Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label TrucGiangMNLamVanKhanh. Show all posts
Showing posts with label TrucGiangMNLamVanKhanh. Show all posts

Saturday, 16 December 2023

Kế Hoạch Diệt Sư Đoàn 320 CSBV Của Cố Vấn John Paul Vann 24 Tháng Năm 20121

* Tổng quát

“58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh tánh mạng trên các chiến trường Việt Nam, đã sống và đã chết cùng với những anh hùng liệt sĩ Việt Nam, chúng ta mắc nợ 58 ngàn quân nhân đó, mắc nợ nước Mỹ, tuy họ không đòi, nhưng chúng ta nên nhớ và có bổn phận phải trả.” (Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh).

Trong chiến tranh, có 58 ngàn công dân Hoa Kỳ đã hy sinh trên đất nước Việt Nam, đã góp phần chiến đấu chống lại sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng sản, để bảo vệ tự do, dân chủ cho đồng bào miền Nam. Sau ngày 30-4-1975, người miền Nam mới nhận thấy tự do là quý báu nhất, và hàng triệu người liều chết đi tìm tự do.




Sự hy sinh để bảo vệ tự do cho người miền Nam có ý nghĩa rất lớn, đó là cái lý tưởng cao quý của người dân Hoa Kỳ. Một trong những người được xem là tấm gương dũng cảm là ông John Paul Vann. Một nhà báo Mỹ đã viết, ông sống là một anh hùng và chết cũng như một anh hùng. Ông đã nhiều lần được trao huy chương Anh dũng Bội tinh, và huy chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ. Là một cá nhân đặc biệt, với cấp bậc trung tá mà có khả năng làm công việc của một thiếu tướng. Và cũng đã có một sĩ quan cấp tướng và nhiều đại tá vui lòng làm việc dưới quyền ông. Ông là biểu tượng của một mẫu người can đảm, táo bạo, tạo ra những huyền thoại về ông.

Phóng viên Neil Sheehan, đoạt giải Pulitzer, đã viết cuốn sách về cuộc đời ly kỳ của ông, được hảng HBO quay thành phim, do tài tử Bill Paxton thủ vai của ông khi ở Việt Nam. Tên tuổi Paul Vann nổi bật từ trận Ấp Bắc, thuộc tỉnh Định Tường VN.


2* Huyền thoại về trận Ấp Bắc.

Ấp Bắc chỉ là một trận phục kích bình thường của chiến thuật du kích, nhưng đã được phóng đại, thần thoại hóa, làm sai sự thật chỉ vì mục đích chính trị và tuyên truyền.

Về phía Việt Cộng, cố ý phóng đại nhằm mục đích tuyên truyền, đánh bóng cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN, để xin viện trợ của các nước “Xã hội chủ nghĩa anh em”. Đại khái như: “cuộc kháng chiến thần thánh của đồng bào miền Nam đã giáng một đòn nặng nề chí tử cho đế quốc Mỹ, tên sen đầm quốc tế, và ngụy quân, ngụy quyền tay sai bù nhìn ở miền Nam…”

Về phía báo chí Mỹ, các thông tín viên lợi dụng cơ hội nầy để trả đủa việc bà Ngô Đình Nhu cho rằng các phóng viên ngoại quốc đều là VC, đồng thời chỉ trích chế độ Ngô Đình Diệm độc tài, đàn áp Phật giáo… Các thông tín viên không chứng kiến tận mắt, không điều tra kỹ lưỡng, mà chỉ căn cứ vào một vài báo cáo không đúng sự thật, tạo ra một chiến dịch làm rùm ben cả tháng trời ở Hoa Kỳ về vụ Ấp Bắc.

Riêng đối với trung tá John Paul Vann, cố vấn SĐ7BB thì cho rằng, chính sách tiến hành chiến tranh của HK ở VN là sai lầm. Đó là lấy chiến tranh quy ước, dùng đại đơn vị để chống du kích ở thời điểm đó, là không thích hợp. Những nhận xét của ông được đưa ra công luận ồn ào, làm tăng thêm tính huyền thoại của trận Ấp Bắc. Hơn nữa, bản thân ông cũng là một huyền thoại. Một tướng lãnh dân sự.

3* Trận Ấp Bắc.

Ấp Bắc và ấp Tân Thới là 2 ấp thuộc tỉnh Định Tường (Mỷ Tho). Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng là Thiếu tá Lâm Quang Thơ. Bộ TL/SĐ7BB đóng ở tỉnh lỵ Mỷ Tho. Tư lịnh SĐ là Đại tá Vũ Đình Đạm. John Paul Vann là cố vấn của SĐ. Đại úy Lý Tòng Bá là Đại đội trưởng ĐĐ 7 Thiết Quân Vận (TQV) M-113.

3.1. Mục đích hành quân

Tiêu diệt đài phát thanh VC ở Ấp Tân Thới. Tình báo cho biết có khoảng 100 du kích VC bảo vệ đài phát thanh. Nhưng thực tế, thì quân số ở đó khoảng 400.

3.2. Lực lượng địch

- Tiểu đoàn 514 chủ lực tỉnh
- Tiểu đoàn 263
- Du kích địa phương

3.3. Địa thế mặt trận

Vùng đồng lầy ngập nước. Nhiều kinh rạch quanh co, đáy sâu nhiều bùn, là chướng ngại to lớn đối với M-113, ngay cả bộ binh cũng khó vượt qua. Hai bên bờ rạch, cây cối um tùm, rất thuận lợi cho việc phục kích từ hố cá nhân. Nói chung, địa thế bất lợi cho cuộc hành quân.

3.4. Lực lược hành quân của VNCH




Cuộc hành quân Đức Thắng 1. Diễn ra ngày 2-1-1963.
- 1 tiểu đoàn của SĐ 7BB, được trực thăng vận đến mục tiêu.
- 2 tiểu đoàn Bảo An
- 1 đại đội TQV M-113. Đại đội trưởng là Đại úy Lý Tòng Bá. TQV từ tỉnh lỵ Mỷ Tho đến quận Cai Lậy.
- 3 đại đội BB và BĐQ làm trừ bị
- 10 trực thăng vận tải CH-21
- 5 trực thăng võ trang UH-1.
• Vì thiếu trực thăng nên phải đổ quân 2 đợt.


3.5. Diễn tiến hành quân

Ngày 2-1-1963 Trước khi đổ quân, pháo binh dập tối đa vào 2 ấp Tân Thới và Ấp Bắc. Khói lửa mịt mù. VC phân tán mỏng, ẩn núp kín đáo.

7 giờ sáng

Ngay khi từ trực thăng nhảy xuống, thì đại đội đã chạm địch, có lẻ nhảy đúng vào ổ phục kích, phải cố thủ vị trí để bảo vệ an toàn cho bãi đáp. Lực lượng tấn công chính, thì trở thành bị động, phòng thủ và bị cầm chân.

10 giờ sáng.

Đổ quân lần thứ hai. Vì có nhiều sương mù cho nên bị trễ 2 giờ. Khi đủ quân số, bắt đầu tiến vào mục tiêu thì bị cầm chân. Cố thủ. Một tiểu đoàn Bảo an lại bị rơi vào ổ phục kích. Đại úy Tiểu đoàn trưởng và 13 binh sĩ bị thương. Một Đại đội trưởng và 7 binh sĩ tử thương. Một trực thăng chở quân lọt vào ổ phục kích, bị trúng đạn, đáp xuống ruộng an toàn. Ngay sau đó, một trực thăng vào cứu, bị bắn hạ. Kế đó, một trực thăng khác vào cứu 2 chiếc trước lại bị bắn rớt. Và cuối cùng, 5 trực thăng bị bắn rơi.

6 giờ chiều

2 đại đội lính dù tăng phái đến. Nhảy đúng mục tiêu chỉ định, nhưng vì trời tối, nên phải nằm lại qua đêm. Một số bị gió tạt, mắc trên cành cây, một số bị rơi vào ổ phục kích, làm bia cho du kích, hy sinh oan uổng.

