thì có lệnh di chuyển. Một tuần phát lương khô gạo sấy chất vào balô. Tình báo cho biết địch vượt sông Bến Hải xâm nhập vào phía nam vùng phi quân sự. Tiểu đoàn lại được trực thăng vận đổ quân xuống sát hàng rào Mc Namara. Xa xa về phía tây, bụi khói bay ngút trời do B 52 rải bom ầm ầm nghe ghê rợn.

Cả tiểu đoàn di chuyển đội hình hàng một xuyên rừng rậm đầy gai góc theo bước chân của khinh binh đi trước phát quang. Chim chóc và côn trùng vắng tiếng hót. Cái im lặng khá rùng rợn khi dừng chân ngủ đêm. Thằng Y tá tên Dân thân cận của tôi sửa soạn đào hầm cá nhân cho “ông thầy”. Một nhát xẻng nhấn xuống là một ánh lửa loé lên vì chạm vào đất đầy sỏi đá. Tôi không đành thấy nó hì hục cực nhọc nên ngăn nó dừng tay, chấp nhận số mạng rủi ro.

Chiếc võng treo thấp đu đưa ru tôi vào giấc ngủ đầy mộng mị chết chóc. Vào khoảng 2 giờ sáng, địch pháo kích hàng loạt súng cối, tung tóe sấm sét vào vùng đóng quân. Một quả 60 ly chớp nổ cách chiếc võng khoảng 10 thước, hất tôi lăn ngã xuống đất. Tôi cảm thấy đau rát nơi hai mông, đưa tay sờ vào thì đỏ ướt máu. Tôi đã bị thương nhưng biết mình còn sống. Giọng ông TĐT vang lớn giữa những tiếng pháo kích còn nổ vang:

- Bác Sĩ, Bác Sĩ, tôi bị thương.

Tôi do dự định chạy đến nhưng thằng Y tá cận vệ thấy nguy hiểm níu tôi lại và trả lời lớn :

- Thưa Thiếu tá, BS cũng bị thương.

Đại đội Trưởng Thạch Văn Thịnh xui xẻo bị một quả rơi đúng chỗ ông nằm. Doanh trại từ đó mang tên của người Đại đội Trưởng đầu tiên của TĐ2ND bị tử trận. Trung đội trưởng Trần Công Hạnh dẫn Trung đội ngang Bộ chỉ huy và tiến về phía địch, nơi đặt pháo. Chiến đoàn Trưởng Đào Trọng Hùng la hét điều quân. Ông nổi tiếng là người chỉ huy can đảm không bao giờ khom lưng tránh né đạn khi lâm trận mà đạn biết tránh né ông.

Chiếc khăn đỏ quấn quanh cổ được xem như là bùa hộ mạng. Một bên lưng đeo khẩu súng lục chỉ huy, một bên kia đeo một bi đông rượu đế, đường đường một đấng. Bác Sĩ Hà tục gọi là “Hà chảy”, người ông dong dỏng cao, Y sĩ trưởng TĐ8ND, vừa đi vừa ôm bàn tay bị thương vừa chửi thề: “Địt mẹ, tao có muốn về Nhảy dù đâu mà bị thương như thế này”. BS. “Hà chảy” là dân y trưng tập, học cùng lớp với tôi, chưa kịp bổ đi đơn vị nào khi ra trường thì lại miễn cưỡng bị trưng dụng tạm thời vì Nhảy dù thiếu y sĩ. Y tá xuôi ngược chăm sóc thương binh, trực thăng liên tiếp đáp xuống tản thương.

Mỗi lần hành quân 2-3 tháng về hậu cứ là quân số Tiểu đoàn hao hụt hơn phân nửa. Tiểu đoàn Vương Mộng Hồng - Khối Bổ Sung phân phối về Tiểu đoàn nhiều tân binh chưa kịp hoàn tất xong khóa Nhảy dù.

Vùng I, vùng giới tuyến sùng sục dầu sôi lửa bỏng. Hành quân bấy giờ không còn là cấp tiểu đoàn lẻ tẻ mà là chiến đoàn gồm 2-3 tiểu đoàn che chở yểm trợ cho nhau. Hành quân với thiết vận xa của Việt Nam Cộng Hòa hay với chiến xa lội nước của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tăng cường thường dễ dàng hơn khi tiến chiếm mục tiêu và ít bị thiệt hại.

Cuộc hành quân "Nhảy dù trận" của TĐ2ND xuống đồng bằng sông Cửu Long vào giữa năm 1966 có lẽ là Saut nhảy xuống trận địa cuối cùng của binh chủng Nhảy dù vì sau đó trực thăng là phương tiện đổ quân nhanh chóng và ít nguy hiểm. Cả một rừng chiếc “Nấm” úp xuống khoảng ruộng nước bao la. Tôi xếp dù an toàn gom vào một chỗ với Đại đội 20 rồi tiếp tục bì bõm tiến theo đoàn quân. Vì bất ngờ nên địch quân không kịp bắn lên trong lúc chúng tôi còn lơ lửng trên trời trong buổi sáng sớm như trong phim “The longest day” khi quân đồng minh nhảy dù xuống Normandie. Chạm súng lẻ tẻ với du kích, địch tránh né rút vào rừng tràm. Vũng nước nào cũng có tôm có cá giúp cho chúng tôi có thêm thực phẩm tươi bồi dưỡng.

Tổ chức SĐ Nhảy dù từ năm 1966 đã nâng cấp số từ Liên đoàn thành Sư đoàn. Đại đội Quân y Nhảy dù thành Tiểu đoàn Quân y Nhảy dù. Bệnh xá Đỗ Vinh 50 giường thành Bệnh viện Đỗ Vinh 100 giường. Pháo binh, Truyền tin… nâng quân số từ Đại đội lên Tiểu đoàn. Chiến đoàn đổi thành Lữ Đoàn gồm ít ra là 3 tiểu đoàn khi hành quân cho kịp với đà leo thang chiến tranh ngày càng khốc liệt.

Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam đóng gần Bộ chỉ huy TĐ 2 ND ở vùng Tân Quí. Các Đại đội phân chia đóng ở các thôn ấp chung quanh. Tình báo cho hay Tiểu đoàn đặc công Cộng sản mò về sát vòng đai Saigon, thuộc xã Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc. Lịnh hành quân lục soát ban ra. Trung đội tiền phong do Trung đội Trưởng Trần Công Thọ vừa ra trường khóa 20 Võ Bị Đà Lạt chạm súng. Cả Tiểu đoàn tiến lên tốc chiến tốc thắng đẩy địch bỏ chạy rút vào vùng kinh lạch Đức hòa, Đức Huệ để lại gần 100 xác và súng ống đủ loại.

