Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label PhânƯu. Show all posts
Showing posts with label PhânƯu. Show all posts

Tuesday, 12 November 2024

PHÂN ƯU
***


(Tin từ Nguyễn Công Lượng, ĐS16-Cali)

Huynh trưởng NGUYỄN KIM DẦN (ĐS8) 
vừa qua đời vào ngày 07-11-24 
tại Edmonton, Alberta, Canada.
Hưởng Thọ 86 tuổi.

***
Một số QGHC, Trang Blog Mt68-
 Vô cùng thương tiếc Một Huynh Trưởng 
luôn gắn bó với mọi sinh hoạt chung của Tập Thể QGHC Hải Ngoại & Đặc biệt Đàn Anh Nguyễn Kim Dần luôn đóng góp tích cực xây dựng vào LẬP TRƯỜNG CHỐNG CỘNG CỦA Mt68 TRONG SUỐT 19 NĂM QUA.

Xin trân trọng Phân Ưu cùng Tang Quyến và Nguyện Cầu cho HƯƠNG HỒN 
Huynh Trưởng NGUYỄN KIM DẦN sớm về nơi MIÊN VIỄN.
*
Đồng Kính Bái Biệt
Trần Cao Lãnh và Đồng Môn QGHC Mt68

Friday, 15 March 2024

 PHÂN ƯU

***



Vô cùng thương tiếc nhận được tin buồn

 

Hiền thê Đồng môn Nguyễn Đắc Điều

Cựu Sinh Viên Khóa ĐS6 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa

 

 

Bà NGUYỄN ĐẮC ĐIỀU

Khuê danh ĐỖ TRUNG Pauline

Pháp danh Nhật Diệp

 

Đã mệnh chung ngày 11 tháng 03 năm 2024 tại San Diego, California – Hoa Kỳ

 

Hưởng thọ 80 tuổi

 

Xin thành kính chia buồn cùng Đồng môn Nguyễn Đắc Điều và Tang quyến

 

Nguyện cầu Hương linh Bà ĐỖ TRUNG Pauline, Pháp danh Nhật Diệp

sớm được siêu thoát về Cõi Niết Bàn


***

 

ĐỒNG MÔN VÀ HỘI CỰU SINH VIÊN QGHC

NAM CALIFORNIA &Trang Blog Mậu Thân 68

Wednesday, 30 August 2023

 TIN BUỒN QGHC

***

Đại Huynh Nguyễn Văn Mãnh (ĐS1) vừa điện thoại cho biết CON RỂ anh Trần Xuân Thời (ĐS12, Chủ tịch Hội QGHC Minnesota) vừa qua đời tại Texas.

HT Mãnh nhờ DĐ thông báo cùng quý Đồng môn. Liên lạc anh Thời qua số Mobile phone: (763) 458 - 1123
hoặc qua email ghi ở phần "Cc".

Xin thành kính chia buồn cùng Anh Chị Trần Xuân Thời & Nguyễn Thị Ngọc và tang quyến.
Nguyện cầu Hương linh người quá cố sớm được siêu thoát về Cõi Vĩnh Hằng.



Kính chào,

Sáu Nguyễn, TS4

Friday, 18 August 2023

 Tin Buồn



Chúng tôi vừa nhận tin buồn:
Trung Tướng Anthony Phạm Quốc Thuần,
đã mệnh chung,
lúc 08:10 A.M hôm nay, thứ Sáu, 18/08/2023,
tại Fountain Valley, Nam California.
Hưởng thượng thọ 98 tuổi.
Trân trọng.
LM PETER NGUYÊN THANH, CỰU TUYÊN ÚY TRƯỜNG BỘ BINH THỦ ĐỨC

________________



Thành Kính Phân Ưu Cùng Tang Quyến
Cầu Nguyện Hương Hồn Cố Trung Tướng
Sớm Về Nơi Yên Bình Vĩnh Cữu.

Nhóm Cựu SVSQ Thủ Đức
Khóa I/72
Úc Châu
Đồng Kính Bái Biệt

Monday, 6 February 2023

 PHÂN ƯU

***



Vừa được tin buồn 

Ông TRƯƠNG TẤN VĨNH 

Quê quán Rạch Sỏi, Kiên Giang

Sanh Ngày 28-3-1940

Tạ Thế Ngày 01-02-2023

Tại Keysborough, Melbourne

Hưởng Thọ 84 Tuổi (Việt)

Xin thành thật phân ưu cùng Chị Nhơn và các cháu. Nguyện cầu cho Hương Hồn Bạn Vĩnh sớm siêu thăng tịnh độ.