Thiết vân xa gặp trở ngại. Đại đội 7 TQV của Đại úy Bá gặp trở ngại vì con kinh đầy bùn sình. Phải mất 3 tiếng đồng hồ mới di chuyển được 1,500 mét. Trong lúc bị kẹt trên kinh, một số xạ thủ đại liên trên pháo tháp bị trúng đạn tử thương. Hoả lực chính đến trễ, các đơn vị bị cầm chân, tiểu đoàn 514 VC trốn thoát.

3.6. Kết quả

Phía QLVNCH

- 66 tử thương
- 109 bị thương

Phía Hoa Kỳ

- 3 cố vấn thiệt mạng
- 6 bị thương
- 5 trực thăng rớt

Phía Viêt Cộng

- 18 xác chết
- 36 bị bắt sống

3.7. Nhận xét về cuộc hành quân

Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh QĐ 4, nhận xét:

- Kế hoạch hành quân không thích ứng với địa hình.
- Không dồn nổ lực chính vào mục tiêu nên thất bại
- Do nội tuyến cấp cao nên thất trận.

Cố vấn John Paul Vann nhận xét:

- QĐ/VNCH thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Thiếu phối hợp nên để cho tiểu đoàn 514 trốn thoát.

- Đại đội 7 TQV đã trì trệ. Phải mất 3 giờ để di chuyển được 1,500 mét, mặc dù địch trang bị vũ khí nhẹ.

Thật ra, bên nào cũng thiếu kinh nghiệm, cả Hoa Kỳ và VN. Vì đây là trận đánh lớn đầu tiên, kể từ khi phong trào đồng khởi năm 1960. Khả năng thật sự của QLVN/CH đã thể hiện qua những trận Bình Long, An Lộc và Cổ Thành Quảng Trị.

4* Vài nết về tiểu sử John Paul Vann

John Paul Vann sinh ngày 2-7-1924 tại Norfolk, Virginia. Tử nạn ngày 9-6-1972, 48 tuổi. Không có tên trong 58 ngàn quân nhân HK tử trận ở VN, trên bức tường đá đen ở Washington. Trung tá Bộ binh, sau đó giải ngũ và trở thành một nhân vật nổi tiếng trong Chiến tranh VN. Vann có bằng tiến sĩ về Quản trị kinh doanh. Đã từng theo học các môn Kinh tế, Toán và Thống kê ở Đại học Rutgers University. Theo học khoá Tham mưu cao cấp. Năm 1943, gia nhập quân đội và được huấn luyện thành phi công.

Kết hôn

Ngày 6-10-1945, kết hôn với Mary Jane Allen, người Rochester, New York. Có 5 con. Nhiều nguồn tin cho biết ông có vợ VN.

Vann đã từng phục vụ trong các đơn vị HK ở Nam Hàn, Nhật, Tây Đức trước khi đến VN.

Năm 1962, Vann được cử làm cố vấn cho Đại tá Huỳnh Văn Cao, TL/SĐ 7BB, thuộc Vùng 4 Chiến thuật. Trong trận Ấp Bắc, Vann đã từ trực thăng tại mặt trận, can đảm chỉ huy trận đánh, được thưởng Anh Dũng bội tinh.

Từ trận đánh ở Ấp Bắc, ông thấy cách tiến hành chiến tranh của HK ở VN không phù hợp với chiến thuật du kích. Ông lớn tiếng chỉ trích chính sách đó, đả kích ngay cả Chỉ huy trưởng MACV (Military Assistance Command Vietnam) là Tướng Paul D. Harkins.

Thông qua phóng viên David Hallberstam của tờ New York Times, ông đưa vấn đề ra công luận, và báo chí làm ồn ào lên. Tháng 3 năm 1963, Tướng Harkins cách chức ông, và bị giải ngũ vài tháng sau đó. John Paul Vann về Mỹ, làm nhân viên cho công ty xây dựng Martin Marietta ở Denver. Nhưng ông nhớ VN và xin trở qua VN.

Tháng 3 năm 1965, Vann là nhân viên dân chính, chỉ huy cơ quan CORDS (Civil Operations Revolutionary Development Support) VN gọi là Trung Tâm Bình Định Phát Triển. Cơ quan nầy bao gồm CIA, Bộ Ngoại giao, USAIDS, Thông Tin HK, phối hợp với nhân viên quân sự Mỹ, chịu trách nhiệm về tổ chức Chiến dịch Phượng Hoàng (Phoenix Program), mục đích phá vở cơ sở hạ tầng của VC ở nông thôn.

Tháng 11 năm 1968, ông được chuyển về Vùng 4 chiến thuật. Năm 1970, Tướng Ngô Du, TL/QĐ 4 có liên lạc mật thiết với ông, và nhận ra ông là người có tài.
Năm 1971, Tướng Ngô Du được bổ nhiệm ra làm TL/QĐ2, ông đặc biệt yêu cầu cho John Paul Vann được làm cố vấn quân sự cho QĐ2, thay thế Trung tướng Charles P. Brown đổi đi nơi khác.

Một trở ngại trên nguyên tắc là, ông Vann là dân sự mà làm cố vấn quân sự, nhất là cho một đại đơn vị cấp Quân đoàn. Nhờ sự ủng hộ của Tướng Weyand, nên Tướng Creighton Abrams chấp thuận. Sau đó, ông được có quyền hạn của một thiếu tướng và hưởng quyền lợi của cấp bậc đó.

Cái chết

Ngày 9-6-1972, John Paul Vann, cố vấn trưởng QĐ2, phi công và một hành khách Mỹ, đã thiệt mạng trong vụ rớt trực thăng lúc 9:30 tối trên chuyến bay đêm từ Pleiku về Kontum.

Ngày 16-6-1972, ông Vann được an táng theo quốc táng, tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Ông được truy tặng huy chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ.
Đám tang có nhiều tướng lãnh tham dự. Đại tướng William Westmoreland, Trung tướng Edward Lansdale, Trung tá Lucien Conein, TNS Edward Kennedy và Daniel Ellsberg. John Paul Vann sống là một anh hùng và chết cũng như là một anh hùng.

Những nhận xét về J.P. Vann:

- J.P. Vann là một sĩ quan tánh tình nóng nảy và hăng say quá độ, có thái độ trịch thượng đối với mọi người.

- J.P. Vann là một chiến lược gia có tầm nhìn sâu sắc về chiến tranh VN. Chính ông đã vạch chiến lược chống du kích thời gian đó. Chủ trương giao tranh với cường độ nhỏ và lâu dài. Trái ngược với chiến tranh quy ước, với đơn vị lớn mà ngắn, như HK đang thực hiện ở VN.

- Chính sự đả kích người khác, mà nhiều tướng lãnh VN không ưa ông ta, nhưng đối với sĩ quan và nhân viên dưới quyền, thì ông là người anh hùng của họ.

5* Kế hoạch diệt sư đoàn 320 của Cộng Sản Bắc Việt

Đầu năm 1972, tình báo Hoa Kỳ phát hiện Sư đoàn 320, nổi tiếng trong trận Điện Biên Phủ, đang dưỡng quân ở Thanh Hoá, có thể sẽ vào vùng ba biên giới Việt-Miên-Lào, để vào mặt trận B3 do thiếu tướng Hoàng Minh Thảo chỉ huy.

5.1. Tung màn lưới điện tử

Những chùm điện tử được thả trên đường mòn HCM, hướng về mật khu 609, nơi trú quân của Bộ Tư lịnh B3, ở vùng Attopeu, Nam Lào. Phi cơ không thám QĐ2, phi cơ chụp ảnh Bộ TTM ngày đêm theo dõi. Các toán viễn thám, biệt kích, trinh sát, tình báo, được thả khắp nơi trong vùng Tam biên.

Cuối tháng 1 năm 1972, một cán binh VC 17 tuổi bị bắt, đã khai rằng SĐ 320 vừa đến vùng Tam biên, sau một tháng di chuyển ngày đêm từ Thanh Hoá.

5.2. Dụ địch

Cố vấn J.P. Vann không muốn các đơn vị Bộ binh tiến sâu vào các vùng rừng núi để tìm diệt CS như Tướng Westmoreland đã làm trước kia, trong chiến thuật tìm diệt.