Thiếu úy Trần Công Thọ bị ngay một viên đạn giữa đỉnh trán, chết ngọt lịm không kịp trăn trối, nằm cách chỗ tôi không quá 20 thước. Tôi đưa tay vuốt mắt anh, không thấy chảy máu, mặt anh còn tươi tắn như thiên thần ngủ quên. Nhạc phẩm “Tạ từ trong đêm” của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết lên để riêng tặng anh. BS. Bùi Thế Cầu, nguyên Thiếu tá Y sĩ trưởng TĐ5ND, đang nắm giữ chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Gia Định cùng giới chức Hành chánh dân sự cao cấp và báo chí tháp tùng trực thăng xuống ngay trận địa để chứng kiến tận mắt và tán dương. Danh tiếng TĐ2ND nổi như cồn trên trang đầu các tờ báo Saigon. Đại đội 23 tập hợp nhiều Trung đội trưởng họ "TRẦN "trẻ trung, gan dạ, thương mến nhau như anh em ruột thịt. Một Trần Công Thọ đã rơi rụng.

Một Trần Duy Phước cũng rụng rơi năm sau đó, còn lại Trần Công Hạnh leo dần đến chức vụ Tiểu đoàn trưởng TĐ2ND. Đại đội trưởng Trần Công Danh rời Tiểu đoàn chuyển hoán về đơn vị khác - Đại đội trưởng Phạm Kim Bằng bị thương hư một mắt - Đại đội trưởng Trần Như Tăng bị thương gãy chân - Đại đội trưởng Nguyễn Văn Được giã từ vũ khí ở vòng đai Saigon. Ngày tiễn anh ra mộ huyệt có 3 bà mặc áo quần đen dài chít khăn tang trắng sụt sùi sau quan tài - Đại đội trưởng Lê Văn Mạnh Đại đội 20 lên cầm quyền chỉ huy TĐ2ND một thời gian.

Toán Y tá của tôi gần 2 năm trời không ai bị hy sinh trừ một vài bị thương nhẹ. Tôi khâm phục tinh thần gan dạ của Y tá Nhảy dù, luôn luôn xông vào tuyến đầu ngay dưới lằn đạn địch để băng bó vết thương cho đồng đội. Y tá trưởng Thượng sĩ Hưng “Mù” được Y tá trưởng Trung sĩ nhất Be về thay thế. Anh Y tá trưởng mới này cũng thuộc loại “chì” không kém.

Hành quân vùng Củ Chi - Hậu Nghĩa thường bị mìn bẫy nguy hiểm. Một một chiếc Chinook chở gần cả Đại đội bay sà sà sát mặt đất để tránh khỏi bị bắn tỉa khi đổ quân. Thế mà xui thay, viên Đại úy Cố vấn Mỹ mới về Tiểu đoàn, ngồi cạnh ông Tiểu đoàn trưởng, là người duy nhất bị trúng một viên đạn bắn lên xuyên qua, chết ngay tại chỗ.

Vùng I Chiến thuật lại khẩn điện về Bộ Tổng Tham Mưu cầu viện các Binh chủng tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến. Dân chúng vùng Huế, Quảng Trị, Đông Hà an tâm khi có sự hiện diện của các binh chủng này. Tổng trừ bị gì mà ăn dầm ở dề tháng này qua tháng nọ giống như là Địa Phương Quân.

TĐ2ND trở lại Huế, hành quân lần này có Trung đội Thiết giáp M 113 yểm trợ. Những "Con cua khổng lồ " dàn hàng ngang dậm chân trước một địa thế nghi ngờ. Trung đội khinh binh tiến sát vào hàng rào tre cao vút dày đặc của làng Đông Xuyên - Mỹ Xá, quận Quảng Điền. Im lặng đến ngộp thở. Chưa thấy động tĩnh thế nào cả. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn dè dặt từng bước. Đợi đến khi thấy các cần câu của máy truyền tin PRC 25 của Bộ Chỉ huy gần kề thì địch khai hỏa. Thiết giáp đã dàn hàng ngang rồi ầm ầm nhào tới khạc đạn đại liên xối xả vào mục tiêu.

Lính Nhảy dù xung phong như sóng vỡ bờ. Lựu đạn thi nhau ném vào các hầm hố mới thanh toán được các ổ thượng liên mà xạ thủ bị còng chân tử thủ với nhau. Lựa đến khi trời tối địch nương theo kinh rạch để mà chém vè, rút sâu vào làng. Nhiều xác địch và vết máu để lại trên đường tháo chạy. Nhiều binh sĩ mang máy theo Bộ chỉ huy bị thiệt hại tính mạng. Ông Tiểu đoàn trưởng vẫn bình tĩnh điều quân. Thiết giáp không bị hư hại chiếc nào cả. Trực thăng rọi đèn tải thương trong đêm tối. Mồ mả quanh bờ làng là nơi che chở cho chúng tôi gối đầu qua đêm.

BS. Trần Lâm Cao tháp tùng các Sĩ quan Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 theo trực thăng tản thương từ Quân Y viện Nguyễn Tri Phương đáp xuống trận địa khi chiến trường đã thu dọn xong buổi sáng. Một chiến thắng quân địch sát nách thành phố Huế làm chấn động người dân thị thành. Chiến thắng nào mà không đổi lại bằng xương máu.

Viết đến đây lòng tôi bổng chùng vì xúc động. Những khuôn mặt người lính thân thương đó hiện rõ trong ký ức của tôi. Họ nằm xuống vì vết đạn vào đầu, vào tim, vào phổi nằm la liệt trước mặt tôi. Người Y sĩ Tiểu đoàn hoàn toàn bất lực trước những vết thương không có phương tiện cứu chữa. Tôi xin cầu nguyện cho các anh an giấc ngàn thu và không hận thù. Chúng ta đều chia sẻ một đau thương chung của vận nước nổi trôi.

Tôi bàn giao toán Y tá cho BS. Trần Lâm Cao làm tân Y sĩ trưởng TĐ2ND vì đáo hạn nhiệm kỳ 2 năm phục vụ Tiểu đoàn.

