Một chút suy nghĩ của Mt68:
*Thượng du Bắc Việt (hay miền núi, sơn địa phía Bắc) là khu vực có địa hình cao, hiểm trở, gồm 9 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, và Thái Nguyên.
Từ việc giải cứu bất thành nầy- Cho thấy Mỹ làm kế hoạch mà không hoàn toàn nắm chắc chắn về những chi tiết về trại tù Sơn Tây - Chỉ dựa vào không ảnh mà thiết lập kế hoach đột kích- Tài liệu gom góp ở đây chứng minh Mỹ không có tin tức xác thực cận ngày đột kích. Toán đột kích may mắn đã đột nhập đúng trại tù Sơn Tây và đã rời khỏi mục tiêu an toàn.
Trở lại vấn đề Mỹ oanh kích Bắc Việt nặng nề 1972 nhưng Bắc Việt vẫn tương đối an toàn.
Dân chúng Miền Nam nói chung trong suốt cuôc chiến Nam -Bắc; hầu hết có thể nói hơn 95% (Người Nam) không hề biết địa hình, địa vật Miền Bắc nhứt là Vùng Thượng Du Bắc Việt (Giáp Trung Cộng, Lào)-
Học sinh trong Nam chỉ học một chút về địa lý Miền Bắc, rất mơ hồ vì không thể nào hình dung thực tế núi đồi trùng điệp, hiểm trở của Miền cực Bắc.
Trước năm 1954, các đơn vị của Pháp không thể hành quân tiêu diệt phiến quân Ku Hồ mà lúc đó chúng chẳng có căn cứ nào có đủ sức để khánh cự với lực lượng tinh nhuệ của Pháp. NHƯNG chúng tồn tại nhờ núi rừng hiểm trở và chúng có thể lẫn qua bên kia biên giới Tàu và Lào để ẩn thân.
Mấy năm gần đây nhờ xem được khá nhiều Video ghi hình những khu núi đồi ngoài Bắc khiến cho chúng tôi ngộ ra:
"Đồi núi hiểm trở của Khu Việt Bắc giúp cho Việt Minh lớn mạnh và giúp cho Bắc Việt không bị Mỹ chôn vùi là hoàn toàn nhờ vào địa hình hiểm trở".
Đặc biệt có vài Video đi sâu vào những HANG ĐỘNG RỘNG LỚN - Do những xây cất kiên cố với những vết tích còn sót lại, bằng chứng các nơi ấy là những căn cứ quân sự rất an toàn của Quân Bắc Việt, bom đạn Mỹ không thể nào tiêu diệt được chúng.
Các Video cũng có ghi hình về một vài hang động vốn là những nơi giam giữ tù binh Mỹ rất kiên cố.
Không nhớ rõ chính xác, có một chỗ giam giữ tù binh Mỹ nằm trong một hang núi và bên ngoài trên đỉnh núi ấy là một ngôi chùa lộ thiên rất to lớn.
Chắc chắn nơi ấy không thể không lọt vào không ảnh của máy bay do thám Mỹ. Nhưng khi xem xét các không ảnh ấy không Ông Mỹ nào nghĩ bên dưới ngôi chùa lộ thiên ấy lại là TRẠI GIAM CẦM TÙ BINH MỸ, cách Hà Nội không ngoài 100 km.
VNCH và Mỹ không làm gì được VC là vì ít ai đặt nặng vấn đề địa hình, địa vật của Bắc Việt nói chung và nhứt là Khu Thượng Du Bắc Viêt?!!! Hang Pắc Bó của Ku Hồ, cửa sau chỉ cách Biên Giới Trung Cộng mấy chục bước thôi !!!./-Mt68
____________
MỸ ĐỘT KÍCH SƠN TÂY ĐỂ GIẢI CỨU TÙ BINH MỸ NĂM 1970
Sơn Hà (May-2026)
55 năm trước, trên các hệ thống truyền thông đã truyền đi
một mẩu tin về chiến dịch có tên Ivory Coast Operation. Đó là cuộc đột kích vào
trại tù Sơn Tây, cách Hà Nội 35 cây số, nơi đang giam giữ khoảng 60 tù binh Mỹ.
Tin tình báo cho biết, khu vực bán kính 7 cây số chung quanh trại tù có
khoảng 12 ngàn lính cộng sản Bắc Việt đóng quân, với hàng trăm ổ súng cao xạ và
hoả tiễn phòng không. Vậy mà, một toán Green Beret của Mỹ bởi sự phối hợp Lục
Quân, Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ, gồm 56 biệt kích quân đã đột kích trại tù
Sơn Tây rồi rút ra an toàn trong vòng 28 phút. Kết quả, không giải cứu được tù
binh nào, nhưng tạo nên một tác dụng rất lớn.
Kế hoạch được thiết lập ra sao và được tiến hành như thế
nào? Đã hơn nửa thế kỷ, sự thật dần dần được tháo mở. Nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn
chưa được hé lộ.
Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam – Hai Quốc Gia Hai Bên Vĩ
Tuyến 17
Trong những thập niên 50, 60, 70, nước Việt Nam ở trong
tình trạng bị chia hai bởi Hiệp Định Geneve, do cộng sản và thực dân Pháp ký
vào ngày 20 tháng 7, năm 1954. Miền Bắc Việt Nam là quốc gia có tên là Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hoà, do đảng cộng sản cai trị. Miền Nam Việt Nam là quốc gia Việt
Nam Cộng Hoà theo thể chế tự do.
Trong khi miền Nam lo bình định và phát triển xã hội thì
miền Bắc quyết tâm đánh chiếm miền Nam. Toàn khối cộng sản từ Liên Xô, các nước
Đông Âu cho đến Trung Cộng, viện trợ mạnh mẽ cho miền Bắc trong kế hoạch đánh
chiếm miền Nam và xích hoá toàn cầu. Miền Nam được yểm trợ bởi Mỹ và các nước tự
do, để tự vệ, chống lại sự xâm lăng của cộng sản, đồng thời xây dựng xã hội tự
do và kinh tế thị trường.
Để áp lực cộng sản Bắc Việt tôn trọng hiệp định, Mỹ tiến
hành chiến dịch oanh tạc miền bắc để buộc cộng sản Bắc Việt chấm dứt xâm lược
miền Nam. Liên Xô và Trung Cộng viện trợ cho miền Bắc các hệ thống phòng không
và hoả tiễn chống máy bay. Do đó, nhiều máy bay Mỹ bị bắn rơi trên không phận
Hà Nội. Khi phi công nhảy dù ra khỏi máy bay, xuống mặt đất thì bị bắt làm tù
binh. Nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt trả thù bằng cách tra tấn dã man, hành hạ
các tù binh Mỹ trong lúc bị giam trong nhà tù. Khối cộng sản tiếp tục viện trợ
vũ khí dồi dào cho Bắc Việt để xâm lăng Miền Nam.
Động Cơ Thúc Đẩy Cuộc Đột Kích Sơn Tây
Vào năm 1966, một mẩu tin truyền hình do đài truyền hình
Nhật Bản truyền đi; rồi các hệ thống truyền thông lớn của Hoa Kỳ mua lại và tiếp
tục truyền đi bản tin này. Truyền hình đưa tin một Hải Quân Trung Tá Hoa Kỳ,
Jeremiah Denton, xuất hiện trước ống kính truyền hình Nhật Bản có vẻ mất bình
tĩnh nên phải chớp mắt liên tục, và hình như ông cũng e ngại ánh đèn quay phim.
Trước ống kính, Trung tá Denton có những lời “hối lỗi” về hành
động của mình, và xác nhận với thế giới rằng tù binh được đối xử tử tế bên
trong nhà tù cộng sản Hà Nội. Không ai ngờ, hành động chớp mắt của Denton là để
gởi mật mã. Ông đã gởi tín hiệu: T-O-R-T-U-R-E. Phòng Tình Báo Hải Quân ghi nhận
được lời nhắn của Trung tá Denton, cho biết cộng sản Hà Nội tra tấn tù binh dã
man.
Nhà cầm quyền Hà Nội không biết Denton tìm cơ hội để tố
cáo hành động man rợ của cộng sản: tra tấn và hành hạ tù binh.
Jeremiah Denton là phi công trên chiếc oanh tạc cơ A-6, dẫn
đầu Phi Đội 75, cất cánh từ Hàng Không Mẫu Hạm USS Independence (CV-62), trong
chiến dịch Rolling Thunder, năm 1965. Chiếc phản lực cơ bị trục trặc kỹ thuật,
Trung tá Jeremiah Denton và trung uý hoa tiêu Bill Tschudy phải nhảy dù khẩn cấp.
Khi đáp xuống mặt đất ở Thanh Hoá; cả hai bị bắt làm tù binh, đem về nhốt tại
Hoả Lò.
Cộng sản Hà Nội biết Denton là sĩ quan cao cấp của Hải
Quân Hoa Kỳ nên ép buộc ông đọc lời viết sẵn để thu băng lời kêu gọi tù binh
hãy hợp tác và cung khai với Hà Nội. Lời kêu gọi này sẽ được phát ra trên hệ thống
phóng thanh trong nhà tù Hoả Lò. Jeremiah Denton từ chối việc làm hèn hạ này
nên ông bị tra tấn dã man và bị biệt giam. Trong khi những người đồng tù kính nể
tinh thần bất khuất của Jeremiah Denton; thì Hà Nội vẫn đeo đuổi, vừa thuyết phục,
vừa đe doạ. Cuối cùng, Denton quyết định lợi dụng cơ hội để gởi cho chính quyền
Hoa Kỳ một thông điệp: phải có hành động để giải cứu các tù binh Mỹ. Thêm vào
đó, tin cũng cho biết nhiều tù binh chết trong tù cộng sản là có thật.
hình chụp từ truyền hình Nhật Bản
Rồi một ngày, Denton báo cho cai tù rằng, ông sẵn sàng
lên án chính quyền Hoa Kỳ về việc đánh phá Miền Bắc Việt Nam. Ông còn cho biết
sẽ viết thư xin lỗi gởi tới chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân miền Bắc.