Ông được có quyền hạn của một thiếu tướng HK. Chỉ huy phó Ban cố vấn của ông là Tướng George Wear và Đại tá Joseph Pizzi là Tham mưu trưởng. Ngoài ra còn nhiều đại tá cố vấn cho các sư đoàn của QĐ2.

Paul Vann dùng kế, dụ địch tiến sâu vào lãnh thổ QĐ2 ở Dakto-Tân Cảnh, Kontum, rồi nhờ hỏa lực của KQ/HK ở Thái Lan, chủ yếu là B-52 ném bom trải thảm để tiêu diệt. Kế hoạch nầy táo bạo và nguy hiểm, bởi vì QĐ2 không phải chỉ đối diện với 1 SĐ 320, mà còn phải đương đầu với 2 SĐ cơ hữu của B3, trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của CSBV.




Một bất ngờ ngoài dự liệu, là CSBV lần đầu tiên đưa vào chiến trường hai thứ vũ khí mới, vượt trội hẳn của QLVNCH. Đó là xe tăng T-54 và hoả tiễn chống chiến xa AT-3 Sagger của Liên Xô. T-54 vượt trội hơn M-41 của VNCH. Nó tương đương với M-48 Patton của Hoa Kỳ mà Trung đoàn 20 xe tăng VNCH mới được trang bị ngày 23-4-1972.

Hỏa tiễn AT-3 Sagger là loại vác vai, VN gọi là B-72, là hỏa tiễn điều khiển được hướng dẫn bằng dây, rất chính xác, bắn xa 3,000 mét, xuyên thép dày 200 ly ở gốc độ 60, trong vòng 1,000 mét có thể điều khiển bằng mắt. Nếu xa hơn nữa, thì phải dùng ống nhắm. Khuyết điểm của loại hỏa tiễn nầy là nó không chính xác khi bắn gần, ở khoảng cách từ 500 đến 800 m, bởi vì, nó cần 30 giây mới điều chỉnh được, đồng thời mục tiêu có thể di động tránh né. SĐ 320 nằm trong chiến dịch toàn bộ Xuân-Hè 72 trên các chiến trường của các QK 1, 2 và 3 của VNCH.

5.3. Quân Đoàn 2 tái phối trí nhân sự






Thấy tình hình sắp tới rất sôi động và quyết liệt, cố vấn Vann đề nghị Trung tướng Ngô Du thay đổi 2 tướng Tư lịnh SĐ, là Thiếu tướng Lê Ngọc Triển, SĐ 22BB và chuẩn tướng Võ Văn Cảnh, SĐ 23BB, bằng 2 Đại tá Lý Tòng Bá và Lê Minh Đảo, được đánh giá là 2 sĩ quan năng động, có kinh nghiệm chiến trường.

Thấy tướng Ngô Du bị lâm vào tình trạng khó xử, vì phải cần đến J.P. Vann mới có được sự yểm trợ hoả lực của B-52, hai tướng nầy làm đơn xin từ chức.

Tướng Ngô Du chỉ thoả mãn được 50%, là cử Đt. Lý Tòng Bá làm TL/SĐ 23BB và Đt. Lê Đức Đạt làm TL/SĐ 22BB. Việc thay đổi nhân sự nầy gây ra nhiều mất lòng nội bộ.


5.4. Thi hành kế hoạch dụ địch

2 trung đoàn 42 và 47 cùng với Bộ TL/SĐ 22BB được di chuyển từ Bình Định lên Tân Cảnh. Để bảo vệ đơn vị làm mồi nhử nầy, 2 căn cứ hỏa lực Delta và Charlie, trang bị đại bác Bofors và đại liên Vulcan (M-61, “Hỏa Thần”), được thành lập trên sườn đồi để yểm trợ hỏa lực cho Tân Cảnh. Đại liên M-61 là đại liên 12.7 ly, 6 nòng, bắn ra 6,000 phát trong một phút. Toàn bộ chiến xa, pháo binh cơ hữu của SĐ 22 đuợc chuyển lên Tân Cảnh. Đồn Ben Het, kiểm soát cửa ngỏ ra vào QĐ2, được tăng cường Liên đoàn 22 BĐQ. Để bảo vệ Kontum, Bộ TTM tăng cường Lữ Đoàn 2 Dù đến Kontum làm lực lượng trừ bị.

5.5. Bố trí của B3 Cộng Sản Bắc Việt

Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo điều động:

- 2 Sư đoàn. 320 và SĐ2 Sao Vàng
- 1 trung đoàn đặc công
- 2 trung đoàn pháo binh
- 1 tiểu đoàn xe tăng T-54
- 6 tiểu đoàn phòng không
Tổng số khoảng 20,000 người vào mặt trận.

5.5. Diễn biến

5.5.1. Tấn công 5 tiền đồn

Ngày 30-3-1972.

- 2 trung đoàn và 1 tiểu đoàn VC đồng loạt tấn công 5 tiền đồn phía Tây sông Poko, do 3 tiểu đoàn BĐQ/VNCH trấn đóng.

- Tướng Ngô Du cử 2 tiểu đoàn Dù đến tăng cường phòng thủ.

- J.P. Vann gọi phi cơ cường kích (Tấn công mặt đất) từ Thái Lan đến ném bom.

- Không quân Mỹ và Pháo binh VNCH oanh tạc dữ dội.

Trung đoàn 52 CS bị thương quá nhiều, phải bỏ chạy. Cuộc tấn công 5 tiền đồn bị thất bại.

5.5.2. CSBV tấn công căn cứ Delta

Ngày 3-4-1972. 4 giờ sáng

SĐ 320 tấn công biển người vào căn cứ Delta, nhưng gặp sự phản công mãnh liệt của các chiến sĩ Dù. Sau nhiều đợt pháo kích hỏa tiễn 122 ly và súng cối 120 ly, Cộng quân chiếm được hàng rào đầu tiên của căn cứ.

Tướng Ngô Du và Ban tham mưu lên căn cứ Võ Định trên quốc lộ 14 để chỉ huy mặt trận. Cố vấn Vann được tin nầy, rất phấn khởi, cũng bay đến quan sát hai căn cứ Delta và Charlie. Ông Vann thấy rõ một số rất đông VC đang bao vây căn cứ Delta, ông liền gọi phi cơ từ Thái Lan qua oanh kích chung quanh căn cứ nầy. Còn gọi thêm các phi cơ Stinger và Spectre được trang bị đại bác Bofors và đại liên M-61, 6 nòng đến yểm trợ căn cứ nầy.

Chiều ngày 3-4-1972 Cộng quân chưa chiếm được đồn, nhưng các chiến sĩ Dù đã hết đạn, thuốc men và nước uống. Trực thăng Chinook tiếp tế khẩn cấp, nhưng bị bắn rơi bên ngoài đồn. Thấy thế, J.P. Vann liều lĩnh xử dụng trực thăng nhỏ, loại mới nhất của QĐ/HK, là OH-58 Kiowa, chỉ có 2 chỗ ngồi, để tiếp tế. Đích thân ông lái, còn Trung úy Huỳnh Văn Cai, sĩ quan tùy viên, đạp từng thùng đạn, thùng thuốc xuống giữa căn cứ, trong khi phòng không của địch bắn lên tới tấp. Bất chấp nguy hiểm, cố vấn Vann đã tiếp tế đầy đủ đạn dược, thuốc men và mìn chiếu sáng cho căn cứ Delta.

Tướng Tư lịnh phó của Vann là John Hill và Đại tá Joseph Pizzi, TMT, phải kêu lên “Thật là điên rồ!”. Tướng Ngô Du cũng phải khâm phục hành động táo bạo nầy của J.P. Vann.

Kết quả. SĐ 320 bị thảm bại nặng nề tại căn cứ Delta. Hoàng Minh Thảo phải bổ sung quân số cấp tốc cho SĐ nầy. Sau đó 10 ngày, mới có thể tấn công căn cứ Charlie.

