Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label KissingerUSA. Show all posts
Showing posts with label KissingerUSA. Show all posts

Friday, 8 December 2023

 NGÀY XƯA KHI LỚN LÊN TRONG NƯỚC CHƯA TỪNG BIẾT HẢI NGOẠI RA SAO- ĐA SỐ CHÚNG TA ĐỀU THẦN TƯỢNG VÔ SONG VỀ NHỮNG NHÂN VẬT LÃNH ĐẠO VÀ CÁC GIỚI CHỨC CAO CẤP TRONG CHÁNH QUYỀN NHƯ MỸ, ANH, PHÁP, ĐỨC ... ĐẾN KHI RA HẢI NGOẠI SAU 1975 ... ĐƯỢC BIẾT KHÁ NHIỀU SỰ THẬT VÀ TUY CHƯA BIẾT HẾT TẤT CẢ 100% SỰ THẬT ... NHƯNG TẤT CẢ CHO THẤY NHỮNG TÊN TUỔI ẤY CŨNG LÀ MỘT CON NGƯỜI TẦM THƯỜNG NHƯ BAO NHIÊU NGƯỜI KHÁC - ĐẦU ÓC CỦA HỌ CÙNG RẤT GIỚI HẠN- KHÔNG CÓ GÌ CAO SIÊU MÀ THƯỜNG DÂN KHÔNG HIỂU NỔI CẢ- TT ĐƠN CỬ NHƯ HOA KỲ CÓ NHỮNG ĐỨA CŨNG RẤT ẤU TRĨ, RẤT TRẺ CON, RẤT KHỜ KHẠO, RẤT BẨN THỈU KHÔNG HƠN GÌ CHÚNG TA HAY NHỮNG  HOMELESS SA CƠ NÀO ĐÓ ! NGƯỜI THƯỜNG THUA HỌ LÀ VÌ KHÔNG CÓ CƠ HỘI, CƠ MAY ĐƯA ĐẨY TỚI NƠI NHƯ HỌ MÀ THÔI./-Mt68

__________________

LTS: Nhân vật lịch sử còn sống sót, đã trả lời cuộc phỏng vấn của Nhà báo Phạm Trần, về áp lực của Mỹ khi đi đêm với Hà Nội để „bỏ rơi VNCH“.

Mời  quý độc giả xem ông Hoàng Đức Nhã trả lời các câu hỏi của  Nhà báo Phạm Trần sau đây.


Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa như thế nào?

Phạm Trần - Hoàng Đức Nhã
"Henry Kissinger làm chính trị một cách rất phi luận lý". Hoàng Đức Nhã
Lời giới thiệu: Cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Henry Kissinger, một nhân vật có quan hệ với Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn Hòa đàm chấm dứt chiến tranh ở Paris, Pháp, qua đời ngày 29/11/2023, thọ 100 tuổi.

Trong khi đó, ông Hoàng Đức Nhã (sinh năm 1942), nguyên Bí thư, Tham vụ Báo chí của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời là Tổng trưởng Bộ Dân vận và Chiêu hồi năm 1973, hiện đang sinh sống tại Mỹ từ sau ngày 30/4/1975.

Ông Hoàng Đức Nhã đã có mặt trong các cuộc thảo luận gay go về Hiệp định Ba Lê tại Dinh Độc Lập giữa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phía Mỹ gồm các ông Henry Henry Kissinger, Đại tướng Alexander Haig và Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker.

Nội dung bài phỏng vấn ông dưới đây được tôi thực hiện, ngay sau khi ông Kissinger ta thế, là nhắm làm sáng tỏ một thắc mắc của lịch sử rằng "Có phải Việt Nam Cộng Hòa đã bị Mỹ bỏ rơi để thất thủ năm 1975"?

Phạm Trần

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong một lần trao tặng huân chương cho ông Hoàng Đức Nhã

Phạm Trần: Thưa ông Hoàng Đức Nhã, nhận xét của ông về cố Ngoại trưởng Henry Kissinger là con người thế nào: khôn khoan, thông minh hay mưu mẹo?

Hoàng Đức Nhã: Theo tôi nhận xét, ông Kissinger tùy theo người nhận xét có kinh nghiệm cá nhân làm việc -như thương thuyết- trực tiếp với ông ta hay chỉ nghe người khác kể lại, hay đọc sách báo viết rất tốt hay rất xấu về ông ta.

Tôi có dịp làm việc trực tiếp với ông ta khi Tổng thống Thiệu và Hội đồng An ninh Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa họp với ông ta trong một vài giai đoạn của tiến trình đưa đến Hiệp định Ba Lê 1973, và trong những trường hợp rất gây cấn chỉ có Tổng thống và tôi đối đầu với ông Kissinger và Đại sứ Bunker.

Nhận xét của tôi đây là một nhân vật rất thông minh và thích đặt đối phương trong tình trạng bối rối khi phải ráng hiểu một lô dữ kiện liên quan đến vấn đề đang được bàn luận và những hậu quả cho Việt Nam Cộng Hòa nếu phải theo lâp luận của Mỹ. Ông Kissinger trình bày theo cách ông ta, cố cho thấy những điểm ông ta cho là rất tốt cho phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, nhưng lại phớt qua những điểm rất tai hại cho Việt Nam Cộng Hòa.

Ông ta là người muốn đạt được những gì ông ta dự tính bằng mọi cách, và nếu cần thì nịnh hót, xoa dịu, nói láo, hứa đủ điều, ép và đe dọa. Nói về những cuộc thương thuyết về Hiệp định hòa bình Ba Lê, ông ta lọt vào bẫy của Hà Nội và chấp nhận những điều họ muốn, và tin rằng sẽ ép Tổng thống Thiệu chấp nhận những điều kiện đó.

Theo tôi, ông Kissinger làm chánh trị một cách rất phi luân lý.

Phạm Trần: Trong cuộc hòa đàm Ba Lê, ông đã từng có mặt trong các cuộc gặp tại Dinh Độc Lập giữa Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và ông Kissinger, sau này với Tướng Alexander Haig, phụ tá của ông Kissinger, xin ông cho biết khi ấy Tổng thống Thiệu đạ bị áp lực chính trị từ phía Hoa Kỳ như thế nào?

Hoàng Đức Nhã: Giai đoạn căng thẳng và nguy hiểm nhất trong tiến trình thương thuyết, từ đầu 1969 cho đến đầu tháng Giêng 1973, là bốn ngày trong tháng 10 năm 1972, 19 đến 23 tháng 10. Trong khoảng tời gian này Hoa Kỳ quyết tâm buộc Việt Nam Cộng Hòa chấp thuận bản thảo hiệp định mà phía Hà Nội thuyết phục Hoa Kỳ là tốt cho hai bên Việt Nam vì đó là sự sụp đổ của lập trường của Hà Nội cũng như là sẽ tạo một nền tảng tốt cho hai bên tại miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chánh trị của mình. Hoa Kỳ chấp nhận lập luận của Hà Nội mà không hề bàn với Việt Nam Cộng Hòa trước khi đồng ý với Hà Nội.