Đồng kính bái biệt:

Nam, Loan, Vân, Liêm, Liệu, Mai, Xưa, Tráng, Lý, Nhàn, GS Vinh, Loan

(Gốc Rạch Giá)


Monday, 30 January 2023


 

HAY TIN MUỘN

Đồng Môn QGHC (Blog Mt68) Xin chân thành Phân Ưu cùng Tang Quyến

Đồng Nguyện Cầu cho Hương Hồn 

Anh VÕ QUANG TUỆ -ĐS Khóa 9

Sớm Siêu Thăng Tịnh Độ,

TM/Mt68

Trần Cao Lãnh- Mt View-Cali


Saturday, 28 January 2023

 

NHỮNG NỖI NIỀM TIỄN BIỆT... TỪ SỐ 10 TRẦN QUỐC TOẢN...



Vẫn đợi người về trong chiêm bao * TTT
Dạ thưa, mấy hôm trước khi đang nói về Đinh Cường có vợ là em gái của Hồ Quốc Văn, tôi nghĩ đến Huỳnh Viết Văn thì sau đó có tin bạn mình đã tich diệt.
Tôi đã sống chung với HVV trong ký tức xá của trường, ít khi trò chuyện. Tôi luôn luôn không để ai nhầm với với Hồ Quốc Văn.
Vợ chồng tôi còn nợ HVV hơn mười năm trước,buổi điểm tâm rất thân mật tại một quán ăn ở Arlington, cái quán không trình bày diêm dúa mà thân mật như các món ăn khoái khẩu. Lần ấy anh Hùng (Hùng của chị Loan) hướng dẫn cùng một số đồng môn khác.
Sau đó chúng tôi đến tư gia của HVV và biết ông đốc sự khóa chín đáng lẽ phải học kiến trúc, vì anh đã sửa căn nhà cho nó mang đặc tính cá nhân của gia chủ. Kiến trúc ngày nay không làm thế nữa, công trình lớn nhỏ đều minimalist, miễn cho có cái bếp, có restroom..
Nhờ cáo phó mà tôi biết Huỳnh Viết Văn đã là phó quận trưởng Ninh Hòa, và lảm việc một thời gian ở Nha Trang.
Ninh Hòa là một quận duyên hải dưới chân Đèo Cả trong tầm mắt của Hòn Vọng Phu (VN có nhiều Hòn Vọng Phu) hầu như lúc nào cũng có hương men rượu khi dân chúng phơi bánh tráng trên những liếp tre đan thưa.
Không biết ông phó quân đã có vợ chưa. Không biết bà nhà Ngọc Cầm có phải là người Ninh Hòa hay không.
Tuy không phải "phụ mẫu chi dân", hẳn Huỳnh Viết Văn mình đã yêu thương quân Ninh Hòa và dân chúng. Dân chúng ở đấy yêu quê nhà một cách đam mê. Tôi nói vậy theo tính chất hậu vị, nói về sau. Nhưng tôi nói vậy vì internet giúp tôi thấy tâm tư của một số người Ninh Hòa dành cho Ninh Hòa, dành cho Sông Dinh, dành cho Chợ Dinh. Họ âm thầm kín đáo, không như người Huế ồn ào sáo ngữ, snobism, đối với Sông Hương và Chợ Đông Ba.
Tôi lại nói về Ninh Hòa khi nói đến HVV, không đi quá xa mô. Thế nào ông phó hành chánh của quận cũng lo tu sửa các trường tiểu học, trung học mà nay người Ninh Hòa ly hương xem như thánh địa v.v...., ông phó cũng nhận hưởng linh hồn của cỏ cây, xóm làng trong tình người vào thời nền nhân bản ngự trị.
Ngày mùng hai Tết Quý Mão (23.01.2023) Nguyên Bình Huỳnh Viết Văn lâm chung Tây Phương cảnh.
Để làm nhẹ gánh tâm tư, hãy đơn giản xem cuộc từ giả nầy như lần ông phó quận Huỳnh Viết Văn rời nhiệm sở Ninh Hòa nhận việc mới. Ra đi trong thương nhớ. Thương nhớ diễn tả qua một bài thơ của một nữ sinh từng uống nước Sông Dinh:

M ộ t  N g à y  B ỗ n g  N h ớ
Đặng Trùng Dương *2004

Người bỏ Ninh Hòa người ra đi
Bỏ lại sông Dinh, bỏ những ngày,
Tháng ba bãi cát phơi đầy nắng.
Tháng chín mưa dầm, con nước xuôi.