5.5.3. Việt Cộng tấn công căn cứ Charlie

Ngày 11-4-1972

- Trung đoàn 52 của SĐ 320 tấn công căn cứ Charlie

- Trung đoàn 64 tấn công căn cứ Rocket Ridge

Hai căn cứ nầy được tăng cường bởi những tiểu đoàn của Lữ đoàn Dù. Cuộc tấn công xảy ra nhiều đợt. Quân CSBV bị pháo binh, Không quân và đặc biệt là phi cơ AC-130 Spectre bắn chận suốt ngày đêm. Phía VC chỉ có đại liên phòng không 12.7 ly và 14.5 ly nên khả năng chống trả yếu ớt.

Đến 11 giờ 30 phút đêm 11-4-1972, một trái hỏa tiễn 122 ly rớt trúng ngay vào hầm chỉ huy làm cho Trung tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn trưởng TĐ 11 Dù, bị tử thương ngay từ giây phút đầu tiên. Những sĩ quan còn lại, thấy địch quá đông, nên rút khỏi căn cứ, bỏ xác Trung tá Bảo ở lại trong hầm, rút về căn cứ Võ Định. Trung đoàn 52 của SĐ 320 chiếm được căn cứ Charlie với cái giá quá đắt về nhân mạng.

5.5.4. Mặt trận Tân Cảnh

* Kẻm gai bọc xác anh hùng

Tân Cảnh được chọn làm mục tiêu làm mồi nhử SĐ 320 của CSBV.

Lực lượng VC:

- Sư đoàn 2
- Tiểu đoàn Đặc công 37
- Đại đội xe tăng T-54
- Đại đội hỏa tiễn chống xe tăng AT-3 Sagger

Ngày 24-4-1972.

- 8 giờ sáng, căn cứ trung đoàn 47 bị tấn công

- 11 giờ, căn cứ trung đoàn 42 bị tấn công. Đại tá Lê Đức Đạt, Tư Lịnh SĐ/22BB bị tử thương.

* Tướng VC Hoàng Minh Thảo thấy Lữ đoàn Dù đóng ở Kontum rút đi tăng cường cho mặt trận Quảng Trị, lực lượng QĐ2 yếu đi, bèn đưa xe tăng T-54 và hỏa tiễn AT-3 Sagger vào tấn công Tân Cảnh.

Ngày 21-4-1972, Cộng quân bao vây Tân Cảnh

Ngày 23-4-1972, Cộng quân vẫn dùng “Tiền pháo hậu xung”, pháo kích tới tấp vào Tân Cảnh bằng hỏa tiễn 122 ly.

- 10 xe tăng M-41 ra bảo vệ. Bị hỏa tiễn AT-3 bắn cháy 8 chiếc, 2 chiếc bị đứt xích.

- Thiếu tá Như và Đại úy Kenneth Yonan, 23 tuổi, tốt nghiệp võ bị Wespoint, leo lên tháp nước cao của căn cứ, dùng đại liên 12.7 ly chống trả. Một hỏa tiễn trúng vào, bồn nước nổ tung, cả hai cùng chết tại chỗ. Hoa Kỳ và Việt Nam cùng hy sinh trên một mặt trận.

- Trung tướng Ngô Du xử dụng hỏa lực Không quân tối đa, để yểm trợ cho Đt. Đạt.
10 giờ tối.

Địa phương quân người Thượng ở Dakto, cách Tân Cảnh 2 km, báo cáo, là đã thấy 15 chiếc T-54 xếp hàng dọc chạy về phía Tân Cảnh. Phi cơ AC-130 tác xạ ngăn cản nhưng không có hiệu quả, vì không có vũ khí chống xe tăng, nhất là xe tăng mới, xuất hiện lần đầu tiên trên chiến trường VN với vỏ thép rất dầy.

Mỗi ngày, Tân Cảnh chịu hơn 1,000 hoả tiễn 122 ly và súng cối 120 ly.

Buổi sáng hôm đó, một xe tăng M-41 thuộc Thiết đoàn 19, trấn giữ ở cổng chính của căn cứ, bị phá hủy bằng đạn xuyên phá. Lúc đầu cho rằng do B-40, nhưng sau khi xem xét, ban cố vấn Mỹ xác nhận đó là vũ khí chống xe tăng loại mới, hỏa tiễn AT-3.

Những đợt pháo kích, phá hủy phần lớn Trung tâm hành quân của SĐ 22BB. Phòng tuyến và quân dụng bị thiệt hại nặng nề, 20 quân nhân chết và bị thương.
Đến tối, phi cơ AC-130 dùng hồng ngoại tuyến, phát hiện 18 xe tăng T-54 trên đường đến Tân Cảnh.

6 giờ sáng 24-4-1972, Cộng quân chọc thủng phòng tuyến phía Bắc.


Đại úy Charles Carden, cố vấn trung đoàn 47 thuật lại, khoảng một giờ sau khi bị tấn công, một trực thăng UH-1 đến Dakto đón 6 cố vấn Mỹ, nhưng trực thăng bị trúng đạn, rớt và bốc cháy trong chu vi phòng thủ.

Đại tá Philip Kaplan gọi máy yêu cầu J.P. Vann lên cứu. Ông Vann đã đáp trực thăng tại một khu vực nhỏ, kế bên một bãi mìn. Đt. Kaplan cho Đt. Đạt biết, và đề nghị ông cùng lên trực thăng cấp cứu của cố vấn Vann. Dù biết được tình hình bi đát, nhưng Đt. Đạt từ chối, và ông cũng không yêu cầu Trung tướng Ngô Du lên cứu ông. Hai chiếc T-54 đã lọt vào trung tâm phòng thủ, và chạy về 2 hướng khác nhau. Liền sau đó, 2 chiếc M-41 thuộc chi đoàn 1/14, mỗi chiếc bắn 3 quả đại bác 76 ly vào đúng cạnh sườn của chiếc T-54. Bị trúng đạn, T-54 bốc khói nhưng chưa bị hạ. Chiếc T-54, vỏ thép dày 105 ly, nặng 36 tấn, đã phục hồi mau lẹ, và quay súng bắn hạ chiếc M-41 bằng 2 quả 100 ly, rồi bắn tiếp phát thứ ba hạ chiếc M-41 còn lại. Đt. Đạt ra lịnh cho các sĩ quan và binh sĩ thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Đt. Tôn Thất Hùng thoát ra được, nhưng bị thương. Ông chạy vào một buông Thượng gần đó. Nhờ biết tiếng Thượng, ông được một gia đình che dấu và bảo vệ cho ông về đến thị xã Kontum 15 ngày sau đó.

Đại tá Lê Đức Đạt ở lại căn cứ. Anh Hưng, người mang máy truyền tin liên lạc cho biết, Đt. Đạt đã yêu cầu pháo binh bắn vào sân cờ của căn cứ vì xe tăng của VC đã vào tới nơi rồi. Hưng cho biết, khi đến hàng rào, một trái đạn nổ, Đt. Đạt bị kẻm gai quấn vào người, anh không thể gở ra được, vì không có kềm cắt kẻm gai. Đt. Đạt đã hy sinh.

Kẻm gai bọc xác anh hùng.


5.5.5. Trận Kontum .



Tân Cảnh mất. Đại tá Đạt tử trận. Sư đoàn 22BB bị tan rả. Trung tướng Ngô Du tái phát bịnh tim, nên Tổng thống Thiệu bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn làm Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Đại tá Lý Tòng Bá làm Tư lịnh chiến trường bảo vệ Kontum. Quân CSBV bị tổn thất nặng nề, nên không có thể “Thừa thắng xông lên” sau trận Tân Cảnh. Mãi đến gần một tháng sau, mới bắt đầu tấn công Kontum. Nhưng lần nầy, Hoàng Minh Thảo đại bại, vì mất 15,000 quân, một sư đoàn rưởi.

Tấn công Kontum, Hoàng Minh Thảo chia quân làm 3 mũi:
- Hướng Bắc. SĐ 2

- Hướng Tây. SĐ 320
- Hướng Nam. SĐ 968. Là SĐ đa số là người Lào, nhiệm vụ chính là bảo vệ đường mòn HCM về phía Tây Trường Sơn.

