Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVLeDinhCai. Show all posts
Showing posts with label VCNVLeDinhCai. Show all posts

Sunday, 21 June 2026

 LÊ ĐÌNH CAI VỪA MỚI QUA ĐỜI TẠI SAN JOSE NGÀY 18-6-2026- 

Lê Đình Cai nguyên là Lãnh Tụ Sinh Viên Huế thời 1960- Thời VNCH Lê Đình Cai cũng là người cầm đầu Sinh Viên Tranh Đấu ở Huế và ở Đà Lạt nữa- Lê Đình Cai không hẳn là một nhân vật CHỐNG CỘNG THỜI VNCH - Lê Đình Cai cũng chỉ là một đứa VỞ MỘNG VỚI VIỆT CỘNG SAU 30-4-75- Âu cũng là những đứa ĐẮP VÁ CHỐNG CỘNG SAU 1975./-Mt68

_____________

MỘT CHÚT TRAO ĐỔI VỚI GS LÊ ĐÌNH CAI VỀ CUỐN SÁCH MỚI XUẤT BẢN “CHIẾN TRANH QUỐC-CỘNG TẠI VIỆT NAM” (1954-1975) 

 Nguyễn Đức Cung 



 Ngày 15/3/2023, tôi nhận được cuốn sách mới xuất bản do GS Lê Đình Cai ở San Jose gửi tặng. Sách này vốn là một bản thảo luận án Tiến sĩ Sử học dự trù trình bày và bảo vệ tại Trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn năm 1975 nhưng vì thời cuộc tác giả cũng như rất nhiều người khác dưới thời Đệ II Cộng Hoà phải đi tù nhiều năm thời Cộng Sản nên công trình phải bỏ dở cho đến khi tác giả được sang tái định cư tại Hoa Kỳ mới được anh bổ sung lại và cho xuất bản trên nhiều tạp chí ở San Jose. 1.- Về tên gọi của cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Trong phần DẪN NHẬP, tác giả viết: “Cuộc chiến tranh Quốc Cộng (1954-1975) tại Việt Nam, có nhiều người cho rằng đó là một cuộc nội chiến Nam Bắc vì rõ ràng là người miền Bắc đã đánh nhau với người miền Nam. Cũng có một số nhà nghiên cứu quan niệm rằng đó là một cuộc “chiến tranh uỷ nhiệm” vì lẽ Hà Nội được sự viện trợ vũ khí từ Liên Xô và Trung Cộng trong khi miền Nam thì tiếp nhận vũ khí của Hoa Kỳ. Cả hai bên đều được các thế lực ngoại quốc uỷ nhiệm để thi hành chính sách riêng của họ. Nhìn theo nhiều góc cạnh thì cách gọi tên cho cuộc chiến Việt Nam như đã trình bày không phải là sai. Nhưng nhìn vào tổng thể của cuộc tranh chấp toàn cầu, với sự phát triển của phong trào Cộng Sản trên toàn thế giới, thì Hồ Chí Minh đã phát động cuộc chiến tranh theo lệnh của Đệ III Quốc Tế Cộng Sản để xâm lăng miền Nam. Người Việt Quốc Gia đang cố gắng chống đở “làn sóng đỏ” với sự giúp đở của Hoa Kỳ khi người Mỹ nhận thấy nguy cơ bành trướng của Trung Cộng xuống vùng Đông Dương và Đông Nam Á. Đây quả là một cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa phe Thế giới Tự Do và phe Cộng Sản Đệ III Quốc Tế (Comintern)… Cuối cùng là Phần Tổng Luận, nêu bật 1 những lý do dẩn đến thất bại của Hoa Kỳ và phe Đồng Minh cũng như của chính quyền Miền Nam. Đồng thời cũng nhấn mạnh đến việc chế độ Cộng Sản Miền Bắc chỉ thắng được phe Miền Nam trên chiến trường. Họ chỉ mới thắng một trận đánh, nhưng chưa thực sự chiến thắng được cuộc chiến tranh ý thức hệ này (The war of Ideology). Nói rõ hơn người Cộng Sản Miền Bắc chưa thắng được “lòng dân” của người Miền Nam dù cuộc chiến đã kết thúc từ gần nửa thế kỷ nay.” (Đăng Trình, California, 2023, trang 8). Nói đến cuộc chiến tranh Quốc-Cộng được nhìn một cách khái quát là từ 1954 đến 1975 tại Việt Nam trong các sách vở xuất bản thường được gọi là cuộc chiến tranh Việt Nam (The Vietnam War) cũng có khi được biết là cuộc nội chiến Nam Bắc (the Civil War of Vietnam), cuộc chiến tranh uỷ nhiệm (The Proxy War) hay cuộc chiến tranh ý thức hệ (the War of Ideology). Trong Đại hội toàn quốc của Mặt Trận Liên Việt tháng 3-1951, nhân dịp đảng Lao Động Việt Nam ra mắt quốc dân, Trường Chinh lúc ấy là Tổng Bí Thư Đảng Lao Động đã định nghĩa kháng chiến như sau: Kháng chiến Việt-Nam là một hình thức cao rộng của giai cấp đấu tranh. Như vậy Trường Chinh đã muốn lấy lòng đảng Cộng Sản Trung Quốc của Mao nên mệnh danh cuộc kháng chiến này là cuộc kháng chiến của “giai cấp đấu tranh”. Nhận định về khẩu hiệu này, ông Minh Võ viết rằng: “Chính vì kháng chiến, theo Cộng sản, là một hình thức giai cấp đấu tranh, mà trong suốt thời kỳ kháng chiến “Liên Việt” đã vô tình tiếp tay cho Cộng sản, trong việc tiêu diệt các giai cấp khác không phải là giai cấp của đảng Cộng sản, thay vì đáng lý ra, liên kết và điều hoà mọi giai cấp.” (Minh Võ, Sách lược xâm lăng của Cộng Sản, bản in lần thứ ba, California, 2007, trang 140 Không kể việc Trịnh Công Sơn viết nhạc phẩm phản chiến “Gia Tài Của Mẹ” năm 1965 có những câu như: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn”… khẳng định cuộc chiến tranh giữa Nam và Bắc là một cuộc nội chiến để có lẽ một phần cũng vì bài hát này mà TCS bị chính quyền CS không tin dùng sau ngày 30-4-1975, người CS có lẽ cũng dè dặt với tên gọi “cuộc nội chiến” này. 2 Một người lính cộng sản từng chiến đấu trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ từ năm 1945 đến 1975, nay cũng đã rời hàng ngũ của những người kháng chiến cũ, bỏ đảng CSVN, là một nhà bất đồng chính kiến, nhà văn Nguyên Ngọc đã bày tỏ ý kiến của ông. Ông Nguyên Ngọc trong một cuộc phỏng vấn gần đây dành cho ký giả Nguyễn Hồng Anh tại tư gia ở Hội An, ngày 9.3.2023, qua bài phát biểu có tên Văn chương về đề tài chiến tranh – Trí nhớ của ngôn từ và sự độc đoán của văn học sử thi, đã cho biết: “Kháng chiến chống Pháp, ít nhất đến trước năm 1950, còn rất đẹp. Năm 1950 biên giới Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn được giải phóng, kháng chiến của Việt Nam nhận được viện trợ của Trung Quốc, rồi Liên Xô, đồng thời tư tưởng Mao Trạch Đông cũng được nhập khẩu, lý thuyết đấu tranh giai cấp khiến cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng trở thành chiến tranh ý thức hệ, rồi đến huynh đệ tương tàn. Chúng tôi ở Liên Khu 5 (tức Nam Trung Bộ), xa biên giới phía Bắc hơn, nên ảnh hưởng có tính bi kịch ấy đến chậm hơn và nhạt hơn…” “Tôi nhớ có lần ông Võ Chí Công, bấy giờ là Bí thư, Chính uỷ Khu 5 tổ chức thảo luận: Chiến tranh ở miền Nam có tính chất nội chiến hay không? Thảo luận suốt một ngày, cán bộ nhà ta, đủ cả tham mưu, chính trị, hậu cần, anh nào cũng lên gân chỉ tuyệt đối là chống ngoại xâm thôi, làm sao gọi là nội chiến được, vậy nguỵ quân cũng là anh em à!... Cuối cùng ông Võ Chí Công mới kết luận. Tôi nhớ hôm ấy ông nói rất chậm, khó nhọc và hơi buồn. Ông bảo tất nhiên chống ngoại xâm là đúng rồi, nhưng theo tôi cũng có chen cả tính chất nội chiến nữa. Cần bình tĩnh xem xét cho kỹ thì mới có thể xử lý được đúng các vấn đề thực tế trên chiến trường… Kỳ thực, thực tế chiến trường cũng đã khiến chúng tôi phải suy nghĩ. Sau hội nghị Paris, Mỹ đã rút hết quân, chỉ còn đánh nhau với quân đội Sài Gòn, lại thấy khó hơn đánh Mỹ. Cả năm 1974, không diệt gọn được đại đội quân Sài Gòn nào trên chiến trường. Cho đến năm 1975 mới vỡ từng mảng lớn và sụp đổ. Có thể chắc chắn là do từ sai lầm chiến lược của Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên. Nếu không có sai lầm đó sự thể sẽ còn rất phức tạp.” (Trang mạng Bauxite VN, ngày 20/3/2023). Tuy nhiên, người đã phát biểu quan điểm đầu tiên, chính xác nhất về bản chất của chiến cuộc Việt Nam đó là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trong cuốn sách có tên Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản (in lần thứ ba, California 2007), tác giả Minh Võ trong phần nói về “trung lập” có viết ở mục chú thích : 3 Đề cập tới vấn đề trung lập ở đây, chúng tôi chỉ có ý đưa ra một hình thức sách lược của Cộng sản, và dựa vào những danh từ mà gần đây thường thấy xuất hiện trên các tấm thảm xanh quốc tế. Chúng tôi không quan niệm rằng thế giới thực sự chia làm hai khối: một Tự do, một Cộng sản và do đó có thể thành lập một khối trung lập tích cực ở giữa. Chúng tôi đồng ý với Tổng thống Ngô Đình Diệm (Thông Điệp Song Thất 1961) rằng trên thế giới hiện nay chỉ có một khối Cộng sản với một ý thức hệ duy nhất, với một bộ máy thống trị duy nhất, và Cộng sản coi tất cả những nước nào chưa nằm trong khối đó là địch thù, là đối tượng cần thủ tiêu hay chinh phục để cuối cùng bá chủ thế giới. (Trang 108) Như vậy vấn đề tên gọi cuộc chiến tranh này, như TS Lê Đình Cai hay một người nào khác gọi, là chiến tranh ý thức hệ thật sự cần phải được nghiên cứu thêm. 2.- Thử đọc lại một bài báo cũ của Linh mục Sử gia NGUYỄN PHƯƠNG Tôi đón tiếp cuốn sách của TS Lê Đình Cai với sự vui mừng, nhưng chỉ mới đọc thoáng qua cũng đã hơi khựng lại khi có một vài nhận xét sơ khởi về các nguồn tài liệu trong đó tác giả tham khảo để hình thành nên tập luận án sử học này. Trong các nguồn tài liệu tham khảo tôi để ý đến cuốn hồi ký của Thiếu Tướng Đỗ Mậu có tên “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” (VNMLQHT) mà GS Lê Đình Cai có trích dẫn khá nhiều trong cuốn sách của mình. Một cuốn sách thứ hai tôi lưu ý đến đó là cuốn hồi ký “Công Và Tội” của Nguyễn Trân, Cựu Tỉnh Trưởng Định Tường dưới thời Cố TT Ngô Đình Diệm, nhưng cuốn sách này sẽ được tôi đề cập đến khi có dịp thuận tiện. Trong tác phẩm Phương Pháp Sử Học, sử gia linh mục Nguyễn Phương, vị thầy khả kính của tôi cũng như một số môn sinh khác trong đó có Lê Đình Cai, cách nay hơn sáu thập niên tại Trường Đại Học Văn Khoa Huế đã viết rằng: “ Hồi ký.- Đó là một nguồn sử liệu quý, chép bởi chính những người đóng vai trong những biến cố được thuật lại. Dầu vậy sử gia cũng nên nhớ rằng nó vẫn có thể chứa đựng sai lạc vì những lý do nầy: Trước, hồi ký thường dựa vào ký ức để viết, mà hỏi ký ức đâu phải luôn luôn trung thành? Bởi đó một việc xảy ra càng cách xa lúc viết càng có thể bị sai lạc hơn. Nếu người chép hồi ký có được thư tín, hoặc nhật ký nâng đỡ, thì công việc sẽ được chắc chắn. Lý do nữa khiến cho hồi ký có thể bị sai lạc, là thường người ta chép hồi ký với tiền ý bênh vực sự nghiệp của mình. Vì lo lắng tự biện chính như vậy mà nhiều khi tác giả phóng đại sự thật, hay che giấu đi những chỗ không được mấy tốt đẹp. Về tập hồi ký của J. Laniel, nhan đề là Le Drame Indochinois (de Điện biên phủ au “Pari” de Genève) xuất bản năm 1957, chẳng hạn, tướng Henri Navarre đã viết: “Không ai sẽ lấy gì làm lạ nếu sách đó, như chính 4 tác giả đã nói, là một “tài liệu” chép ra “chỉ vì lòng ưu ái đối với sự thật”. Chẳng may xem ra vị cựu thủ tướng đã cố tìm cách đem những trách nhiệm, chính ra là của ông, trút đổ một phần cho các vị chỉ huy quân sự, một phần cho kẻ kế vị ông. Sách ông đầy dẫy những chỗ bỏ bớt, sai lạc, mâu thuẫn, ẩn ý, và có khi xuyên tạc sự thật nữa.” (Nguyễn Phương, Phương Pháp Sử Học, Phòng Nghiên Cứu Sử, Viện Đại Học Huế, Nhà in Sao Mai, 1964, trang 133). Dùng một cuốn sách được cho là hồi ký như VNMLQHT của Đỗ Mậu làm tài liệu để tham khảo, trích dẫn, việc làm của GS Lê Đình Cai khiến tôi chú tâm bởi vì trong con mắt của những người từng được huấn luyện về Phương Pháp Sử Học, chúng tôi ắt phải cẩn thận hết sức khi sử dụng đến loại tư liệu này nhất là cuốn sách hơn 1200 trang đầy luận điệu chửi rủa, vu khống, chụp mũ mệnh danh là của Đỗ Mậu lại do những người được dư luận cho là Thích Nhất Hạnh, Trần Quang Thuận và Ngô Trọng Anh viết. Để đánh giá được hồi ký VNMLQHT của Đỗ Mậu, chúng tôi đã tìm đọc lại sách báo cũ ở Hoa Kỳ trong hơn ba thập niên về trước, và may mắn gặp được một bài nhận định về Đỗ Mậu và cuốn VNMLQHT của Trúc Long, bút hiệu viết báo của Linh mục Sử gia Nguyễn Phương (1921-1993) khi ra sống ở hải ngoại. Bài báo viết như sau: CHỈ VÌ “KHÔNG CÓ HỌC… Trúc Long Mới đây, tôi được đọc bản văn của Nhị Lang đề là “Vạch Trần Thủ Đoạn Xuyên Tạc Bôi Nhọ của Hoành Linh Đỗ Mậu Trong Tác phẩm ‘Việt-Nam Máu Lửa, Quê Hương Tôi’”. Thoạt thấy cái đề, tôi chờ đợi những giòng chữ thô bạo, ôm đồm, mạt sát. Nhưng không. Trước mắt tôi đã dần dần diễn ra cả một áng văn tuyệt tác, lời lẽ ôn tồn mà sắc như gươm, thanh tao nhưng xoi bói như ánh sáng. Hiệu lực của hơn