Giải pháp Hà Nội đưa ra và Hoa Kỳ vội chập thuận chỉ là một đầu hàng của Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Thiệu quyết tâm từ chối ngay cả khi Hoa Kỳ hăm dọa cắt đứt viện trợ. Sau khi ông Kissinger không thuyết phục và ép Tổng thống Thiệu được trong bốn ngày tháng 10 năm 1972 thì Tướng Alexander Haig qua Saigon và, trong nhiều phiên họp rất căng thẳng với Tổng thống Thiệu và tôi, cũng không thuyết phục được Tổng thống Thiệu, ngay cả khi đe dọa "lấy những biện pháp rất tàn bạo" đối với Tổng thống Thiệu và tôi.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao đổi với Cố vấn An ninh Hoa Kỳ Henry Kissinger

Phạm Trần: Có phải ông Henry Kissinger đã "qua mặt" (hay có phê bình nặng nề rằng "đâm sau lưng" ) Việt Nam Cộng hòa khi thảo luận "sau lưng" Tổng thống Thiệu về giải pháp chấm dứt chiến tranh với Trung Cộng và Chính quyền miền Bắc khi ấy là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa?

Hoàng Đức Nhã: Vì quá muốn có một thắng lợi để một phần giúp Tổng thống Nixon tái đắc cử nhiệm kỳ hai sau cuộc bầu cử tháng 11 năm 1972, và mặt khác, muốn chứng tỏ cho các cấp lãnh đạo trong giới chánh trị và xã hội thượng lưu của Hoa Kỳ rằng ông ta làm được những gì mấy người khác chưa làm được cho nên ông Kissinger không muốn bị Việt Nam Cộng Hòa cản trở và không những đi sau lưng đồng minh Việt Nam Cộng Hòa mà còn tự định đoạt tương lai chánh trị của miền Nam nữa. Ông ta giấu điều này cho đến khi Hà Nội cho biết sẵn sàng ký và trao cho ông ta một bản thảo Hiệp định với rất nhiều điều kiện tai hại cho Việt Nam Cộng Hòa. Ông Kissinger chấp nhận ngay và bay qua Saigon ép Tổng thống Thiệu chấp nhận khi Tổng thống Thiệu chưa hề được biết bản thảo Hiệp định này.

Phạm Trần: Thưa ông, có phải ông Henry Kissinger là người chỉ biết lo cho quyền lợi của Mỹ khi ông ta nói chuyện với đại diện miền Bắc ở Paris khi ấy là ông cố vấn Lê Đức Thọ, nhưng không điếm xỉa gì đến quyền lợi của Việt Nam Cộng Hòa trong các cuộc thượng lượng này?

Hoàng Đức Nhã: Đúng thế. Chúng ta đều hiểu rằng một ông Ngoại trưởng của Hoa Kỳ phải phác họa và thi hành chánh sách ngoại giao để bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ trước hết. Ông Kissinger thì làm điều này bất chấp ước muốn của đồng minh và hậu quả tai hại cho đồng minh.

Như tôi trả lời trong câu hỏi trên, ông Kissinger bất cần những nguyên tắc thương thuyết – mà điều chính là tương lai chánh trị tại miền Nam phải do hai bên trong miền Nam quyết định – và tự quyết định khi thương thuyết với Hà Nội, và chỉ thông báo cho Việt Nam Cộng Hòa biết sau khi ông ta và Lê Đức Thọ phê chuẩn dự thảo Hiệp đình mà Việt Nam Cộng Hòa không hề được biết trước và cũng không có cơ hội để phê bình".

Phạm Trần: Trong các cuộc "đối mặt thảo luận trưc diện" tại dinh Độc lập với ông Kissinger, bên cạnh Tổng thống Thiệu, về Hiệp định Paris ký ngày 27/01/1973, ông có trở ngại gì với ông Henry Kissinger không, chẳng hạn như "bực tức", "cãi vã" hay "công khai phản đối áp lực của ông Kissinger" đối với vận mệnh Việt Nam Cộng Hòa?

Hoàng Đức Nhã: Chúng tôi hành động rất lễ độ, đúng mức, như một nhà thương thuyết theo đúng căn bản của một cuộc thương thuyết. Chúng tôi không hề la lối, đập bàn, sỉ nhục hay chửi rủa ông Kissinger.

Khi ông ta hăm dọa, Tổng thống Thiệu tỏ ra rất nghiêm chỉnh và trả lời một cách đúng nghi lễ rằng Việt Nam Cộng Hòa không chấp nhận bản thảo Hiệp định. Tổng thống Thiệu nhấn mạnh nhiều lần với ông Kissinger rằng xin ông ta trình lại Tổng thống Nixon rằng Việt Nam Cộng Hòa rất muốn có một hiệp định chân chính, bảo vệ quyền lợi của Việt Nam Cộng Hòa nhưng không thể chấp nhận bản thảo Hiệp định mà ông Kissinger đã đồng ý với Lê Đức Thọ".

Ông Hoàng Đức Nhã - 

Phạm Trần: Ông có thể ghi lại những "phản ứng quyết liệt" của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong những lần nói chuyện tại Dinh Độc lập với phía Mỹ nói chung và riêng hai ông Kissinger và Tướng Alexander Haig về hòa đàm Paris?

Hoàng Đức Nhã: Tổng thống Thiệu hành động rất bình tỉnh và không hề khóc lóc, đập bàn như một vài người viết lại trong sách của họ. Có hai trường hợp rất căng thẳng cho thấy cách Tổng thống Thiệu đối đầu với đe dọa của phía Hoa Kỳ.

Lần đầu là trong những ngày tháng 10 năm 1972 khi ông Kissinger hăm dọa một cách mỉa mai rằng "hai ông (Tổng thống Thiệu và tôi) không nên trở thành người tử đạo (you two should not try to be martyrs)" – Tổng thống Thiệu không trả lời và ngó qua tôi cũng như nói tôi trả lời đi. Tôi nói với ông Kissinger "chúng tôi không hề muốn trở thành người tử đạo. Chúng tôi chỉ là người ái quốc thi hành Hiến pháp một cách nghiêm chỉnh để bảo vệ quê hương chúng tôi". Ông Kissinger rất bực tức vì thấy tôi trả lời ông ta thay vì Tổng thống Thiệu.

Lần thứ hai là khi ông Alexander Haig qua Saigon vào đầu 11 năm 1972. Mục đích của ông ta là tiếp tục ép Tổng thống Thiệu chấp thuận bản thảo Hiệp định mà ông Kissinger không thuyết phục đươc. Khi Tổng thống Thiệu lập đi lập lại rằng Việt Nam Cộng Hòa không thể ký bản thảo Hiệp định này nếu không có những điều khoản rất quan trọng cho Việt Nam Cộng Hòa. Ông Haig rất bực tức, và với một giọng trầm và nét mặt giận dữ nói rằng Hao Kỳ "sẽ có những hành động rất táo bạo (brutal actions) đối với Việt Nam Cộng Hòa". Cũng như lần ông Kissinger đe dọa lần này Tổng thống Thiệu cũng ngó về tôi, và tôi nói với ông Haig rằng "hành động táo bạo hả? Chắc cũng táo bạo như trong tháng 11 năm 1963 chứ gì ?".

 

<image002.png>

<~WRD0000.jpg>

nha04

 

 

Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu (bìa phải) trong một cuộc họp với Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, người thứ nhì trong hình từ phải sang, đang nhìn vào ông.