Phía VNCH

- SĐ 23BB
- Lữ đoàn 2 Thiết giáp của Đại tá Nguyễn Đức Dung
- 1 Liên đoàn Biệt Động Quân + Tiểu đoàn 7 Dù
- 20 chiếc thiết giáp
Chỉ huy:
- Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn
- Đại tá Lý Tòng Bá
- Cố vấn J.P. Vann
Kế hoạch xử dụng 100 Box B-52
Diễn tiến
Ngày 13-5-1972

Nhân viên kỹ thuật báo cáo, nhận được mật điện của Hoàng Minh Thảo, Chỉ huy trưởng B3: “Mũi tấn công hướng Bắc-SĐ2. Stop. Tăng cường mỗi SĐ 10 T-54 Stop. Ngày giờ tấn công Stop. Ngày giờ tấn công 05G00 ngày 14-5-1972 Stop.”

Thiếu tướng Toàn và Đt. Bá đi từng hầm phòng thủ, động viên và khích lệ binh sĩ. Cho biết, khi súng nổ thì B-52 dội bom trên đầu địch. Tại hầm chỉ huy, Tướng Toàn, Đt. Bá, Paul Vann và Đt. Rhotenberry nghiên cứu bản đồ, thảo luận vị trí từng Box B-52. Cố vấn Vann gọi máy cho Trung tướng Chỉ huy trưởng Không quân Chiến lược (Strategy Air Command) tại Thái Lan, thảo luận về thể thức chuyển đổi các Box B-52 cho thích hợp với tình hình mặt đất. Paul Vann cũng điện đàm với Tướng Creighton Abrams xin được xử dụng 25 Box B-52 yểm trợ cho cả 4 Vùng chiến thuật. Đề nghị được chấp thuận. Mỗi Box dài 3 km, rộng 1 km, được thả bằng 3 chiếc B-52 với trên 100 quả bom đủ loại, từ 100 đến 500 pounds.
Đêm 13 rạng 14-5-1972. Tướng Toàn, Paul Vann và hai bộ Tham mưu Việt-Mỹ, thức suốt đêm, theo dõi từng phút và hồi hộp chờ đợi giờ G. Phi đoàn A-37 của SĐ 6 KQ túc trực 100%.

Chiếc trực thăng của Tướng John Hill, Tư lịnh phó của Vann, gấp rút gắn thêm 2 đại liên 6 nòng ở hai bên. Xạ thủ túc trực tại trực thăng. Tướng John Hill đang nghỉ dưỡng sức ở Cam Ranh, chờ về nước, đã tình nguyện trở lại góp phần bảo vệ Kontum. Nhiều cặp trực thăng võ trang Cobra của HK cũng ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Hai phi đoàn B-52 từ đảo Guam và Sattahip Thái Lan, đã cất cánh, xuất hiện trên bầu trời Thái Bình Dương. Tất cả hồi hộp đợi giờ tấn công.

Giờ G, 05G00 mà mật điện ra lịnh tấn công. Kém 5 phút đúng 5 giờ sáng, Đt. Bá báo cáo lớn tiếng trên máy. Địch bắt đầu nổ súng. Trực thăng của Tướng Hill cất cánh đầu tiên, tiếp theo là Vann và Tướng Toàn bay về hướng Kontum trong sương mù. Cố vấn Vann ra lịnh cho B-52 đúng 5 giờ sáng, đồng loạt bấm nút thả 3,000 quả bom đủ loại lên đầu 2 SĐ 320 và SĐ2 Sao Vàng.

Tiếng nổ long trời lở đất, khói bụi mịt mù. Diện tích trải thảm là 72 Km2. Tiếp theo, từng đoàn A-37. AD-6 của SĐ 6 KQ bay vào mục tiêu, tiếp tục xạ kích vào các chiến xa và ổ phòng không còn lại. Nhiều nhóm Cộng quân ngất ngư, hốt hoảng chạy lùi về phía sau, lại bị đại liên 6 nòng của Tướng Hill, bọc hậu thanh toán tại chiến trường.

Một giờ sau, Tướng Toàn và cố vấn Vann bay vào vùng thả bom, quan sát. Xác Cộng quân nhiều đếm không xuể. Vann thấy một số Cộng quân lảo đảo trong các hố bom, đã hạ xuống thấp để cho Trung úy Huỳnh Văn Cai dùng M-16 thanh toán đám tàn quân.

Kế hoạch trải thảm B-52 dứt điểm cuộc tấn công của 2 SĐ CSBV vào Kontum. Sau trận đánh, binh sĩ VNCH đặt cho cố vấn Vann là “Ông B-52”. CSBV thiệt hại nặng nề. Theo ước tính của HK, thì B3 của Hoàng Minh Thảo tổn thất 15,000 người, một sư đoàn rưởi. 30 chiếc T-54, nhiều đại bác, pháo phòng không bị phá hủy.

Ngày 31-5-1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên Kontum ủy lạo binh sĩ và gắn cấp bậc Chuẩn tướng cho Đại tá Lý Tòng Bá.

6* Kết

John Paul Vann và 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh tánh mạng trên các chiến trường Việt Nam, đã sống và đã chết cùng với những anh hùng liệt sĩ Việt Nam, thể hiện cái lý tưởng bảo vệ tự do của người Mỹ, đối với người dân miền Nam Việt Nam.

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh phát biểu, chúng ta mắc nợ 58 ngàn quân nhân đó, mắc nợ nước Mỹ, tuy họ không đòi, nhưng chúng ta nên nhớ và có bổn phận phải trả.

Kỷ niệm ngày Memorial Day 2012
Trúc Giang
Minnesota ngày 20-5-2011

Wednesday, 13 December 2023

TRÚC GIANG MN: Chữ MN đính kèm là viết tắt Minnesota là TB ông Lâm Văn Khanh hiện định cư. (Rất có thể ông ấy kèm MN để phân biệt với TRÚC GIANG là cha của Trúc Hồ nằm vùng cùng nhóm Ca Văn Thỉnh, Đại sứ của hà nội ở Miên, cánh tay mặt của Ku Hồ?)./-Mt68

____________________

X.92, Điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA.

21/03/2023
Tìm hiểu
ARVN

Về tình báo trong chiến tranh Việt Nam, điệp viên Võ Văn Ba dường như không có ai nhắc đến, cho mãi đến những năm sau nầy, hai điệp viên của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, CIA, mới tiết lộ và xác nhận Võ Văn Ba là người gián điệp giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA trong chiến tranh Việt Nam.


Trong hai ngày 20 và 21 tháng 10 năm 2008,  Trung tâm Việt Nam của Đại học Công nghệ Texas, đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề “Tình báo trong chiến tranh Việt Nam”. Diễn giả là những chuyên viên CIA đã từng phục vụ ở Việt Nam.


Trong bài diễn thuyết của ông Merle Pribbenow, một cựu nhân viên CIA, hoạt động tại Sài Gòn từ 1970 đến 1975, mang đến bài thuyết trình “Những điệp viên vô danh nổi tiếng nhất trong cuộc chiến Việt Nam”. Người Mỹ đã sử dụng tình báo trong hàng ngũ Cộng Sản có bí danh X.92, tên Võ Văn Ba. Võ Văn Ba là người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Orin DeForest, nhân viên CIA phục vụ 6 năm ở Việt Nam, nhắc đến tên Võ Văn Ba có mật danh là “Reaper” trong cuốn sách “Slow Burn: The Rise and Bitter Fall of American Intelligence in Việt Nam”. Một chuyên viên khác của CIA, John Sullivan, nói ông Ba là “Điệp viên giỏi nhất mà chúng ta từng có ở Việt Nam”.


Trong cuốn tiểu sử về sếp CIA ở Sài Gòn là Ted Shackley, tác giả David Corn nêu ra một sự đánh giá thời hậu chiến của CIA, rằng điệp viên nầy “là nguồn tin đáng tin cậy nhất về ý định của Cộng sản” ở Việt Nam. Ông Frank Warren Snepp, chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) đã có đôi lần gặp người nầy, và gọi ông ta là “Điệp viên hàng đầu của chúng ta” ở Việt Nam.