Nhờ vậy, Jeremiah Denton được Hà Nội tin tưởng cho lên
truyền hình Nhật Bản. Trong khi miệng nói mình được đối xử tử tế, nhưng mắt thì
chớp để đánh Morse Code, gởi cho quân đội và chính phủ Hoa Kỳ, tố cáo rằng, tù
binh Mỹ đang bị hành hạ dã man ở Hà Nội. Vào lúc này, tại Hoa Kỳ, các gia đình
của các tù binh thúc giục chính phủ Hoa Kỳ phải có kế hoạch thương thuyết với
Hà Nội để giải thoát tù binh.
Đến tháng 5-1970, các bức không ảnh chụp
từ không phận Hà Nội, hé lộ một dấu hiệu cho biết tù binh Mỹ bị giam giữ ở trại
tù Sơn Tây. Các Chuyên Viên Giải Đoán Không Ảnh tin rằng, tù
binh Mỹ gởi tín hiệu cầu cứu bằng cách viết chữ “V” trên mặt đất. Một tấm ảnh
khác cho thấy dấu gạch chéo giống như chữ “X”. Một lần nữa, dấu hiệu đó là chữ
“V”, một mẫu tự của cờ hiệu Hải Quân và hàng hải quốc tế. Chuyên viên cho rằng,
đó là ám hiệu của tù binh Mỹ gởi lời cầu cứu.
cờ hiệu biểu trưng chữ V
được Hải Quân và hàng hải sử dụng
(V = Require Asistance)
Có nhiều lần, tù binh Mỹ lợi dụng khi được cho ra làm vườn
thì dùng áo quần, hay những nắm đất trong lúc đào mương để gởi tín hiệu cho
Không Quân Hoa Kỳ, với hy vọng được nhìn thấy trong không ảnh. Ngoài ra, không ảnh
còn cho thấy các vật liệu được đem đến trại Sơn Tây, khiến các chuyên viên đặt
nghi vấn Hà Nội mở rộng trại tù tại đây. Ý niệm phải giải cứu tù binh bắt đầu
nhen nhúm.
Đến sau năm 1973, khi Hiệp Định Paris được thi hành và tù
binh được trao trả, thế giới mới biết về lời nhắn của Denton gởi ra từ mấy năm
trước. Chế độ Hà Nội ngậm đắng nuốt cay.
Kế Hoạch Giải Cứu Tù Binh
Quân đội Hoa Kỳ hùng mạnh không chỉ nhờ có vũ khí tối
tân, mà mỗi người lính được huấn luyện đầy đủ. Họ còn được trang bị tinh thần
thương yêu và bảo bọc nhau trong tình đồng đội. Nó thể hiện trong khẩu hiệu “No
Man Left Behind” hoặc “Leave No One Behind”. Người lính
Hoa Kỳ có một lời tâm niệm, được xem là lời thề mang theo suốt đời. Đó là,
không bỏ rơi bất cứ người lính nào, dù đã hy sinh hay bị thương trên chiến trường.
Đó là lý do quân đội phải ra tay giải cứu các tù binh đang bị giam trong các
nhà tù ở Bắc Việt. Về mặt chính trị, cần cho Hà Nội biết, vấn đề tù binh là ưu
tiên hàng đầu đối với Hoa Kỳ.
Mặc dù cộng sản Hà Nội thì vẫn hiếu chiến, tiếp tục tiến
hành các cuộc tấn công, phá rối và khủng bố ở miền Nam, nhưng Hoa Kỳ và miền
Nam luôn mong đợi cuộc thương thuyết cho hoà bình có kết quả. Tháng 11-1968,
Hoa Kỳ đơn phương tuyên bố tạm ngưng oanh tạc miền Bắc để tỏ thiện chí. Tuy vậy,
những cố gắng cho cuộc hoà đàm Paris vẫn không tiến triển.
Ngày 8 tháng 5 -1970, Chuẩn tướng James R. Allen, Phụ tá
Giám Đốc Kế Hoạch và Chính Sách tại Bộ Tư Lệnh Không Quân Hoa Kỳ, tìm gặp Chuẩn
tướng Donald Blackburn, Trợ lý Đặc biệt về Chống Nổi Dậy và Hoạt Động Đặc Biệt
của Lục Quân, để thảo luận về nhiệm vụ giải cứu tù binh chiến tranh. Tướng
Blackburn, là sĩ quan dày dạn kinh nghiệm du kích chiến trong Thế Chiến II. Ông
từng chỉ huy SOG (Studies and Observations Group) trong chiến tranh Việt Nam,
là Lực lượng Đặc Biệt Mỹ, được Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ huấn luyện và đào tạo
cho chiến trường Việt Nam.
Tại Ngũ Giác Đài, Đại tá Arthur D. “Bull” Simons, là người
trực tiếp chỉ huy cuộc đột kích trại tù Sơn Tây, trả lời các câu hỏi về Cuộc Đột
Kích. Phía sau ông (từ trái sang phải) Melvin Laird (bộ trưởng Quốc Phòng), Hải
quân Đô đốc Thomas H. Moorer (Tư lệnh Liên Quân), Chuẩn tướng Không Quân Leroy
J. Manor (chỉ huy toàn bộ chiến dịch)
Vị chỉ huy trực tiếp của Blackburn là tướng Earl G.
Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Joint Chiefs of Staff – JCS) yêu cầu
Blackburn thành lập một nhóm 15 người, biệt danh Polar Circle, để nghiên cứu và
đánh giá sự khả thi của chiến dịch giải cứu tù binh. Blackburn bổ nhiệm Chuẩn
tướng LeRoy Manor, một phi công chiến đấu kỳ cựu, với nhiệm vụ chỉ huy Nhóm Đặc
Nhiệm Không Quân Hoa Kỳ.
Phụ tá cho LeRoy Manor, là Đại tá Arthur “Bull” Simons,
chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt của Lục Quân, trách nhiệm trực tiếp đột nhập và giải
cứu tù binh. Về phía Hải Quân thì có đô đốc Thomas H. Moorer cũng sẵn sàng yểm
trợ tối đa. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các quân chủng: Không Quân, Hải Quân và
Lục Quân, lần đầu tiên trong lịch sử, được áp dụng cho chiến dịch Ivory Coast
Operation, trở thành bài học quý báu cho quân đội Hoa Kỳ.
Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Đồng Đội
Cảm tử quân ghi tên tham dự chiến dịch đặc biệt, họ chưa
biết công tác là gì, ở đâu, lúc nào. Họ chỉ biết “đích thân” Đại
tá Bull tuyển mộ là sẵn sàng lên đường. Họ được huấn luyện tại
một căn cứ Không Quân ở Florida qua 5 tháng ròng rã. Ở đây, một mô hình giống
như nhà tù Sơn Tây được xây dựng để thực tập. Có tất cả 170 lần thực tập đột nhập;
thực tập cho đến khi không còn sai phạm mới thôi.
Rồi một ngày trong tháng 11, 1970, họ được đưa đến “nhà
an toàn” ở Thái Lan, để chính thức nghe thuyết trình về công tác đặc
biệt sẽ tham dự: Giải Cứu Tù Binh Mỹ ở Sơn Tây, có tên gọi
Kingpin Operation, là phần chính nằm trong chiến dịch Ivory Coast Operation.
Công tác chính là giải cứu tù binh ở Sơn Tây nên thường được gọi
là The Son Tay Raid (Cuộc Đột Kích Sơn Tây).
Đại tá Arthur D. Simons – “Bull”
Đại tá Simons biệt danh là “Bull”, căng
tấm bản đồ, thuyết trình với nhiều chi tiết. Sơn Tây cách Hà Nội khoảng 35 cây
số về hướng tây. Những người lính cảm tử sẽ vào đất địch bằng trực thăng, giải
thoát tù binh và đem họ về bằng trực thăng. “Đích thân” cho biết,
đây là công tác “giải cứu tù binh”, chuyến này nếu bị lộ, rơi vào
tay của quân thù, sẽ khó thoát. Bởi vì, phải vượt cả trăm dặm mới về đến đất
Lào để được cứu thoát.
Không khí nặng nề; tất cả lặng im. Rồi bỗng vang lên những
tiếng la như những con ngựa hoang: “Let’s go get ‘em!”. (“…raring like
broncos, yelling “Let’s go get ‘em!” – Buckler, Terry, Who
Will Go Into The Son Tay POW Camp, Palmetto, 2020).
Đem mọi người trở về thực tại, Đại tá Simons (Bull)
nói rằng, cơ hội cho các anh là 50/50 – giữa sống và chết: “…this is
strictly a volunteer mission. If any man has a reason that he should not go on
this mission, he should decide now” (…việc tham gia này hoàn toàn tự
nguyện; nếu ai có lý do không nhận nhiệm vụ này, nên quyết định ngay bây giờ
– Buckler, Terry, Who Will Go , Palmetto, 2020). Đại tá Simons nhấn
mạnh, chúng ta đi cứu tù binh chứ không nhận tù binh. Chiến dịch này tối mật. Tất
cả đồng lòng đi giải cứu anh em tù binh đang bị Hà Nội tra tấn và giam cầm.
Đại tá Bull nhắc nhở kiểm tra vũ
khí trước khi lên đường
Terry Buckler, người lính biệt kích có mặt trong chiến dịch
này, kể lại trong sách rằng, có nhiều trăm người ghi danh tình nguyện tham dự
chiến dịch “đặc biệt”. Sau khi huấn luyện và nhiều lần chọn lọc,
còn lại khoảng 100 người lính biệt kích tinh nhuệ được bay đến Thái Lan để chuẩn
bị vào đất địch. Rồi thêm một lần chọn lọc, chỉ có 56 biệt kích trang bị vũ khí
và thiết bị, bước lên trực thăng bay đến Sơn Tây. Ngoài lính biệt kích, còn có
hàng trăm sĩ quan chuyên viên thuộc Không Quân chiến đấu, tác chiến điện tử, đặc
nhiệm, truyền tin, chuyển vận, tiếp liệu,… Về Hải Quân, từ Hạm đội 7 Thái Bình
Dương, nhiều oanh tạc cơ, máy bay trinh thám, chuyên viên radar và tác chiến điện
tử của Hải Quân,… cùng phối hợp công tác. Quân đội Hoa Kỳ chấp nhận khó khăn và
bất kể tốn kém, chung góp bàn tay, lên đường đi Giải Cứu Tù Binh ở Sơn
Tây.