Phạm Trần: Là người "trong cuộc", xin ông cho biết "có đúng" Chính quyền Mỹ đã bội ước bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa và để cho cho quân Cộng sản miền Bắc chiếm đóng ngày 30/4/1975 ?

Hoàng Đức Nhã: Đúng thế. Chánh phủ Hoa Kỳ đã bội hứa, giảm thiểu môt cách nhanh chóng viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa, ngay cả nhiều điều khoản trong Hiệp định cho phép Hoa Kỳ thay môt khẩu súng, một chiến cụ bị hư hại khi quân lực Việt Nam Cộng Hòa dùng để chống lại những vi phạm của Bắc Việt. Hoa Kỳ đã không cần quan tâm đến số phận của miền Nam khi quan cộng sản Bắc Việt vẫn được viện trợ ồ ạt của Trung Cộng và Liên Xô sau khi bản Hiệp định được ký và Hoa Kỳ long trọng tuyên bố sẽ phản ứng mãnh liệt nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

Theo tôi, lỗi lầm lớn nhất của Việt Nam Cộng Hòa là không hiểu được rằng Tổng thống của Hoa Kỳ không có quyền chỉ thị Quốc hội chấp thuận viện trợ do Hành pháp yêu cầu".

Nhà báo Phạm Trần -

Phạm Trần: Nếu ông Richard Nixon không bị vụ Watergate làm mất chức Tổng thống thì liệu Việt Nam Cộng Hòa có tồn tại không?

Hoàng Đức Nhã: "Theo tôi, vụ Watergate chỉ là một yếu tố đưa đến việc Bắc Việt tiến chiếm miền Nam. Nếu Tổng thống Nixon tồn tại và Quốc hội vẫn chống viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa thì miền Nam cũng bị bỏ rơi.

Lý do chánh là sau cuộc bầu cử tháng 11 năm 1972 Quốc hội thứ 94 do đảng Dân chủ nắm đa số tại Hạ Viện và Thượng Viện. Họ đã sử dụng đa số đó để, một mặt làm áp lực tối đa lên Tổng thống Nixon buộc ông phải từ chức nếu không muốn bị luận tôi vì vụ Watergate, và mặt khác, rút khỏi miền Nam càng sớn càng tốt vì binh lính và tù binh chiến tranh của Hoa Kỳ đã trở về nước. Trong tinh thần đó đảng Dân chủ không chấp thuận viện trợ cho miền Nam bất chấp những trách nhiệm của Hoa Kỳ theo Hiệp định Ba Lê và những lời hứa của Tổng thống Nixon với Tổng thống Thiệu.

Phạm Trần: Xin cảm ơn ông.

Phạm Trần

(06/12/2023

 KHÔNG CẦN BIẾT HỌC GIẢ HAY HỌC THIỆT: NHỮNG ĐỨA VÔ LƯƠNG NHẮM MẮT ĐỀ CAO KISSINGER ĐỀU LÀ ĐỒNG BỌN KHỐN NẠN, SÁT NHÂN- DI SẢN KISSINGER KHÔNG BAO GIỜ LÀM CHO MỸ KHÔN NGOAN MÀ SẼ GIÚP CHO MỸ GIAN MANH, LẬT LỘNG HƠN VỚI "ĐỒNG MINH" TẠM THỜI CỦA MỸ./-TCL/Mt68

__________________

Di sản của Henry Kissinger

08/12/2023



      Sự ra đi của nhà tư tưởng và thực hành xuất sắc về chính sách đối ngoại của Mỹ đánh dấu một kỷ nguyên kết thúc. Trong suốt sự nghiệp lâu dài và có ảnh hưởng phi thường của mình, Henry Kissinger đã xây dựng một di sản mà người Mỹ sẽ khôn ngoan chú ý trong kỷ nguyên mới của nền chính trị cường quốc và sự xáo trộn trong toàn cầu. Thật khó để tưởng tượng rằng thế giới mà không có Henry Kissinger, không chỉ đơn giản vì ông sống đến 100 tuổi, mà vì ông chiếm một vị trí có ảnh hưởng và đôi khi chế ngự trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Mỹ trong hơn nửa thế kỷ.Lời người dịch: Việc ra đi của Cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger là một đề tài được thảo luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông quốc tế.
  
Nhưng đối với người Việt miền Nam, việc Henry Kissinger ký kết Hiệp định Paris 1973 phải được xem là một sai lầm nghiêm trọng vì Bắc Việt đã lừa đảo được Henry Kissinger khi chiếm trọn mọi ưu thế trên chiến trường và nghị trường. Kết quả này dẫn đến việc Bắc Việt vi phạm Hiệp định và thống nhất lãnh thổ bằng quân sự.
  
Theo nội dung Hiệp định, Bắc Việt và MTGPMN có
 ba thắng lợi chính: Một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân chính quy QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm.
  
Dù tiên đoán Hà Nội không tôn trọng Hiệp định và miền Nam sụp đổ, tại sao Kissinger không chuẩn bị các biện pháp khác nhằm ngăn chặn các hậu quả tàn khốc này? Đây là câu hỏi mà mọi người Việt miền Nam đặt ra để nguyền rủa Kissinger là phản bội VNCH và xem nhẹ các giá trị sống còn của miền Nam, vô đạo đức không thể tha thứ.
  
Kissinger luôn né tránh biện minh trách nhiệm đạo đức cá nhân và những sai lầm trong Hiệp định mà ngược lại đổ trách nhiệm cho chính quyền và dân chúng miền Nam là những người có quyền tự do tự định đoạt số phận của mình. Về trách nhiệm của phía Mỹ, ông dẫn chứng là Nixon bị buộc phải từ chức sau vụ Watergate và Quốc hội còn không muốn tiếp tục viện trợ cho VNCH.
  
Gần đây, có các cáo buộc mới về Henry Kissinger khi đơn phương chấp thuận cho phép binh sĩ Bắc Việt ở lại miền Nam và không thảo luận vấn đề này trước với Richard Nixon và chính quyền VNCH.  
  
Năm 1971 quan điểm công khai của Nixon là cả hai lực lượng Hoa Kỳ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam, để cho người Việt Nam tự giải quyết vấn đề hòa bình.
  
Do đâu mà Henry Kissinger qua mặt  Richard Nixon và VNCH là một vấn đề còn cẩn thảo luận trong chi tiết. Hiện nay, các văn kiện của Henry Kissinger còn bảo mật và ký gởi tại Quốc hội Mỹ. Theo di chúc của ông, các tài liệu này sẽ được tự do tham khảo năm năm sau ngày ông qua đời.
 
***
 
Sự ra đi của nhà tư tưởng và thực hành xuất sắc về chính sách đối ngoại của Mỹ đánh dấu một kỷ nguyên kết thúc. Trong suốt sự nghiệp lâu dài và có ảnh hưởng phi thường của mình, Henry Kissinger đã xây dựng một di sản mà người Mỹ sẽ khôn ngoan chú ý trong kỷ nguyên mới của nền chính trị cường quốc và sự xáo trộn trong toàn cầu.
  