Người bỏ chợ Dinh, người ra đi
Bỏ lại sau lưng những bóng người
Trưa vắng khua buồn đôi guốc gỗ
Những giọt mồ hôi trên tóc mai.

Người bỏ cầu Dinh những đêm trăng
Một mình đứng lặng ngắm trăng tàn
Nghe hồn phố nhỏ đang ngon giấc
Nghe trái tim buồn đang thở than.

Người nơi xa không nhớ gì sao?
Người ra đi chẳng nói lời nào!
Người có biết Ninh Hòa vẫn thế
Vẫn đợi người về trong chiêm bao.
 (ninh-hoa.com)
-------------------------------


On Saturday, January 28, 2023 at 02:42:09 AM EST, Lien Tran <trailam68@yahoo.com> wrote:


Lại một bạn đồng môn và cùng khoá(IXDS) ra đI!
Xin cám ơn chị Oanh đã cho biết tin buồn.
Nguyện cầu hương linh bạn Huỳnh Viết Văn sớm
an nghỉ nơi miền cực lạc.
Lâm Hữu Trãi

Friday, 27 January 2023

 Mt68: XIN NHẮN TIN PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN 

VÀ NGUYỆN CẦU CHO HƯƠNG HỒN HUYNH TRƯỞNG

HUỲNH VIẾT VĂN

Khóa 9 QGHC 

SỚM VỀ NƠI AN BÌNH MIÊN VIỄN.



Monday, 6 June 2022

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN./-TCLãnh

 NGUYỆN CẦU HƯƠNG HỒN 

CỐ GS NGUYỄN VĂN TƯƠNG 

SỚM AN BÌNH NƠI MIỀN CỰC LẠC -

 Đồng kính Tiễn Biệt- 

Nhóm ĐS14-Úc Châu.




Friday, 20 May 2022

PHÂN ƯU QGHC

 

Mt68: Nhóm QGHC trong BBT Mt68 Xin chân thành phân ưu cùng Chị Trần Dũng và Các Cháu- Đồng nguyện cầu cho Hương Hồn Đồng Môn Trần Dũng sớm về Nước Chúa./- Thay mặt Mt68 Trần Cao Lãnh- Mt View- Cali.


Friday, 15 April 2022

CÁO PHÓ VÀ PHÂN ƯU QGHC 14 USA./-TCL

 

____________

PHÂN ƯU TỪ ÚC CHÂU
***



Vừa nhận được tin buồn từ đồng môn QGHC 14 Hoa Kỳ.
Chúng tôi có lời chân  thành phân ưu cùng Anh Chị KHƯƠNG PHỤC HƯNG và TANG QUYẾN.

Đồng kính nguyện cầu HƯƠNG HỒN:
Cụ Bà HỒ THỊ NHẠN 
Pháp Danh NGUYÊN-UYÊN
Sớm An Cư Tịnh Độ Nơi Đất Phật.
-
Đồng Kính Bái Biệt;
gđ Nguyễn Ngọc Diệp
gđ Lý Ngọc Cương
gđ Lâm Hữu Xưa.