Chiến Dịch Thành Công – Nhưng Kết Quả Không Như Mong Đợi
Nửa đêm 20, rạng 21 tháng 11-1970, oanh tạc cơ cất cánh từ
hàng không mẫu hạm của Hạm Đội 7 ngoài khơi vịnh Bắc Việt, bay vào vùng trời cảng
Hải Phòng và thủ đô Hà Nội, gầm vang và bắn trái sáng rực trời, khuấy động hệ
thống phòng không của Bắc Việt. Bắc Việt bị đánh thức trong ngỡ ngàng. Mỹ đã bảo
là ngưng oanh tạc, nhưng đêm nay lại bất thình lình hành động?!
Vài ngày trước, nhiều bài bình luận trên báo chí của thế
giới viết rằng, Hà Nội giữ tù binh như những con tin để ra yêu sách trong lúc
đàm phán hoà bình, khiến Mỹ mất kiên nhẫn. Mỹ có thể sẽ dùng biện pháp quân sự
để giải quyết chiến tranh. Tâm lý của Hoa Kỳ là quý trọng con dân Mỹ đang bị Hà
Nội sử dụng để mặc cả khi thương thuyết. Xã hội Hoa Kỳ dấy lên các phong trào
phản chiến đòi hỏi chính phủ phải hành động.
Như tin đã biết, tháng 11-1968, chính phủ Hoa Kỳ đơn
phương tuyên bố tạm ngưng dội bom miền Bắc và kêu gọi Hà Nội thực tâm chấm dứt
chiến tranh, để Mỹ có thể đem tù binh về nhà. Trong khi cộng sản Hà Nội thì cho
rằng Mỹ đã mệt mỏi vì chiến tranh. Trong lúc Mỹ ngưng oanh tạc thì Hà Nội lại
xin Liên Xô và Trung Cộng cải tiến hệ thống phòng không và tiếp tục cò cưa cuộc
hoà đàm, kéo dài chiến tranh.
Bỗng dưng, tháng 11-1970 Mỹ lại gây ồn ào trên không phận
Hà Nội và Hải Phòng. Oanh tạc cơ cất cánh từ Hạm Đội 7 thay phiên bắn những
trái sáng tưng bừng trên bầu trời Hà Nội và cảng Hải Phòng. Đó là chiến thuật “dụ
địch” và “lừa địch”, kéo Hà Nội quay về hướng đông, để hở
sườn ở phía tây cho trực thăng đưa biệt kích Mỹ vào Sơn Tây.
Màn ảnh radar Hà Nội bị nhiễu sóng, xuất hiện vô số các
chấm đen, gây tinh thần bối rối trong lực lượng phòng không của
Hà Nội. Hệ thống radar bị phá rối trong 3 tiếng đồng hồ, kể từ 1:00 sáng ngày
21 tháng 11-1970.
Phản ứng tức khắc của quân Bắc Việt là bắn lên trời những
hoả tiễn tầm nhiệt rượt theo các hoả châu. Đêm nay là biến cố bất ngờ đối với
Hà Nội. Tiếng nổ ầm vang, còi hụ báo động kêu gọi dân chúng xuống hầm trú ẩn,
binh sĩ vào vị trí chiến đấu. Không thấy bom rơi, không nơi nào bị oanh tạc, chỉ
có hoả châu rực trời; phản lực cơ Phantom bay lượn nghênh chiến chờ MIG của Bắc
Việt xuất hiện, nhưng không có cuộc không chiến nào, cũng chẳng có máy bay nào
bị bắn rơi.
Ở thị trấn Sơn Tây, hướng tây của Hà Nội, bốn chiếc trực
thăng dùng cho Cuộc Đột Kích, và hai chiếc dự trù để chở tù binh. Hàng chục khu
trục cơ, phản lực cơ được dùng để triệt hạ các trạm radar, ổ cao xạ phòng
không, phá hai cây cầu bắc qua sông Sóng Cồn (một nhánh sông Hồng chảy qua Sơn
Tây). Chiếc trực thăng thứ nhất triệt hạ các tháp canh, chiếc thứ hai đáp nhanh
đưa lính biệt kích vào sân trại tù, bị vướng và cánh quạt chặt hết cành cây làm
thành một vùng trời trống trải để chiếc thứ nhất thả hoả châu chiếu sáng. Hai
trực thăng khác đưa hai toán yểm trợ và an ninh vào vị trí và để tiếp tay cho
toán đột kích.
Các chiến sĩ biệt kích bắt loa kêu gọi các tù binh nằm rạp
xuống để tránh đạn và cho biết biệt kích Mỹ đến cứu. Các phòng giam bị phá cửa,
nhưng không thấy tù binh nào. Những người lính Bắc Việt cai tù phản ứng bằng
súng máy cá nhân bị triệt hạ nhanh chóng. Sau khi kiểm soát các phòng giam, các
biệt kích Mỹ nhiều lần xác nhận phòng giam trống rỗng (Negative items!).
Toán biệt kích rút lui, không có tù binh đem theo. Họ bỏ
lại một trực thăng, phải phá huỷ trước khi rút lui, sau 28 phút hành động. Hai
người lính biệt kích bị thương nhẹ ở chân, không ai thiệt mạng. Chiến dịch
Kingpin Operation được xem là kết thúc.