Thật khó để tưởng tượng rằng thế giới mà không có Henry Kissinger, không chỉ đơn giản vì ông sống đến 100 tuổi, mà vì ông chiếm một vị trí có ảnh hưởng và đôi khi chế ngự trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Mỹ trong hơn nửa thế kỷ.

Sinh ra ở Đức năm 1923, Kissinger di cư sang Hoa Kỳ năm 1938, trở về Đức trong khi phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ, và là một sinh viên và sau đó là giảng viên tại Đại học Harvard. Ông đã phục vụ tám năm trong chính phủ Hoa Kỳ, đầu tiên là cố vấn an ninh quốc gia, và sau đó là ngoại trưởng (giữ cả hai vai trò đồng thời từ năm 1973 đến năm 1975) dưới thời Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford.
  
Những thành tựu của ông trong lúc tại chức có nhiều và rất đáng kể. Để bắt đầu, đó là sự mở cưa cho Trung Quốc, một cơ hội được tạo ra bởi sự chia rẽ Trung Quốc -Xô Viết, nhưng được nhận ra và sau đó được Kissinger và Nixon khai thác để sử dụng làm đòn bẩy đối với Liên Xô (đối thủ chính của Mỹ vào thời điểm đó). Việc mở cửa ngoại giao đó không chỉ chấm dứt nhiều thập niên thù địch giữa Mỹ và Trung Quốc. Nó cũng tạo ra một công thức để tạo ra sự khác biệt về Đài Loan, đặt nền tảng cho sự chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc và thiết lập một mối quan hệ lâu dài và quan trọng hơn bao giờ hết. Ngoài ra còn có sự hoà hoãn: nới lỏng các căng thẳng với Liên Xô. Kissinger và Nixon (mối quan hệ thân thiết của họ là một lời giải thích cho ảnh hưởng của Kissinger) đã cấu trúc mối quan hệ giữa hai siêu cường của thời đại. Điều đó cho phép các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí hạt nhân, các quy tắc về lộ trình quản lý các xung đột liên quan đến từng đồng minh riêng biệt của họ và hội nghị thượng đỉnh thường xuyên, tất cả đều giúp giữ cho Chiến tranh Lạnh còn lạnh khi tình trạng có thể trở nên nóng hoặc tệ hơn là dẫn đến việc leo thang hạt nhân.
  

Sau đó là Trung Đông. Sự tương đồng so với ngày nay rất đáng chú ý, vì chính xác là cách đây 50 năm trước, Ai Cập và Syria đã khiến Israel mất kiểm soát với một cuộc đột kích giống như Hamas đã làm vào ngày 7 tháng Mười. Kissinger và Nixon đảm bảo rằng Israel có sự hỗ trợ quân sự nếu cần thiết; nhưng họ cũng gây áp lực buộc Israel không lạm dụng quá mức lực lượng quân sự, vì điều đó có thể kéo Liên Xô vào cuộc chiến hoặc loại bỏ triển vọng ngoại giao sau đó.  Chính sách ngoại giao “con thoi” cá nhân của Kissinger  đã giúp mang lại một lệnh ngừng bắn và tách biệt các lực lượng vũ trang đối lập, tạo tiền đề cho hoà ước Ai Cập-Israel  do Tổng thống Jimmy Carter đàm phán.
  
Những thành tựu này, bất kỳ một trong số đó sẽ tạo thành một di sản quan trọng cho một ngoại trưởng, chứng minh nhiều yếu tố trung tâm trong phương cách của Kissinger đối với các vấn đề của thế giới. Ông chấp nhận ngoại giao, để chắc chắn; nhưng đó là một chính sách ngoại giao hoạt động trong bối cảnh cân bằng quyền lực thuận lợi. Đó không chỉ là ngoại giao, mà là ngoại giao với sự kiềm chế.
  
Kissinger có khuynh hướng bảo thủ. Ông ưu tiên hoá trật tự, có nghĩa là, những nỗ lực của ông để tránh chiến tranh được ưu tiên hơn các mục tiêu có nhiều tham vọng hơn đang được thúc đẩy bởi những người khác mà họ muốn biến đổi các quốc gia hoặc áp đặt hòa bình bằng công lý. Sự nhấn mạnh của ông là thẳng thắn về mối quan hệ giữa các quốc gia hơn là chính trị bên trong họ. Như Kissinger thấy vấn đề này, công việc chính của chính sách đối ngoại Mỹ là định hình chính sách đối ngoại của các nước khác.
  
Người ta tìm thấy những chủ đề này trong nhiều cuốn sách và bài báo của ông, từ luận án tiến sĩ và hồi ký của ông đến những suy tưởng của về vũ khí hạt nhân, các liên minh, nền ngoại giao và gần đây hơn, trật tự thế giới, Trung Quốc và trí tuệ nhân tạo. Ngay cả khi Kissinger chưa bao giờ phục vụ trong chính phủ, ông vẫn sẽ gây ảnh hưởng sâu xa đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thông qua sức mạnh của các ý tưởng và tài hùng biện trong các bài viết.
  
Tất nhiên, hiện nay có những vị ngoại trưởng Mỹ vĩ đại khác, chẳng hạn như George Marshall, Dean Acheson và James Baker. Nhưng không người nào có thể so sánh với Kissinger khi vừa là một tác nhân vừa là một nhà phân tích. Ông là học giả và hành giả xuất sắc trong thời đại của mình.
  
Nhưng điều này không có nghĩa là Kissinger đã không phạm phải một số điều sai lầm. Ông chắc chắn đã làm, như nhiều người gièm pha và chỉ trích ông nhanh chóng chỉ ra.
  
Các chính sách gây tranh cãi nhất mà ông có tham gia liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Giới chỉ trích cuộc chiến đổ lỗi cho Kissinger đã kéo dài nó, và mở rộng sang Campuchia, vào thời điểm mà nhiều người đánh giá nó là không thể thắng và không đáng để chiến đấu. Nhưng ông cũng bị chỉ trích từ những người ủng hộ chiến tranh, do vai trò của ông trong việc đàm phám chấm dứt cuộc chiến. Các điều khoản của "hòa bình" cho phép Bắc Việt thắng được miền Nam trong vòng hai năm.
 
Kissinger cũng đóng một vai trò gây tranh cãi trong các biến cố năm 1971, khi ông đứng về phía Pakistan (một đồng minh của Mỹ đã giúp đỡ bước dọn đường để đột phá với Trung Quốc) bất chấp các báo cáo rằng chính phủ nước này đang thực hiện một chiến dịch đàn áp quy mô, hoặc điều mà nhiều người đánh giá là một cuộc diệt chủng, như ở Bangladesh ngày nay. Cuối cùng, Kissinger vẫn bị chỉ trích dữ dội vì vai trò của ông trong việc cố gắng lật đổ chính phủ ở Chile được bầu cử dân chủ là Salvador Allende, do khuynh hướng ý thức hệ.
  
Kissinger thỉnh thoảng cố gắng bác bỏ những phàn nàn này khác về các chính sách của ông. Nhưng những nỗ lực của ông không hoàn toàn thuyết phục, bởi vì một số phê bình chính đã có giá trị. Tuy nhiên, điểm quan trọng hơn là những thành tựu của Kissinger rất lớn, và lớn hơn nhiều so với những thất bại của ông.
  
