Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label HVQGHCHaiNgoai2015. Show all posts
Showing posts with label HVQGHCHaiNgoai2015. Show all posts

Saturday, 11 March 2023

ĐÔI DÒNG VỀ HỌC VIỆN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH SÀI GÒN -10 Trần Quốc Toản- Q3. 

 Học viện Quốc gia Hành chánh là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đặt trọng tâm vào việc đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ..,đầu tiên, Trường Quốc gia Hành chánh được thành lập tại Đà Lạt do sắc luật của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 7 tháng 4 năm 1952.

Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình hai năm nhưng sau được chuyển giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống, đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vì nhận thấy vai trò quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đã cho dời trụ sở của trường về Saigon và cải danh thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes, sau này là trụ sở của Bộ Ngoại giao, đến năm 1962, Học viện được chánh thức chuyển về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10 Trần Quốc Toản. Cơ sở vật chất gồm có giảng đường 500 chỗ ngồi, ký túc xá cho 114 sinh viên, thư viện lớn nhứt Việt Nam với 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ.

Mục đích của Hoc viện QGHC là nhằm đào tạo cán bộ cho guồng máy hành chánh của quốc gia qua 4 chương trình học gồm ban Cao học, ban Đốc sự, ban Tham sự, và ban Nặng lực Hành chánh.

Ban Cao học có học trình hai năm và Đốc sự có học trình ba năm rưởi nhằm đào tạo công chức hạng A cho các ngành hành chánh và chuyên môn như kinh tế, tài chánh, thuế vụ, xã hội, ngoại giao… Môn học gồm những kiến thức như soạn thảo công văn, kế toán thương mại, tư tưởng và định chế chính trị, quản trị công quyền, quản trị nhân sự, luật hành chánh, luật thuế vụ… và cả huấn luyện quân sự. Khi thi mản khóa ngoài các bài thi về các môn đã học, sinh viên còn phải nộp một Luận văn tốt nghiệp về một đề tài được giáo sư hướng dẫn chấp thuận.

Ban Tham sự với học trình hai năm nhằm đào tạo công chức hạng B. Còn ban Năng lực Hành chánh là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.

Ngoài ra, Học viện cũng là trung tâm phụ trách nghiên cứu hành chánh và tu nghiệp quốc gia. Về tu nghiệp Hoc viện phụ trách các chương trình tu huấn cho chánh phủ như chương trình phát triển chỉ huy cao cấp, chương trình quản trị hành chánh cao cấp dành cho các viên chức giữ các chức vụ cao tại các phủ bộ, và chương trình tu nghiệp cho cựu sinh viên QGHC đã tốt nghiệp quá 5 năm.

Từ ngày thành lập Học viện QGHC đã được điều khiển bởi các Giám đốc/ Viện trưởng sau đây:

* Từ 1952 – 1954: Ông Nguyễn Văn Quí, Giám đốc

* Từ 1954 – 1955 Ông Trần Cửu Chấn, Giám đốc

* Từ 1955 – 1963 GS Vũ Quốc Thông, Viện trưởng

* Từ 1964 – 1971 GS Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng

* Từ 1971 - 1972 GS Trần Văn Binh, Viện trưởng

* Từ 1973 - 1975 GS Nguyễn Quốc Trị, Viện trưởng
==========
Muốn được nhận vào Học viện QGHC các ứng viên phải qua một kỳ thi nhập học khá gay go. Trong số hàng ngàn người dự tranh trên toàn quốc, mỗi năm Học viện chỉ nhận một số nhỏ hội đủ tiêu chuẩn, khoảng 50 người cho ban Cao học, và khoảng 100 người cho ban Đốc sự, và ban Tham sự.

Nhưng bù lại các sinh viên trúng tuyển được nhận một học bổng $2000.00 mỗi tháng cho sinh viên thường, còn sinh viên nguyên là công chức được tiếp tục lảnh lương cũ, ngoại trừ phụ cấp chức vụ.

Ngoài ra, từ năm 1960 trở đi với sự yểm trợ của Đại học Michigan State University (MSU), các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa của các khoá Đốc sự hầu hết đã được cấp học bổng để du học lấy bằng Master tại Hoa kỳ, sau đó thủ khoa các khoá Cao học cũng được học bổng đi Mỹ học lấy bằng Ph.D. Đa số các cựu sinh viên có bằng Ph.D. và một số có bằng Master tại Mỹ đã trở về giảng dạy cho Học viện.

So với các trường đại học khác như các phân khoa thuộc Viện Đại học Saigòn, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đàlạt, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú thọ, Trường Đại học Nông Lâm Súc, Học viện QGHC đã có một ban giảng huấn rất hùng hậu. Ngoài nhiều giáo sư cơ hữu có bằng Tiến sĩ tốt nghiệp trong nước và ngoại quốc, Học viện còn mời được nhiều chánh khách có tăm tiếng và nhiều viên chức hành chánh cao cấp trong chánh phủ giàu kinh nghiệm đến giảng dạy về các đề tài thuộc lãnh vực chuyên môn của họ.