Để bảo đảm bí mật, chỉ có một sĩ quan Cảnh sát Đặc biệt là Thiếu tá Phan Tấn Ngưu được liên lạc với Võ Văn Ba ở Tây Ninh.


Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu cho biết, năm 2010, ông Pribbenow đến tìm gặp ông, xin chi tiết về Võ Văn Ba để ông hoàn thành cuốn sách, về tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Ông Ngưu cảm thấy khó xử, vì ngoài ông Võ Văn Ba ra, còn có nhiều người khác đã tham gia vào các công tác, hiện còn sống ở Việt Nam, nên ông chỉ cho biết về hoạt động của Võ Văn Ba mà thôi.


Trong một đoạn hồi ký của Thứ trưởng Công An Hà Nội, “55 Năm một chặng đường”, Trần Xuân Viên nói về ông Võ Văn Ba, làm nội tuyến cho Việt Nam Cộng Hòa tại Trung Ương Cục Miền Nam. Trần Xuân Viên nói “Võ Văn Ba là một nội gián quan trọng. Y đa chui sâu, leo cao vào nội bộ ta. Trong 10 năm, y đã thu thập rất nhiều tin tức quan trọng cho địch”.


Vài nét về Võ Văn Ba


Võ Văn Ba sinh năm 1923 thuộc tỉnh Tân An. Năm 1945, ông và người chú theo Việt Minh. Ông là một đảng viên tích cực, được giao nhiệm vụ tuyển mộ thành viên trẻ theo Việt Minh. Ông trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Ông rời bỏ Việt Minh năm 1954. Không tập kết ra Bắc.


Có một thời gian ông làm việc cho một đơn vị quân đội Mỹ, và sau cùng về định cư trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Vợ ông bán rau quả ở chợ Long Hoa. Ông có con, một trai, một gái.


Võ Văn Ba và gia đình định cư ở nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông làm rẫy ở ven đường mà cán bộ Việt Cộng thường xuyên qua lại, để vào căn cứ của Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam, trong một hang động dưới chân núi Bà Đen. Gặp gỡ thường xuyên, quen mặt nhau, nên cán bộ VC cố thuyết phục ông Ba gia nhập Đảng.


Vì hiểu rõ bản chất của Việt Cộng, nếu không theo họ thì có thể bị thủ tiêu để loại bỏ cái chướng ngại nầy. Ông Ba đồng ý chấp thuận. Và sau đó được làm ủy viên tin cậy của Cục R. Theo VC thì lại lo ngại hai cơ quan là An ninh Quân đội và Cảnh sát Quốc gia. Ông Ba đến người chú, đang là sĩ quan của Cục An ninh Quân đội, xin được làm điềm chỉ viên. Kế đến, người chú đề nghị CSQG thu nhận ông Ba cũng được làm điềm chỉ viên. Thiếu tá Cảnh sát Phan Tấn Ngưu, thuộc khối Đặc biệt, được chuyển đến Tây Ninh để trực tiếp liên lạc với Võ Văn Ba thông qua những hình thức “giao liên”.


Việt Cộng giao nhiệm vụ cho Võ Văn Ba


Ông Ba tuyển mộ cán bộ mới, để thành lập những chi bộ, giúp ông để kiểm soát mọi hoạt động trong Tòa Thánh, tuyên truyền để tranh thủ những tín đồ Cao Đài theo VC. Tuyên truyền gây chia rẽ trong nội bộ các chức sắc Cao Đài. Ám sát những người thân chính quyền quốc gia. Trong lịch sử Cao Đài, đã có những vụ ám sát như các ông: Cao Hoài Sang, Trương Hữu Đức, Trung tá Nguyễn Văn Nhã, giữ chức Thượng chánh Phối sư...


Trung ương Cục miền Nam Việt Nam


   blank blank blank

       Hội trường Cục R *             Nhà Võ Văn Kiệt *              Nhà Phạm Hùng

blank  blank 

Từ trái: Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh *  Lê Đức Thọ  Nguyễn Thị Định 


Trung ương Cục Miền Nam Việt Nam, là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam. Là cơ quan chỉ đạo trực tiếp cuộc chiến, đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Trung ương Cục còn được gọi là B2, Cục R. Ban Chấp hành của Cục R theo thời gian gồm những người như sau: Nguyễn Văn Linh (Bí danh Mười Cúc), Võ Chí Công (Võ Toàn, Trần Nam Trung (Hai Hậu), Phạm Văn Xô (Hai Xô), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Lê Đức Thọ (Khai sanh Lê Văn Nhuận, bí danh Anh Ba), Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Văn Trà (Tư Chi), Hoàng Văn Thái (Mười Khang), Lê Đức Anh (Sáu Nam) Trần Độ (Chín Vinh), Đồng Văn Cống... Trung ương Cục Miền Nam dựng lên cái tổ chức bù nhìn là “Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, và “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, gồm có:  KTS Huỳnh Tấn Phát, LS Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình. BS Dương Huỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Trần Bạch Đằng, Trần Bửu Kiếm, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Đại đức Sơn Vọng, Nguyễn Văn Hiếu, Y Bih Aleo…


Do quân đội Việt Nam Cộng Hòa liên tục tấn công nên Cục R phải chạy sang lãnh thổ Campuchia ở vùng Mỏ Vẹt, Móc Câu, được Quốc Trưởng, Hoàng thân Norodom Sihanouk cho phép. Cộng quân thì chạy sang Nam Lào.


Võ Văn Ba nằm ở Trung ương Cục, được tiếp cận với những ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, xem như nằm tại Bộ Chính Trị Đảng ở Hà Nội. Vị trí của Võ Văn Ba rất quan trọng, vì trước đó và sau đó, không có một gián điệp nào nằm vùng ở Bộ Chính Trị Đảng CSVN cả. Trường hợp có một không hai, ngàn năm một thuở.


Những thông dịch viên của cố vấn Mỹ tỉnh Tây Ninh


Cố vấn Mỹ ở phòng Cảnh sát Đặc biệt của ty Cảnh sát Tây Ninh có ba thông dịch viên. Riêng về hồ sơ của X.92 thì chỉ có một thông dịch viên phụ trách, không kiêm nhiệm các vụ việc khác. Nhiệm vụ chính của thông dịch viên nầy là chỉ dịch những văn bản tiếng Việt ra tiếng Anh mà thôi. Điều kiện của thông dịch viên được quy định như sau: Không phải là người ở Tây Ninh. Không có bà con, thân thuộc nào sinh sống ở Tây Ninh.


Sau 4 năm công tác ở Tây Ninh, cố vấn Mỹ đã lần lượt có 3 thông dịch viên là: Nguyễn Sĩ Phong, Nguyễn Cao Quan, Nguyễn Thanh Trang. Trường hợp của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong, ông là người miền Bắc, là người nhanh nhẹn thi hành công tác giao phó, có nhiều khi phải thức suốt đêm để dịch những báo cáo viết tay, và những tài liệu in ấn chiếm vài ba chục trang giấy. Ông kết hôn với một phụ nữ Tây Ninh, vi phạm điều 2, nên bị chuyển đến làm thông dịch ở Phòng cố vấn CIA thuộc Tổng Lãnh sự Mỹ vùng II, Ban Mê Thuột.


Ngày 10-3-1975, Việt Cộng chiếm Ban Mê Thuột, Ông Phong đưa gia đình đến nhà của ông Paul Struharick, CIA đại diện của USAID. Ông Struharick là CIA cuối cùng bị kẹt lại Ban Mê Thuột nên bị Việt Cộng bắt cả hai. Do bị tra khảo, Nguyễn Sĩ Phong khai Võ Văn Ba là gián điệp của CIA.


Thiếu tá Phan Tấn Ngưu lập hệ thống liên lạc


Võ Văn Ba cư ngụ trong nội ô Tòa Thánh Tây Ninh. Nội ô là khuôn viên hình thang rộng khoảng 1 km², cách thành phố Tây Ninh khoảng 5 km. Công việc quan trọng nhất của điệp viên Võ Văn Ba là chuyển những tin tức tối mật của Việt Cộng, ở Cục R miền Nam, cho tình báo Việt Nam Cộng Hòa và CIA. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và Võ Văn Ba lập hệ thống liên lạc. Đó là hệ thống “giao liên”, có hai yếu tố bí mật và an toàn hàng đầu. 