Tôi được thăng cấp Đại úy và nhận nhiệm vụ mới là Y sĩ trưởng Đại đội 3/QYND, thường đóng chung với Bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam khi đi hành quân. Sau này ông là Tướng Tư lệnh vùng 4 và tuẫn tiết không chịu đầu hàng địch. Danh thơm của ông ấy còn vang mãi trong hậu thế.

Tin dữ từ mặt trận đưa về: BS. Nghiêm sĩ Tuấn học cùng lớp, là BS dân y trưng tập, tình nguyện về TĐ6ND, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn nhiệm kỳ phục vụ cấp Tiểu đoàn bị tử trận tại Khe Sanh khi đang săn sóc thương binh. Anh đã 2 lần bị thương, một ở Dakto, một ở Cao Lãnh. BS. Lê Hữu Sanh, bạn cùng khóa, người thường được chọn cầm cờ đi hàng đầu trong các cuộc diễn hành của trường Quân y vì dáng anh cao lớn, tử trận khi anh đang làm Y sĩ trưởng một Tiểu đoàn TQLC.

Cuối năm 1970, tôi giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh viện Đỗ Vinh / SĐND và được thăng cấp Thiếu tá.

Khoảng tháng 3/1971, tôi đang thụ huấn tại Bệnh viện Brooks Hospital, thành phố San Antonio, Texas thì nhận được tin nhiều Y tá / TĐ2ND hy sinh tại mặt trận Hạ Lào. Lòng tôi quặn thắt.

Tôi rời Binh chủng Nhảy dù về phục vụ tại Quân Y viện Nha Trang để được gần gia đình. Chiếc Mũ đỏ và bộ hoa dù vẫn còn quyến luyến cho đến khi tôi giải ngũ vì đắc cử Nghị viên Thành phố Nha Trang năm 1974.

Viết những dòng kỷ niệm của nửa thế kỷ trước không sao tránh khỏi thiếu sót và nhầm lẫn, rất mong các bạn đọc đính chính và thông cảm.

Tôi xin nghiêng mình tưởng niệm những Quân nhân Binh chủng Nhảy dù đã nằm xuống, những người lính chỉ biết tiến không lùi dù trước hỏa lực mạnh của địch quân.

Tôi xin cảm phục và tưởng niệm người lính Chiến sĩ Vô danh của Nhảy dù bắn súng vào họng tự sát khi miệng còn nhai cơm sáng 30 tháng 4 tại hẻm tôi ở 147/8 Trần Quốc Toản, một hình ảnh hào hùng không thể quên.

Tiếp nối làm Y sĩ trưởng TĐ2 ND là BS. Vương Bình Dzương, BS. Bùi Văn Đạt, BS. Tôn Thất Sơn, BS. Lê Minh Tâm, BS. Nguyễn Đức Mạnh, BS Nguyễn Kiêm, các anh hứng pháo Cộng sản sau này còn dữ dội hơn tôi nhiều.

Trước tôi, BS. Võ Đạm là một trong 3 Sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy TĐ7ND còn sống sót trong trận Đồng Xoài.

Sau tôi, BS. Tô Phạm Liệu, ông BS cầm súng như dân tác chiến, cũng là 1 trong 3 Sĩ quan thuộc Bộ Chỉ huy còn sống sót ở ngọn đồi Charlie, ngọn đồi đẫm máu chôn xác TĐT/ TĐ11ND Nguyễn Đình Bảo.

BS. Đường Thiện Đồng sống sót trận Hạ Lào, hốc hác lội bộ về thấu tiền trạm.

BS. Vũ Văn Quynh, BS. Nguyễn Văn Thường, v.v… trốn tù cải tạo bị xử bắn,... và còn, còn rất nhiều nữa mà người Y sĩ Nhảy dù đã chia sẻ.

Tôi xin thán phục tinh thần Nhảy dù bền bỉ của các BS Mũ đỏ Trần Văn Tính, Phạm Gia Cổn, Lê Quang Tiến…nắm giữ chức vụ Chủ tịch BCH/ TƯ/ GĐMĐVN / Hải Ngoại để nối vòng tay lớn, tương thân, tương trợ.

Tôi không thấy ngượng ngùng khi BS Mũ xanh Trần Xuân Dũng ca tụng các Y sĩ Nhảy Dù, Y sĩ TQLC là "Những Hiệp sĩ của thời đại, những Đường Sơn Đại Huynh trên tiền tuyến lửa."

Tôi không quên cám ơn các Chi Hội trưởng GĐMĐ vùng Hoa Thịnh Đốn như anh Nguyễn Văn Mùi, Lý Thanh Phi… thường nhắc tôi tham dự buổi cơm cuối năm của Gia Đình Mũ đỏ tổ chức để góp chút tình gửi về cho Thương Phế Binh Nhảy dù còn ở quê nhà.

Tôi cũng không thể nào quên nhắc đến tên các đàn anh như Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân, người anh cả nghiêm minh và vui tươi, Y sĩ Đại tá Bùi Thiều, con người tài hoa và là người điều hành xây dựng Bệnh viện địa đạo ngay trong căn cứ Khe Sanh mà báo chí Mỹ khen phục.

Bốn chữ “Giữ Đời Cho Nhau” của BS. Lê quang Tiến nhắn trong Đặc San 70 để thực hiện số báo đặc biệt về QYND/ SĐND làm sống dậy trong tôi những năm tháng đùa với tử thần.

Có nếm mùi cực khổ, tù đày rồi mới thấy Độc lập - Tự Do là quí. Có lâm vào cảnh đói rách, nguy hiểm rồi mới thấy tình Huynh Đệ Chi Binh là quí.

Xin nói thêm vài lời nữa là nếu không đọc quyển “ Y Sĩ Tiền Tuyến” của Trang Châu, không đọc bài viết của Phan Nhật Nam, của Trương Đăng Sĩ trong Đặc San Mũ Đỏ - 70 thì e cũng khó ngồi mài miệt cả tuần để viết nên những trang giấy này.