hai chục trang đánh máy dài đó chắc chắn đã có thể kinh khủng như những tia lasers, nếu đối tượng của nó cũng thuộc hạng người có cảm giác tinh, vi, có tâm hồn tế nhị như Nhị Lang. Tiếc thay, đối tượng lại là tác giả, hoặc các tác giả, của tập VNMLQHT, tức là người thiếu lương tâm, vô trách nhiệm, cảm giác đã chai lì vì trác táng, tâm hồn đã thác loạn vì phản trắc, nên lời văn cao thượng của Nhị Lang chỉ còn là những tiếng đàn tuyệt diệu gảy vào tai trâu đó thôi. Mà thật, Thiếu tướng Đỗ Mậu, dầu đã già, vẫn đành đem thân làm trâu ngựa lần cuối cho những “bóng ma”, với tập sách mà công nhiên ông là tác giả. 5 … NÊN KHÔNG THỂ CHÉP LỊCH SỬ… Phê bình tập sách nói là của TT Đỗ Mậu, Ông Nguyễn Đạt Thịnh đã dùng nhan đề “Sử Gia Đỗ Mậu” (bài đăng trong tờ báo biếu Tiếng Việt rồi in lại trong Tiền Phong số 265). Vì tiếng sử gia không được đóng trong ngoặc kép, và vì cuối đề không có dấu nghi vấn, tôi cứ tưởng phê bình gia đã tìm được một vài sử chất nơi tập sách dày đến 1267 trang kia. Không ngờ, theo ông Đạt Thịnh, tiếng Sử Gia đặt vào đó chỉ là để châm biếm, chứ tập sách đã không có gì là sử cả, mà chỉ là những lời thoá mạ trường thiên. Nhà phê bình lo rằng tập sách sẽ di hại cho lịch sử vì các thế hệ mai sau sẽ tưởng rằng các điều được nói trong sách là có thật. Có thể thế, nhất là khi tác giả của tập sách lại là một ông tướng, có nghĩa là một người có văn hoá, hơn thế nữa, khi ông tướng này đã từng giữ chức vụ Tổng Trưởng Văn hoá Xã hội. Nhưng nghĩ lại, không đáng lo lắm, vì thế hệ nào cũng vậy, người có lương tri không bao giờ tin vào những tài liệu chủ trương xuyên tạc và bôi nhọ, chửi bới, như tập sách mang tên TT Đỗ Mậu. Đối với người học sử, một tiếng khả nghi mà thôi đã đủ để làm mất giá trị của một tài liệu, huống hồ đây tất cả tài liệu đều kết bằng những tiếng rất khả nghi. Vì thế, không cần phải đợi thế hệ sau, chính hôm nay đây, những kẻ đã để mắt vào tập VNMLQHT, đều có những phản ứng vô cùng tiêu cực. Không phải thiên hạ chỉ chê rằng người viết không biết cách viết mà thôi, mà người ta chê cả tư cách của người viết, nó hiện hình ra nơi mỗi câu văn. Nhưng thiết tưởng không cần phải dừng lại lâu ở mục này, vì câu văn đây nhất thiết không phải là câu văn chép sử. Sử là thuật chuyện, cả những chuyện chửi bới, nhưng không bao giờ sử là những lời chửi bới. * * * … CŨNG KHÔNG THỂ CHÉP HỒI KÝ… Tác giả tập VNMLQHT mệnh danh cho công trình của mình là một tập hồi ký. Nhưng Nhị Lang không tin. Ông đã nhìn vào khía cạnh này và bươi ra toàn là rắc rối cho tác giả. Trước, Nhị Lang đặt ra mực thước để đo hồi ký, nói “hồi ký là một thể văn tự thuật” chứ không phải bất cứ chuyện nào cũng thuật, như những chuyện cả đời không hề có dính dáng gì với tác giả, chẳng hạn. Và nó phải được thuật “với những diễn tả trung thực” chứ không phải chủ trương xuyên tạc, bôi nhọ. Trong hồi ký, tác giả phải thuật “những cảm nghĩ của mình” chứ không phải vay 6 mượn của kẻ khác gặp được trong sách vở báo chí. Các cảm nghĩ này lại còn phải được thuật “theo từng giai đoạn và trình độ tuổi tác” chứ không phải tất cả đều được quan niệm theo tâm trạng của tác giả khi cầm bút viết hồi ký. Mực thước là như thế đó, vậy mà theo Nhị Lang, và cũng là theo nhận xét của mọi độc giả, toàn bộ tập sách không chỗ nào trúng vào bên trong ngoặc kép cả, nghĩa là tất cả đều trật đường rầy. Mà còn là trật một cách ngây ngô bởi lẽ thiếu hẳn kiến thức về bút pháp, vì nhiều chỗ tác giả còn chường ra ở mục ghi chú các tài liệu tác giả đã tham khảo. Thật là, thưa ông con ở bụi này! Có một chỗ trong các mực thước của Nhị Lang đáng được chú ý đặc biệt. Tiên sinh nói rằng trong hồi ký “tác giả lần lượt kể lại các sự việc mà tác giả coi là đáng cho kẻ khác biết tới đời mình từ lúc trẻ tới lúc già”. Chữ đáng được Nhị Lang nhấn mạnh đó cho phép người viết hồi ký được quyền lựa chọn rộng rãi, nhưng chắc chắn một điều là các chi tiết có khả năng soi sáng cho lịch sử nhất thiết không được bỏ qua. Cho nên, khi thấy tập hồi ký của TT Đỗ Mậu bỏ qua nhiều chi tiết thuộc loại nầy, tôi nghĩ rằng kẻ khác cần phải giúp tác giả mà bổ túc vào. Ít ra hai chi tiết phải được nói đến, đó là về lý do tại sao TT Đỗ Mậu làm cách mạng, và về cách thức làm cách mạng của Thiếu tướng. Thăng quan tiến chức, ai cũng muốn… Nhưng Thiếu tướng họ Đỗ đã muốn một cách vượt mức. Từ thuở ông vãng lai nhà tên Tử vi ở Đường Trần Quý Cáp (Testard cũ), ông đã nhập tâm một điều rằng mình là “một nhân vật đã mang chân mệnh SINH VI TƯỚNG, TỬ VI THẦN”. Cái ám ảnh làm tướng nơi Đại tá Đỗ Mậu càng hoa lên như lửa đốt vì bấy giờ là lúc ngoại bang đang chủ trương hạ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trước khi mua các tướng tá làm trâu ngựa để tấn công họ Ngô, ngoại bang đã ranh mãnh mua các nhà tướng số để tấn công tướng tá, nhất là các tướng tá họ biết “cưỡi” được một cách dễ dàng hơn. Thế là câu “sinh vi tướng, tử vi thần” xuất đầu lộ diện. Trong cố gắng thực hiện cho đúng chân mệnh, dĩ nhiên không có phương sách nào mà Đại tá Đỗ Mậu không dùng. Kết quả đã được rất tốt đẹp nơi Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Lê Văn Tỵ, vì tên của ĐT Đỗ Mậu đứng đầu danh sách được đề nghị lên tướng. Đề nghị này có hơi khác thường, và đây chính là chỗ nêu cao cái tài vận động của nhà họ Đỗ, đó là Đại-tá Mậu không có văn hoá cũng không có kinh nghiệm chỉ huy. Cụ Diệm vốn rất thương Đại-tá họ Đỗ, vì nếu không thương, một người học đến ri-me và xuất thân là một tên lính khố xanh, làm sao mà lên được đến chức Đại-tá và giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng? Dầu thương, Cụ Diệm luôn luôn sáng suốt. Cụ đã nghiêm chỉnh gạt tên ĐT Đỗ Mậu ra khỏi danh sách lên tướng, và nói với Đại tướng Lê Văn Tỵ: “Đại Tá Mậu không có học, cũng không có kinh nghiệm hành quân, cho lên tướng, các nước ngoài và nhất 7 là Võ Nguyên Giáp nó sẽ cười chúng ta”. Và thế là mối tử thù manh nha giữa nhà họ Đỗ và nhà họ Ngô, vì từ đó, tiếng của chân mệnh nổi lên ví von hơn nơi miệng của tên “nằm vùng” Lê Hoàn, thầy bói của Đường Trần Quý Cáp. Bấy giờ việc ngựa bị lùa vào chuồng ngoại bang chỉ còn là việc của thời gian. Không mấy chốc thời gian đã đến vì ngoại bang nhận thấy trong chuồng chưa có đủ mặt ngựa. Một con cốt cán vẫn dùng dằng không chịu vào. Hỏi ai có đủ cái sức phản trắc cần thiết để làm thuyết khách? Ngoại bang biết, và các tướng lãnh biết, không còn ai bằng con người mang chân mệnh. Bao lâu còn Cụ Diệm là bấy lâu con đường của chân mệnh còn bị bế tắc. Nay có cơ hội để khai thông, dại gì lại không lăn xã vào. Và người ta thấy ĐT Đỗ Mậu vãng lai tư dinh TT Tôn Thất Đính. Lần nầy rồi lần khác, Ông Đính vùng vằng. Lúc đầu Đại tá thuyết khách còn ăn nói như quân nhân với quân nhân, như nhà cách mạng với một nhà cách mạng. Nhưng rồi, vì đối tượng ngoan cố và vì chân mệnh thôi thúc, thuyết khách đã trở thành tên lính khố xanh trước Ông Quan Lớn, hơn nữa, như thần tử trước long nhan, lạy lấy, lạy để, van nài viên tướng một là bằng lòng làm cách mạng, không thì “giết tôi đi” vì tất cả bí mật của kế hoạch cách mạng đã bị tiết lộ. Không muốn đổ máu trong nhà, viên tướng bảo viên đại-tá hãy về đi để mình nghĩ lại. Giúp cho Tôn Thất Đính nghĩ lại và chun vào chuồng của ngoại bang, Đại tá Đỗ Mậu đã có kinh nghiệm của những ngày chạy chọt để đứng đầu danh sách lên tướng. Trên đây chỉ là nói ra dài dài hơn lý do TT Đỗ Mậu làm cách mạng và cách thức ông làm cách mạng. Chính Thiếu Tướng cũng đã đề cập đến vấn đề nầy một cách qua loa. Có lần ông đã nói với Nhị Lang rằng: “Chính Thằng Đỗ Mậu này mới thực sự làm cách mạng! Thằng Đỗ Mậu này đã phải quỳ lạy ‘hói đầu sứt trán’ chúng nó mới chịu đồng ý lật đổ ông Diệm cho”. Tội nghiệp cho T. Đỗ Mậu. Nhưng đó là chân mệnh của ông. Không nói đến các khúc mắt của con đường chân mệnh này, thì cho dầu viết đầy hơn nghìn trang giấy, tập sách vẫn không phải là hồi ký. * * * …NHƯNG LÀM NGỰA CHO “BÓNG MA” CƯỠI. Cho đến nay, các bài bàn tán về tập sách mang tên TT Đỗ Mậu, ngoài của Nhị Lang và của Nguyễn Đạt Thịnh ra, còn có của Cộng đồng Công giáo Việt nam, Orange County, đề là “Nghĩ Về Tập Hồi Ký Đỗ Mậu”. 8 Bị thúc giục phải lên tiếng, vì trong ba mục tiêu lớn của tập hồi ký, mục tiêu “thứ ba chỉa mũi dùi công kích và mạt sát giáo hội Công giáo Việt nam, hàng Giáo phẩm VN, và xa hơn nữa là cả Đức Giáo Hoàng và Toà thánh La mã”, Cộng đồng này đã lên tiếng, nhưng là để nói rằng “xin nhường mọi phán đoán lại cho công luận” vì sợ chia rẽ. Dĩ nhiên thế là vô sự nhất, vì thế là thi hành đúng ngắt lời của ông bà dạy: biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe, mặc dầu là phải nghe thiên hạ kêu cha, kêu mẹ ra mà chửi. Dầu vậy, ngoài việc nghe tiếng chửi cha, chửi mẹ, họ còn nghe được tiếng của “bóng ma”. Họ nghĩ rằng “có những bóng ma”, những bàn tay vô hình mượn khuôn mặt họ Đỗ như một thứ bình phong để tạo chia rẽ trong tập thể người Việt”. Đang khi buồn cười vì thái độ của Cộng đồng – không can thiệp vào việc tạo ra chia rẽ để tránh chia rẽ - tôi phải nhận rằng lỗ tai họ đã khá thính. Họ nói có những “bóng ma” và “những bàn tay vô hình”, vì họ không có mặt trong ngày ra mắt tập hồi ký. Thực ra tại Chùa Học viện Phật giáo Quốc tế đã có một ngày ra mắt tưng bừng dưới sự chủ toạ của Thích Trí Niệm, và với lời thuyết trình của Trần Quang Thuận, cùng với nhiều người yêu nước làm thính giả. Sự việc đã xem ra quá chướng kỳ đến nỗi một ký giả phải đặt câu hỏi tại sao tập sách sặc mùi chính trị như thế lại được ra mắt trong khung cảnh tôn nghiêm đó. Và vị chủ toạ đã lúng túng nói rằng phải làm gấp để ông đi Đông Nam Á. Nhưng nhìn cho kỹ, thiết tưởng không có gì chướng kỳ khi tác giả đứng ra làm chủ toạ hay làm thuyết trình viên trong cuộc ra mắt của tập sách mình viết. Và “bóng ma” hoá ra người thật… Và “những bàn tay vô hình” tự nhiên thấy được rõ như những bàn tay của bạn và của tôi. Việc này có lẽ không có gì khó hiểu. Đã thấy rằng tập sách không phải là lịch sử, cũng không phải là hồi ký. Nó chỉ lặp lại, với một giọng gắt gỏng hơn, cực đoan hơn, những luận điệu đã một thời quen biết. TT Đỗ Mậu nói rằng ông đã lật đổ Cụ Diệm. Nhưng không phải Phật giáo Ấn Quang cũng có thể nói họ đã lật đổ Cụ Diệm đó sao? Nay, với diễn biến của các năm sau khi Cụ Diệm bị lật đổ, nhất là với việc mất trọn Miền Nam vào tay Cộng sản, chính nghĩa của Cụ Diệm càng ngày càng sáng tỏ. Nhưng Cụ Diệm càng thấy được anh minh, những kẻ đã giết Cụ càng cảm thấy cứng họng. Muốn cho họng đỡ cứng, cần phải hét lên thật to, nhưng bằng cách nào đây? Thế là những kẻ đồng cảnh ngộ đã ngồi lại. Con người trước đây có đủ phản phúc để làm thuyết khách, nay cũng có đủ nhẫn tâm để làm tác giả. Dường như ông nghĩ rằng cái tiếng tác giả sẽ xoá được mặc cảm “không có học” (thất học) đang giày vò ông. Và dường như ông cũng nghĩ rằng ngậm cho thật nhiều máu rồi phun ra cho thật mạnh vào thanh danh của Chí Sĩ Ngô Đình Diệm, vào gia đình họ Ngô, và vào bất cứ gì có dính dáng gần xa với họ Ngô, như hàng Giáo phẩm Việt 9 nam, Đức Giáo Hoàng, là có thể lấp được cái tội phản phúc chất đống lên mà ông và những kẻ lợi dụng ông đã tạo ra. Không ngờ, những kẻ chính thức cầm bút viết tập hồi ký, vì họ biết quá rõ cái tịt “không có học” của ông, lại vì họ được ở trong tình trạng vô danh – nghĩa là vô trách nhiệm – đã làm cho tập “Hồi ký Đỗ Mậu” thành “những câu chửi rủa dài trên một ngàn trang”. Độc giả của tập hồi ký có cảm tưởng như bị long tai điếc óc bởi những lời thô bỉ, đổ thừa trơ trẽn, xuyên tạc trắng trợn, của những bóng cuồng “ma” đang lồng lộn trên mình con ngựa đã già mà còn dại. Trong lời kết của bài phê bình tập “Hồi ký Đỗ Mậu”, ông Đạt Thịnh vô tình đã hầu như lặp lại lời Cụ Diệm, nói: “Ông tướng họ Đỗ đã tệ hơn mức dại nữa: ông không học (bất học)…Và tập sách sẽ không hoàn toàn vô dụng, vì ít ra nó có công hiệu bất hủ hoá mặc cảm không có học và lòng phản phúc đen ngòm của viên tướng già lưu vong. Tệ hơn mức dại chưa phải là hết mức tệ… Người xưa còn nói: Nhân bất học, bất như vật. * * * Trâu ngựa đâu có manh tâm phản chủ? Trâu ngựa đâu có tìm cách chữa tội phản phúc bằng cách cố tình xuyên tạc bôi nhọ vào thanh danh của ông chủ mình đã giết đi vì phản phúc. Chỉ có những kẻ đem thân làm trâu ngựa mới làm được như thế. Trên bia miệng của các độc giả tập VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI, khi họ đã đưa mắt qua trên hơn một ngàn trang vấy đầy máu Cụ Diệm, họ sẽ hồn nhiên lặp lại câu chân mệnh làm như bia mộ cho tác giả, nhưng với một thay đổi. Họ xướng lên: SINH VI TƯỚNG PHẢN PHÚC, TỬ VI THẦN không phải chỉ THẤT HỌC, mà là BẤT HỌC. Ô HÔ! AI TAI! Trúc Long Bài báo trên đây được trích trong tập “Những bài của Nguyễn Phương tự Trúc Long đã được in trong các báo chí Việt kiều ở Hải ngoại” là một trong số di cảo quý 10 giá Cố Linh mục Nguyễn Phương đã để lại cho tôi sau khi ngài qua đời ngày 27/12/1993 tại Chi Dòng Đồng Công Missouri, Hoa Kỳ. 3.