Trên đường trở lại Thái Lan, những người lính biệt kích tỏ
ra thất vọng vì không giải cứu một người tù nào. Toán biệt kích đem theo đồ nghề
để phá cửa, phá cùm, cắt xích, nhưng tất cả tù binh, cùm và xích không còn thấy
trong phòng giam. Hình như tất cả người tù đã được di chuyển đến một nơi khác từ
nhiều tháng, trước khi có cuộc đột kích. Tin tức nhanh chóng gởi về các vị chỉ
huy ở Ngũ Giác Đài và Toà Bạch Ốc. Không có tù binh ở Sơn Tây!
Cố vấn Kissinger vội vàng cho đó là thất bại. Nhưng, các
vị chỉ huy trực tiếp, kể cả Tổng thống Nixon, thì nói, cuộc đột kích thành
công. Toán biệt kích đã làm đúng và hoàn thành nhiệm vụ. Họ đã đến nơi để giải
cứu tù binh và rút lui êm thắm, không có tổn thất nào. Họ đã đến nơi nhưng
không giải cứu được tù binh nào bởi vì không có tù binh ở đó. Báo
chí được dịp khai thác, cho đó là sự thất bại và lên án các cơ quan tình báo Mỹ
không cung cấp tin tức cập nhật. Tuy nhiên, các vị chỉ huy cao cấp ở Toà Bạch Ốc
vẫn nhìn nhận đó là cuộc hành quân thành công về mặt chiến thuật. Phương tiện
và vũ khí được sử dụng đúng chỗ và hiệu quả.
Còn Chuyện Gì Chưa Được Giải Mật?
Nhiều dữ kiện được giải mật sau nhiều năm giữ kín, nhưng
vẫn còn một số vụ nhạy cảm mà tình báo Mỹ ở Asia vẫn không bao giờ xác nhận. Điển
hình, vụ “tụ mây và làm mưa” ở những nơi chung quanh Hà Nội.
Thứ đến, vụ chiếc trực thăng Apple1 tách ra khỏi đội hình và đáp “lộn
chỗ” ở một “trường trung học”. Trên chiếc Apple1 này mang theo
22 người lính Biệt Kích và đại tá Simons, chỉ huy trưởng chiến dịch.
Trong cuốn “The Raid”, tác giả Benjamin F.
Schemmer (1976), nêu thắc mắc là tại sao trước khi tiến hành cuộc đột kích,
phòng Tình Báo của đơn vị CIA tại Thái Lan không cho sĩ quan kế hoạch xem bản
báo cáo thời tiết, viện cớ chưa được “clearance(!)”. Schemmer tìm
được dữ kiện trong kho dự trữ của CIA-Asia, lúc đó tình báo Mỹ đang tiến
hành Popeye Operation, khiến mực nước sông Hồng dâng cao khác thường.
Thời tiết chung quanh Hà Nội bị chiến dịch Popeye của CIA làm
thay đổi, khiến cho kế hoạch cuộc đột kích phải đổi giờ hành động. Tuy nhiên,
CIA cho biết điều kiện thời tiết thuận lợi cho cuộc đột kích trong hai ngày 20
và 21 tháng 11, 1970.
Benjamin F. Schemmer là bỉnh bút kỳ cựu của Armed Forces
Journal, đã có dịp phỏng vấn các nhân sự có liên hệ đến Ivory Coast Operation để
thu thập dữ kiện viết sách “The Raid”, xuất bản năm 1976. Những lần
tái bản về sau, ông lặn lội đến Hà Nội tìm cách tiếp xúc với dân chúng hay cán
bộ sống sót từ vụ đột kích Sơn Tây. Ông trả tiền cho những cuộc tiếp xúc. Ông
cho nhà xuất bản Công An Nhân Dân của Hà Nội dịch cuốn sách The Raid ra tiếng
Việt để xem họ cắt bỏ chỗ nào. The Raid được dịch là “Vụ
Tập Kích Sơn Tây”, xuất bản năm 2001, chỉ được lưu hành nội bộ để học hỏi. Ở
đoạn chiếc trực thăng Apple1 đáp lộn chỗ bị cắt bỏ, không cho
biết lý do.
Trong những cuốn sách viết về cuộc Đột Kích Sơn Tây, cuốn
sách “The Raid”, của Benjamin F. Schemmer xuất bản sớm nhất với nhiều
điều gây tranh cãi, trước khi được giới thẩm quyền giải mật các chi tiết, từ việc
lập kế hoạch đến phương tiện, vũ khí, nhân sự và giờ hành động. Càng về sau, có
nhiều sách do người trong cuộc kể lại, bao gồm những điều đã được Benjamin
Schemmer đề cập đến, từ nhiều năm trước. Benjamin F. Schemmer viết rằng, người
dân Hà Nội cho biết mưa nhiều chung quanh khu vực Hà Nội và Hà Tây, khiến mực
nước sông Hồng dâng cao ở nhiều khu vực. Schemmer ngờ rằng, đây là lý do tù
binh được đem đi nơi khác.