Kết quả là một di sản lâu dài, xứng đáng về sự nghiêm túc về thế giới và về sự nguy hiểm của một chính sách đối ngoại của Mỹ được xác định bởi hoặc là dưới tầm với (chủ thuyết biệt lập) hoặc vượt quá tầm với (cố gắng chuyển đổi các tình huống hoặc chế độ chỉ có thể được xử lý, tốt nhất). Đó là một di sản mà người Mỹ sẽ khôn ngoan để chú ý khi họ một lần nữa phải đối mặt với một thế giới được đánh dấu bởi nền chính trị do các cường quốc và sự hỗn loạn ngày càng tăng.
 
 
– Richard Haass
Đỗ Kim Thêm dịch
 
Richard Haass, Chủ tịch hồi hưu của Council on Foreign Relations và tác giả  The Bill of Obligations: The Ten Habits of Good Citizens (do NXB Penguin Press ấn hành năm 2023) và Home & Away, bản tin Substack phát hành hàng tuần.
 

Friday, 1 December 2023

NHÂN NGÀY TÀN CỦA MỘT CON THÚ ĐỘC ÁC KISSINGER:

*Mt68 xin mạn phép nêu lại một chút sự việc chơi khăm của Lê Đức Thọ nhằm nhục mạ Kissinger mà có thể hắn ta không hề hay biết.

Cách nay chừng 10 năm, tôi (1 QGHC ở Úc) tình cờ gặp lại GS Anh Văn cũ của mình từ sau lần ông ấy thuyên chuyển  về SG vào năm 59, 60. Ông cựu gs Nguyễn Mạnh Cường hiện còn sống ở Nam Cali. Chắc nhiều người ở Little SG biết gs Cường là người thỉnh thoảng hay xuất hiện trên Youtube do những tên kiếm chác mời lên để gây tranh cãi, câu viewers. 
Ông Cường chính là ông hay phát ngôn lung tung, thường ngược ngạo với quan điểm chung của Cộng Đồng Tỵ Nạn Hải Ngoại đấy!

Gặp lại Ông gs Cường tại Úc, ông ấy sang thăm một người Chị định cư ở Melbourne.
Trong vài mươi phút, ông ấy muốn nếm gu cà phê Úc ra sao? Nhân câu hỏi GS đổi về SG dạy ở trường nào sau đó? Ông kể, dạy quanh quẩn nhiều trường ở Gia Định và SG. Nhưng vì quen thân, nhiều người biết khả năng Anh Ngữ của ông nên ông được biệt phái ngoại ngạch sang làm việc với Ông Thiếu Tá Lê Xuân Mai là người tổ chức các Khóa Dân Ý Vụ đầu tên tại Cát Lở, Bà Rịa kế tiếp sang giảng huấn tại TTHL Cán Bộ XDNT Chí Linh, Vũng Tàu với Thiếu Tá Nguyễn Bé (Hồi Chánh).
Sau cùng ông Cường được Ông Kỳ gọi về gia nhập Phái Đoàn Hòa Đàm Ba Lê 4 năm, kết thúc tháng 1/1973.
Ông Cường kể, ngày đầu tiên Nhóm họp hòa đàm, Phái Đoàn Bắc Việt và MT/GPMN tới trước. Phái Đoàn Mỹ và VNCH tới sau. Lúc đó phòng họp đã mở cửa nhưng chưa chính thức được mời các phái đoàn vào.
Kissinger tới nơi, đi thẳng tới chỗ Lê Đức Thọ đứng im, Kissinger đưa tay từ xa tới bắt tay Lê Đức Thọ. Lê Đức Thọ bắt tay Kissinger mặt lạnh lùng, không nói một lời xã giao nào cả. 
Khi Kissinger bước qua Lê Đức Thọ, Thọ quay qua một bên thọc tay vào túi quần lôi ra cái khăn mouchoir, lau tay xong ông ta nhét lại túi quần, nhưng cái khăn tay lọt ra ngoài, rơi xuống sàn nhà! Thọ bước vào phòng họp mà chiếc khăn vẫn còn nằm trên sàn, có lẽ nhiều người đã thấy ông Thọ làm rớt khăn tay!
GS Cường giải thích Ông Thọ "Cố tình" bỏ rơi khăn tay để tỏ ý là Thọ đã bắt bàn tay dơ bẩn của Kissinger. Nên hắn ta rứt bỏ nó đi, để khỏi dơ túi quần hắn ta!

Nếu sự việc là THẬT thì tụi Cộng Sản nó lưu manh, có chủ ý, chủ trương từng ly, từng tí mà Tây Phương không bao giờ biết hay dè chừng!!!?./-Mt68
________________
Chuyến xuất ngoại cuối cùng của siêu ngoại trưởng Mỹ Kissinger.


Chuyến xuất ngoại cuối cùng của cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger là đến Trung Quốc để thúc đẩy cải thiện mối quan hệ của Mỹ với cường quốc châu Á.


Hình ảnh ông Henry Kissinger thăm Trung Quốc hồi tháng 7. (Ảnh: Reuters)

Tối 29/11 (sáng 30/11 giờ Hà Nội), Công ty tư vấn Kissinger Associates của cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger thông báo ông đã qua đời. Ông Kissinger từng là cố vấn an ninh quốc gia Mỹ từ tháng 1/1969 đến tháng 11/1975 và làm ngoại trưởng từ tháng 9/1973 đến tháng 1/1977, dưới hai đời tổng thống Mỹ là Richard Nixon và Gerald Ford.Cuối đời, ông Kissinger vẫn có những hoạt động ngoại giao đáng chú ý, tham dự các cuộc họp ở Nhà Trắng, xuất bản cuốn sách về phong cách lãnh đạo và điều trần trước ủy ban Thượng viện về vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Chuyến thăm bất ngờ của ông tới Bắc Kinh để gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng 7 từng gây sự chú ý của dư luận thế giới.

Đón tiếp nồng hậu

Quan hệ Mỹ - Trung rơi vào trạng thái căng thẳng thời gian qua, liên quan đến các vấn đề thuế quan, công nghệ, Đài Loan, khinh khí cầu do thám... Tuy nhiên, Washington đã có những tín hiệu tích cực để nối lại đối thoại với Bắc Kinh. Mới đây, quan hệ Mỹ - Trung đã có những tín hiệu tích cực khi Tổng thống Joe Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình có cuộc hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11.

Trước đó, Ngoại trưởng Antony Blinken, Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen và Đặc phái viên Tổng thống về chính sách khí hậu John Kerry. Thế nhưng, trong 3 người này, Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ họp trực tiếp với Ngoại trưởng Blinken.

Trong khi đó, lãnh đạo Trung Quốc lại dành sự đón tiếp nồng hậu khác thường cho Henry Kissinger, người tạo nền móng để Bắc Kinh - Washington thiết lập quan hệ ngoại giao hơn nửa thế kỷ trước, khi cựu ngoại trưởng Mỹ đến thăm Bắc Kinh hồi tháng 7.

Ông Tập Cận Bình đón cựu ngoại trưởng Kissinger ở Nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài. Hai người ngồi ngang hàng bên một bàn trà nhỏ, thể hiện không khí thân thiện.