- Đối chiếu vào những kinh nghiệm bản thân. Trong thời gian ở trại cải tạo của CS (1975-1988), tôi cùng nhiều anh em khác đều chia xẻ một quan điểm rằng nếu TT Ngô Đình Diệm không bị bọn tướng lãnh tham tiền của Mỹ, loại người mà TT Hoa Kỳ Johnson mệnh là “một bọn côn đồ ác ôn”, thì chưa chắc đã có ngày 30/4/1975 và chúng tôi trong đó có cả TS Lê Đình Cai làm gì đã gặp phải cảnh khốn khổ hậu quả thảm khốc của cái ngày đó. Trong tác phẩm Dòng Họ NGÔ ĐÌNH Ước Mơ Chưa Đạt, ông Nguyễn Văn Minh (tác giả là anh rể bạn tôi là Hoàng Văn Sự cùng học Viện Hán Học Huế 1959 1962) có nhắc đến một cuốn sách mà tác giả là nữ Trung tá Tình báo Gián điệp Việt cộng Đinh Thị Vân, tức Trần Thị Mỹ, một nữ sĩ quan của tổ chức Tình Báo Chiến Lược VC hoạt động tại Miền Nam đã từng bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của ông Ngô Đình Cẩn bắt. Sau ngày 30-4-1975, cô viết và phổ biến cuốn Cuộc Chiến Tranh Đặc Biệt, thể loại hồi ký: “ Theo một số cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã được đọc cuốn hồi ký này trong trại cải tạo kể lại, nội dung hồi ký bày tỏ sự kinh ngạc trước hiệu quả chống Cộng của chính sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ của miền Nam. Họ hoảng sợ trước đường lối, phương pháp thực hiện chính sách này của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Số sĩ quan có tinh thần chống Cộng quyết liệt, vô tư, đã có những phản ứng tích cực sau khi đọc cuốn hồi ký này, như trường hợp dưới đây. Trung tá N. khi còn là Trung uý, đã từng làm việc dưới quyền Đại tá Dương Hiếu Nghĩa, sau khi đọc hết cuốn chuyện, anh cầm cuốn sách đến gặp Đại tá Nghĩa đang bị giam cùng trại. Và sau đây là cuộc đối đáp giữa hai người: -Thưa ông thày, nhiều người nói ông thày có nhúng tay vào việc giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu, chuyện ấy có đúng không? -Không đúng. Tôi không có nhúng tay vào việc này. -Vậy ai đã giết các ông ấy, ông thày có biết không? -Tôi biết, nhưng lúc này chưa thể nói ra được. -Đến bao giờ ông thày mới nói được? 11 -Có ngày tôi sẽ nói ra cho mọi người biết. -Xin lỗi ông thày, anh giơ cuốn sách lên, chế độ các ông ấy chống Cộng hữu hiệu như vầy mà giết người ta đi, để bây giờ phải vô ngồi tù cả đám như thế này. Tất cả những đứa dính vào vụ này, từ thằng Dương Văn Minh trở xuống, tôi gọi bằng “thằng” hết! Một trong những người được chứng kiến cuộc đối đáp này là cựu Trung tá Lê Thiện Phước.” (Nguyễn Văn Minh, Dòng họ Ngô Đình, Ước mơ chưa đạt, Hoàng Nguyên xuất bản, Tái bản lần thứ nhất tháng 11-2003, trang 92-94). Trước khi xuất bản cuốn “Chiến Tranh Quốc Cộng”, TS Lê Đình Cai đã cho in cuốn Khúc Quanh Định Mệnh nói rất nhiều về những thành tích học hành của mình dĩ nhiên là dưới thời Đệ I và Đệ II Cộng Hoà, qua lãnh vực giáo dục mà các chế độ Miền Nam đều rất mực lưu tâm. Tôi chia xẻ với TS Lê Đình Cai những giòng chữ anh viết như sau: “Năm 1954 mùa hè năm đó chúng tôi đã đỗ rất cao trong kỳ thi văn bằng Tiểu Học (hết cấp 1 nói theo hệ thống giáo dục hiện nay) khiến cô giáo Kim Trâm vô cùng hãnh diện. Tiếp đó, chúng tôi tham dự kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất trường Trung Học Nguyễn Hoàng niên học 1954-55 cùng với rất nhiều sĩ tử các quận huyện và các trường tư thục trong tỉnh. Năm 1954 cũng là năm ký hiệp định Genève (20-7-54) chia đôi đất nước Việt Nam với con sông Bến Hải làm ranh giới. Dạo đó, dù còn nhỏ nhưng chúng tôi đã cảm thấy có cái gì mất mát lớn lao trong thực trạng chia cắt của quê hương. Dòng người di cư đổ vào thành phố nhỏ bé Quảng Trị ngày càng đông và phải chia nhau ở các trại tạm trú tại sân vận động. Rất nhiều con em của các gia đình di cư này cũng dự thi vào lớp Đệ Thất Trung Học Nguyễn Hoàng năm đó và anh Nguyễn Văn Thưởng (nhà thơ Chu Vương Miện) là bạn cùng học với tôi ở trong số này. Sau khi thi xong chúng tôi chờ đợi giờ đọc tên “bảng vàng” mà lòng như lửa đốt và rồi kết quả như chúng tôi kỳ vọng, anh em chúng tôi đều trúng tuyển với thứ hạng cao nhất toàn tỉnh.” (Lê Đình Cai, Khúc Quanh Định Mệnh, Đăng Trình California, 2022, trang 22). Giai đoạn này cũng là lúc mà TT Ngô Đình Diệm bù đầu trong việc đối phó với thực dân Pháp, sự lật lọng tráo trở của người Mỹ, sự phá phách của các giáo phái, với việc định cư một triệu người từ ngoài Bắc dồn vào, mà cũng vẫn không quên lo cho người dân vùng Quảng Trị nghèo đói, khốn khổ như anh Cai được học hành, thì công ơn Cụ Diệm phải nói là không biết để vào đâu cho hết. Lúc này, gia 12 đình tôi từ Quảng Bình bỏ cả giáo xứ, mồ mả, nhà cửa, tài sản để di cư vào Nam. Tôi không ở trong số người di cư vào tỉnh Quảng Trị, nhưng rời phi trường Đông Hà sau khi bay vào từ phi trường Hoàn Lão, Đồng Hới, tôi theo các bà chị của tôi lên xe đò Quảng Trị vào Huế. Những phần tiếp của cuốn sách nói về những thành đạt của anh LĐC trong lãnh vực giáo dục, một lãnh vực được giành nhiều ưu tiên dưới thời Cụ Ngô Đình Diệm. Trong cuốn sách xuất bản năm 2022 có tên Khúc Quanh Định Mệnh, tác giả Lê Đình Cai có viết: “Tôi được thả ra vào ngày gần tết (đầu năm 1982) từ trại cải tạo Bình Điền (Nằm ở vùng núi Trường Sơn Đông thuộc phía Tây Nam thành phố Huế, gần biên giới Lào-Việt), nơi mùa hè thì nắng cháy nghiệt ngã, mùa đông lại lạnh buốt tới xương, quả là miền đất sơn lam chướng khí, như cách nhận xét của những người từng sinh sống lâu năm ở đó: Cọp Bình Điền, nước khe điên, Vào thôi cũng đủ, muộn phiền, khó ra. Ngày rời trại, trời âm u, mưa lất phất… Tôi cùng một số bạn tù đi bộ ra bến đò Bình Điền, xuôi về quận lỵ Nam Hoà rồi đáp xe lam về thành phố Huế. Khi chiếc xe Honda ôm đưa tôi ngang cầu Trường Tiền, hướng vào nội thành, tôi nhờ bác tài dừng lại… Tôi đứng trên cầu quay nhìn về hướng khách sạn Morin, nơi mà trước đây là toà nhà của trường Đại Học Văn Khoa Huế. Chính ngôi trường này là nơi ghi dấu kỷ niệm cuộc đời sinh viên qua bốn năm dài đèn sách (1962-1966) Rồi hơn bốn năm sau (1970), từ Sài Gòn tôi trở lại Huế và cũng ở ngôi trường Văn Khoa này, tôi đã đứng trên bục giảng, truyền thụ những điều mình học hỏi được cho lớp sinh viên đàn em đang háo hức mộng ước vào đời… Thời gian và kỷ niệm dồn về đầy ứ trong tâm tư…” (Trang 119) Và ở đoạn dưới, GS Lê Đình Cai viết tiếp những đoạn thấy rất tội nghiệp: “Tôi chỉ ở Huế được vài ngày thì phải thu xếp vào ngay vùng kinh tế mới Phú Cường, Đồng Nai vì chính quyền địa phương không cho phép tôi ở lại thành phố này lâu hơn…” 13 “ Tôi cùng gia đình vào vùng kinh tế mới ở miền Đông Nam Bộ (vùng Dầu Giây, Long Khánh). Đúng ra miền đất hoang sơ và khô cằn này là vùng Phú Cường thuộc tỉnh Đồng Nai. Đối diện với một thực tế quá sức nghiệt ngã: chung quanh là rừng cây bao phủ, ngôi nhà chúng tôi ở (phải gọi là túp lều mới đúng); vách ngăn bằng tre và mái lợp bằng tranh. Tôi đến vùng này vào cuối đông; hương xuân đã lãng đãng đâu đó ngoài khu chợ nhỏ bé lưa thưa những chòi tranh tạm bợ… (Trang 120) Đọc bài báo viết về sách của Đỗ Mậu của linh mục sử gia Nguyễn Phương vốn là thầy dạy của mình như đã được trích dẫn ở trên, cùng đoạn văn của ông Nguyễn Văn Minh trong sách “Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt”, viết về những việc làm hiệu quả của ông Ngô Đình Cẩn trong việc đem lại an ninh cho Việt Nam Cộng Hoà từ những ngày đầu thành lập, tôi không biết anh Lê Đình Cai có nghĩ gì về những công lao Cụ Ngô Đình Diệm đã đóng góp vào việc xây dựng nên nền Đệ I Cộng Hoà hay không? Ít nhất là trên lãnh vực giáo dục mà chính anh đã được thừa hưởng? Uống nước phải nhớ nguồn. Toàn bộ cuốn sách của TS Lê Đình Cai không thấy có lấy một chữ nói lên lòng cám ơn của người được học hành đến nơi đến chốn đối với vị lãnh đạo nền Đệ I Cộng Hoà (quả thật là thiếu sót lớn) mà chỉ là những lời phụ hoạ theo luận điệu của Đỗ Mậu và một số tên bồi bút khác của Mỹ sau khi lật xong Cụ Diệm? Tôi thật tình trách tác giả LĐC và cũng lấy làm tiếc. Nếu TT Ngô Đình Diệm không bị Hoa Kỳ thuê tiền bọn tướng lãnh ác ôn côn đồ giết trong cuộc đảo chính năm 1963 thì làm sao có việc đi tù mút mùa, tán gia bại sản, phải vật vờ kiếp sống trên vùng kinh tế mới của hàng triệu người ở Miền Nam mà anh Lê Đình Cai là một nạn nhân và là nhân chứng đã ghi lại trong hồi ký của mình? 4.- Về một quan điểm cần được phân tích thêm. Trong tác phẩm Chiến Tranh Quốc Cộng tại Việt Nam 1954-1975, ở trang 205, tác giả Lê Đình Cai viết: “Giáo Hoàng Paul VI lên ngôi vào năm 1963 là một vị giáo hoàng được xem là thân Nga và thân Hà Nội. Đỗ Mậu kể rằng “ngày 11-2 1965 Đức Giáo Hoàng nổi tiếng thân Nga và thân Hà Nội, kêu gọi ngưng chiến ở Việt Nam”. Cũng trong năm 1965, Giáo Hoàng Paul VI liên tiếp kêu gọi tín đồ cầu nguyện cho hoà bình thế giới vào ngày 11-7-65 và ngày 19-9-65. Qua ngày 4-10 1965, ngài đích thân đến Hoa Kỳ hội đàm với TT Johnson, bàn về tình hình thế giới và chiến tranh Việt Nam.” (Đăng Trình xb, 2023, trang 205) Ý kiến cho rằng Giáo Hoàng Paul VI là vị giáo hoàng “thân Nga và thân Hà Nội” là quan điểm của Đỗ 14 Mậu viết ra vì thù ghét Công Giáo, nhằm bôi nhọ và tỏ ra không hiểu biết gì về lịch sử cả. Trong cuốn sách Phương Pháp Sử học của linh mục Nguyễn Phương mà tôi coi như cẩm nang, thấy có đoạn viết: “Vấn đề sử còn phải viết lại khi sử gia nhận thấy các sử liệu không được giải thích đúng đắn. Giải thích sử liệu là một công tác quan trọng trong việc chép sử, mà sử liệu nhiều khi có thể giải thích cách này hay cách khác. Người ta phải giải thích lại tài liệu cũ phần nhiều là vì, với sự tấn bộ của nền sử học, sử gia hiểu rõ ý nghĩa hơn hoặc có những liên tưởng rộng rãi hơn.” (Nguyễn Phương, Sách đã dẫn, trang 53). Đưa ra nhận định rằng Giáo hoàng Paul VI là người “thân Nga và thân Hà Nội” dĩ nhiên độc giả, nhất là những người Công Giáo Việt Nam đòi buộc tác giả Đỗ Mậu phải giải thích. Nhưng ông này không giải thích được vì trình độ quá kém vả lại ông có phải là tác giả chính cống của cuốn sách dày cộm nghìn trang đầy ngôn từ chửi rủa đó đâu? Thế thì đến lượt những người viết sau, như TS Lê Đình Cai chẳng hạn, phải giải thích, mà chúng tôi vốn là độc giả chỉ thấy tác giả Lê Đình Cai chép lại nguyên văn quan điểm đó, tức là hoàn toàn đồng ý với Đỗ Mậu mà không soi chiếu thêm một chút ánh sáng nào, nên tôi buộc lòng phải góp ý. Trong một cuốn sách có tên “Lịch Sử Giáo Phận Vinh” do ông Vương Đình Chữ chủ biên với nhiều tác giả gồm giáo dân và linh mục, có viết: “Trong các biến cố xảy ra sau Cách mạng