CIA Tiết Lộ Gì Về Sơn Tây?
Vào ngày 12-Sep-1976, Kevin Buckley viết bài điểm sách
đăng trên nhật báo New York Times, nhan đề “A Classic Military Snafu –
The Raid”, rồi gởi đến văn phòng CIA yêu cầu xác nhận những dữ kiện trong
sách “The Raid”. Hơn 30 năm sau, tháng Giêng-2005, CIA xác nhận
chính CIA đã tiến hành Popeye Operation. Popeye Operation là
công tác khoa học làm mưa nhân tạo. Mục tiêu của chiến dịch này là gì, đến nay
vẫn còn giữ kín. Một mô hình sa bàn trại giam Sơn Tây, với kích thước thật,
được CIA thực hiện ở Florida để các biệt kích sử dụng trong thời gian thực tập.
Các dữ kiện khác, CIA vẫn không xác nhận. Chuyện Apple1 “đáp lộn chỗ” cũng
nín thinh.
Một bài điểm sách khác được đăng trên nhật báo Washington
Post vào ngày 19 tháng 8-1976, của bỉnh bút David Martin, đăng trong tiết mục
điểm sách, tựa đề “Chronicling the Sontay ‘Failure’”. Martin cho rằng,
Schemmer ghi lại những kinh nghiệm quý báu cho lãnh vực quân đội và tình báo.
Martin nhắc lại lời khẳng định của Schemmer rằng, “No one needs to
apologize for the ‘failure’ at Sontay” (Không ai cần phải xin lỗi vì
‘thất bại’ tại Sơn Tây). Martin đánh giá lối viết cứng cỏi của Schemmer, một thứ “ngôn
ngữ ngang tàng”, không có vẻ văn chương bóng bẩy. Thật ra, cuộc đột kích
Sơn Tây là một thắng lợi về mặt chiến thuật. Đội biệt kích đã vào đến mục tiêu
và rút ra an toàn, không tổn thất. Martin đồng ý với Schemmer về đánh giá cao
cho sự phối hợp nhịp nhàng giữa các quân chủng: Lục Quân, Không Quân và Hải
Quân.
Về mặt tin tức tình báo thì Schemmer phê bình sự mâu thuẫn
giữa các cơ quan tình báo Hoa Kỳ do phương thức và tiêu chuẩn khác nhau. Tù
binh đã được dời đi nơi khác đã lâu mà lực lượng hành động vẫn không biết(?).
Tuy nhiên, Martin nghi ngờ, và đặt nghi vấn, có phải “Senior
intelligence officials knew both from aerial reconnaissance and from an agent
inside Hanoi that the prisoners had been moved, but could not bring
themselves to cancel the raid”. (Các viên chức tình báo cấp cao biết tin tù
binh đã được dời đi, do ở tài liệu không ảnh và các báo cáo từ các điệp viên
đang hoạt động tại Hà Nội, nhưng họ không nỡ hủy bỏ cuộc đột kích). Bởi vì
trong “The Raid”, Schemmer viết, có bằng chứng rõ ràng là tù binh
đã được dời đi lâu rồi. Nhưng tất cả đã phớt lờ. Schemmer cũng trích dẫn lời của
tướng Blackburn của Ngũ Giác Đài, ““…I wanted to demonstrate that we could
get in there and pull their chain“. (Tôi muốn chứng tỏ chúng ta có thể vào
đến nơi để giải thoát họ).
Thật vậy, biệt kích Mỹ đã vào đến nơi, tuy không giải cứu
một tù binh nào nhưng đã tiêu diệt hàng trăm kẻ địch trong vòng 28 phút, không
mất một người lính biệt kích nào. Đây lại là một dữ kiện nhức nhối, báo chí vẫn
chờ đợi cơ quan tình báo CIA và tình báo quân đội xác nhận.
Tháng Giêng, năm 2005, (30 năm sau) cơ quan CIA trả lại bản
copy bài viết của David Martin, với con dấu đã nhận được bài của
Washington Post vào ngày 19 tháng 8-1976 và ghi vào sổ văn thư. Nhưng không
xác nhận phần nào đúng, điểm nào không đúng.
13 tháng 1-2005, CIA trả lại trang báo đã nhận được và đã
ghi vào sổ từ năm 1976
Điều Gì Không Thể Giải Mật?
Cũng nên quay lại lời thuyết trình của Đại tá Simons trước
khi lên đường. Sách “Who Will Go – into the Son Tay POW Camp” của
Terry Buckler và Cliff Westbrook, kể lại lúc Đại Tá Simons “Bull”, nhắc nhở trước
khi lên đường: “…You are to let nothing, nothing interfere with the
operation. Our mission is to rescue prisoners, not to take prisoners”[Chapter
14] (Anh em không được để cái gì cản trở chiến dịch. Nhiệm vụ là giải
cứu tù binh, chứ không nhận tù binh). Ngôn ngữ sắc như dao. Vào lúc ấy, chưa chắc
các biệt kích quân hiểu được thâm ý. Cho đến khi chiếc trực thăng Apple1, mang
theo Đại tá Simons “Bull” và 22 biệt kích có nhiệm vụ đột kích trại tù Sơn Tây,
nghiêng cánh, tách khỏi đội hình đáp xuống một ngôi “trường trung học” ở
phía nam của trại tù Sơn Tây, rồi phát giác “đáp lộn chỗ” sau
khi khám phá ở đây có toà nhà hai tầng lầu, và các gian nhà chung quanh với
hàng trăm binh sĩ, cao lớn và không nói tiếng Việt Nam.