Về phương diện học trình, với sự hỗ trợ của Institute of Public Administration (IPA) tại New York chương trình học tại Học viện cũng luôn được cải tiến để sinh viên tốt nghiệp có được những kiến thức hiện đại về các lãnh vực quản trị công quyền, quản trị nhân sự, về các lãnh vực kinh tế, tài chánh, thuế vụ, về lãnh vực quyết định hành chánh, cũng như các kiến thức về văn hoá và luật pháp quốc gia. Không giống như tại các trường đại học khác, sinh viên QGHC ngoài việc theo dõi các bài giảng tại lớp học có tánh cách lý thuyết, còn phải tham gia các buổi thuyết trình và hội thảo với các chánh khách và chuyên gia về các đề tài chuyên môn.

Ngoài ra, sinh viên còn đuợc đi thực tập 6 tháng tại các cơ quan công quyền ở địa phương và trung ương như một công chức thực sự. Và để chuẩn bị cho các viên chức tương lai biết sống hòa đồng với dân chúng, học trình cũng đòi hỏi các sinh viên phải tham gia vào các công tác xã hội hằng tuần do Học viện tổ chức. Ngoài ra, sau khi tốt nghiệp tại Học viện các nam sinh viên còn được gởi đi thụ huấn về quân sự tại trường sĩ quan Thủ đức trước khi đi nhận nhiệm sở.

Sau khi ra trường các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan từ Phủ Tổng Thống, Phủ Thủ tướng, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, Tổng Nha Ngân sách và các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng, nhờ vào tất cả những ưu điểm về huấn luyện đó mà Học viện QGHC không những là một cơ sở giáo dục được trong nước biết tiếng mà cả các quốc gia vùng Đông Nam Á cũng thừa nhận Học viện như một trong nhiều trung tâm có uy tín về đào tạo nhân sự cho ngành quản trị công.

Với một quá trình hiện diện dài 23 năm, Học viện QGHC đã đào tạo được 2784 sinh viên gồm:

8 khóa Cao học với 323 sinh viên tốt nghiệp.

20 khóa Đốc sự với 1650 sinh viên tốt nghiệp.

5 khóa Tham sự với 622 sinh viên tốt nghiệp và

5 khóa Tham sự Đặc biệt dành cho đồng bào sắc tộc có 189 sinh viên tốt nghiệp.

Đó là chưa kể 527 sinh viên chưa kịp tốt nghiệp vào năm 1975 gồm:

161 sinh viên Cao học khóa 9 và khóa 10

316 sinh viên Đốc sự các khóa 20, 21 và 22

50 sinh viên Tham sự khóa Đặc biệt.
..,với một số lượng tốt nghiệp khá đông đảo như vậy, các cựu sinh viện QGHC với một kiến thức chuyên môn dồi dào và một kiến thức căn bản về quân sự đã một thời như Nguyễn Công Trứ có nói:

“ Trong lăng miếu ra tài lương đống,
ngoài biên thùy rạch mũi can tương ”.

Những con người trẻ và đầy nhiệt huyết đó đã có mặt khắp mọi nơi trên đất nước từ các thị thành an ninh đến những quận lỵ xa xôi đầy hiểm nguy và khói lửa chiến tranh. Những con người đó đã đảm trách hầu hết các chức vụ chỉ huy hành chánh từ trung cấp cho đến cao cấp tại các cơ quan địa phương cũng như trung ương. Một số còn đảm nhận các chức vụ chánh trị quan trọng từ Tổng, Bộ trưởng đến cả Thủ tướng trong chánh phủ và nhiều chức vụ nồng cốt thuộc hai ngành Lập pháp và Tư pháp. Tất cả họ đã đóng góp không ít cho công cuộc cải tổ và hoàn thiện guồng máy hành chánh quốc gia cũng như công cuộc chiến đối đầu với cộng sản xâm lược.

Nhưng tiếc thay ngày lịch sử định mệnh 30 tháng 4 đã xảy đến làm ngôi trường QGHC phải bị đóng cửa và các cựu sinh viên QGHC phải tứ tán khắp bốn phương trời. Nhưng dù sống ở đâu, những ngày xưa thân ái dưới mái trường QGHC và giai đoạn dấn thân phục vụ cho quê hương xứ sở vẫn không phai nhòa trong tâm trí họ.