TRẦN ĐOÀN
P.S.:
BS Trần Đoàn sau sang được Mỹ, ở tiểu bang Virginia, tu đạo Phật thành cư sĩ, rất có công trùng tu chùa Hoa Nghiêm ở đây.
Bác sĩ Trần Đoàn là quân y sĩ trong binh chủng Nhẩy Dù VNCH. BS Trần Đoàn có hai người con cũng là sĩ quan y sĩ của Không lực Hoa Kỳ là:
* BS Trần Đại vừa được thăng thưởng lên cấp bậc Y Sĩ Đại Tá, và
* BS Huỳnh Trần Mylene, Nữ Y sĩ Đại tá, Giám đốc Chương trình Y khoa quốc tế của không quân Hoa Kỳ (The Air Force International Specialist Program)

 BÙI TÁ KHÁNH CÓ NHẮC ĐẾN Đ/U DÙ NGUYỄN QUỐC TRỤ, TRẬN LAM SƠN 719 HẠ LÀO LÀ NGƯỜI ÂN NHÂN CỦA PHẠM THỊ DUYÊN, TORONTO (CHUYỆN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG)./-Mt68

________________

Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào - Kingbee Bùi Tá Khánh

Posted by   March 28, 2019  
Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào - Kingbee Bùi Tá Khánh

Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào

Kingbee Bùi Tá Khánh

 

 

Chuyện về cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào nhằm cắt đứt đường mòn HCM đã được nhiều người viết ra. Ðầu tiên là nhà văn Phạm Huấn với quyển "Trận Hạ Lào năm 1971", rồi nhà văn nhảy Dù Lê Ðình Châu, đại uý đại đội trưởng đại đội công vụ nằm vòng đai bảo vệ cho Lữ đoàn 3 nhảy Dù trên đồi 31 cũng ra mắt quyển "Ðôi mắt người Tù Binh", và anh Nguyễn Văn Long, thiếu uý sĩ quan phụ tá ban 2 Lữ Ðoàn 3 nhảy Dù vẫn thường xuyên viết về Hạ Lào cho Ðặc San Nhảy Dù ở Úc Châu. 


Ở đây, tôi chỉ ghi lại câu chuyện như là một mẩu hồi ức dưới mắt nhìn của một người lính Không Quân.

Tôi là một hoa tiêu phục vụ trong phi đoàn 219, thuộc Không Ðoàn 51, Sư Ðoàn I KQ trú đóng tại Ðà Nẵng. Phi đoàn 219 là hậu thân của biệt đoàn 83 với nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh thầm lặng trong bóng tối nhằm gây rối, phá hoại hậu phương của địch. Vì thế tất cả phi cơ của phi đoàn 219 chỉ sơn toàn bệt màu đen và xanh lá cây xẫm bên trên phần bụng trắng và không mang phù hiệu hay cờ gì cả ngoài số serial number mà thôi. 

Là một phi đoàn chỉ thi hành những phi vụ đặc biệt ngoài lãnh thổ và ngoài những cuộc hành quân bình thường, nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, nằm trong kế hoạch được mệnh danh là Việt hoá chiến tranh, một cuộc hành quân quan trọng lần đầu tiên hoàn toàn do QLVNCH đảm nhiệm với sự yểm trợ tối thiểu của không lực Hoa Kỳ trong những ngày đầu với những loại trực thăng khổng lồ chuyên chở những xe cơ giới hạng nặng như xe ủi đất, lô cốt tiền chế, đại pháo 105 và 155 ly để QLVNCH dọn bãi thiết lập những căn cứ hoả lực đầu cầu trên đất Lào. Vì thế nên Quân Ðoàn I đã phải trưng dụng tất cả những đơn vị KQ trực thuộc Sư Ðoàn I KQ trong đó có phi đoàn 219.

Như vậy phi đoàn chúng tôi, ngoài những phi vụ đặc biệt thường lệ, lại phải đảm nhiệm thêm việc yểm trợ cho Sư Ðoàn Dù, một trong 3 lực lượng nòng cốt trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Mỗi ngày phi đoàn 219 tăng phái một phi đội gồm 2 hoặc 3 chiếc H34 nằm trực chiến tại Khe Sanh, nơi đặt bản doanh Bộ chỉ huy tiền phương Sư Ðoàn Dù. Từ đây chúng tôi xuất phát những phi vụ tiếp tế lương thực, đạn dược cho các căn cứ hoả lực 29, 30 , 31 và các đơn vị hành quân lục soát bên ngoài căn cứ. 

Những phi vụ này thường là rất "hot", nhưng "hot" nhất vẫn là những phi vụ tải thương cho binh sĩ nhảy Dù khi có đụng độ với quân cộng sản Bắc Việt. Và chuyện này xảy ra như cơm bữa hàng ngày nên chúng tôi coi như pha. Chúng tôi cứ luân phiên nhau mỗi phi đội trực chiến cho Sư Ðoàn Dù 4 ngày rồi trở về Ðà Nẵng tiếp tục những phi vụ thường nhật. 

Hôm nay đến phiên trực của chúng tôi. Phi đội gồm có 2 phi cơ do anh Chung tử Bửu lead, tôi copilot và Nguyễn văn Em là mê vô, chiếc thứ hai tôi chỉ nhớ hoa tiêu chánh là anh Yên. Chúng tôi vào phi đoàn nhận lệnh vào lúc 8 giờ sáng rồi chia tay nhau về nhà sửa soạn hành trang, hẹn gặp nhau lúc 10 giờ ngoài phi đạo 219. 

Ðúng giờ hẹn, chúng tôi ra phi cơ làm tiền phi, check nhớt, xăng, load những cơ phận sửa chữa dự trữ, đồ nghề và anh em kỹ thuật 219 rồi cất cánh, trực chỉ Ðông Hà, Quảng Trị. Khoảng quá trưa thì chúng tôi ra đến Khe Sanh. Vừa đến nơi, không màng ăn trưa vì nóng lòng muốn cứu đồng đội nên chúng tôi quyết định phải vào ngay đồi 31 chứ không thể đợi lâu hơn được. Trong khi anh Bửu vào trình diện với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương SÐ Dù để đặt kế hoạch cho chuyến bay thì tôi và mêvô Em đi check lại máy bay. Xăng vẫn còn đầy bình trước, dư sức bay không cần phải refuel. 

Một lát sau từ phòng briefing ra, anh Bửu vắn tắt cho anh em biết về phi vụ quyết tử này. Chuyến vào chúng ta sẽ chở theo một tiểu đội Tác chiến Điện tử Dù cùng với 18 chiếc máy "sensor" vào tăng phái cho căn cứ 31 dùng để phát giác đặc công địch, chuyến ra sẽ rước phi hành đoàn anh Nguyễn thanh Giang về. 15 phút trước khi lên vùng, pháo binh Dù sẽ bắn dọn đường mở một hành lang dọc theo quốc lộ 9, dập vào những địa điểm được ghi nhận có phòng không địch vì tình hình lúc này rất gây cấn, địch tập trung lên đến cấp tiểu đoàn phòng không gồm đủ loại từ 37 mm, 12ly7 và lần đầu tiên còn nghe có cả SA7 nữa. 