Việc liên lạc giữa nơi gởi và nơi nhận chỉ cách nhau có 5 Km. Võ Văn Ba đã sử dụng ba phương tiện để chuyển tin tức, là liên lạc máy vô tuyến Walkie-Talkie, hộp thơ chết, và hộp thơ lưu động. Có 3 hộp thơ chết, 2 đặt trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, 1 đặt ở ngoại ô, gần tỉnh lỵ.


Phương tiện vận chuyển của Tây Ninh là xe lôi, tức là xe gắn máy kéo cái rờ-mọt (trailer) chở người. Xe mang số giả. Tài xế và 2 nữ sinh đều là nhân viên đặc nhiệm, mang 2 cái cặp da giống nhau, đón xe ở hai ngả đường khác nhau. Sau khi trao hai cái cặp da, lần lượt xuống xe, ở 2 khoảng đường khác nhau. Loại hộp thơ lưu động nầy, X.92 viết báo cáo sau khi đi họp ở T.Ư.C., hoặc đi công tác về. Bấm máy walkie-talkie cho biết.


Khi mở cái cặp da ra, trong đó có bản sao Nghị Quyết của Bộ Chính trị Hà Nội, và một chỉ thị của Cục R cho biết Hiệp định Paris sẽ ký kết vào ngày 30-10-1972 (Thật ra Hiệp định được ký vào ngày 27-1-1973), trong đó có một điều khoản rất quan trọng là Hoa Kỳ và VNCH chấp nhận cho bộ đội Cộng sản Bắc Việt được ở lại miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống.


Phần chỉ thị của Cục R, là các nơi phải dốc toàn lực để “giành dân lấn đất”


Thiếu tá Phan Tấn Ngưu liên lạc với cố vấn Mỹ, cùng ở ty Cảnh sát Tây Ninh, yêu cầu cho một phi cơ để mang tài liệu về Bộ Tư lệnh CSQG. Cố vấn Mỹ cũng được nhận bản sao để gởi cho Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Vụ việc được đưa lên Tổng thống Thiệu. Đọc xong, ông mời Đại sứ Mỹ đến để hạch hỏi về việc Mỹ qua mặt VNCH, ông dọa là có thể rút phái đoàn VNCH ra khỏi cuộc hòa đàm.


Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Việt Cộng chủ trương “giành dân lấn đất” bằng cách treo cờ của Mặt Trận Dân tộc Giải phóng, ở những vùng xa các đồn bót của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cờ 3 màu, trên đỏ dưới xanh, ở giữa có ngôi sao vàng. Ban đêm du kích treo cờ ở những cành cây, sáng ra dân vệ đi hạ cờ.


Chính phủ cấp cho mỗi gia đình 10 tấm tôn để lợp nhà, trên mỗi tấm tôn có hình cờ vàng 3 sọc đỏ của VNCH. Trên máy bay nhìn xuống thì thấy cả khu vực toàn là nhà có cờ của VNCH. Đồng thời cấm các chợ trong khu vực không được bán vải màu đỏ, màu xanh và màu vàng để may cờ của VC.


Xin hoãn dịch cho con của Võ Văn Ba


Con trai của Võ Văn Ba là Võ T. D, thi đậu Tú tài I năm 1971, nhưng thi rớt Tú tài II liền 2 năm. Đã hết hạn hoãn dịch vì lý do học vấn, nên phải thi hành quân dịch. Có Tú tài I thì được đưa vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Mãn khóa mang lon chuẩn úy của quân độ VNCH.


Có con là sĩ quan VNCH, thì chắc chắn Võ Văn Ba sẽ bị Việt Cộng cho hạ tầng công tác, hoặc khai trừ. Vụ việc không tốt nầy, sẽ làm mất một nguồn tin, ngàn năm có một của tình báo VNCH và của CIA. Thế là Thiếu tướng Tư Lịnh Cảnh sát Quốc gia Nguyễn Ngọc Loan yêu cầu Nha Động viên Bộ Quốc phòng, cấp giấy hoãn dịch cho con của Võ Văn Ba.


Một tuần lễ sau, giấy hoãn dịch do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm, Giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng ký, đã đến tay Võ Văn Ba.


Cảnh sát Đặc biệt và CIA dàn dựng những vụ việc để giúp X.92 được Việt Cộng tin cậy


Để giúp Võ Văn Ba được Việt Cộng tin cậy, gồm những việc như sau:


1) Rải truyền đơn chống những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH. Trong những ngày Lễ Vía của đạo, cảnh sát chìm VNCH mặc quần áo lễ phục, ban đêm, dùng xe gắn máy rải truyền đơn ở những con đường quy định. Truyền đơn lên án những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH, cụ thể là việc chỉ điểm để bắt giữ những thanh niên trốn quân dịch đang ẩn náu trong nội ô Tòa Thánh. Sau khi rải, cảnh sát đi nhặt truyền đơn, và Phòng thông tin tỉnh phát loa lên án Việt Cộng.


2) Đặt chất nổ: Trên con đường dẫn đến trụ sở của Trung ương Cục, có những trạm do dân vệ kiểm soát sự ra vào của Việt Cộng. Tỉnh trưởng Tây Ninh và Cố vấn Mỹ đồng ý cho thực hiện, dùng chất nổ, đã thu được của Việt Cộng, để phá vỡ các trạm kiểm soát. Phía Mỹ đồng ý xuất tiền xây dựng lại các trạm bị phá. Đến ngày thực hiện, cảnh sát Tây Ninh sẽ rủ rê các dân vệ đến nhậu ở một quán nào gần đó. Sau vụ nổ, Phòng thông tin tỉnh lại phát loa tố cáo Việt Cộng. Hình ảnh cảnh đổ nát được đưa lên báo. Tỉnh trưởng Tây Ninh làm giấy khiển trách, những người có trách nhiệm ở các trạm kiểm soát.


Cục R cũng biết đó là những hành động của X.92 nên càng tin tưởng hơn.


X.92 thông báo về cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy” Tết Mậu Thân 1968


X.92 Võ Văn Ba thông báo cho Cảnh sát Đặc biệt Tây Ninh, là Hà Nội sẽ tổng công kích vào Tết Mậu Thân 1968, mặc dù hai bên đã tự tuyên bố ngừng bắn. Về phần cảnh sát, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan ra lịnh cấm trại 100% trên toàn quốc. Các đơn vị phải đào hầm chung quanh hoặc lập những công sự, để phòng thủ và chiến đấu. Riêng quân đội VNCH thì vẫn cấm trại 50% như thường lệ. Tổng thống Thiệu thì đi Mỹ Tho ghé thăm mẹ vợ. Tướng Vĩnh Lộc, Tư lịnh Quân đoàn 2 thì bay về Sài Gòn mừng tuổi, và chúc Tết mẹ. Ngay trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán, vào ngày 31-1-1968, Việt Cộng đã đồng loạt tấn công vào hầu hết các đô thị miền Nam. Đó là kế hoạch gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy”. Các đô thị bị tấn công gồm có: Kontum, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Đà Lạt, Phanh Thiết, Tây Ninh, Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, Phú Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ở Sài Gòn, Cộng quân đã đánh chiếm cổng số 4 của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH. Riêng thành phố Huế, thì chỉ có các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương đã chiếm Huế 26 ngày, và giết 4,000 người, đa số là thường dân và những người làm việc cho các cơ quan chính quyền, như giáo viên, công chức các ngành nghề… chủ yếu là chôn sống ở các hố chôn tập thể.