- Để kết thúc, xin có 4 câu thơ:

Tài lương đống một thời ngang dọc
Mộng can tương bỗng chốc khói mây
Dù cho lưu lạc đó đây
Trường xưa vẫn mộng một ngày đoàn viên…

Đọc thêm : http://quocgiahanhchanh.com/doidongqghc.htm

Sài Gòn Xưa
===========
Liên kết Sài Gòn Xưa : https://www.facebook.com/oldsaigon75
Liên kết Cochinchine - Sài Gòn Xưa : https://www.facebook.com/SaigonOld75/

Saturday, 1 April 2017

MỘT GÓC VƯỜN QGHC VỚI ĐÀ LẠT XƯA./-TCL

Nhớ Vương Lưu
        Vương Lưu cùng với Trương Trí Hiệp, Hồ Hùng Ninh, Nguyễn Thế Viên, và tôi cùng về tập sự tại Tòa Hành Chánh Tỉnh Tuyên Đức (Đà Lạt) năm 1970. Vì Viên, Ninh và tôi có gia đình ở tại Đà Lạt, nên Lưu và Hiệp được cấp một căn phòng nhỏ sát bên nhà Phó trưởng ty Thuế Vụ. Nhà này là một biêt thự xưa của Tây, xế cửa Khách Sạn Palace và nhìn ra Hồ Xuân Hương.  Trước nhà là con đường nhựa nhỏ nối với đường Yersin, quẹo trái thì lên Tòa Hành Chánh, quẹo phải thì xuống cà phê Bưu Điện.   Ninh và tôi thường ghé qua căn phòng chật hẹp lúc nào cũng mịt mù khói thuốc, nơi tụ họp thường xuyên sau những buổi cà phê Tùng ngoài phố Hòa Bình, cà phê lề đường trước cửa Ty Bưu Điện gần nhà thờ Con Gà, cà phê Domino gần bến xe đường Hàm Nghi, và nhiều cà phê khác nữa. Năm ấy hình như cà phê là món ăn chính của chúng tôi, đói cơm thì gặm bánh mì không sao chứ cà phê thì không thể thiếu. Thuốc lá thì thay đổi theo tuần, đầu tháng thì Pall Mall, Lucky Strike, đôi khi con mèo Craven A, cuối tháng thì Quân Tiếp Vụ, Bastos xanh, thậm chí Bastos đỏ. Ba bốn thằng thường về căn phòng nhỏ nằm xếp hàng ngang trên chiếc giường lớn, dưới gầm giường đầy những mẩu tàn thuốc.   Nói ra thì mắc cở chứ cũng có lúc kẹt quá tụi tôi phải chịu khó thò đầu xuống gầm giường tìm cái mẩu tàn thuốc nào còn kha khá ... đem ra hút lại. Căn phòng có cửa thông qua toa lét thì đã bị khóa trái bên trong, muốn đi thì phải gõ cửa đi qua nhà phó ty Thuế Vụ. Tay phó ty này có tật thỉnh thoảng lại mở cửa phòng tụi tôi ló đầu vào quan sát. Phải sau vài lần bị chửi anh ta mới thôi làm cái trò đó. Và Vương Lưu là người chửi dữ nhất.
       Vào Tòa Hành Chánh thì dù mỗi đứa được phân phối đi một ty khác nhau trong mấy tháng đầu, nhưng chỉ được một lát ngồi chưa nóng chỗ là lại lò dò đi tìm nhau, tìm cớ ca bài chuồn ra phố. Năm ấy tôi có người yêu chờ đợi ở Sài Gòn nên không chú ý nhiều đến các người đẹp Đà Lạt, nhưng không hiểu vì sao các bạn tôi cũng không thấy ai có mối tình màu hoa đào nào cả. Có lẽ vì có bao nhiêu thời gian dành cho cà phê hết cả rồi.  Thời gian còn lại thì để đi về Sài Gòn.   Năm ấy đường về Sài Gòn đang sửa chữa.  Con đường chỉ có 300 cây số mà có lần tụi tôi phải đi hai ngày mới về tới Sài Gòn. Buổi tối kẹt lại ở Madagui, trong túi bốn thằng chẳng còn đồng nào.  May sao Hồ Hùng Ninh có thùng dầu ăn mấy lít của một người bà con gởi xách về Sài Gòn giùm, mấy đứa bèn đem vào nhà dân bán được mấy trăm, cũng đủ ăn "mòi ghí" và cà phê xứ Thượng.
        Phó Tỉnh Trưởng hồi đó là anh Hoàng Trọng Cang, một con người hiền từ và đạo đức.Bác Bảo Trưởng ty Kinh Tế thường hay dẫn anh em đi ăn sáng chịu. Anh Thu bên Trung Tâm Tu Nghiệp trẻ trung và hay nói.  Anh phó trưởng ty cảnh sát Thiều hay đùa giỡn với hai câu thơ:
   Ra đi vợ có dặn rằng
   Thuốc xin thì hút thuốc mua thì đừng.
        Có lẽ bạn Hậu không biết Vương Lưu nhiều nên mới dùng chữ "ngổ ngáo" cho Lưu.  Thật ra Lưu là người dễ xúc cảm, đôi lúc hơi bốc đồng, nhiều lúc cũng rất văn nghệ. Tôi còn nhớ mãi trong một dịp du ngọan của lớp mình, Lưu đã hát những câu dân ca rất hay như là "tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài ..." hay là  "... tui chèo thuyền ra biển ... rồi tui lại chèo dô."  Lưu có lối nói chuyện của mấy ông công chức già người Bắc, hay nhấn rất mạnh điểm muốn nói.   Khi xúc động, khuôn mặt anh có cái cười nửa miệng, có thể làm người khác hiểu lầm là người kiêu ngạo.  Có lẽ đây là ảnh hưởng của người bố, và ông nội, hai người đều là công chức.   Lưu hay nhắc lại một câu nói của Ông Nội, một công chức thời Tây, nói về sự đúng giờ:
   Avant l'heure, ce n'est pas l'heure,
   Apres l'heure, ce n'est pas l'heure,
   L'heure, c'est heure.
        Nhóm bạn tập sự ở Đà Lạt ngày xưa, giờ đã tan tác cả. Viên và tôi hiện định cư ở nước ngòai, Trương Trí Hiệp thì bặt tin bao nhiêu năm nay, còn Hồ Hùng Ninh thì đau ốm, nói năng phều phào. Hôm đầu năm tôi về, ngồi sau xe gắn máy Ninh chở, tôi hỏi: Hôm nọ thằng Lưu về, mày có gặp không?  Ninh nói gì tôi nghe không rõ, chỉ nghe được hai chữ "mút mùa."  Chợt thấy vui, bạn bè bao nhiêu năm gặp nhau, thì "mút mùa" với nhau là phải rồi. Ninh không còn nói được nhiều, nói gì phải kê sát tai, và phải đoán mò thêm mới hiểu được.   Ninh vẫn còn cái thói quen ngày xưa, tôi nói gì mà anh chàng khoái chí thì anh lại đưa tay ra sau bóp bóp vào đầu gối tôi tỏ vẻ đồng tình.   Những cái chuyện nho nhỏ đó sao mà làm nhớ lại quá những ngày xưa, nhớ lại cái buổi mấy cô thư ký Tòa Hành Chánh đi qua cười khúc khích chọc quê khi nhìn thấy bốn chàng Đốc Sự tập sự đang say mê thục banh bàn trên đường Yersin, nhớ lại lúc đàn anh Nguyễn An Tôn than phiền về chuyện trục trặc hôn nhân của anh, Ninh ta đã hăng hái cố vấn: "bỏ là phải rồi anh." Tôi ngồi cười thầm, mình là sinh viên độc thân biết con khỉ gì mà bày đặt cố vấn cho người có vợ.
        Mấy chục năm qua tôi chưa có dịp nói chuyện với Vương Lưu. Gần đây anh Trí có cho số điện thoại của Lưu nhưng tôi cũng chưa nói chuyện được với Lưu. Giờ thì khỏi nói chuyện nữa rồi. Mà cần chi phải nói nữa phải không Lưu?  Có dịp nói chuyện thì chắc cũng chỉ là những câu hỏi thăm sức khỏe, những lời than đau kể ốm. Thôi thì cứ giữ lại những kỷ niệm của thời son trẻ, chắc cũng đủ. 
        Dở cuốn kỷ yếu, chợt nhận ra hình Vương Lưu trong sách là hình chụp ở Đà Lạt, có lẽ là trong một buổi tụi tôi đi chơi ở đèo Prenn.  Có lẽ Lưu thích hình này vì trông có vẻ nghệ sĩ.  Tôi cũng thấy vui vì mình cũng có mấy tấm hình cùng mặc chiếc áo len của Lưu.
        Lưu ơi, yên nghỉ nhé. Những bạn như Triệu Hòa, Nguyễn Minh Hải, và hôm nay là Vương Lưu là những người may mắn. Các bạn ra đi trong nỗi thương tiếc của bạn bè. Mai sau đến phiên mình, biết có còn ai tiếc thương?
        Nguyễn Duy Nhạc  
 