Tháng 8-1945 mà chúng ta vừa nêu trên đây, không ai nhắc đến hai từ “Cộng sản”. Nhưng trước đó hơn 10 năm, các thừa sai đã nói đến Cộng sản như một thách đố mới. Mới là mới đối với Công giáo Vinh nói riêng và với Công giáo Việt Nam nói chung, còn đối với Công giáo hoàn vũ, vấn nạn này đã được đặt ra cả trăm năm trước. Phong trào Cộng sản ra đời tháng 02-1848 khi Karl Marx và Friederich Engels công bố “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Phong trào lan rộng ra nhiều nước Châu Âu và lớn mạnh dần, đưa đến cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), thiết lập chế độ chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới. Năm 1921, thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngày 03-02-1930, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam, nên nhiều người Nghệ Tĩnh gọi năm 1930 là “năm Cộng sản”. Phong trào Cộng sản và các Đảng Cộng sản đều dựa trên ý thức hệ duy vật biện chứng và chủ nghĩa vô thần chiến đấu (Athéisme militant) nên đối kháng mạnh 15 mẽ với các tôn giáo, thậm chí những người Cộng sản còn xác tín rằng “Chúng ta chỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ chủ nghĩa Cộng sản khoa học nếu chiến thắng được triệt để mọi thứ tôn giáo” [Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường, Tây dương Giatô bí lục, (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1981), 5. Trong mục “Vài lời nói đầu” của NXB Khoa Học Xã Hội.] Điều này đã được cụ thể hoá trong thực tế khi các đảng Cộng sản cầm quyền đã có những biện pháp gắt gao chống lại tôn giáo, cách riêng Công giáo. Trước chủ thuyết này, Giáo hội đã liên tiếp lên tiếng phê phán và kết án, qua các triều đại giáo hoàng, từ Đức Piô IX (1846-1878), Lêô XIII (1878-1903), và nhất là Giáo hoàng Piô XI (1922-1939). Quả vậy trong Thông Điệp Đấng Cứu Thế (Divini Redemptoris) ngày 19-3-1937, ngài nhận định rằng “Chủ nghĩa Cộng sản là một hệ thống đầy dẫy sự sai lầm và ảo tưởng, đối nghịch với cả lý trí và Mặc khải” (số 35); ngài kết luận: “Chủ nghĩa Cộng sản tự thân là xấu xa và bất cứ ai còn muốn cứu vãn nền văn minh Kitô giáo đều không thể hỗ trợ chủ nghĩa đó dưới bất cứ hình thức nào” (số 109). (Lịch sử Giáo Phận Vinh, Tập I, Công Giáo Nghệ Tĩnh Bình Thời Các Thừa Sai Nước NGoài, Định Hướng Tùng Thư, 2015, trang 486). Trong số các vị Giáo Hoàng có thái độ quyết liệt nhất đối với chủ nghĩa Cộng Sản phải nói là Đức Giáo Hoàng Piô XII (Giáo Hoàng 1939-1958). Có lẽ ngài là vị giáo hoàng biết nhiều nhất về những tác hại chế độ Cộng Sản trên thế giới gây cho nhân loại nên ngày 2 tháng Sáu năm 1949, ngài ra một sắc lệnh cấm người Công Giáo tham gia đảng Cộng Sản, cấm người Công Giáo ấn hành và viết các bài báo khuyến trợ cho chủ nghĩa Cộng Sản, cấm các linh mục không được phép ban hành các Bí tích cho những người Công Giáo vi phạm các điều kể trên… Tờ Sắc lệnh này được dán ngay tại Toà giải tội khắp trong các giáo xứ nước Ý, mục đích là để cảnh cáo không chỉ người giáo dân Ý thôi mà còn cho cả khối người Công Giáo ở phía Đông Âu châu nữa. Cũng chính Đức Giáo Hoàng Piô XII ban hành vạ tuyệt thông, tuyên chiến bất cứ nơi nào chủ nghĩa Cộng Sản bùng phát khi ngài nhìn về phía các quốc gia Đông Âu có rất nhiều người Công giáo như Poland, Slovakia, Lithuania, Hungary… (John Cornwell, Hitler’s Pope, The secret History of Pius XII, Published by the Penguin Group, 1999, trang 331 và 332). Một vị linh mục nổi tiếng ở Giáo phận Huế là Sảng Đình Nguyễn Văn Thích (1891-1979), con cụ Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, là một bậc chân tu, nhiều năm dạy tại Viện Đại Học Huế và Viện Đại Học Đà Lạt, trước năm 1975. Năm 1927, khi còn 16 ở Quy Nhơn, linh mục Nguyễn Văn Thích viết cuốn sách nhỏ có tên Vấn Đề Cộng Sản (The Question of Communism) đã có những ví von cụ thể khi viết rằng: “Nếu như anh muốn biết hậu quả của chủ nghĩa Cộng Sản, đơn giản là hãy nhìn vào Trung Hoa. Từ hơn mười lăm năm qua, chủ nghĩa Cộng Sản có trách nhiệm trong việc lật đổ nền quân chủ, thành lập dân chủ, khích động nội chiến và đẩy người dân xuống vũng bùn sâu hơn. Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi là Engels và Marx của Trung Hoa. Tôn Dật Tiên là Lê Nin, với quan điểm của ông ta về cuộc sống của người dân là cũng một loại hạng như chế độ vô sản của Xô Viết.” (David G. Marr, Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945, University of California Press, 1981, trang 85). Những điều mà Linh mục Nguyễn Văn Thích nêu trong cuốn sách nhỏ về Cộng Sản thật ra cũng không có gì sai sự thật vì đó là những kinh nghiệm ở Liên Xô trong cách họ đối xử với Chính Thống giáo như giết các tu sĩ, khai thác các bản năng thấp hèn của con người như tham lam, độc ác, sử dụng các phương tiện bạo lực, man rợ để đạt tới mục tiêu mau chóng (David G. Marr, cũng trang 85). Trong cuốn sách A Pope and A President, tác giả Paul Kengor cho biết rằng: “Các Mác đã gán cho tôn giáo nhãn hiệu là “thuốc phiện của nhân dân” và nhấn mạnh rằng “Chủ nghĩa Cộng Sản bắt đầu tại nơi chủ nghĩa vô thần bắt đầu.”Trong bản Tuyên Ngôn Cộng Sản, Mác đã viết, “Chủ nghĩa Cộng Sản triệt tiêu mọi chân lý vĩnh hằng, nó tiêu diệt tất cả mọi tôn giáo, và mọi luân lý” Lê Nin đi xa hơn nữa. “Tất cả mọi hình thức thờ phượng một thực thể siêu việt là sự kích động bất thường. Trong một lá thư tháng Mười Một năm 1913, vị bố già Bôn Sê Vích đã viết rằng “bất cứ một tư tưởng tôn giáo nào, bất cứ một ý kiến nào về Thượng Đế, bất cứ một sự ve vãn nào với Thượng Đế đều là sự điên rồ không được phép bày tỏ… sự điên rồ nguy hiểm, một sự truyền nhiễm đáng xấu hổ.” Học giả James Thrower nói rằng với sự truyền nhiễm đó, Lê Nin muốn nhắc tới chứng bệnh giang mai. Dưới chế độ Bôn Sê Vích, vô thần đã trở thành niềm tin chính thức của nhà nước. Lê Nin và bọn thủ hạ đã thúc đẩy điều đó rất tàn nhẫn. Chúng tiến hành việc thiết lập các tổ chức như Hiệp hội Không có Chúa (Society of the Godless), cũng được coi như Liên Đoàn Chiến Sĩ Không Có Chúa (the League of the Militant Godless). Chúng muốn chủ nghĩa Mác-Lê thay thế Chính Thống Giáo Nga và tất cả mọi tín ngưỡng quy ước khác, nó trở thành một tôn giáo dân sự mới. 17 Chế độ Bôn Sê Vích cấm chỉ việc dạy giáo lý cho bất cứ ai dưới 18 tuổi, và trẻ con được khuyến khích báo cáo cha mẹ dạy bất cứ điều gì về Thiên Chúa. Hôn nhân trở thành điều luật cứng ngắc về dân sự, cuộc lễ thế tục; việc cưới hỏi, rửa tội, chôn cất trở thành những nghi lễ lạ lùng theo nghi thức cộng sản. Luật cấm lâu đời của Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga về việc phá thai được dỡ bỏ, đã dẫn đến sự bùng nổ về các tốc độ phá thai và đổ vỡ trầm trọng trong các gia đình người Nga. Lê Nin hứa chắc vào tháng Sáu năm 1913 là sẽ tiến hành ‘sự huỷ bỏ vô điều kiện các điều luật chống phá thai. Năm 1920, việc phá thai được tự do và không phải trả tiền đối với phụ nữ Nga. Con số các vụ phá thai đã vượt qua mọi mức độ không thể so sánh được trong lịch sử nhân loại. Nhà cầm quyền Xô Viết mới đã tịch thu đất đai, nhà cửa của Giáo Hội Chính Thống Nga, những thứ mà Giáo Hội này đã là sở hữu chủ từ nhiều thế kỷ. Bè lũ Lê Nin đã phá huỷ các thánh đường và tái tạo thành những câu lạc bộ cộng sản, công xưởng, nhà kho, văn phòng, và các viện bảo tàng vô thần. Ngôi nhà thờ mang tên Tổng Lãnh Thiên Thần Michael, một thánh đường cổ kính được trang hoàng với những vòm cong rực rỡ ở về phía tây nam Mạc Tư Khoa, đã được dùng để chứa thóc. Trong số 657 ngôi thánh đường còn lại ở Mạc Tư Khoa trước cuộc cách mạng 1917, chỉ còn có 100 cho đến 150 nhà thờ còn lại cho đến năm 1976, theo thống kê chính thức của nhà nước Xô Viết. Về tình trạng đó, Toà Giáo Chủ Chính Thống Nga tại Moscow cho biết chỉ có 46 thánh đường là còn sử dụng được. Những người “theo dõi nhà thờ”, hoạt động toàn thời gian, được nhà nước thuê có nhiệm vụ báo cáo bất cứ ai đến nhà thờ để cầu nguyện. Liên Xô là một quốc gia rộng rãi trải dài trên 12 múi giờ. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga cũng đã có hơn 40,000 ngôi thánh đường và khoảng 150,000 linh mục, tu sĩ, phó tế và giám mục. Lê Nin ra lệnh giết khoảng từ 14,000 đến 20,000 giáo sĩ và giáo dân tích cực. Các vị linh mục cứng đầu cùng những nữ tu không bị xử tử thì sẽ bị chở đi đày sang Tây Bá Lợi Á. Các nữ tu bị biệt giam trong những gian phòng đặc biệt chung với bọn gái điếm. Họ được xem là “gái điếm của Chúa Ki Tô” Các thánh đường ở Nga Xô lưu trữ các thánh vật, đá quý, các hình tượng, tượng ảnh, tất cả mang giá trị phụng vụ và bí tích. Người Bôn Sê Vích chỉ nhìn thấy đó là có giá trị tài chánh để cưỡng chế tịch thu mà Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Tikhon đã chống lại trong Vụ Án Giáo Hội Mạc Tư Khoa. Con số cướp giựt toàn bộ là bao nhiêu chúng ta không biết được, nhưng một danh sách trong nội bộ biết được những cái mà họ cướp được trước ngày 01 tháng Mười Một, 1922 là 1,220 pounds 18 vàng; 828,275 pounds bạc; 35,670 kim cương; 536 pounds đá quý, 3,115 kim thạch (gold rubles); 19,155 bạc thạch; 1,902 “các loại báu vật khác”; và 71,762 báu vật đặc thù khác. Người Xô Viết tiêu diệt hoàn toàn Giáo Hội Công Giáo ở Liên Xô. Không như các giáo hội khác ở Liên Bang Xô Viết, Công Giáo không được phép thiết lập một bộ máy trung ương sau Thế Chiến II, phần lớn bởi vì quyền lãnh đạo của tôn giáo này (đóng đô tại Rô ma) không thể kiểm soát được bởi Moscow. Viết trong khoảng giữa thập niên 1970, học giả Gerhard Simon báo cáo rằng không còn có ngay cả một tu viện Công Giáo, một dòng tu, trường học hoặc cơ quan từ thiện còn sót lại trong toàn cõi Liên Xô. (Paul Kengor, A Pope and A President, John Paul II, Ronald Reagan, and the Extraordinary Untold Story of the 20 th Century, ISI Book, 2017, trang 32-34). Để có một ý niệm tổng quát về sự chia rẽ trong hàng ngũ Công Giáo và Chính Thống Giáo khởi đi từ giữa thế kỹ XI, cũng chính là một trong những vấn đề quan yếu của Công Đồng Vatican II, xin đọc một đoạn văn ngắn sau đây: “Trong thiên niên kỷ đầu của Ki-tô giáo, Chính thống Đông phương và Công giáo Rô-ma là một Giáo Hội hiệp nhất, mặc dù có một số khác biệt giữa Đông phương và Tây phương. Vào thế kỷ 11, những khác biệt trở nên nghiêm trọng hơn ở nhiều mặt như tối thượng quyền của Đức Giáo hoàng, việc thờ ảnh tượng, giáo lý về Chúa Thánh Thần, nghi thức phụng vụ v.v… Những khác biệt này dẫn đến cuộc Ly giáo Đông phương năm 1054, hai bên phạt vạ tuyệt thông cho nhau và từ đây Chính thống Đông phương ly khai khỏi Công giáo Rô-ma. Đã có nhiều nỗ lực hoà giữa Đông và Tây, nổi bật nhất là cuộc gặp gỡ giữa Đại Thượng phụ Athenagoras và Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI; năm 1999 Đức Gio-an Phao-lô II là vị Giáo Hoàng đầu tiên kể từ cuộc Ly giáo 1054 đến thăm một quốc gia Chính thống giáo là Ru ma-ni; tuy nhiên vẫn còn rất nhiều trở ngại trên con đường đi tới hiệp nhất.” (Nguyễn Đình Diễn, Từ Điển Công Giáo Anh-Việt, Bản mở rộng (Expanded Edition), Nhà xb. Đồng Nai, 2014, trang 1828). Trong lịch sử Công Giáo hoàn vũ hiện đại, Công Đồng Vatican II tổ chức tại Rô ma (1962-1965) là một biến cố lớn mà một nhà thần học nổi tiếng thế kỷ XX, cha Karl Rahner nhận xét là: “Công đồng Vatican II đã khai mở thời kỳ thứ ba trong lịch sử Kitô giáo. Thời kỳ đầu tiên là một thời kỳ ngắn ngủi của Kitô giáo gốc Do thái, chấm dứt vào lúc thánh Phaolô rao giảng cho Dân ngoại. Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ đó cho tới Công đồng Vatican II, thời kỳ của văn hoá Hy lạp và Hội thánh tại Âu châu. Thời kỳ thứ ba, hiện nay sau Công đồng, là giai đoạn của Hội thánh 19 toàn cầu.” (Karl Rahner, “Towards a Fundamental Theological Interpretation of Vatican II; Theological Studies, 40 (1979), 716-727, John W. O’Malley, Linh mục Nguyễn Đức Thông, CSsR, dịch, Nhà xb Đông Phương, 2015, trang 5) Công đồng này mà trong các tài liệu được gọi là “Thánh Công Đồng” đã thảo luận rất nhiều vấn đề của Giáo Hội cũng như của thế giới, được Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII loan báo ý định triệu tập tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phao lô ngoại thành Rô ma, đó là ngày 25 tháng Giêng năm 1959, ba tháng sau khi ngài trở thành giáo hoàng. Thao thức của hầu hết các vị giáo hoàng làm làm sao tạo được sự hoà giải với các giáo hội Chính Thống Giáo ở Đông phương tức phía Đông châu Âu, mà muốn vậy đường lối của Giáo Hội Công Giáo phải được thay đổi. Từ khi chứng kiến các hành vi tiêu diệt tôn giáo của chế độ Cộng Sản tại Liên Xô, từ năm 1925 trong Giáo Hội đã có rất nhiều giám mục theo nghi lễ La Tinh ở Xô Viết Nga bị loại trừ, tống giam hay xử tử, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã gửi một linh mục Dòng Tên người Pháp là Michel d’Herbigny trong một sứ vụ bí mật đến Nga Xô để phong chức cho nửa tá các vị linh mục hầm trú làm giám mục. Trên đường trở lại Moscow, cha Herbigny ở lại với Pacelli (ngài lúc đó chưa làm giáo hoàng) và Đức Pacelli đã khuyên vị linh mục này nhận chức giám mục và đã truyền chức thánh đó cho ông. Sứ vụ của Herbigny thành công viên mãn đến mức ngài đã truyền chức giám mục bí mật cho sáu vị giám mục Nga Xô, nhưng rồi các vị này bị phát giác và bị loại bỏ (John Cornmell, sách đã dẫn, trang 263). Năm 1929, khi Đức Giáo Hoàng Piô XII còn là Hồng Y Quốc Vụ Khanh, Đức Piô XI đã thiết lập tại Vatican một Uỷ ban gọi là “Uỷ Ban về Nước Nga” (Commission for Russia), rồi cuối năm đó lập viện Đại Học gọi là Học Viện Giáo Hoàng về Nước Nga” (Pontifical Russian College) gọi tắt là Russicum và “Học Viện Giáo Hoàng Ruthenian” để đào tạo các sinh viên dùng vào các công tác tại Liên Bang Xô Viết. Các tổ chức khác cũng được bí mật thành lập để giáo dục nhân sự cho các sứ vụ tại Nga trong đó gồm có tu viện Grotta Ferrata ở ngoại thành Rô ma, tu viện Chevetogne ở Bỉ, và tu viện Velehrad ở Moravia. Một vài dòng tu có thế lực mạnh trong Giáo Hội như Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Đức Bà Lên Trời, Dòng Tên, và các giới tu sĩ thuộc nhiều lãnh vực ở Ba Lan đã khai triển nhiều chương trình riêng của họ nằm trong kế hoạch bí mật truyền báo Tin Mừng ở Nga Xô. Điển hình cho lòng nhiệt thành của vị linh mục trong một giáo xứ thường đã tình nguyện dấn thân sâu xa hơn trong sứ vụ tại nước Nga đó là tấm gương của linh mục John Carmel Heenan, linh mục của một họ đạo thuộc một quận ở phía đông Luân Đôn, sau này trở thành Hồng y Tổng giám mục. Cha Heenan đã có phép vắng mặt của vị giám 20 mục sở tại, và giám mục đó không hay biết (mặc dầu với sự chúc lành của vị giáo phẩm ở Westminster, Hồng Y Hinsley), đã lén vào nước Nga năm 1932 giả dạng là một khách đi đường lo việc buôn bán, mang theo trong túi hành trang một cây thánh giá có thể xếp gọn được nhét vào trong một ngòi viết máy giả. Giữa vô vàn các cuộc phiêu lưu, ông ta lại phải lòng với cô thư ký của ông để rồi cuối cùng bị bắt; ông ta phải vất vả lắm để rồi cuối cùng thoát được nạn và trở về lại an toàn với xứ đạo ở nước Anh. (John Cornwell, sách đã dẫn, trang 264). Công Đồng Vatican II khai mạc ngày 11/10/1962 thì bốn ngày sau một máy bay U-2 trinh sát Hoa Kỳ đã chụp được nhiều bức ảnh về các dàn hoả tiễn tầm trung của Liên Xô đặt tại San Cristóbal ở Cuba, khoảng năm mươi dặm bên ngoài thủ đô Havana nhằm đe doạ nước Mỹ. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cùng nhà ngoại giao lỗi lạc vốn trong thực tế là ngoại trưởng, Tổng giám mục Agostino Casaroli rất đỗi chấn động vì Cuộc Khủng Hoảng Hoả Tiễn Cuba này. Ba vị gồm Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII, Đức Phao-lô VI và Tổng giám mục Casaroli cùng các chuyên viên đã bắt đầu soạn thảo lại chính sách Ostpolitik tức “Chính trị xoay chuyển về hướng Đông” của Giáo Hội đối với các chế độ theo chủ nghĩa Cộng Sản ở Đông Âu. Chính sách này được tăng triển và mở rộng trong suốt cả nhiệm kỳ của Giáo hoàng Phao lô VI. Các vị này không chỉ cho thấy phản ứng của họ đối với các biến cố trên thế giới mà còn duyệt xét lại đường lối của Giáo Hội trước đây khi sáng suốt nhận định rằng việc Giáo hoàng Piô II cấm những cuộc thương thảo với người Cộng sản đã làm kiệt quệ các luật lệ về ngoại giao và trở nên thiếu khôn ngoan. Nhiều nỗ lực để tạo ra một cuộc đối thoại mới với chính quyền Xô Viết đã được tiến hành trước khi xảy ra biến cố hoả tiễn Cu Ba chẳng hạn như Toà Thánh Rô ma đã xin được phép cho các giám mục Công giáo và các vị đại diện của Chính Thống giáo Nga tới tham dự Công Đồng Vatican II. Tông thư Pacem in Terris (Hoà bình trên thế giới) của Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII, ban hành vào tháng Tư năm 1963 cũng được đón nhận rất nồng nhiệt trong khối Xô Viết. (George Weigel, Witness To Hope, The biography of Pope John Paul II,1920-2005, Harper Perennial, 1999, trang 227). Tông thư này được nhiều người hoan nghênh như các nhà chính trị ở Đức và cũng bị nhiều người trong giáo triều Rô ma phản đối như Hồng Y Ottaviani chẳng hạn. Theo nhận định của Jonathan Kwitny “ Thông điệp này thay vì được gửi cho người Công Giáo thì được gửi cho “Tất cả những người thiện chí” (To All Men of Good Will” (gồm cả những người cộng sản); Giáo hoàng Gio-an đã gửi trước cho Khruschev một bản văn)”. [ Jonathan Kwitny, Man of The Century, The life and times of Pope John Paul II, A John Macrae Book, Henry Holt and Com pany, New York, 1997, trang 183]. 21 Chính sách Ostpolitik (Chính trị xoay chuyển về hướng Đông) của Đức Phao lô VI dựa căn bản trên sự phân tích tình hình thế giới và một viễn ảnh cho tương lai Âu châu theo đó sự phân chia lục địa này là một nét thường trực cho nhiều thập kỹ nữa phía trước. Liên Bang Xô Viết đã là một khối quyền lực nguyên tuyền và bao lâu nó còn như vậy thì Bức Tường Bá Linh cũng khó mà sụp đổ. Toà Thánh phải tỏ ra thực tế. Chủ nghĩa thực tế có nghĩa là phải coi nhẹ vai trò của sự xung đột ý thức hệ trong các quan hệ quốc tế, và trong khuôn mẫu quốc gia đối với quốc gia trong những quan hệ quốc tế mà Tổng giám mục Casaroli đang vận hành. Sự đổi thay trong thế giới cộng sản cũng phải từ từ, và sự ổn định cũng là điều kiện tiên quyết cho việc cải cách. Toà Thánh phải thừa nhận nguyên trạng để đặt một căn bản vững chắc cho sự quan hệ mới với các quốc gia trong Minh ước Warsaw. Như vậy trong tương lai, có thể một phía Đông dần dà được tự do sau nhiều thập kỹ sẽ gặp gỡ được với một phía Tây cũng dần dà trở nên xã hội dân chủ hơn trong nền chính trị và kinh tế của mình. (George Weigel, Sách đã dẫn, trang 229). Khi các tác giả hồi ký Đỗ Mậu viết rằng Giáo Hoàng Paul VI “thân Nga và thân Hà Nội” mà anh Lê Đình Cai nhắc lại, thật sự quan điểm đó nếu đúng thì chỉ là một cái nhìn biểu kiến, nhưng điều quan trọng phải nhìn cho được là Toà Thánh qua nhiều triều đại giáo hoàng vẫn không bao giờ quên anh chị em Chính Thống Giáo của mình ở Đông Âu, tìm cách giải cứu họ khỏi bàn tay của Stalin rồi những người kế vị ông nên Giáo Hội Công Giáo phải đi tìm một chính sách thực tiễn (realistic) nghĩa đối với Vatican, trong thời gian đó các Giáo hội bị đàn áp quá sức sau bức màn sắt phải làm sao để được sống còn. Với Đức Giáo hoàng Paul VI và Tổng giám mục Casaroli “sống còn” có nghĩa là sự sống còn của đời sống bí tích của Giáo hội. Điều này muốn chỉ các linh mục, và trên hết, nó muốn chỉ các giám mục. Một mục tiêu chiến thuật trong tầm ngắn của chính sách Ostpolitik là phải đạt tới những thoả ước chính thức của các chính quyền trong khối Vác-sa-va (Warsaw Pact) cho phép Giáo Hội (sau khi đã tham khảo với các chính quyền liên hệ) được chỉ định giám mục. Chiến lược này, nhắc lại bằng tiếng Ý là salvare il salvabile – cứu cái gì có thể cứu được – chính là sáng tạo cái mà Casaroli nhắc tới như là “chỗ để thở” cho Giáo Hội. Sự vận hành chiến lược này đòi hỏi phải có những nhượng bộ chiến thuật từ Giáo Hội thí dụ hạ nhiệt đối với những tu từ chống Cộng sản của người Công Giáo, giải gỡ Toà Thánh ra khỏi nền chính trị Tây phương, và điều này có thể gây nhiều tranh cãi nhất đó là kềm chế Giáo hội hầm trú đã được thiết lập ở Đông Âu trong hai thập niên đầu của cuộc Chiến Tranh Lạnh. Đặc biệt nhất, điều này có nghĩa là chấm dứt sự phong chức chui cho các linh mục do các giám mục hầm trú chủ trì vì nó là 22 một cái gai đâm vào hông các chính quyền cộng sản, đặc biệt là ở Czechoslovakia. (George Weigel, sách đã dẫn, trang 229). Trong cuốn sách có tên Pope John Paul II, The biography, Tad Szulc là một tác giả nổi tiếng, phóng viên của tờ báo The New York Times ở ngoại quốc và tại Washington cho biết Giáo Hoàng Gio-an XXIII chết ngày 3 tháng Sáu, 1963, sáu tháng sau khi ban hành Tông thư Pacem in Terris là một việc làm có ý nghĩa tiên khởi trong sự kiện chấm dứt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh giữa Đông và Tây. Vào tháng Ba ngài đã đón tiếp Alexis Adzhubei, con rể của Khrushchev và là chủ nhiệm một tờ báo lớn của chính quyền Xô viết cho thấy cuộc tiếp xúc công khai đầu tiên giữa một vị giáo hoàng với một viên chức trọng yếu của nhà nước Xô Viết. (A Lisa Drew Book, Scribner, New York, London, Toronto, Sydney, Tokyo, Singapore, 1995, trang 229). Kết quả sự kiện này là Tổng giám mục Josef Slipyi của Giáo Hội Công Giáo Ukraina được thả ra từ trại tập trung Siberia, một cử chỉ của chính quyền Xô Viết được biểu lộ để đáp lại chính sách hoà dịu của Toà Thánh Vatican đối với chủ nghĩa Cộng Sản. Tóm lại, một tác phẩm sử học được trình bày như một luận án tiến sĩ chắc chắn phải nói lên được bản sắc độc đáo của mình cả về đề tài, lẫn tư liệu và văn phong. Cuốn sách của TS Lê Đình Cai đã đáp ứng được những đòi hỏi của ba phạm trù nêu trên không thua kém gì các công trình nghiên cứu sử học đã xuất hiện trước đây như Chiến Tranh 1954-1975 của GS Trần Gia Phụng, Những Ngày Cuối Cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm của TS Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Lịch Sử Chính Trị Cận Đại Việt Nam của TS Phạm Văn Lưu… Bố cục của tác phẩm Chiến Tranh Quốc Cộng 1954-1975 của TS Lê Đình Cai tỏ ra rất chặt chẽ, chủ đề được chứng minh rõ ràng, tư liệu sử dụng khá đắn đo chỉ trừ một vài sự cố nhỏ nhặt như vừa phân tích ở trên. Tác phẩm sử học này đã cập nhật được rất nhiều vấn đề của đất nước bởi vì tác giả là người đã dấn thân trong một tổ chức chính trị, đã đảm nhận công tác giáo dục ở cấp bậc vĩ mô của quốc gia có nhiệm vụ đào tạo nhân tài cho đất nước trước năm 1975. Được đào tạo trong một nền giáo dục nhân bản, khai phóng và dân tộc của Việt Nam Cộng Hoà và được huấn luyện trong môi trường của một nền sử học tự do, TS Lê Đình Cai có đầy đủ tư thế để tiếp cận với các nguồn tư liệu trong nước trước đây và đã hình thành nên một số tác phẩm sử học giá trị. Tôi cũng có dịp đọc qua cuốn sách của ba tác giả Hồ Sỹ Khoách, Hà Minh Hồng, Võ Văn Sen có tên Lịch Sử Việt Nam 1945-1975, do phía Hà Nội qua Tủ sách Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh in năm 1996 rồi so sánh với các tác phẩm sử học nêu ở trên của các tác giả Miền Nam Việt Nam để, công bình mà nói, thấy được 23 sự hơn hẳn của các nhà nghiên cứu sử học VNCH qua các công trình trước đây cũng như hiện tại đã nêu trên, nhờ đó mà thấy được tác phẩm nào là công trình nghiên cứu sử học giá trị còn sách nào chỉ là sản phẩm rẻ mạt của một bộ máy tuyên truyền cho một nhà nước độc tài đảng trị. Nguyễn Đức Cung Philadelphia, March 24, 2023