Chuyên gia chính trị quốc tế Daniel Drezner, Trường Fletcher về Luật và Ngoại giao thuộc Đại học Tufts của Mỹ, cho rằng: "Trung Quốc đón tiếp những quan chức Mỹ tới thăm một cách chừng mực".

Không chỉ được Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp đón, ông Kissinger còn gặp quan chức ngoại giao hàng đầu Trung Quốc Vương Nghị và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thời điểm đó là ông Lý Thượng Phúc. Hơn nữa, các phát biểu của giới lãnh đạo Trung Quốc dành cho ông Kissinger cũng thể hiện rõ thái độ nồng nhiệt.

Chủ tịch Tập Cận Bình dùng những ngôn từ trọng thị hơn khi gọi ông Kissinger là "lão bằng hữu nhân dân Trung Quốc không bao giờ quên", đồng thời khẳng định "quan hệ Trung - Mỹ luôn luôn gắn liền với tên tuổi Henry Kissinger".

Trong cuộc gặp với ông Kissinger, ông Vương Nghị gọi cựu ngoại trưởng Mỹ là người "có những đóng góp lịch sử trong phá băng quan hệ Mỹ - Trung, giữ vai trò không thể thay thế trong củng cố sự thấu hiểu lẫn nhau giữa hai nước".

Theo chuyên gia Drezner: "Bắc Kinh biệt đãi Kissinger để phát tín hiệu rằng mối quan hệ sẽ tốt lên đáng kể nếu Washington đảo chiều chính sách đối ngoại, trở về tương tự thời của Kissinger".

Triệu Tuệ Sinh, Giám đốc Trung tâm Hợp tác Mỹ - Trung thuộc Đại học Denver của Mỹ, cho rằng chuyến thăm của cựu Ngoại trưởng Kissinger cho thấy Bắc Kinh đang ưu tiên nhiều hơn cho những tiếp xúc kiểu ngoại giao nhân dân không chính thức, thay vì những cuộc gặp cấp cao trực tiếp với quan chức Washington.Đề cập đến chuyến thăm của ông Kissinger đến Trung Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định Kissinger đến Trung Quốc với tư cách một người dân bình thường và không đại diện cho chính phủ. Người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ John Kirby còn bình luận cách Bắc Kinh tiếp đón Kissinger là "thực tế đáng tiếc, khi một công dân bình thường có thể gặp và trao đổi cùng Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, nhưng đại diện chính phủ Mỹ lại không thể".

Ảnh hưởng của ông Kissinger

Theo chuyên gia Daniel Drezner, chuyến thăm của Kissinger chủ yếu mang lại lợi ích cho cá nhân cựu Ngoại trưởng Mỹ, thay vì tác động lên quan hệ song phương Mỹ - Trung. Những biệt đãi tại Bắc Kinh làm tăng danh tiếng cho Kissinger trong mắt những tập đoàn muốn tìm đến lời khuyên của ông, thông qua Công ty tư vấn Kissinger Associates, khi tiếp cận thị trường Trung Quốc.

Ông Kissinger từng đóng vai trò quyết định trong lịch sử quan hệ Mỹ - Trung, với chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh vào tháng 7/1971 đã mở đường cho Tổng thống Mỹ khi đó là ông Richard Nixon đến Trung Quốc một năm sau, dẫn đến bình thường hóa quan hệ song phương.

Bắc Kinh vẫn xem ông Kissinger là "người bạn của Trung Quốc". Ông Kissinger cũng nhiều lần phản đối Washington theo đuổi lập trường gay gắt với Bắc Kinh, bày tỏ lo ngại viễn cảnh "thảm họa" nếu như đối đầu Mỹ - Trung vượt kiểm soát và trở thành xung đột.

Hồi tháng 5, tờ Hoàn cầu Thời báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, ca ngợi ông Kissinger "vẫn giữ được đầu óc sắc bén dù đã bước vào hàng bách niên"./-

Theo tờ China Daily, ông Kissinger đã đến thăm Trung Quốc hơn 100 lần trong 52 năm qua và được nhiều người Trung Quốc coi là người bạn lâu năm của nhân dân Trung Quốc, người đã có những đóng góp lịch sử cho sự phát triển của quan hệ Trung - Mỹ.

VietBF©sưu tập

Wednesday, 29 November 2023

TIN VUI CHO TOÀN THỂ CỰU CÔNG DÂN VNCH- CẦU MONG TÊN CẨU TẶC SỚM XUỐNG TẬN ĐÁY ĐỊA NGỤC ĐỂ GẶP KU HỒ&THỔ PHỈ LÊ ĐỨC THỌ./-Mt68
____________________

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger qua đời
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger qua đời tại nhà riêng vào ngày 29/11 ở tuổi 100, theo Reuters.

Theo Reuters, ông Kissinger qua đời tại nhà riêng ở Connecticut hôm 29/11. Nhà ngoại giao kỳ cựu từng phục vụ trong nhiều nhiệm kỳ tổng thống Mỹ.



Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger.

Ông Kissinger sinh ngày 27/5/1923 tại Đức. Ông chuyển đến Mỹ vào năm 1938, sau đó nhập quốc tịch Mỹ năm 1943.

Ông có thời gian nhập ngũ và phục vụ trong lục quân Mỹ ở châu Âu, trong những năm diễn ra cuộc Thế chiến thứ 2. Cựu Ngoại trưởng Mỹ từng theo học và lấy bằng thạc sĩ tại Đại học Harvard, trải qua các vị trí cố vấn cho các cơ quan chính phủ.

Sự nghiệp của ông Kissinger liên quan đến nhiều diễn biến quốc tế, trong đó có cuộc chiến tại Việt Nam, quan hệ Mỹ - Trung Quốc hay các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí giữa Liên Xô - Mỹ.

Năm 1973, Giải Nobel Hòa bình được trao chung cho cả ông Kissinger và ông Lê Đức Thọ, 2 nhân vật tham gia đàm phán đi đến Hiệp định Hòa bình Paris được ký năm 1973, nhằm lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ông Lê Đức Thọ khi đó từ chối nhận giải với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại.

VietBF©sưu tập

Wednesday, 25 January 2023

 KHÔNG BIẾT CÓ THẬT KHÔNG?

Ông cựu GS trung học NGUYỄN MẠNH CƯỜNG (Sặc mùi VC) Hiện còn sống ở Nam Cali. Có lần ông ấy kể : Nguyễn Cao Kỳ chọn ông ấy đi theo phái đoàn hòa đàm Paris. Chính ông chứng kiến CÁI ĐỂU CỦA LÊ ĐỨC THỌ. 

"Khi Kisinger bắt tay với Lê Đức Thọ xong , Thọ ta vội quay sang hướng khác, rút khăn mouchoir ra lau tay... rồi giả bộ nhét lại túi quần nhưng sơ ý làm rớt xuống sàn gạch và bỏ đi ...". 