Phân Ưu

        Nhận được tin buồn Bạn Vương Lưu (ĐS17), Pháp danh Phúc Ái vừa mệnh chung lúc 9:30 sáng ngày 18 tháng 10 năm 2007, tại nhà riêng Thành Phố Cherry Hill, New Jersey (USA), hưởng dương 58 tuổi.
        Các Bạn đồng môn ĐS17 xin thành kính chia buồn cùng Chị Vương Lưu và tang quyến. Nguyện cầu hương linh Bạn sớm tiêu dao nơi miền lạc cảnh.

Friday, 30 January 2015

XIN GIỚI THIỆU TINH THẦN BÀI VIẾT VÀ CŨNG XIN MIỄN LIÊN QUAN VỚI THỰC TẾ VỀ CON NGƯỜI TÁC GIẢ TRẦN XUÂN THỜI ĐỐC SỰ KHÓA 12./- Mt68

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh


Học Viện Quốc Gia Hành Chánh là một trường Cao Đẳng chuyên nghiệp, không phải là một phân khoa tự do của Viện Đại Học Saigon như Văn khoa hay Luật Khoa mở rộng cho sinh viên ghi danh vào học tự do không cần qua kỳ thi nhập học. Trường được thành lập do Nghị Định 246-CAB/SG ngày 7 tháng 4 năm 1952, sưa đổi bởi Nghị Định 560/PTT/TTK ngày 22 tháng 8 năm 1954 và đổi danh xưng thành Học Viện Quốc Gia Hánh Chánh bởi Nghị Định 483-TTP/TTK ngày 9 tháng 8 năm 1955.