Khuôn viên trường trung học này có đánh dấu rõ ràng trong
bản đồ và sa bàn mà các biệt kích, ai cũng biết. Có súng máy bắn ra từ cửa lớn
và cửa sổ, nhưng các biệt kích Mỹ đã nhanh chóng vô hiệu hoá bằng súng phóng lựu
rồi phóng hoả đốt. Về sau, đại tá “Bull” cho biết các binh sĩ
này cao lớn hơn bộ đội Bắc Việt rất nhiều, không phải là người Việt Nam.
Lính “ngoại quốc” có mặt ở Bắc Việt là để huấn luyện phòng
không cho bộ đội Bắc Việt. Có đến hàng trăm người lính ở “trường trung
học” này.
Sau năm 1973, các tù binh được trao trả, những người từng
bị nhốt ở Sơn Tây cho biết họ bị nhân viên thẩm tra người Cuba tra tấn dã man.
Trên máy truyền tin, lệnh của “đích thân” bảo
đổi qua “kế hoạch xanh”. Phụ tá của ông đã thay mặt “đích
thân” chỉ huy cuộc đột kích trại tù Sơn Tây và không tìm thấy một tù
binh nào. Các chòi canh và các bộ đội canh gác trại tù bị san bằng nhanh chóng
bằng minigun từ trực thăng.
Những dữ kiện này, tình báo CIA và cả tình báo quân đội
không xác nhận, mà cũng không phủ nhận. Họ chỉ ghi nhận câu hỏi và ghi ngày giờ
nhận được.
Đột Kích Sơn Tây – Thành Công Hay Thất Bại?
Khi Toà Bạch Ốc công khai thông báo về kết quả của cuộc Đột
Kích Sơn Tây, rằng cuộc đột kích thành công về mặt chiến thuật, nhưng không đạt
được kết quả: không một tù binh nào được giải cứu. Báo chí Tây phương nhanh
chóng khai thác mặt tiêu cực của chiến dịch, cho đó là một sự thất bại, vì
không đem về một tù binh nào từ Sơn Tây. Các hãng thông tấn Reuters, đài phát
thanh BBC và các nguồn tin ở Âu Châu đồng loạt đưa tin với các dữ kiện lấy từ
đài phát thanh Hà Nội. Cho rằng, đảng và nhà nước Hà Nội biết trước nên đã dời
tù binh đi nơi khác và đã bắn rơi một trực thăng của đế quốc Mỹ.
Hai ngày sau, tất cả bị hố to vì đã loan tin “vịt” đến từ
Hà Nội. Trong khi đó…
Báo chí ở miền Nam, nhật báo Cấp Tiến, Chính Luận, Tiền
Tuyến,… loan tin theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, rằng quân đội Hoa Kỳ đưa hàng không
mẫu hạm Ranger đến vịnh Bắc Việt cùng với trực thăng đưa cảm tử quân đến Sơn
Tây để giải cứu tù binh.
Báo Cấp Tiến, số ra ngày 26 tháng 11-1970 còn viết “Hà
Nội bố phòng cẩn mật, tăng cường bảo vệ các lãnh tụ”. Nhật báo Cấp Tiến, số
ra ngày 08-12-1970, chạy tin trên trang nhất, “Lại thêm một bí mật được
phát giác, nhiều Cán Bộ cao cấp của VC bị Hoa Kỳ bắt ở Sơn Tây. Căn trại quân Mỹ
đổ bộ ở Sơn Tây không phải là trại tù binh mà là chiêu đãi sở dùng để đón cán bộ
MTGPVN ra Bắc hội họp, nghỉ ngơi”. Những tin tức này, đến nay vẫn còn là
nghi vấn, chưa được giới thẩm quyền xác nhận.
Nhưng, một điều tích cực đã xảy ra là các tù binh Mỹ từ
các trại lẻ tẻ được gom về Hà Nội và được ở chung với nhau trong nhà tù Hoả Lò.
Đời sống tù binh được cải thiện về phần ăn và các mặt sinh hoạt hàng ngày. Đến
khi được trao trả vào đầu năm 1973, họ cho biết, từ khi có cuộc “Đột
Kích Sơn Tây”, cộng sản Hà Nội có thay đổi lớn về cách cư xử đối với tù
binh. Đó là thành quả lớn. Ở Hoa Kỳ, phong trào cứu nguy các tù binh Mỹ sinh hoạt
mạnh mẽ hơn, với sự ra đời của lá cờ màu đen “You Are Not Forgotten”.
Tuy nhiên, có người còn đặt giả thuyết, nếu đêm ấy, chiếc
trực thăng Apple1 không “đáp lộn chỗ” thì biến cố gì đã xảy
ra?
Nếu đêm ấy đem về một số tù binh Mỹ thì số phận những người
tù còn lại, …sẽ ra sao?
Sơn Hà (May-2026)