Nhiều người nhìn thấy cử chỉ lưu manh ấy, tỏ vẻ cố tình khinh bỉ Kisinger của Lê Đức Thọ. Việt Cộng dã man đều học thuộc bài bản. Những ai ngây thơ cứ tưởng là vô tình. Giống như VC bắn rơi máy bay sơn MÀU CAM của phái đoàn 4 bên kiểm soát đình chiến. Khi chúng họp với phái đoàn 4 bên thì chúng đưa ra TRÁI CAM SÀNH MÀU XANH, bảo rằng bộ đội chúng không biết MÀU CAM (Đỏ Vàng) mà chỉ biết MÀU CAM là màu CAM SÀNH ; Tây Phương cứ tưởng là chúng khù khờ chân thật nên đành chịu thua. Lịch sử chứng minh NHIỀU TAY TRÍ THỨC DU HỌC PHƯƠNG TÂY- BẰNG CẤP CẢ ĐỐNG, Ôm không hết ... như HOÀNG XUÂN HÃN mà cũng mắc mưu VC... 

Thức tỉnh thì đã muộn... chỉ biết ngậm BỒ HÒN ấm ớ chờ xuống đáy địa ngục của Tạ Tỵ./-TC Lãnh

______________________



Cuộc đấu trí giữa ông Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris

Ba năm 1970-1972, hai ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger trải qua hàng chục phiên đàm phán căng thẳng tại Paris để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Đàm phán bốn bên tại Paris bắt đầu từ năm 1969, nhưng bế tắc với các phiên công khai. Để tháo gỡ, Mỹ và Hà Nội sắp xếp kênh bí mật, hai ông Lê Đức Thọ và Kissinger là nhân vật chính.

Ông Lê Đức Thọ quê Nam Định, tham gia cách mạng từ nhỏ, trải qua nhiều nhà tù từ Hỏa Lò đến Sơn La, Côn Đảo. Tết Mậu Thân 1968, ông vào tăng cường cho Trung ương Cục miền Nam. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông làm cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy tại đàm phán Paris. Lúc đó ông 57 tuổi, là Ủy viên Bộ Chính trị.

Trong hồi ký, Kissinger miêu tả ông Lê Đức Thọ tóc hoa râm, đường bệ, bao giờ cũng mặc bộ đại cán xám hoặc marông, đôi mắt to và sáng. Ông Thọ rất bình tĩnh, thái độ "cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần".

Kissinger là Cố vấn đặc biệt về an ninh quốc gia của Nhà trắng, từng dạy tại Đại học Harvard, là nhà ngoại giao có tài, hiểu biết sâu về Việt Nam.

Cuộc gặp đầu tiên

Hai ông Lê Đức Thọ và Kissinger gặp nhau lần đầu ngày 21/2/1970, tại nhà 11 phố Darthé, Choisy-le-roi, Paris. Kissinger đến, ông Xuân Thủy ra đón, dẫn vào phòng khách nhỏ. "Đây là giây phút lịch sử. Hai con người hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc xã hội, bản chất, lý tưởng chính trị, gặp nhau rồi cùng nhau bàn cãi quyết liệt trong ba năm để tìm giải pháp cho vấn đề Việt Nam", nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi, thư ký của ông Lê Đức Thọ kể lại trong cuốn Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris.

Xin lỗi đến muộn và đề nghị giữ bí mật cuộc gặp, ông Kissinger khẳng định Mỹ muốn đàm phán thiện chí, nghiêm chỉnh, nhưng lưu ý tình hình nước Mỹ có lợi hơn cho Nixon, tình hình miền Nam khó khăn hơn cho Hà Nội. Hà Nội cũng không còn sự ủng hộ của nhiều nước như trước. Mỹ không cứng nhắc và muốn chấm dứt chiến tranh thực tế chứ không phải lý thuyết.

Kissinger nhấn mạnh sự tiến bộ trong đàm phán tùy thuộc vào việc không tăng cường bạo lực ở miền Nam. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Mỹ sẽ giúp đỡ Việt Nam đổi mới, xây dựng lại đất nước và "sẽ không bao giờ là mối đe dọa cho nền độc lập của Việt Nam". Trước khi kết thúc, Kissinger xin lỗi vì nói dài, nhưng nhấn thêm "giáo sư Đại học Harvard bao giờ cũng nói trong 55 phút".

Cố vấn Lê Đức Thọ đàm phán với tiến sỹ Henry Kissinger, cố vấn Hoa Kỳ tại Pháp ngày 13/1/1973. Ảnh: TTXVN

Cố vấn Lê Đức Thọ (giữa) tại cuộc đàm phán với Henry Kissinger, ngày 13/1/1973. Ảnh: TTXVN

Chiều cùng ngày, ông Lê Đức Thọ nói Kissinger đánh giá không đúng thực tế chiến trường. "Đó là quyền của ông. Suốt 15 năm qua, khi đánh giá tương quan lực lượng hai bên, các ông rất sai về chúng tôi", ông Lê Đức Thọ nói và không quên nhắc Việt Nam hóa chiến tranh bắt đầu thất bại.

Cố vấn của đoàn Hà Nội khẳng định dù Mỹ tiếp tục thế nào cũng không thay đổi được chiều hướng cuộc chiến. "Dân tộc tôi bị người ta lừa gạt nhiều rồi, muốn giải quyết vấn đề thì phải thành thật", ông Thọ nói. Trước khi kết thúc bài phát biểu, ông Thọ nhấn mạnh: "Trong hai con đường hòa bình và chiến tranh, các ông nên chọn lấy một. Nếu các ông chọn con đường hòa bình thì chúng ta có thể giải quyết vấn đề một cách hòa bình".

Đàm phán bế tắc

Đầu tháng 10/1972, sau khi Hà Nội đưa ra dự thảo hiệp định Paris, hai ông Lê Đức Thọ và Kissinger cơ bản thống nhất được nhiều điều khoản và dự tính mốc thời gian ký. Kissinger nói sẽ đến Hà Nội ký tắt, ông Thọ hài hước "có khi phải nhảy dù", bởi lúc đó qua sông Hồng phải đi cầu phao. Nhưng sau đó, Mỹ trì hoãn thực hiện và Kissinger không đi Hà Nội như dự kiến.

Cuộc gặp tháng 11, ông Kissinger cố làm dịu không khí bằng lời mời ông Lê Đức Thọ giảng tại Đại học Harvard. Đáp lại, ông Thọ đọc bài chuẩn bị sẵn, dài 5 trang, nêu thiện chí của Hà Nội và tố cáo sự lật lọng của Mỹ. "Chúng tôi đã bị người Nhật, người Pháp, người Mỹ lừa dối, nhưng chưa bao giờ trắng trợn như lần này", ông Thọ gay gắt và hỏi Kissinger "ông từng nói cần thiết phải hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, rồi ông lật ngược đi thì ông nghĩ chúng tôi hiểu ông là người như thế nào?".

Tiến sỹ Henry Kissinger, cố vấn An ninh quốc gia Nhà Trắng, đàm phán với cố vấn Lê Đức Thọ tại Pháp ngày 13/1/1973. Ảnh: TTXVN

Henry Kissinger, Cố vấn An ninh quốc gia Nhà Trắng (giữa), đàm phán với cố vấn Lê Đức Thọ tại Pháp ngày 13/1/1973. Ảnh: TTXVN

Kissinger thanh minh cuộc chiến kéo dài nên khi đi đến gần giải pháp mới thấy những vấn đề phức tạp, chưa kịp nghĩ tới. Hứa hẹn có thể làm xong phần lớn văn bản trong tuần này, tuy nhiên ông đòi sửa lại hầu hết chương trong hiệp định, nhất là về ngừng bắn, rút quân, chính trị nội bộ miền Nam.