Học Viện có nhiệm vụ nghiên cứu và đào luyện các viên chức hành chánh cao cấp cho chính phủ Vìệt-Nam Cộng Hòa. Hơn hai ngàn sinh viên đã tốt nghiệp tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh từ khoá I Đốc Sự Đà Lạt nhập học năm 1952 đến năm 1975.
Chương trình huấn luyện gồm 3 ban: Tham sự, 1 năm (5 khóa tốt nghiệp từ năm 1965-1970) ; Đốc sự, 3 năm ½ (20 khóa tốt nghiệp từ 1952-1975) và Cao học, 2 năm (8 khóa tốt nghiệp từ 1965-1975).
Muốn nhập học, thí sinh phải có văn bằng Tú tài toàn phần cho ban Tham sự, Đốc sự và văn bằng Cử nhân hay tương đương cho ban Cao học.  Tất cả thí sinh dự tuyển phải trải qua một kỳ khảo hạch gồm một bài bình luận về các vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị…, để lượng giá kiến thức tổng quát, khả năng suy luận và khả năng diễn đạt tư tưởng của thí sinh.  Đa số thí sinh bị loại vì bài bình luận. Ban giám khảo chỉ chọn một số thí sinh có điểm cao về bài bình luận. Sau đó chấm tiếp các bài khác của các thí sinh đã được chọn, với hệ số thấp hơn, như bài thi về sử ký hoặc địa lý nhân văn hay địa lý kinh tế và một bài sinh ngữ, để tuyển chọn 100 thí sinh hằng năm trong hằng ngàn thí sinh dự tuyển. Tỷ số trúng tuyển khoảng 5% mỗi năm cho các ban.
Bài bình luận với hệ số 4 là một bài trắc nghiệm về khả năng am hiểu vấn đề, khả năng phân tích và khả năng bình phẩm, tổng hợp một đề cương.  Thí sinh đã thi thố tài năng qua các bài bình luận về triết lý trị quốc an dân, các thể chế chính trị hoặc các định chế kinh tế, xã hội quốc tế. Ví dụ như:
Đề thi vào khoá 5 Ban Đốc sự (1957). Anh chị hãy bình luận câu: “Hà chính mãnh ư hổ dã” (Chính sách hà khắc tàn bạo hơn cọp dữ). 

Đề thi bài bình luận thi vào khoá 11 Ban Đốc sự (1963) “Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh nhi bất tùng““(Bản thân là chính trực, không ra lệnh người cũng nghe; bất chính thì có ra lệnh người cũng không nghe). 

Đề thi vào khoá 12 Ban Đốc sự (1964): “Dân chủ và Độc tài”. 

Đề thi vào khóa 22 Ban Đốc sự (1974): “Ngày xưa người ta coi công chức là phụ mẫu chi dân”. Anh chị nghĩ thế naò?. 

Đề thi vào khoá 1 Ban Cao học (1965):”Vấn đề các nước bị chia đôi“. 

Đề thi vào khoá 3 Ban Cao học (1967): “Chiến tranh và các định chế quốc tế” hay đề tài kinh tế như đề thi vào khoá 1 Ban Tham sự (1965) “ Chánh sách tái phân lợi tức”….

Đa số các đề thi của các bài bình luận không mấy liên quan đến chương trình trung học hoặc đại học, nhằm trắc nghiệm kiến thức tổng quát về văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị ... Kiến thức tổng quát được thủ đắc qua kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày hay qua các phương tiện truyền thông như báo chí, các tập san nghiên cứu, truyền thanh, truyền hình mà chỉ những học sinh hay sinh viên có năng khiếu theo dỏi thời cuộc, lưu tâm đến hiện hình đất nước hay tình hình thế giới mới nghiên cứu.

Học viện có sứ mệnh đào tạo những thanh niên nam (90%) và nữ (10%) có khả năng, khả dĩ am hiểu tình hình xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị để đảm nhiệm các vai trò quản trị nền hành chánh công quyền của Việt Nam Cộng Hòa. Học viện tuyển chọn các thí sinh có năng khiếu sưu tầm, quan tâm đến đời sống cộng đồng, thiên về sinh hoạt của nhân quần xã hội, hoặc có khuynh huớng bẫm sinh phục vụ quần chúng.