Saturday, 14 July 2018

HẢI NGỌAI NGHE VÀ ĐỌC BÂY GIỜ CHƯA CHẮC ĂN - BỞI VÌ PHẢI BIẾT TÁC GIẢ LÀ AI VÀ QUÁ KHỨ ĐÃ LÀM GÌ NỮA....

 LÊ ĐÌNH CAI NẦY THỜI SINH VIÊN ĐÀ LẠT ĐÃ HĂNG HÁI HỌAT ĐỘNG TIẾP TAY CHO VIỆT CỘNG XÔ NGÃ VIỆT NAM CỘNG HÒA- BÂY GIỜ MỒM MÉP THÌ TRƠN TRU LẮM ĐỂ KHOE TA ĐÂY THÌ KHÔNG NÊN VÌ QUÁ KHỨ CỦA LÊ ĐÌNH CAI NẦY CHẲNG GIÚP GÌ CHO QUỐC GIA VNCH CẢ./-TCL
=============

Chương trình HỘI THOẠI Văn Hoá Việt Nam Xưa và Nay
(Được trình bày trên hệ thống truyền hình VietTV – Viet TV Networks)

(Bản viết lại cuộc Hội Thoại vào ngày 17/03/2017)
 
Điều Hợp (Host): GS. Nguyễn Đức Lâm
Khách mời (Guest): GS. Lê Đình Cai



PHẦN 1 (Part 1):

GS Nguyễn Đức Lâm giới thiệu sơ lược về tiểu sử của diễn giả (1 phút).





Hi`nh (xem bài gốc trong attachment)





LDC: (30 seconds) Xin chào quý khán thính giả của đài truyền hình VietTV.
Sau đây, sau phần nghi thức thường lệ, chúng tôi sẽ xưng hô với nhau bằng "Anh, Tôi" để giữ bầu không khí thân tình của mấy chục năm quen biết.

NDL: Chào anh Cai. Anh vẫn khỏe chứ? Nghe nói anh vẫn sinh hoạt hăng hái như ngày nào và lại làm đồng Trưởng Ban tổ chức kỷ niệm 60 năm Đại Học Huế vào tháng 07 năm 2017 tại San Jose.
 