Về không trợ thì có 2 chiếc Gunship của phi đoàn 213 do trung uý Thục bay trước mở đường.

Trước đó trong lúc briefing, anh Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với anh Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng anh Giang đã dùng chiến thuật "lá vàng rơi", từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù. Phi hành đoàn vô sự, chỉ có copilot là Võ văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, mêvô Trần hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa. Rút kinh nghiệm, hôm nay anh Bửu bay Rase Motte sát ngọn cây theo hướng Ðông-Tây đi vào. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9 tôi còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh Dù bắn rất chính xác và hiệu qủa. Gần đến LZ anh Bửu đổi hướng lấy cấp Ðông Nam-Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây, tôi đã thấy chiếc Gunship của trung uý Thục bay vòng lại, cùng với tiếng anh la lên trong máy "Bửu coi chừng phòng không ở hướng Tây". Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn đồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích quấy phá của cộng quân Bắc Việt. 

Không nao núng, anh Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng một tràng đạn phòng không, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, mêvô Em la lên khẩn cấp trong máy "Đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy".

Cùng lúc anh Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc wing "Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa" trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là đạn trúng vào bình xăng phụ đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên phi cơ không bắt cháy như phi cơ đại uý An ở Bù Ðốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản xạ tôi cùng anh Bửu nhanh tay tắt gió, xăng, điện rồi nhảy ra khỏi phi cơ. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của đại đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước. Tôi còn tiếc chiếc xách tay quần áo nên phóng vào trong phi cơ để lấy. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngửa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy "sensor" vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chỉ kịp vớ lấy cái xách tay rồi phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù "trên đây nè thiếu uý, tụi tôi bắn yểm trợ cho". Tôi lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc chóc trên đầu. Lên đến nơi tôi thở như bò rống. Không quân mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971.

Vừa ngồi nghỉ mệt, tôi vừa nhìn xuống bãi tải thương nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc địch điều chỉnh tác xạ, một quả đạn đạn súng cối rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy khói đen mù mịt cả một góc trời. Tôi nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã gần gụi với mình lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn.

Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, chúng tôi men theo giao thông hào lần về đến ban chỉ huy Lữ Ðoàn 3 Dù. Gặp lại phi hành đoàn anh Giang, On, Sơn anh em chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi rối rít. Chúng tôi được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Ðoàn 3. Ðầu tiên là đại tá Thọ lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 3, thiếu tá Ðức trưởng ban 3, dại uý Trụ phụ tá ban 3, đại uý Nghĩa sĩ quan liên lạc KQ, trung uý Chính sĩ quan Không trợ Dù, thiếu uý Long phụ tá ban 2. Về phía pháo binh thì có trung tá Châu tiểu đoàn trưởng và đại uý Thương trưởng ban 3 thuộc tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Ðại tá Thọ mừng anh em "mới đến" mỗi người một điếu Havatampa và một ly Hennessy để lấy lại tinh thần. Tôi ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy "ông" nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống rượu Mỹ như máy! Quả các anh ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng chì thật.

Buổi chiều vùng rừng núi trời tối thật nhanh, chúng tôi dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Ðoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tôi được ngủ chung một hầm với anh Nguyễn quốc Trụ, một sĩ quan trẻ xuất thân khóa 20 trường Võ Bị Ðà Lạt. Anh cũng là anh ruột của trung uý Nguyễn hải Hoàn, một hoa tiêu chánh trong phi đoàn tôi. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ 31 với ý định đánh bật căn cứ này ra khỏi sinh lộ của chúng. 

Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì địch quân luôn di động dàn phòng không của chúng khiến KQVN và HK không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom vài khu vực khả nghi chung quanh đồi 31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B52 rải thảm ì ầm xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào rừng núi trùng điệp. Ngược lại, quân bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù.

Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, chúng tôi nhận được lệnh và khởi sự di chuyển ra các hầm cứu thương sát bãi đáp chờ đến trưa đích thân phi đoàn với 3 chiếc H34 sẽ vào tải thương binh Dù đồng thời bốc 2 phi hành đoàn ra. Tôi và anh Bửu cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Ðến trưa khi chúng tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận "tiền pháo" dồn dập lên đồi 31. Qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, tôi thây rõ hai chiếc xe tăng T-54 của cộng quân tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc chung quanh nhắm đỉnh đồi chúng tôi mà nhả đạn. Những tia lửa từ nòng súng phụt ra, tôi và anh Bửu thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhớ câu mà anh em trong phi đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ!". 

Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào xe tăng địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc T54. Nhưng để trả giá cho hành động dũng cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả pháo đội trưởng Nguyễn văn Ðương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Chúng tôi vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 xe tăng khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi chúng tôi mà bắn! Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình địch, và lại phá hủy thêm 2 xe tăng nữa. Trong tiếng bom đạn tơi bời, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 đang vần vũ trên cao như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì địch tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, tôi và anh Bửu tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm. 

Về phía KQ, tôi, anh Bửu, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và bị dẫn giải ra bắc Việt chung với tất cả tù binh khác. Không thấy anh Giang và Em đâu. Chúng tôi bắt đầu thăm hỏi các SQ và binh sĩ Dù trên đường đi. Cuối cùng tôi gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần mêvô Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn Em gục chết ở bên đường.

Thế là 219 ghi thêm vào quân sử của mình một thiệt hại 2 phi hành đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên đồi. Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 phi hành đoàn đó là Bửu, On, Khánh và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không?

Viết để nhớ đến tất cả những chiến sĩ anh hùng đã thành danh hay vô danh, vẫn còn sống hay đã hy sinh cho quê hương đất nước. Sau 33 năm ít ra tên tuổi các anh vẫn còn được nhắc đến một lần.



Bùi Tá Khánh

 

Tuesday, 22 March 2016

ÔNG BÙI ĐỨC LẠC ƠI - HƠN 40 NĂM SAU MÀ ÔNG KHÔNG THÈM PHỐI KIỂM CỨ VIẾT BỪA THẬT TỘI NGHIỆP

Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy Đồi 31 Hạ Lào đã bị VC bắt và Ông Thọ đang sống tỵ nạn tại SYDNEY- bên AUSTRALIA./-TCL/Mv.