Truyền thụ kiến thức thì dễ, nhưng đào luyện ý chí (will) và tâm tưởng (mentality) cho tha nhân để phục vụ công ích thì rất khó, nếu không chọn đúng đối tượng. Phương pháp tuyển chọn hữu hiệu là mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài, khám phá những sĩ tử có sẵn căn bản, ước nguyện hay khuynh hướng bẩm sinh về ngành quản trị công quyền. Năng khiếu của thí sinh thường được nhận diện qua khả năng thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo được biểu lộ trong bài bình luận vì “Văn tức là người” (Le style, c’est l’homme).

Bài bình luận là phương tiện để phát hiện khả năng của thí sinh qua tiến trình “Ý tại, ngôn ngoại”. Thí sinh có cơ hội bộc phát ý tưởng sẵn có trong nội tâm để thi thố tài năng qua trường thi trận bút. Nhờ đó, Học viện có thể khám phá và đào luyện được những sĩ tử có kiến thức thích ứng cho ngành quản trị qua hệ luận: “Tư tuởng được thể hiện qua ngôn, từ. Ngôn, từ sẽ phát sinh ra hành động. Hành động nhiều lần sẽ thành thói quen. Thói quen lâu ngày sẽ trở thành bản tính, nhân cách, tác phong hành sự.”

“Công tác giáo dục cũng như công việc của người thợ may”. Trước khi may áo, người thợ may phải đo kích thước của khách hàng, không phải để chê bai “Cao chê ngỏng, thấp chê lùn. Béo chê, béo trục béo tròn. Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra“, mà để may cho đúng kích thước. Cũng vậy, trước khi đào luyên nhân tài, Học Viện cần tìm hiểu xem thử những sĩ tử nào có khả năng thích ứng để trở thành chiến sĩ tuyến đầu làm công bộc của dân. (Administrateur civil/ Field administrator) mà người xưa thường gọi là “Phụ mẫu chi dân”.

Bước chân vào trường thi trận bút mà không có tư tưởng thì chẵng khác nào ra trận mà không trang bị vũ khí thì làm sao chiến thắng được đối phương. Đảm nhiệm công tác trị quốc an dân mà không có tư tưởng thì làm sao chu toàn sứ mệnh “Thứ, Phú, Giáo”: Làm cho dân ngày càng đông đảo, càng giàu mạnh và nâng cao trình độ dân trí ngày càng cao.

Một khi đã có tư tưởng thì tư tuởng lên khuôn cho hành động. Hay nói cách khác, có tri, ắt có hành. Tri hành thường phải hợp nhất. Môt khi tri hành không hợp nhất thì đúng là “Kỳ thân bất chính, tuy lệnh, nhi bất tùng”. Không đủ tư tưởng để bình luận một đề thi đáp ứng chủ đích của Học viện thì thí sinh không đủ tiêu chuẩn để được tuyển chọn theo học ngành quản trị công quyền.

Những nguời có khả năng chuyên khoa về Anh văn, Pháp văn, toán học… hoặc những học sinh hay sinh viên thích thi ca, ”thức suốt đêm làm thơ rồi đợi chờ” hoặc luyện chưởng của Kim Dung để viết tiểu thuyết thì khó lòng mà vượt qua cửa ải của bài bình luận.  Một số thí sinh không trúng tuyển cho biết cảm tưởng là đề thi không phù hợp với sở trường của họ nên nạp giấy trằng. Đúng, mỗi người có một sở trường vì nhân sinh quý thích chí. Các thí sinh nầy thi thử, nhưng không có duyên với hành chánh nên đã dấn thân và thành công trong các ngành chuyên khoa khác.

Chương trình huấn luyện gồm các môn chính trị, kinh tế, tài chánh, hành chánh, kế toán, tư pháp, luật lao động, soạn thảo công văn, soạn thảo ngân sách, thuế khóa, phương pháp sưu tầm, xã hội học, thống kê, bang giao quốc tế, các vấn đề hành chánh điển hình, luật hành chánh…

Riêng ban Đốc sự, cuối năm học, sinh viên phải thi viết 8 môn và thi vấn đáp 4 môn.

Trong năm thứ 2, sinh viên chọn ngành chuyên môn: Ban Hành Chánh hay ban Kinh Tài… Việc chọn ban nầy áp dụng từ khoá Đốc sự Đà-Lạt (1952) đến khóa 12 Đốc sự (1964). Chương trình thay đổi từ khóa 13 (1965) đến khóa 22 (1974), tất cả sinh viên học chung một chương trình, không chia ban hành chánh hay kinh tài và thời gian thực tập cũng không thống nhất giữa các khóa. Trong chương trình cao học, (1965) khi thi vào, thí sinh đã tự chọn ngành chuyên môn như hành chánh, tài chánh, kinh tế, ngoại giao, xã hội, thẩm tra kế toán….

Qua năm thứ 3 sinh viên thường được phân chia đi thực tập tại các tỉnh địa phương hoặc các bộ tại trung ương. Sau đó trở lại Học viện học phần thời gian còn lại của chương trình trước khi thi tốt nghiệp.  Trong thời gian thực tập, sinh viên nghiên cứu các vấn đề hành chánh địa phương, trung ương và gởi tờ trình tam cá nguyệt về Học Viện, đồng thời thu thập tài liệu để viết luận văn ( research paper) cho cuối khoá học. Luận văn từ 40 đến 60 trang về một trong các đề tài liên quan đến nền hành chánh công quyền quốc gia hiện hành do sinh viên tự chọn.