LDC: (1 phút) Cảm ơn anh Lâm đã có nhã ý mời tôi tham dự vào chương trình hội thoại về văn hoá Việt Nam xưa và nay mà đề tài sẽ tập trung vào “Ảnh hưởng của các chế độ chính trị đến văn hoá Việt Nam xưa và nay” như thế nào?
Thật ra, nói hăng hái như ngày nào, như thời sinh viên với những năm tháng sôi động của miền Trung (1963 – 1966) thì chắc không đâu vì tuổi tác nay đã lớn rồi, sức khoẻ không cho phép. Vả lại, hồi thanh xuân mình chưa vợ chưa con nên sự dấn thân vì lý tưởng là hết sức tích cực. Bây giờ nếu phải đi lại từ đầu, chúng tôi vẫn muốn dấn thân trên con đường mình đã đi hồi còn trai trẻ.

NDL: Thưa anh, theo những tài liệu mà tôi đã đọc được thì các chế độ chính trị đã có ảnh hưởng rõ rệt đến các sinh hoạt văn hóa của một dân tộc. Anh nghĩ sao về nhận xét này? Anh có đồng ý không? Lý do?

LDC: (2 phút) Nhận xét rằng các chế độ chính trị đã có ảnh hưởng rõ rệt đến các sinh hoạt văn hoá của một dân tộc là một nhận xét rất chính xác. Tuy nhiên, nếu nói rõ hơn thì phải nói Chính Trị và Văn Hoá đều tác động lên nhau để biến đổi lịch sử của nhân loại nói chung, cách riêng là chuyển đổi đời sống xã hội Việt Nam qua từng giai đoạn của lịch sử từ chế độ làng xã sơ khai (chế độ phong kiến) qua chế độ vua tôi (chế độ quân chủ), qua chế độ thực dân, chế độ Cộng Hoà (dân chủ), rồi chế độ Cộng Sản đương thời. Mỗi chế độ chính trị hình thành trên dòng lịch sử Việt đều để lại một dấu ấn sâu đậm lên nền văn hoá của đất nước qua chiều dọc dài của lịch sử.

NDL: Nhìn vào lịch sử Việt nam, anh thấy nước Việt đã trải qua bao nhiêu lần thay đổi chế độ và mỗi chế độ có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của người Việt ra sao? Xin đơn cử một vài thí dụ.

LDC: (6 phút) Chúng ta thường nghe đến câu nói, “Việt Nam trải qua 4,000 năm văn hiến”. Câu nói này là câu nói khoa đại để biểu lộ lòng tự hào của dân tộc nhưng kỳ thực lịch sử Việt Nam có một đoạn đường hình thành dài lâu như vậy hay không? Đây quả thật là một vấn đề cần bàn thảo và các sử gia vẫn chưa có kết luận dứt khoát. Tuy nhiên, theo các sử gia thời trước thì lịch sử Việt tộc kể từ thời nước Văn Lang (từ 2,879 trước CN, đến thế kỷ thứ 3 TCN) của các vua Hùng với thành Cổ Loa kiên cố, khởi đầu giai đoạn của một chế độ tập quyền gia trưởng. Buổi đầu các thị tộc Lạc Việt còn là những bộ lạc đặt dưới quyền của một tù trưởng và khi thị tộc Lạc Việt đến vùng Bắc Việt thì khuynh hướng tập trung bắt đầu rồi một chế độ phong kiến sơ sài hình thành với Lạc Vương đứng đầu, có Lạc Hầu, Lạc Tướng, Bố Chính, giúp Vương cai trị, cát cứ các thái ấp lớn nhỏ rồi thống nhất thành nước Văn Lang. Trong cuốn, “Les Grandes époques de L’Indochine”, Bulletin de la S.E.M du Tonkin, tome XV_No 2, pp 281_287, ông L. Finot đã viết, “Dân Văn Lang trước thế kỷ thứ 2 và thứ 3, còn sống trong trạng thái gia đình mẫu hệ (matriarcat), và có tục đàn bà goá phải tái giá với anh em chồng”. (Phạm Văn Sơn, “Việt Sử toàn thư”, nxb Đại Nam, tái bản tại Glendale, California, không đề năm, trang 34).
    Cho đến khi Thục An Dương Vương lên thay các Vua Hùng biến nước Văn Lang thành Âu Lạc tương đối có quy cũ hơn (đây là sự kết hợp của bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt vào nửa sau thế kỷ thứ 3 TCN). Xã hội Âu Lạc cũng như Văn Lang trước đó đều là xã hội văn minh nông nghiệp với cơ sở hạ tầng là công xã nông thôn (danh từ của các sử gia Mác-xít hay dùng).. Nhưng dưới thời Âu Lạc, chế độ mẫu hệ đã chuyển qua chế độ phụ hệ (patriarcat) theo quan niệm của người Tàu dưới thời Triệu Đà đến cai trị nước ta, khởi sự cho một thời kỳ Bắc Thuộc kéo dài hơn 1,000 năm. Mãi cho đến trận chiến thắng Bạch Đằng (938) với Ngô Quyền xưng Vương đóng đô ở Cổ Loa (939 - 965), thì đất nước chúng ta mới khởi sự được một thời kỳ tự chủ lâu dài. Kể từ Triều Ngô, rồi Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, chế độ quân chủ Trung Ương tập quyền đã ngự trị trên dòng lịch sử Việt tộc từ thế kỷ thứ X cho đến giữa thế kỷ XX (từ năm 939 – 1945). Nhưng theo sử gia Nguyễn Phương, trong “Việt Nam thời khai sinh” thì Đinh Bộ Lĩnh đã thống nhất 12 sứ quân đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đây mới chính là thời kỳ Việt Nam định hình trong thực tế vào thế kỷ thứ 10 (968 – 980). Dưới thời Bắc thuộc cho đến thời tự chủ, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu đậm và Phật giáo cũng phát triển nhiều trên đất nước ta vào thời lệ thuộc nhà Đường bên Trung Quốc.
    Ngày 04/11/1857, khi tiếng đại bác của Trung tướng Rigault De Genouilly bắn phá vào thành Đà Nẵng, thì gót chân xâm lăng của đế quốc Pháp chuẩn bị tràn vào đất Việt. Hoà ước Patenôtre (1884) đã đặt triều đình Huế dưới sự bảo hộ hoàn toàn của người Pháp. Quan Khâm sứ Rheinard, họp các quan lại tại toà khâm Huế làm lễ thủ tiêu cái ấn của nhà Thanh đã trao cho vua Gia Long khi phong vương. Hành động này chấm dứt ảnh hưởng của Trung Hoa và mở ra thời kỳ mới: Thời kỳ Việt Nam lệ thuộc Pháp. Sự chuyển đổi xã hội vào giai đoan này thực sự lớn lao, nếu không muốn nói là đã thay đổi từ cơ bản trong mọi địa hạt của cuộc sống về văn hoá, giáo dục, xã hội… Nền văn hoá Tây phương là một nền văn hoá năng động, còn văn hoá của chúng ta là văn hoá “tĩnh”. Từ mấy ngàn năm dưới thời phong kiến, quân chủ, nền văn hoá Việt Nam dù có biến thiên nhưng cái cốt tuỷ vẫn không lung lay bởi vì xã hội của chúng ta thời đó là xã hội nông nghiệp, xã hội tự cung tự cấp, bế quan tự thủ, chưa từng tiếp xúc với nền văn minh Tây Phương, chỉ giao thiệp với Trung Quốc qua một thời gian dài Bắc thuộc (hơn 1,000 năm). Bây giờ tiếp xúc với Tây phương với nền văn minh tiến bộ, với sức mạnh vật chất và tư tưởng khoa học phóng khoáng, xã hội “tĩnh” của chúng ta bị đẩy lùi trước đà tiến vũ bão của văn hoá Tây phương.
    Trở lại với câu hỏi của anh NDL, mỗi lần thay đổi thể chế chính trị, thì sự thay đổi đó ảnh hưởng lên đời sống Văn hoá của người Việt ra sao? Dĩ nhiên, ảnh hưởng lên nhiều lãnh vực của đời sống xã hội Việt Nam lắm. Ở đây chúng ta có thể chọn lựa một lãnh vực thuộc về “văn hoá y phục” để thấy tác động của chính trị lên cách ăn mặc như thế nào? Từ trước trong xã hội Việt Nam ở miền Bắc vì chịu ảnh hưởng cách ăn mặc của Trung Hoa, đàn bà thường mặc váy. Từ năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi Vương, tức Võ Vương, đã cho thay đổi phẩm phục quan lại, còn chú trọng thay đổi y phục của dân chúng, điển hình là dân Đàng Trong đã bỏ “váy” để mặc “quần”. Qua năm Kỷ Hợi (1829), vua Minh Mạng ban hành chiếu chỉ cấm dân miền Bắc không được mặc váy, phải mặc quần như dân Đàng Trong, cho nên mới có câu ca dao:

Tháng Tám có chiếu Vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng, sao đang?
(Võ Hương An, “Từ điển nhà Nguyễn”, Tập II,
tái bản lần thứ 1 (2014), nxb Nam Việt, CA, tr. 286, 287)

    Một ví dụ khác, xã hội Việt Nam thời trước, đàn ông thường mặc áo dài, khăn đóng để râu và búi tóc, nhưng từ ngày người Pháp đến đô hộ vào cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20, thì thanh niên thường cắt tóc ngắn, mặt quần short, bỏ áo vô quần, đi xăng đan, hay đi giày, thay vì đi guốc mộc như trước. (Xin xem thêm Đào Duy Anh, “Việt Nam Văn hoá Sử cương”, nxb Bốn Phương, tái bản 1951, không thấy đề nơi xuất bản). Ngay sau ngày 30/04/1975, khi Cộng sản chiếm đóng miền Nam, họ ra lệnh cho giới phụ nữ không được mặc áo dài, chỉ mặc quần dài đen và áo bà ba, ngay cả các giáo viên cũng không được ăn mặc theo kiểu của chế độ miền Nam. Sau này dần dà, đến 13 năm sau (1988), dân chúng tự động thay đổi lại cách ăn mặc như trước và đã lôi kéo luôn dân miền Bắc ăn mặc theo lối miền Nam. 

NDL: Có khi nào thay đổi chế độ chính trị mà văn hóa không bị ảnh hưởng không?

LDC: (5 phút) Tuỳ chúng ta đề cập đến dạng văn hoá nào hay nói đúng hơn ta giới hạn nghĩa rộng của “văn hoá” lại. Chẳng hạn có thể nói đến từ “văn hoá chính trị” (political culture), hay “văn hoá ẩm thực”, “văn hoá giải trí”, “văn hóa ăn mặc”, “văn hoá thờ cúng tổ tiên ông bà”, “văn hoá hôn nhân”, “văn hoá mai táng”, …
    Khi có cách nhìn của từng góc cạnh văn hoá như thế chúng ta rất dễ khẳng định rằng, nhiều khi thay đổi chế độ chính trị, mà văn hoá không bị ảnh hưởng nhiều lắm. Khi văn hoá được hiểu là cốt lõi của bản chất dân tộc, chẳng hạn việc thờ cha kính mẹ, nghĩa tào khang (vợ chồng), thì qua bao nhiêu lần thay ngôi đổi chủ từ phong kiến đến chế độ vua tôi, đến dân chủ rồi qua cộng sản, quan niệm về việc thờ cúng tổ tiên ông bà, cha mẹ, sự gắn bó vợ chồng con cái, là sợi chỉ nối xuyên suốt qua nhiều thế hệ, có thay đổi với quan niệm tinh thần gia tộc (ngày xưa) và chủ nghĩa cá nhân thực dụng (ngày nay), nhưng cốt lõi của tình nghĩa gia tộc vẫn bền chặt qua mọi thời đại. Việc thờ cúng tổ tiên ông bà, ngày giỗ, ngày Tết, ngày chạp… vẫn không thay đổi nhất là ở thôn quê.

NDL: Cảm ơn anh. Thưa quý vị Phần 1 của chương trình Hội Thoại của chúng tôi đến đây xin tạm ngưng. Chúng tôi sẽ trở lại sau phần giải lao. Cảm ơn sự theo dõi của quý vị.

PHẦN 2:

NDL: Bây giờ xin mời quý vị theo dõi Phần 2 của buổi Hội Thoại hôm nay.

NDL: Chào anh Cai. Xin cảm ơn phần trình bày của anh mới đây.
Bây giờ đi sâu vào vấn để một chút, dưới thể chế nào thì nền văn hóa của người Việt bị ảnh hưởng sâu đậm nhất? Tôi muốn nói đến phong tục, tập quán.