TRUNG TA BUI DUC LAC :Chuyện Một Thời Khói Lửa Chiến Chinh!

 



Kính quý vị ,

Làm sao không đau lòng rơi nước mắt khi đọc những dòng bút ký này cuả Trung Tá Bùi Đức Lạc kể về cái chết cuả Đại úy Nguyễn văn Đương và Đại tá Nguyễn văn Thọ tại mặt trận Hạ Lào sau cái chết cuả Đại tướng Đỗ Cao Trí :
Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 gọi cho tôi nói: ‘11 làm ơn bắn ngay trên đầu tao đi’
và :
Trước khi chết, Đương cho tôi biết, anh chỉ còn có hai viên đạn cuối cùng trên nòng súng mà thôi! 
Trung tá Bùi Đức Lạc

Trong khi đạn dược , súng ống cuả miền Nam đang bị chiết giảm , viện trợ bị cắt dần , nên chỗ thì có đạn mà không có súng , chỗ thì có súng nhưng không có đạn . Trong tình trạng kiệt quệ đó , QL/VNCH vẫn phải chiến đấu với một hoả lực hùng hậu cuả giặc cộng được Liên Xô và Tàu cộng viện trợ ồ ạt , phủ phê . TC còn gởi cả binh sĩ và cố vấn sang nữa . Nhưng trong cái bi đát đau thương đó , tôi bỗng nhận ra một điều khôi hài là các dép râu nón cối , dưới sự lãnh đạo tài tình cuả đảng csVN , lâu nay vẫn xưng hùng xưng bá là thắng miền Nam bằng một chiến thắng thần thánh , nhưng sự thật thì các " ông thần ông thánh vc " ấy mặc dù đạn dược dư thừa , mặc dù có cả hoả tiễn 6 nòng thay vì 2 nòng như khi đánh trên chiến trường miền Nam , mặc dù được phép tha hồ bắn , nên mới pháo 2000 trái trong một ngày mà ... trật lất ! 
Chính nhờ mấy chú pháo thủ vc giỏi ghê nên bây giờ nhân chứng sống ở chiến trường khốc liệt Hạ Lào ngày nào là Trung tá Bùi Đức Lạc mới có thể kể cho chúng ta và nhứt là cho thế hệ trẻ nghe QL/VNCH đã chiến đấu trong những điều kiện khó khăn do đồng minh bắt tay với kẻ thù bán đứng miền Nam như thế nào , và cái chết anh dũng cuả các chiến sĩ Mũ Đỏ nói riêng và toàn thể chiến sĩ VNCH nói chung trong suốt hơn 20 năm xả thân giữ gìn một nửa giang sơn thoát tay cộng phỉ như thế nào . Tiếc thay , Mãnh Hổ Nan Địch Quần Hồ ! Thiên Nga đã gãy cánh !!!
Trung tá Bùi Đức Lạc viết tiếp :

Khai hỏa vào khoảng 4 giờ 15, thì tất cả 4 pháo đội đồng khai hỏa bắn vào căn cứ 31 và bắn giết cả bạn lẫn thù, lần đầu tiên trong đời pháo thủ của tôi! Khi tôi vừa ra lệnh bắn, thì Đại Tá Lưỡng và tôi cùng cả phi hành đoàn đều bật khóc. Đó là cái chết của Đại Úy Nguyễn Văn Đương và Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù tại mặt trận Hạ Lào!

18/03/2016

Trung tá Bùi Đức Lạc

Xin kính cẩn thắp nén tâm hương với lòng tiếc thương vô hạn , dâng lên Anh Linh chư vị Anh Hùng Tử Sĩ VNCH . 
Xin dâng lên bàn thờ Tổ Quốc Việt Nam lòng mong ước một ngày mai không cộng sản trên khắp non sông . 

Thân kính ,

Hoàng Yến .

Saturday, 14 June 2014

Hình ảnh cuộc hành quân hạ Lào "Lam Sơn 719" năm 1971
Ảnh sưu tầm 40 năm cuộc hành quân hạ Lào "Lam Sơn 719"

Ðúng 7 giờ 00 phút sáng ngày 8 tháng 2, các chiến xa cùng quân Dù tùng thiết thuộc Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm vượt biên giới Lào-Việt trên đường số 9 gần Lao Bảo dưới sự yểm trợ của các trực thăng võ trang thuộc Sư Ðoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ, chính thức mở đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719. Khoảng 8 giờ sáng, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu xác nhận trên đài phát thanh Saigon.

“…Ðây là một cuộc hành quân có giới hạn trong thời gian lẫn không gian, với mục tiêu duy nhất và rõ rệt là phá vỡ hệ thống tiếp vận và xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt trên phần đất Lào mà chúng đã chiếm đóng và xử dụng từ nhiều năm nay để tấn công vào Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Ngoài ra, Việt Nam Cộng Hòa không có một tham vọng đất đai nào tại Lào và không khi nào xen vào nội bộ chính trị của vương quốc Lào vì Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn tôn trọng nền độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của vương quốc Lào…”





Lệnh hành quân:



Bản đồ hành quân :



Giây phút chờ đợi trực thăng vận qua hạ Lào:



Các Binh sĩ VNCH tại Khe Sanh đang chờ để được trực thăng bốc vào đất Lào lúc mở màn cuộc hành quân Lam Sơn 719, ngày 8-2-1971



Đại tá Hồ Trung Hậu tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù, được thăng chuẩn tướng tháng 3/1971, sau khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 kết thúc với tấm bản đồ hành quân trên tay.




Binh sĩ Việt và các cố vấn Mỹ được di chuyển trên xe GMC trong chiến dịch Dewey Canyon II, theo kế hoạch của cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhằm mở lại và nắm giữ Đường 9, tái chiếm đóng căn cứ Khe Sanh làm căn cứ tiếp vận tiền phương .





Xe tăng quân lực VNCH vừa qua khỏi làng Vei, Tấm nylon màu cam phủ trên đầu các xe tăng nhằm giúp các máy bay trên cao phân biệt rõ với xe tăng của VC.