Sau khi tốt nghiệp, các tân khoa chọn chỗ để phục vụ tại các bộ, phủ tại trung ương hay tại toà hành chánh các tỉnh, các thành phố điạ phương, theo thứ tự xếp hạng sau kỳ thi tốt nghiệp.

Trong thời gian tòng học tại Học viện, các sinh viên được huấn luyện qua chương trình “Cao Đẳng Quân Sự“ hoặc được hoãn dịch vì lý do học vấn. Từ năm 1952, sinh viên các khoá Đốc Sự Đà-Lạt và các khoá Đốc sự kế tiếp 1,2,3,4, thụ huấn quân sự tại Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt trong lúc theo học chương trình hành chánh. Một phần huấn luyện quân sự cho khóa 4 và toàn khoá 5 được chuyển qua huấn luyện tại Long Hải. Sau khi tốt nghiệp các tân sĩ quan được lệnh phuc vụ tại các quân khu trong thời gian sáu tháng trước khi được biệt phái về đảm nhiệm các chức vụ hành chánh tại trung ương hay địa phương.

Sinh viên các khoá Đốc sự 6,7,8, từ năm 1958, sau khi mãn khoá, được Bộ Quốc Phòng động viên vào các khoá sĩ quan tại Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Đồng Đế, Nha Trang.  Sinh viên các khóa Đốc sự 9 đến khóa 16, sau khi tốt nghiệp và được bổ nhiệm vào các chức vụ trong nền hành chánh quốc gia tại trung ương và điạ phương, đã lần lượt được Bộ Quốc Phòng động viên vào các khóa Sĩ Quan Trường Võ Khoa Thủ Đức từ năm 1964 đến năm 1972.

Đa số sĩ quan gốc công chức được Bộ Quốc Phòng cứu xét, theo yêu cầu của các Bộ, Phủ, cho biệt phái ngoại ngạch, “chiếu nhu cầu công vụ”, về nhiệm sở cũ để đảm nhiệm các chức vụ quan trọng tại trung ương và địa phương để điều hành nền hành chánh quốc gia.  Tại địa phương, cựu sinh viên hành chánh đảm nhiệm các chức vụ Phó Quận Trưởng, Trưởng Ty, Phó Tỉnh Trưởng, Phó Thị Trưởng, Đaị Diện Vùng … Tại trung ương, từ cấp Chủ sự, Chánh Sở, Giám Đốc, đến Tổng, Bộ Trưởng, Viện Trưởng, Thủ Tướng trong suốt 20 năm từ 1955-1975.

Việt Nam thoát khỏi sự bảo hộ của Pháp từ năm 1954 với một nền hành chánh tự trị phôi thai. Nhằm mục đích thăng tiến nền hành chánh quốc gia, thưc hiện các chương trình phát triển, kinh bang tế thế trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt nhất là áp lực về chính trị và quân sự.  Về chính trị, ý dân là ý trời, Chính phủ Viêt Nam Cộng Hoà chủ trương “công tâm vi thượng” đánh lấy lòng dân thay vì gây binh đao, tấn công ra Bắc để chiếm thành trì, ”công thành vi hạ”. Vì trận chiến tâm lý, “đắc nhân tâm”, phức tạp và khó khăn liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống trong công tác xây dựng tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân Việt Nam nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã nhờ Đại học Michigan State University, Hoa Kỳ, bảo trợ chương trình đào luyện một lực lượng sĩ phu hành chánh mới, thấm nhuần tinh thần quốc gia và kỷ thuật quản trị khoa học tân tiến.

Về quân sự, miền Nam thường trực chịu áp lực hiếu chiến của miền Bắc. Đảng Cộng sản Hà nội nội sẵn sàng gây hấn để phục vụ chủ trương của Cộng Sản Quốc Tế, nên Chính Phủ Việt Nam Công Hoà đã gia tăng quân lực qua sự hình thành các Trung Tâm Huấn Luyện binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan cho quân lực Việt Nam Cộng Hoà để baỏ toàn lãnh thỗ và an ninh cho miền Nam.  Các viên chức hành chánh tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hánh Chánh, hoặc tốt nghiệp thêm các ngành khác như Văn Khoa, Luật Khoa, Sư phạm hay Khoa học cũng đồng thời xuất thân từ các quân trường đào tạo Sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như Trường Võ Bị Liên Quân Đà-Lạt, Trường Sĩ Quan Đồng-Đế và Trường Sĩ Quan Thủ-Đức, với văn tài và võ lược hầu có thể đảm nhiệm hữu hiệu công tác trị quốc an dân từ địa phương đến trung ương.