X.92 báo tin Việt Cộng quyết đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh


Vào tháng 12 năm 1971, X.92 Võ Văn Ba được lịnh đến họp khẩn cấp tại Chiến Khu Đ. Tại buổi họp, Võ Văn Ba được chỉ thị phải về họp gấp các chi bộ trực thuộc, để phổ biến lịnh của Bộ Chính Trị, là phải đánh chiếm cho được Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh, để mặc cả với VNCH trên bàn Hội nghị Paris. Kế hoạch cụ thể có hai phần, thực hiện đồng bộ với nhau, bên ngoài thì bộ đội tấn công đánh chiếm Tòa Thánh. Đồng thời, bên trong, X.92 xách động tín đồ biểu tình phản đối, yêu cầu quân đội VNCH không được bắn vào bộ đội Việt Cộng đang đánh nhau ở bên trong để chiếm Tòa Thánh.


Biểu tình nêu lý do, là để bảo vệ kiến trúc Tòa Thánh và bảo vệ tánh mạng của tín đồ.


Đó chỉ là kế hoạch trên lý thuyết.


Khi báo cáo của X.92 được Đại tá tỉnh trưởng Tây Ninh, Lê Văn Thiện, đưa về Sài Gòn, thì Tổng thống Thiệu ra lịnh phải bảo vệ Tòa Thánh bằng mọi giá. Từ đó, có những buổi họp từ Tư lệnh Quân đoàn 3, Sư đoàn 25 BB, và các đơn vị liên hệ. Công binh VNCH đào giao thông hào toàn bộ phía Bắc tỉnh Tây Ninh, để chống thiết giáp Việt Cộng.


Giao thông hào chỉ là cái vỏ bọc ngoài, thực chất bên trong là hệ thống mìn các loại, được đặt song song bên cạnh giao thông hào. Ban đêm, phi cơ trinh sát, thám sát cả vùng phía Bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Trong khi đó, các đơn vị của Liên đàn 81 Biệt Cách Dù ngày đêm bám sát hoạt động của Việt Cộng.


Đến đầu tháng 4 năm 1972, lúc 2 giờ sáng, những tiếng nổ đồng loạt vang lên, kể cả pháo binh. Vì pháo binh VC đặt khá xa, nên đạn chỉ rơi ở bên ngoài tỉnh lỵ. Tổn thất không đáng kể.


Các đơn vị bên ngoài báo cáo về phòng chỉ huy tỉnh, là chỉ có bộ binh mà không có thiết giáp. Có lẽ do phi cơ thám thính liên tục nên VC không dám dùng thiết giáp. 5 giờ sáng hôm sau, tiếng súng thưa dần rồi im bặt. Khi trời sáng, các nơi báo cáo, dọc theo giao thông hào có đầy vết máu, một số xác chết chưa kịp mang đi. Cộng quân chết vì mìn đặt song song với giao thông hào.


Nhờ tin tức do X.92 cung cấp nên Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh được giữ nguyên vẹn.


X.92 mang Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị tháng 1 năm 1975 về Sài Gòn

Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa: Quân đoàn 2 tan rã ngày 10-3-1975. Quân đoàn 1 tan rã ngày 29-3-1975. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975. Mỹ cúp viện trợ nên quân đội VNCH thiếu thốn về mọi mặt.


Chính X.92 mang toàn bộ Nghị quyết 24 về Sài Gòn.

Nghị quyết chỉ nói tổng quát là bộ đội các cấp nỗ lực tấn công các kho nhiên liệu của miền Nam. Pháo binh và thiết giáp tấn công vào các mục tiêu chiến lược.


Tổng thống Thiệu từ chức, không thành vấn đề. Việc thành lập chính phủ ba thành phần, cũng không thành vấn đề.


Giải pháp quân sự dứt điểm cuộc chiến, quyết chiếm Sài Gòn, để lập thành tích cho kịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 5. Thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Cộng Sản.


Nhân vật Út Tặng


Trong phần thuyết trình của ông Merle Pribbenow, có đề cập đến nhân vật Út Tặng.


Do những tổn thất không nhỏ, nên Việt Cộng nghi ngờ có nội gián. Đến cuối năm 1971, Bí thư huyện ủy quận Phú Khương đã chỉ thị cho một nữ cán bộ tên Út Tặng, sống hợp pháp ở khu vực chợ Long Hoa gần nhà X.92, theo dõi, điều tra về Võ Văn Ba. Hằng ngày Út Tặng đạp xe đạp chở rau quả đi bán hàng rong trong khu vực nhà của ông Ba.


Thiếu tá Phan Tấn Ngưu thuật lại, khi gặp X.92 tại nhà an toàn, ông cho biết y thị hoạt động rất hăng say và rất nguy hiểm. Mặc dù là cán bộ cấp huyện, nhưng trong vài lần họp cấp cao ở mật khu, y thị có tham dự. Ông Ngưu cho biết, chỉ hai ngày sau, ông đã bí mật bắt cóc Út Tặng trên đường bán hàng rong ở chợ Long Hoa.


Khi báo cáo về Tổng Nha CSQG, thì Đại tá  Huỳnh Thới Tây, Trưởng Khối Đặc biệt, ra lịnh phải mang y thị về cơ quan D6. Y thị bị giam giữ cho đến ngày 30-4-75.


Thiếu tá Ngưu không cho X.92 biết vụ bắt cóc, vì sợ rằng ông mất đề cao cảnh giác trong công tác. Khoảng một năm sau, Cục R cho biết Út Tặng đã mất tích và chỉ thị cho X.92 dò xét xem Út Tặng bị giam ở đâu, sống chết thế nào.


Ông Frank Snepp muốn gặp tận mặt X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh gởi về


blank blank 

                      Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và ông Frank Nepp


Frank Snepp là chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) của CIA. Ông muốn gặp X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh đã gởi về. Được ông Ba đồng ý. Cảnh sát và CIA Tây Ninh thực hiện. Ông Ba nói với vợ là ông đi khám bịnh ở bịnh viện Tây Ninh, rồi đi họp ở Cục R. Ở bịnh viện, ông vào một phòng không có bác sĩ và y tá. Lách ra cánh cửa để vào một phòng trống, nằm trên một băng ca, đắp tấm vải trắng phủ cả người, như một người chết. Hai nhân viên đặc vụ đưa băng ca lên xe hồng thập tự chạy ra phi trường Tây Ninh.


Đến trọ tại một phòng của khách sạn sang trọng ở Sài Gòn, phòng bên cạnh là của ông Frank Snepp. Thế là câu chuyện nghiệp vụ được thực hiện. Ông Snepp công nhận tài liệu mà CIA đã nhận được là chính xác.


Mỗi lần ra ngoài, X.92 đều ngụy trang. Tóc giả, râu giả, mang kiếng đen thật to để đi “tham quan” thành phố Sài Gòn.


Ông Snepp cho biết X.92 có một trí nhớ phi thường. Đọc qua một văn bản, ông thuộc lòng những chi tiết cần thiết.


Ông Ba rất thích bia Budweiser và thuốc Salem.


Ông Snepp nêu nhận xét, Võ Văn Ba là người yêu nước được CIA đặt cho cái biệt hiệu “TU Hackle và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch”.


Sau ba ngày, ông về Tây Ninh và được Thiếu tá Phan Tấn Ngưu đón về, cũng theo thể thức của ngành tình báo.


Số phận của Võ Văn Ba

Vào tháng 3 năm 1975, cố vấn Mỹ nêu ý kiến, đưa X.92 cùng gia đình di tản sang Mỹ.


Ông Ba từ chối, cho rằng ông đã già (52 tuổi) nên khó khăn lập nghiệp ở Mỹ. Cuối cùng ông Ba cho biết, ông sẽ trở lại cuộc sống bình thường. “Nếu Cộng Sản chiếm miền Nam tôi sẽ tự tử”.


Kết luận


Ông Võ Văn Ba sống an toàn cho đến hết ngày 30-4-1975. Do lời khai của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong ở Ban Mê Thuột, nên ông Ba bị bắt ngày 1-5-1975. Bị giam ở Tây Ninh, rồi chuyển về giam tại Tổng Nha Cảnh Sát (Trước 1975).


Ông dùng dây lưng quần siết cổ tự tử vào ngày 8-6-1975. “Võ Văn Ba là người yêu nước, là điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA”


– Trúc Giang MN

(Minnesota ngày 21-3-2023)