Sunday, 12 September 2021

 PHÂN  ƯU
***

Vô cùng thương tiếc nhận được tin buồn
 
Đồng Môn DANH LA
Đốc Sự Khóa 17B- QGHC
Sanh Năm 1948
Tại Rạch Giá- Kiên Giang
 

Đã mãn phần vào ngày 6 tháng 9 năm 2021 tại Sài Gòn, Việt Nam
 
Chúng tôi thành kính chia buồn cùng Chị Phan Thị Hạnh, hai Cháu và tang quyến. Nguyện cầu 
Hương Hồn Đồng Môn DANH LA 
sớm được siêu thoát về Đất Phật.
***
Đồng Kính Bái Biệt;
Nhóm QGHC Rạch Gía- Kiên Giang.
* Phạm Văn Thanh- Sydney
* Trịnh Thiều- Melbourne
* Lâm Ngọc Châu - Melbourne
* Lâm Hữu Xưa- Melbourne
* Bà Qủa Phụ Trần Hữu Thành- Melbourne
* Nguyễn Kim Hương Hỏa - Wash.DC.
* Lê Văn Gieo- Texas.
* Bà Qủa Phụ Đỗ Thanh Quang- Austin.
* Kim Jina (Tòa HC Ba Xuyên) - Miền Đông USA.  

Tuesday, 31 August 2021

 PHÂN ƯU MUỘN

***


Được tin từ 3 tháng trước nhưng mãi đến hôm nay mới được xác nhận :

Đàn Anh Đồng Môn QGHC;

Anh HUỲNH VĂN THẠNH - CH2

Quê Quán Nha Trang.

Cựu Phó Tổng Giám Đốc, Tổng Nha Công Vụ

Đã Mệnh Chung độ Tháng 5/2021

Tại Las Vegas- USA.

Chúng tôi từ Úc Châu hay tin muộn !!! 

Xin Chân Thành Chia Buồn 

cùng thân nhân và Tang Quyến- 

Đồng Nguyện Cầu cho Hương Hồn

Huynh Trưởng Thương Kính 

HUỲNH VĂN THẠNH sớm an nghỉ

Nơi An Bình Miên Viễn.

Đồng Kính Bái Biệt;

Gđ Lâm Ngọc Châu

CH7

Gđ Lâm Hữu Xưa

ĐS14

- Úc Châu-

Wednesday, 19 May 2021

 PHÂN ƯU

***



Tin Buồn QGHC;

Đồng Môn Mục Sư TRẦN HỮU THÀNH - ĐS 13

Vừa được Chúa Gọi Về lúc 5.20 Sáng 

Ngày Thứ Bảy 15-5-2021

Tại Melbourne- Úc Châu

Hưởng Thọ 81 Tuổi 

Tang Lễ vào Ngày Thứ Ba 18-5-2021

Tại Nghĩa Trang Springvale Botanical

Lễ Tưởng Niệm được Tổ Chức Vào lúc 1.00 pm

Ngày Thứ Bảy 22-5-2021

Tại Uniting Church Blackburn

46 Blackburn Rd- Blackburn- Vic. 3131- Melbourne

***

Chúng tôi một số QGHC đồng sở tại Tỉnh Kiên Giang 

Xin chân thành Phân Ưu cùng Chị Thành và 3 cháu 

Xin nguyện cầu cho Hương Hồn 

Đồng Môn Mục Sư TRẦN HỮU THÀNH

Sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.

***

Đồng kính bái biệt: 

Gia Đình Phạm Văn Thanh- ĐS9

Gia Đình Trịnh Thiều - ĐS9, CH2

Gia Đình Lâm Ngọc Châu- ĐS11, CH6

Gia Đình Lâm Hữu Xưa- ĐS14

Gia Đình Trương Vĩnh Thành -TS1

(Úc Châu)

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN CỐ BS BÙI THIỀU- NGUYỆN CẦU CHO HƯƠNG HỒN ÔNG SỚM TIÊU DIÊU MIỀN MIÊN VIỄN AN BÌNH./-TCLãnh

Cáo Phó BS Bùi Thiều.jpg | DocHub

 



-NGƯỜI TÙ CẢI TẠO KHÔNG NHẬN TỘI:
Kha Tư Giáo

DUY NHAN

 

Tôi biết anh khi cùng đến trình diện “học tập” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Sau khi ra trường, anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân hàng Quân Đội ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm, Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “biên chế” cùng tổ, đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ, Kha Tư Giáo.

 

Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “cải tạo viên“ còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ, đội. Mỗi ngưởi phải viết “bài thu họach” những gì mình “tiếp thu” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “liên hệ bản thân,” xác định mình là người có tội với nhân dân, với “cách mạng.” Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng (như tôi và anh Kha Tư Giáo) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân…Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Đó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “giúp đỡ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy: TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần nói, anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “ nín thở qua sông ”, họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa Cộng Sản và lương tâm không cho phép.