 
Đoàn quân xa đang tiến vô đất Lào :







Quốc lộ 9 :



Một con đường phụ chạy song song QL9 vừa được lính công binh Hoa kỳ xây dựng nhằm phục vụ cuộc hành quân Lam Sơn 719 , trong ảnh cho thấy địa thế con đường nhò rất hiểm trở



Không ảnh đoàn xe của Lữ đoàn 1 thiết giáp đang trên đường QL 9 đến căn cứ Anpha





Đoạn đường mới mở gần căn cứ Bravo



Một bãi đáp dã chiến trực thăng :


 
Bãi đáp LoLo ,đặt theo tên nữ diễn viên nổi tiếng người Ý :



Bãi đáp Sophia :



Xác 1 xe tăng T-54 của VC bị bắn cháy bên vệ đường :



Dọn bãi : trái bom phát quang được cho nổ từ trên cao nhằm tránh tạo hố sâu trên mặt đất



Và 1 bãi đáp đã được dọn xong giữa rừng già hạ Lào:



Trung Tướng Hoàng xuân Lãm đến thăm các binh sĩ trước khi xuất kích :



Trung tướng Hòang Xuân Lãm, tu lệnh Quân Đòan 1, tổng chi huy cuộc hành quân Lam Sơn 719





1 binh sĩ ưu tư trước lúc đi vào vùng lửa đạn



Phút nghỉ ngơi gần căn cứ Anpha


Chuẩn bị cho trận đánh :






Công binh Mỹ giúp làm đường dã chiến


Con đường do Lực lượng Công binh vừa làm xong


Hành quân:






Xe bọc thép M113 được ngụy trang kỹ lưỡng trên đường hành quân








Lính công binh Mỹ đào Công sự chiến đấu xung quanh căn cứ Anpha








Thiết xa M113 mở đường theo sau là các xe truyền tin


Bảng cảnh báo giới hạn cho các quân nhân Mỹ, cách biên giới Lào Việt 100m. (Sau năm 1970 ,QH Mỹ không cho phép binh sĩ Mỹ tác chiến ngòai lãnh thổ VN theo đạo luật Cooper‐Church Amendment, họ chỉ yểm trợ phương tiện và không quân cho quân đội VNCH họat động trên đất Lào)


Trận chiến nảy lửa với quân VC trên đất Lào







 

Ngày 10/02/1971, ngày thứ 3 của cuộc hành quân Lam Sơn 719, 4 phóng viên ảnh hàng đầu đã tử nạn trực thăng tại Lào do hỏa lực phòng không của quân Bắc Việt. Trực thăng chở họ đang bay trên chặng thứ hai từ Firebase Hotel đến bãi đáp LZ Ranger trong chuyến viếng thăm các tiền đồn của binh sĩ VNCH để tuờng thuật về cuộc hành quân Lam Sơn 719 thì bay lạc vào vùng do quân địch kiểm soát, và đã bị VC bắn hạ. Cùng tử nạn với 4 phóng viên nước ngòai là một phóng viên ảnh quân đội VNCH, 4 nhân viên phi hành đòan KQ VN và 2 đại tá tham mưu QĐ1, đã lên máy bay vào phút chót tại căn cứ Hàm Nghi (Khe Sanh)



Những tử sĩ đầu tiên , đang được trực thăng Huey vận chuyển về hậu cứ




Những bức ảnh này cũng là những ảnh sau cùng của phóng viên người anh Larry Burrows :


Chiếc UH1 bị trúng hỏa lực VC gần bãi đáp LOLO, phi hành đoàn thoát chết đang chờ cứu viện


Bãi đáp trực thăng gần Khe Sanh :



Hành quân mở màn chiến dịch đánh đường HCM trên đất Lào






Binh sĩ VNCH đang lục soát 1 hầm chứa đạn dược, quân trang và nhiên liệu của CSBV bỏ lại dọc theo tuyến đường mà chúng gọi là đường HCM .




Võ khí tịch thâu được trong 1 hầm ngầm VC:




Không ảnh đường mòn HCM trên đất Lào




Truy kích nhằm cắt đứt đường tiếp tế của CSBV




Lối vào 1 bongke ngầm của CSBV




Và chiếc tăng PT-76 Nga sô chế tạo bị VC bỏ lại :




Đợt trãi thảm của B-52 :




USAF dọn đường bằng bom Napalm lên đầu quân VC :


Nhận tiếp tế từ hậu cứ



Nã pháo vào nơi có quân BV trú đóng




Căn cứ pháo binh yểm trợ hỏa lực đóng quân trên đất Lào cách biên giới 9 km






Kiên cố và vững chắc



 
Một tên VC bị bắt giữ và số võ khí tịch thâu được trong hầm ngầm



Súng cao xạ của VC bỏ lại




Chuyển quân bằng trực thăng vận










2 lính Mỹ cạnh chiếc Cobra tại căn cứ Khe Sanh






Khe Sanh từ buồng lái chiếc C-130 xa xa là phi đạo dã chiến




Cận cảnh phi đạo



 

Một số tổn thất khí tài do hỏa lực VC :





Căn cứ LoLo thất thủ
 Lính VC tấn công chiếm 1 cứ điểm :
Căn cứ Vandergrift của quân đội Mỹ, nơi các trực thăng bị hư hỏng nhẹ được mang về nhằm phục hồi và sửa chữa nếu có thể .

 In to the Hell :

 Một người lính bị thương được đồng đội đưa về phía sau



Chờ trực thăng đưa về căn cứ :
Khi căn cứ hỏa lực 31 bị thất thủ,pháo binh QL VNCH đã phải tập trung bắn thẳng
 vào đây để phá hủy căn cứ này.


Cuộc hành quân Lam Sơn là thiệt hại nặng nề nhất của QL VNCH trong chiến tranh với CSBV
Xe tăng M-41 của QLVNCH bị rơi vào tay quân CSBV
Nhiều binh sĩ VNCH bị thương và bị CSBV bắt tù binh



1 Xe tăng quân VC vừa bị trúng mìn, nhưng lính tùng thiết vẫn hung hãn tiến lên

Trận địa phòng không của quân BV

Đại tá Nguyễn Văn Thọ lữ đoàn trưởng LĐ3 ND và các sĩ quan bị bắt tại Hạ Lào
đang được CSBV đưa ra trình diện trước báo chí - 1972
Nỗi buồn ở ... 2 chiến tuyến : ko có người chiến thắng chỉ có người Việt thua ?
Và niềm vui hiếm hoi

 
__________________
Gen DC Trí và Gen Lê N Khang
 *Nguồn từ manhhai-Flickr .
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 thắng hay bại là tuỳ theo sự nhận định của từng cá nhân. Theo Nguyễn văn Thiệu và Nixon, thì quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã thắng. Tuy nhiên, cũng có người
nghĩ rằng đây là mưu sâu thâm độc của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt các sư đoàn tinh nhuệ của VNCH – nhảy dù, thuỷ quân lục chiến, sư đoàn 1 bộ binh, trước khi giao dứt miền Nam cho Cộng sản Bắc Việt.