Mỹ đòi xóa tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong lời mở đầu và các chi tiết khác trong hiệp định; rút tất cả lực lượng không phải miền Nam khỏi miền Nam; không công nhận có hai chính quyền, hai quân đội, hai địa bàn ở miền Nam. Kissinger cũng không nói gì về trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam.

Nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi kể ông Lê Đức Thọ đã nhắc lại Nixon từng trao công hàm cho Hà Nội khẳng định hiệp định "xem như hoàn thành" và phê phán những luận điểm của Kissinger.

Ông Thọ nêu rõ vai trò của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ở miền Nam và trên trường quốc tế. Nhiều năm nay, miền Nam đã có ba vùng, do chính quyền Sài Gòn, quân giải phóng kiểm soát và vùng tranh chấp. Kissinger đòi xóa bỏ các vùng do Chính phủ Cách mạng lâm thời (quân giải phóng) kiểm soát là điều mà quân Mỹ và Sài Gòn không làm được từ trước đến nay. Đề nghị này là vô lý.

Việc Mỹ đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam bị ông Thọ bác bỏ. Nhân dân Việt Nam có quyền chống xâm lược và không thể đặt việc rút quân miền Bắc ngang hàng với rút quân Mỹ. "Đặt vấn đề như vậy không chính đáng, trái đạo lý, chính trị, pháp lý", ông Thọ phản biện Kissinger.

Ông Thọ giữ nguyên quan điểm Hà Nội thả tù binh Mỹ thì Sài Gòn thả hết cả nhân viên dân sự miền Nam còn bị giam giữ. "Ông thấy thế giới có cuộc chiến tranh nào giữa các bên khi chấm dứt rồi, một bên trao trả người bị bắt, còn bên kia giữ lại không", ông Thọ tiếp tục chất vấn Kissinger.

Kissinger đồng ý một số đề nghị của ông Lê Đức Thọ, nhưng hai bên còn nhiều tranh cãi. Ông Thọ có lần hỏi thẳng "các ông có muốn đàm phán nữa không, nếu ông cố vấn không muốn thì chúng tôi cũng thôi, mà muốn bàn nữa thì chúng tôi bàn, nhưng phải có đi có lại".

Hiệp đấu cuối cùng

Ngày 18/12/1972, khi ông Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về tới nhà thì máy bay B-52 của Mỹ bắt đầu dội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố khác. Nhưng kế hoạch đánh bom nhằm lật ngược tình thế của Nixon thất bại, các cuộc gặp giữa ông Lê Đức Thọ và Kissinger được nối lại đầu năm 1973. Đây cũng là hiệp đấu cuối cùng giữa hai người để đi đến ký hiệp định.

"Cố vấn Lê Đức Thọ tới Paris trong hào quang trận Điện Biên phủ trên không", ông Lưu Văn Lợi miêu tả.

Khác với thường lệ, đoàn Việt Nam không ra đón Kissinger ngoài cổng. Hà Nội biểu thị sự lạnh nhạt với người Mỹ, sau 12 ngày đêm khói lửa trên bầu trời Hà Nội. "Các ông lấy cớ đàm phán gián đoạn để ném bom miền Bắc Việt Nam lúc tôi vừa về đến nhà. Hành động của các ông trắng trợn và thô bạo. Các ông tưởng làm như vậy có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông nhầm. Chính các ông làm cho đàm phán khó khăn, danh dự nước Mỹ hoen ố", ông Lê Đức Thọ phê phán Mỹ.

Ông Kissinger thanh minh, cách đàm phán của Hà Nội cuối năm 1972 khiến Washington cho rằng muốn kéo dài, không giải quyết vấn đề. Khi Kissinger đề nghị không chỉ trích nữa, ông Thọ đáp: "Tôi kiềm chế lắm rồi, chứ dư luận thế giới, nhà báo và các nhân vật ở Mỹ còn dùng câu chữ dữ dội hơn nhiều".

Cố vấn Lê Đức Thọ và tiến sỹ Henry Kissinger chúc mừng nhau sau lễ ký tắt Hiệp định Paris, ngày 23/1/1973. Ảnh: TTXVN

Cố vấn Lê Đức Thọ và tiến sĩ Henry Kissinger chúc mừng nhau sau lễ ký tắt hiệp định Paris, ngày 23/1/1973. Ảnh: TTXVN

Cách ký hiệp định là vấn đề kỹ thuật, nhưng được bốn bên tham gia đàm phán quan tâm. Ông Lê Đức Thọ đòi hai bên ký và bốn bên ký. Kissinger không đồng ý, đề ra ba phương án nhưng đều không có tên Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Sau đó, Kissinger đề nghị hai bên ký, bốn bên ký nhưng trong bản bốn bên thì mỗi bên ký một tờ riêng biệt và cả bốn tờ gộp chung vào hiệp định; người ký đều ghi chức vụ. Hai bên thỏa thuận như vậy.

Ông Lê Đức Thọ đề nghị thêm Nghị định thư về bồi thường. Kissinger nói Mỹ sẽ đóng góp vào hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng không nên có Nghị định thư khi tù binh Mỹ chưa được thả và số tiền cần Quốc hội thông qua. Vì vậy, hai bên sẽ trao công hàm và bàn sau. Ông Thọ đồng ý.

Ngày họp cuối hôm 13/1/1973, Kissinger đề nghị lễ ký không đọc diễn văn và chỉ chúc từng người bên ngoài. Đó là ngày trang trọng ở Mỹ, ở Việt Nam càng trang trọng hơn. "Vì vậy, chúng ta nên khởi đầu với thái độ hòa giải, quảng đại, nồng nhiệt với nhau", Kissinger nói và ông Thọ đồng ý.

Kết thúc ngày họp cuối, hai đoàn ăn cơm chung. Ông Lê Đức Thọ nâng cốc với Kissinger, nói "đây là kết quả bước đầu nhưng rất quan trọng và cơ bản để lập lại hòa bình ở Việt Nam". Kissinger đáp "đến lúc này hòa bình sẽ trở lại Đông Dương, với hai dân tộc chúng ta vào ngày ký hiệp định".

Ngày 23/1/1973, sau khi ký tắt hiệp định Paris, Kissinger trao bút cho ông Lê Đức Thọ và nói "tôi tặng ông cây bút này để nhớ mãi ngày lịch sử". Ông Lê Đức Thọ tặng lại Kissinger bút của mình, dặn "ông ký rồi phải giữ lời nhé".

Sau khi hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký ngày 27/1/1973, hai ông Lê Đức Thọ và Kissinger được trao giải Nobel Hòa bình. Tuy nhiên, ông Thọ từ chối nhận với lý do Mỹ là gây chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Một bên đi xâm lược, một bên chống lại quân xâm lược để giải phóng dân tộc mình không thể cùng chia nhau giải Nobel hòa bình. Hơn nữa, hòa bình chưa thực sự hiện diện ở Việt Nam, đất nước vẫn còn chia cắt.

Viết Tuân