Các công chức-quân nhân nầy, tuy thường được biệt phái nhưng vẫn là quân nhân tại ngủ, nên được quản trị, thăng thưởng và chế tài bởi hai quy chế: Quy chế công chức và quy chế quân nhân. Công chức- quân nhân vi phạm kỷ luật thường bị chế tài về quân kỷ. Lệnh biệt phái bị thu hồi và được thuyên chuyển ra các đơn vị tác chiến, hay phục vụ tại các tiểu khu.

Trong thời gian thi hành công vụ, một số công chức - quân nhân xuất thân từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các Quân Trường Sĩ Quan đã hy sinh vì tổ quốc.  Sau năm 1975, dù hoàn cảnh biến đổi ra sao đi nữa thì áo rách phải giữ lấy lề. Cảnh khổ là nấc thang cho kẻ anh tài, kho tàng cho người khôn khéo và cũng có thể là vực thẵm cho người yếu đuối. Cựu sinh viên tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh vẫn kiên gan cùng tuế nguyệt, trân quý niềm tin vào chính nghĩa quốc gia, tinh thần tự trọng, và trình độ văn hoá văn, võ song toàn đặc thù của mình.
“Dù cho mưa, tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời”

Nền giáo dục văn, võ mỗi người Việt thủ đắc và bảo tồn trong tâm tưởng thể hiện đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam: Là của hương hỏa, công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy; là gia bảo thiêng liêng của tổ quốc in hình dấu vết của hồn thiêng sông núi mà người công dân nước Việt Nam Cộng Hoà luôn hãnh diện, ấp ủ trong hoài bảo, tựa bản nhạc vàng ru trọn đời mình!

Ngày nay, sau gần 40 năm viễn xứ, hầu hết cựu sinh viên HVQGHC khắp năm châu bốn bể, nhờ căn bản vốn liếng văn hóa còn lại “La culture est ce qui reste quand on a tout oublie’”, đều đã thành công với tinh thần “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, sống trong tự do, xứng đáng với nhân phẫm.

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các Quân Trường đã đào luyện nên những con người Việt- Nam, phục vụ đất nước với tình đồng hương, nghĩa đồng bào trong dòng sinh mệnh của dân tộc.  Những gì chúng ta trải qua trong cuộc đời đều là những hoài niệm đáng nhớ, đáng thương. Những hoài niệm êm đềm đã ghi sâu trong tâm tưởng về những năm dài, tháng rộng của một phần đời sinh sống, phục vụ quê hương và một phần đời viễn xứ. Không tự tôn về quá khứ, mà cũng không tự ty về thân phận của kiếp sống tha hương.

Cicéro, một nhà hùng biện nỗi tiếng ở thành Rome, năm 46 trước công nguyên, đã nói người lớn khác trẻ em vì người lớn biết quá khứ, nhớ lịch sử. Dù quá khứ là quá khứ, “Le passé est le passé”, cũng như tuổi tác “xuân bất tái lai”, không thể thay đổi hay đều chỉnh được, chúng ta vẫn giữ thái độ “Bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt”. Không oán trời, không trách người, phàm làm người nên biết thời vận. Biết quá khứ giúp chúng ta am hiểu tình, lý của cuộc đời, tức là biết lẽ sống.

Cho dù chúng ta không loại bỏ ý niệm siêu hình về một phần của cuộc đời thường do định mệnh an bài vì chúng ta không giải hoá được các ẩn số cố hữu. Thế nhưng, thế thượng thường tình, con người vẫn cố gắng dành phần tự quyết định thân phận của mình. “Chacun est l’artisan de sa fortune“, hoặc theo nhân sinh quan trung dung. “Có trời mà cũng tại ta”.

Nhân sinh quan cổ, kim, Đông, Tây vẫn là một: Đông thì quan niệm:”Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chí”. Trời hành đạo mạnh mẽ, cốt giúp người tự lực, tự cường, chứ không giúp người biếng nhác. Tây thì khuyên ta “Aide toi, le ciel t’aidera”. Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình sau, hoặc “Creator willed that man should be left in the hand of his own counsel for his own sake“. “Khi nên Trời cũng chiều người”.

Tự lực, tự cường vẫn là hoàng đạo. “Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu”. Làm người mà không nhìn xa, ắt có ngày sẽ gặp phiền phức, âu lo, như quá khứ đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm đau thương.

Vì thế, dù sống trong thời gian nào, xã hội nào, chúng ta cũng phải phấn đấu hết mình, để khuất phục hoàn cảnh, trước khi phục mệnh. ”Trời đâu riêng khó cho ta mãi. Vinh nhục dù ai cũng một lần”.

Sống xứng đáng là người Việt cao quý trong bất cứ tình huống nào và phục vụ tập thể đồng môn nói riêng, cộng đồng Việt-Nam hải ngại nói chung, thì cũng như phục vụ chính quê hương mình vậy.

 “Trường Thi Trận Bút”

Trần Xuân Thời