Vào năm trước đó, tháng 3/1970, Việt nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ đã thắng lớn qua cuộc hành quân Toàn Thắng 42 bên Cam Bốt. Với sự tham dự của nhảy dù, thuỷ quân lục chiến, quân đoàn III và IV, thiết kỵ , và không lực Hoa Kỳ. Ta đã tịch thu được của CSBV nhiều vũ khí và quân dụng đủ để trang bị cho 54 tiểu đoàn địch trong 6 tháng.Và cũng đã hạ. sát được 11.300 quân địch, cùng bắt làm tù binh 2300 tên.

Cuộc tiến quân qua Lào khởi sự ngày 8/2/71 với sự tham dự của thành phần các lực lượng: sư đoàn dù, sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn 1 bộ binh, liên đoàn 1 biệt động quân, và lữ đoàn 1 kỵ binh. Quân số khoảng 19.000 người.

Trong khi đó, Cộng sản Bắc Việt đã có tới hơn 60.000 người của các sư đoàn 2, 304, 308, 320, 324, hai trung đoàn độc lập 27 và 278, 8 trung đoàn pháo binh, ba tiểu đoàn thiết giáp với các chiến xa hiện đại T-54 của Liên sô, 6 trung đoàn phòng không, 8 tiểu đoàn đặc công, và các đơn vị hậu cần, vận tải.

Theo binh pháp, khi tấn công cần tỉ số 3 trến 1. Rõ rệt là lực lượng ta chỉ bằng 1/3 lực lương địch trong cuộc hành quân này ( Trong cao điểm của cuộc hành quân này, lực lượng quân ta có lúc lên đến hơn 30.000. Tuy nhiên con số này là tổng số quân tham dự ). Vào năm 1967, Hoa Kỳ đã soạn thảo một kế hoạch hành quân tương tự. Và họ cho rằng phải cần đến 60.000 quân.

Thêm nữa là quân ta lại tấn công vào một địa hình do đối phương làm chủ và đã quá quen thuộc với họ từ hồi kháng chiến chống Pháp.

Điều tệ hai khác nữa là kế hoạch hành quân này đã bị bại lộ từ sớm. Trong giai đoạn dự thảo, sự qua lại giữa các giới chức của Sàigòn, Hoa Kỳ, và hoàng thân Phouma của Lào, cùng với cuộc hành quân vượt biên đang tiếp diễn bên Cam Bốt đã không thể không làm cho Cộng sản Bắc Việt nghi ngờ

Bộ Tổng tham mưu của Việt Nam Cộng Hoà và MACV của Hoa Kỳ đồng ý sẽ giữ kín tin tức ít nhất cho đến 4/2/71. Nhưng đến ngày 25/1/71, nhiều sĩ quan cấp nhỏ ở quân đoàn 1 đã đựơc thông báo ngày giờ và kế hoạch hành quân.

Ngày 31/1/71, tờ báo New York Times đăng theo một nguồn tin về kế hoạch hành quân. Hai ngày sau, đài truyền hình CBS đề cập đến không những mục tiêu của cuộc hành quân mà còn đến cả quân số tham dự.

Và rồi trong tuần lễ đầu của cuộc hành quân, trực thăng chở các sĩ quan tham mưu của quân đoàn 1 bị bắn rơi ở Lào. Phóng đồ hành quân bị lọt vào tay quân CSBV. Kế hoạch hành quân phải mất một tuần sau mới thay đổi được.

Theo binh pháp, yếu tố bất ngờ rất là quan trọng. Nhưng nó đã không có trong cuộc hành quân này.

Tin tức tình báo mà quân ta và Hoa Kỳ dựa vào để soạn thảo kế hoạch cũng đã ít nhiều sai lạc. Tỷ dụ ta ước tính binh đoàn 70B của CSBV có 225 súng phòng không. Nhưng khi lâm trận, mới biết họ có đến 525 khấu.

Không ảnh cho thấy con đường số 9 lưu thông được. Và dự trù sẽ xử dụng lộ trình này để chuyên chở nước và sang đến cho các lực lượng hành quân. Khi lâm trận ,mới khám phá ra rằng con dường này đã bi không quân dội bom từ 1966, và hư hại nhiều. Rốt cục, phải dùng trực thăng. Do đó, nhiều quân xa và thiết giáp đã phải bị bỏ lại trên đường triệt thoái.

Ngoài ra, cũng có những lý do khác đã khiến cho cuộc hành quân không được hoàn tòan thành công. Tỷ dụ như vào thời điểm của cuộc hành quân Lam Sơn, lực lượng ta cũng đang mở cuộc hành quân Toản Thắng 1/71 với sự tham dự của 21.000 quân ở bên Cam Bốt. Cuộc hành quân Lam Sơn, do đó, đã không có được sự không yểm đúng mức của không lực Hoa Kỳ.

Trước sự thiệt hại nặng nề của các lực lượng tham chiến- trong đó có sư đoàn nhảy dù, Nguyễn văn Thiệu đã phải hạ lệnh triệt thoái khỏi Lào trước kỳ hạn.

Ưu điểm của lực lượng nhảy dù là trang bị nhẹ để tạo thành mũi xung kích. Thay vào đó, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, các đơn vị này lại bị xử dụng như những đơn vị bộ binh để phòng thủ các căn cứ hỏa lực. Hậu quả là các căn cứ này đã lần lượt bị thất thủ trước các đợt cường tập của CSBV có pháo binh và thiết giáp yểm trợ.

Bảng tổng kết thiệt hại đôi bên cho thấy Cộng sản Bắc Việt có 13.535 chết và 69 bị bắt làm tù binh.

VNCH: 1483 tử trận, 5.420 bị thương, và 691 mất tích.

Hoa Kỳ: 176 chết, 1.942 bị thương, và 42 mất tích.
(Trích từ các tài liệu. của các tác giả Nguyễn Kỳ Phong, Nguyễn Đức Phương, v…v…)

Sư Ðoàn Nhảy Dù Việt Nam và Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719