 

Khi tất cả cán bộ ở trại đều bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống.. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VĐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn ( ?). Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thọai. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được. Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm và trầm tĩnh, anh Giáo nói :

 

- Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội?

 

Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng:

 

 Các anh chỉ là tay sai đế quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…

 

Anh Giáo ngắt lời:

 

- Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20/7/1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận.

 

Tên sư trưởng phản ứng:

 

- Các anh là công cụ Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào.

 

Anh KTG:

 

- Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Đồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam..

 

Tên sư trưởng:

 

- Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.

 

- Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu Tự Do, Dân Chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng.

 

Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe:

 

- Quân phản động!

 

Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng.. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng:

 

- Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình.

 

Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời:

 

- Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đọan lịch sử nhất định. Đến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm, trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài.

 

Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp:

 

- Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc!

 

Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng:

 

- Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội?

 

Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt.. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng.

 

Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào, 

anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về.

 Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa. Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm tin và Hy vọng, Anh lính quân bưu vui tính…Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, 

anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình.

 

Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “giúp đỡ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ “giúp đỡ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều.

 

Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm. Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi:

 

- Chi vậy?

 

- Mai mốt về tặng người yêu - Anh trả lời.

 

- Chắc là cô bạn rất thích hoa này?

 

- Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng.

 

- Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi - Tôi e ngại.

 

- Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó!

 

- Anh lãng mạn quá - Tôi nhận xét.

 

Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết!

 

Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao?

 

Đêm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay, khi tôi viết bài này là ba muơi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký: 

Đau đớn thay những linh hồn cháy lửa

Suốt đêm ngày tắm rửa với mồ hôi

Với cao tay quờ quạng chút hơi người

Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm

 

Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “cải thiện” bửa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “tiến bộ”. Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt: Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng.

 

Đoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằng ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục. Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một người không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Điều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Đến khi đuối lý, tên cán bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh, nghiêm sắc mặt:

 

- Anh có đứng lên không?

 

- Tôi còn mệt.

 

- Anh không chấp hành lệnh phải không?

 

- Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi.

 

Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo:

 

- Anh không đứng lên tôi bắn.

 

Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp:

 

- Anh cứ bắn đi!

 

Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán loạn , kêu quang quác… Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực:

 

- Lại Chúa tôi.

 

Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “Hòa bình” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình!

 

Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Điêu Đại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội bớt căng thẳng. 

Sau một thời gian ở Phú Quốc, Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh. Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại thích hơn.

 

Nhưng thời khắc định mệnh đã tới! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời, không có mái che mưa che nắng.

 

Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ.” Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ĐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Điều này được giải thích như thế nào đây? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Đêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu:

 

“Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối…

Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…” 

 

Có lẽ trong giờ phút đó, anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Đây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Đêm Nguyện Cầu là của Lê- Minh- Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng.

 

Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng.

 

Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa.

 

Tôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi “Kinh Tế Mới”. Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Định, quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả.

 

Trong suốt hai mươi năm ở SàiGòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997. Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Điều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “Viết về nước Mỹ”.Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến với gia đình anh KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Autin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng. Chiều chủ nhật 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thọai từ Texas:

 

- Hello! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải…

 

- Tôi, Duy Nhân đây.

 

- Chào anh Duy Nhân! Có phải anh là tác giả bài viết Người Không Nhân Tội?

 

- Tôi đây chị.

 

- Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy…

 

Tới đây thì tiếng nói đứt quãng. Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây. Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói:

 

- Đây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay.

 

- Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm.

 

- Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi.

 

- Bài viết của anh nói lên được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về Cộng Sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo Cộng Sản suốt đời cũng không hiểu được.

 

Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Đó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Đến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên là không thể nào tìm được! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Đông ở một góc sân banh.

 

Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống.. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc.

 

Sau chi HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thọai.. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc.

 

Anh Kha Tư Giáo ơi! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào…

 Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự thật, ngọai trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người. 

Gia đình anh có nhiều thay đổi: Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Đức nhưng lại viết sai chính tả! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngã. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ… Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng.



GHI CHÚ: (1) Bài viết Người Không Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do Ban kịch Sống - Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36 (chủ đề Người Lính) tưởng niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975 - 30/4/ 2002). Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước./-