LDC: (7 phút) “Văn hoá” đề cập ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những sinh hoạt về kinh tế, chính trị, giáo dục, xã hội… của con người. Cho nên chữ “phong tục”, “tập quán” là hình thái văn hoá lâu đời, truyền qua nhiều thế hệ.
?    Phong tục (customs): còn được hiểu là tục lệ có nghĩa là cách cư xử, làm việc, thói tục được mọi người chấp nhận từ lâu đời.
?    Tập quán (habits): thói quen thường lập đi lập lại hằng ngày. Khi hành xử theo tập quán, có nghĩa là làm việc gì như là một quán tính (không còn suy nghĩ).
Theo cách hiểu đó, thì dưới chế độ đô hộ của người Tàu qua hơn 1,000 năm, nền văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là theo chế độ phụ quyền. Người gia trưởng có quyền uy tuyệt đối ở trong nhà, còn người đàn bà phải phục tùng gia trưởng (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Mối tương quan trong gia đình, ngoài xã hội, phải theo luân lý “tam cương, ngũ thường” (Vua là cương của bầy tôi, cha là cương của con, chồng là cương của vợ. Ngũ thường là nhân (benevolence), nghĩa (righteousness), lễ (proprieties), trí (wisdom), tín (fidelity)). Rồi còn phải theo “tam tòng” (trong gia đình, người con gái phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng, chồng chết phải theo con (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử)). Còn phải theo “tứ đức” là công, dung, ngôn, hạnh nữa.
Trên đây là theo quan niệm của Nho gia. Còn dưới chế độ thực dân, tinh thần gia tộc bị chủ nghĩa cá nhân lấn át. Theo nhận định của Hoài Thanh và Hoài Chân trong “Một thời đại trong thi ca”, tác giả viết, “Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài, một cuộc sống gần như không thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần, nhưng nhất đán một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến. Cả một nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là một cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ (trích “Thi nhân Việt Nam”, trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Với xã hội Việt Nam xưa, chúng ta chỉ biết có Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử… Bây giờ đã tìm hiểu về tư tưởng tiến bộ của Baron de Montesquieu, của JJ Rousseau, của Voltaire…
?    Baron de Montesquieu sinh 1689, viết “De l’esprit de lois” (Spirit of the Laws) ủng hộ tam quyền phân lập (Tư pháp, Hành pháp, Lập pháp).
?    JJ Rousseau sinh 1712 tại Geneve, Thụy Sỹ, viết “The social contract” (Principles of Political Right), kêu gọi canh tân về chính trị, đẩy mạnh cuộc cách mạng Âu châu. Rousseau khẳng định rằng, chỉ có nhân dân (với quyền uy tối thượng, mới ban hành luật pháp chứ không phải là nhà vua (Only the people, who are sovereign, have that all-powerful right).
?    Voltaire (triết gia Pháp) (1694 – 1778) thì cho rằng chính lý trí và khoa học mới là nền tảng của sự tiến bộ của nhân loại, chứ không phải là tôn giáo. Ông tham dự vào phong trào cải cách Âu Châu (Enlightenment Movement) thế kỷ thứ 18. Ông có câu nói bất hủ, “I may disagree with what you have to say, but I shall defend, to the death, your right to say it.”

Chế độ thực dân Pháp đã sử dụng chữ quốc ngữ theo mẫu tự Latin, chứ không còn lối chữ tượng hình trong tiếng Hán, tiếng Nôm. Giới thanh niên Âu Hoá ít còn gần gũi với thơ bảy chữ của Bà Huyện Thanh Quan:

“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, rợ mấy nhà”

hay song thất lục bát của bà Đoàn Thị Điểm trong Chinh Phụ Ngâm:
“Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt
Khói cam tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh…”

mà bắt đầu làm quen với thơ mới tự do, không gò bó như trước. Tờ “Đông Dương tạp chí”, “Nam Phong tạp chí”… với sự cổ võ rộng rãi của tư tưởng mới thuộc Tây Phương, tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố chỉ trích cái hũ lậu của xã hội cũ, “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh kêu gọi đổi mới trong quan hệ nam nữ. “Tứ đức, tam tòng”, “tam cương, ngũ thường” bây giờ phải quan niệm lại với sự giải phóng giới phụ nữ. Sự ly dị vợ chồng, nay không còn là điều cấm kỵ. Nói tóm lại phong tục tập quán dưới thời đô hộ của Trung Hoa mặc dù ăn sâu mọc rễ trong xã hội Việt Nam ngày trước, nay với luồng gió mới của văn minh Tây phương đã làm bật gốc cái xã hội đóng kín thời xưa.

NDL: Về Phương diện tư tưởng thì sao? Chế độ nào đã làm thay đổi cách suy tư của người Việt?

LDC: (7 phút) Khi Pháp đến đô hộ nước ta từ giữa thế kỷ thứ 19 đến 20, họ đã khiến xã hội Việt Nam thay đổi tận gốc rễ về phong tục tập quán như đã đề cập vừa rồi, nhưng về phương diện tư tưởng phải nói là một cuộc cách mạng thực sự làm thay đổi cái học cũ và cái học mới. Chính phủ bảo hộ (Pháp) đã bãi bỏ lối thi cử của triều đình nhà Nguyễn ở Nam Kỳ (1864), ở Bắc Kỳ (1915), ở Trung Kỳ (1919) và hướng nền giáo dục theo Tây học. Chính nền giáo dục sử dụng chữ quốc ngữ này đã chiếm thế thượng phong trong xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 19. Và về sau này với hoà ước Patenôtre (1884), Pháp đã đánh dấu sự toàn thắng của đế quốc Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam và sự suy vong hoàn toàn của chế độ phong kiến Việt Nam vào cuối thể kỷ 19. Theo chân người Pháp, đạo Công giáo cũng được hoạt động tự do, không bị cấm đoán như dưới triều đình nhà Nguyễn, nhất là dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức..
Từ đây Nam Kỳ được đặt dưới sự cai trị của Thống Đốc (Gouverneur) và đã thành xứ thuộc địa của Pháp. Bắc Kỳ có viên Thống Sứ (Résident Supérieur du Tonkin) điều hành. Trung Kỳ thì được đặt dưới quyền của viên Khâm Sứ (Résident Supérieur de l'Anam) dù ở đây còn có vua và triều đình nhưng chỉ còn là hư vị mà thôi. Tóm lại kể từ hậu bán thế kỷ 19, các việc lớn nhỏ đều do người Pháp nắm giữ hết. Vì vậy, nếp sống vật chất và tinh thần dần dần cũng thay đổi theo quan niệm văn hoá và chính trị của các nhà thực dân đế quốc này. Về văn hoá, cái học của Tây Phương có phần khoáng đạt và có tinh thần dân chủ hơn. Quan niệm “Vua là Thiên tử” (con trời) dần dà thay đổi qua “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Cổ võ cho sự đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn này, có sự xuất hiện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với Nhất Linh, Khải Hưng… qua chủ trương “đoạn tuyệt quá khứ” để tiến về tương lai trong xã hội mới. Trong thời gian 80 năm dưới quyền cai trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã thực sự thức tỉnh. Trận đệ nhị thế chiến bùng nổ, cũng như nhiều quốc gia bị trị khác của vùng Đông Nam Á, Việt Nam đã vùng dậy giành độc lập, khởi đầu bằng những phong trào Việt Nam quốc dân Đảng, Đại Việt quốc dân Đảng và Đông Dương cộng sản Đảng, hoạt động từ những năm đầu của thập niên 1930. Ngày 09/03/1945, quân đội Nhật đã đánh úp quân đội Pháp ở Đông Dương và chính phủ Trần Trọng Kim ra đời thay thế nội các Phạm Quỳnh tại Huế, với những thay đổi về Quốc kỳ và Quốc Ca để biểu dương nền độc lập (cờ “quẻ ly” thay cờ “long-tinh”, vốn là dấu hiệu của thời lệ thuộc). Bài “Tiếng gọi thanh niên” của sinh viên trường đại học Hà Nội được dùng làm Quốc Ca thay bài hát ủy mị, thiếu tinh thần tự lập của bài “Đăng đàn cung”.
Việc giáo dục cũng canh tân triệt để theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn với chương trình mới phổ thông đại chúng bằng Tiếng Việt làm căn bản trong mọi giao tiếp hằng ngày. Chính phủ Trần Trọng Kim cho lệnh phá bỏ tượng Paul Bert (viên quan cao cấp nhất của chế độ thuộc địa Pháp), thay đổi các tên đường của danh nhân Pháp bằng các tên những vị anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi… mục đích là xoá hết tàn tích của đế quốc thực dân. “Thanh niên tiền tuyến” và “Thanh niên tiền phong” được thành lập để lôi cuốn lòng yêu nước của mọi người, nhất là lớp thanh niên trẻ tuổi của nước nhà.
Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường chỗ phong trào Việt Minh qua cuộc biểu tình ngày 15/08/1945 tại Hà Nội, dù chỉ tồn tại được 4 tháng nhưng nội các này đã thực sự đặt nền tảng cho sự đổi thay của xã hội Việt Nam thời ấy. Một xã hội đóng kín từ ngàn năm trước đã hoàn toàn lột xác qua một xã hội hướng ngoại, chịu ảnh hưởng văn minh Tây phương qua nhiều góc cạnh của đời sống, thể chế chính trị không còn theo quan niệm quân chủ (vua tôi ngày trước) mà dần dần theo quan niệm quân chủ lập hiến phôi thai (Bảo Đại trong vai trò của vị Vua còn tại vị với thủ tướng đầu tiên là Trần Trọng Kim). Nhưng sau khi Nhật đầu hàng, Bảo Đại thoái vị (25/08/1945), chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán, một chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm chủ tịch ra mắt quốc dân, ngày 02/09/1945. Gặp sự chống đối của phe quốc gia, Hồ Chí Minh phải thành lập chính phủ liên hiệp Quốc Cộng trong đó có Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch, Nguyễn Tường Tam làm Bộ Trưởng Ngoại Giao, nhưng chính phủ liên hiệp này không tồn tại được lâu. Và sau khi đạt được hiệp ước sơ bộ với Pháp ngày 06/03/1946, Việt Minh dốc toàn lực tiêu diệt các lưc lượng quốc gia như VNQDĐ, và ĐVQDĐ… rất tàn nhẫn (vụ Ôn Như Hầu là một thí dụ). Rồi Việt Minh khởi động phong trào toàn quốc kháng chiến chống Pháp và chiến cuộc giữa Pháp – Việt Minh kéo dài gần 8 năm sau mới kết thúc với hiệp định Geneve (21/07/1954) lấy vỹ tuyến 17 với sông Bến Hải làm ranh giới.
-    Việt Minh cai quản miền Bắc với ý thức hệ cộng sản.
-    Miền Nam phát triển dưới chế độ Cộng Hoà của Tổng thống Ngô Đình Diệm lấy chủ nghĩa nhân vị làm gốc.
Cuộc tranh chấp Quốc Cộng kéo dài từ 1954 đến 1975 và sau đó chế độ Cộng Sản đã chiếm đóng Việt Nam trên toàn lãnh thổ kể từ 30/04/1975 với nhiều đổi thay tiêu cực trên đời sống của các thế hệ tiếp nối.

NDL: Trong số các ảnh hưởng của các chế độ do chính trị đến nền Văn Hoá Việt thì những ảnh hưởng nào được coi là "tích cực" và ảnh hưởng nào bị coi là "tiêu cực". Xin cho một vài thí dụ cụ thể.


LDC: (5.5 phút) Đề cập đến các chế độ chính trị lên nền văn hoá Việt thì ảnh hưởng nào là tích cực và ảnh hưởng nào là tiêu cực.
Từ chế độ lạc hầu, lạc tướng rồi đến chế độ mẫu hệ của thời Văn Lang, chuyển qua chế độ phụ hệ của thời Âu Lạc, con người dần dần tiến lên cấp độ “dân tộc” dưới các triều đại độc lập kéo dài từ giữa thế kỷ thứ 10 đến giữa thế kỷ 20. Kỷ cương phép nước theo khuôn thước quân chủ được hỗ trợ bởi tầng lớp quan lại xuất thân từ “cửa Khổng, sân Trình” của nền học cũ căn cứ trên chữ Hán, chữ Nôm, “tứ thư, ngũ kinh”, để kén chọn nhân tài. Qua thời thuộc Pháp, kể từ hiệp nước Patenôtre (1884), xã hội thay đổi từ gốc rễ, chính quyền Pháp đã cho đào tạo lớp người giúp họ cai trị dân bản xứ theo nền học mới của Tây Phương, lấy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ thay cho chương trình Hán Nôm của các thời vua chúa thịnh trị trước đây. Người Pháp cố đào tạo một lớp người cai trị mới theo Tây học để làm trung gian cho các quan cai trị người Pháp. Nhưng với những quan niệm mới mẻ về tự do dân chủ của Tây phương, chúng đã thực sự thay đổi nếp suy nghĩ, tư tưởng của giới trí thức Tây học và chính tầng lớp Tây học này của Việt Nam là thành tố cho phong trào Cách Mạng đòi độc lập cho đất nước sau đó. Những sinh viên yêu nước như Nguyễn Thái Học (VNQDĐ), hay Trương Tử Anh (ĐVQDĐ) đã xây dựng nên chủ nghĩa tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) hay chủ nghĩa “dân tộc sinh tồn” để chống lại chủ thuyết của Cộng Sản (Đề tài “Tranh Chấp Quốc Cộng” là đề tài cần nhiều thời gian để thảo luận trong các cuộc Hội Thoại sau này).

Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe chúng tôi trình bày một số nhận định về ảnh hưởng của các thể chế chính trị lên nền văn hoá Việt xưa và nay. Không ai phủ nhận được rằng chính các thể chế chính trị đã làm thay đổi nền văn hoá của một quốc gia. Nhưng cũng không ai chống lại ý kiến cho rằng chính nền văn hoá hoàn thiện của một quốc gia (ý niệm văn hoá chính trị) sẽ có tác động ngược lại để một quốc gia hoàn thiện thể chế dân chủ ngày càng tốt hơn cho nhân loại trên toàn cầu.

Xin trân trọng kính chào quý vị.

NDL: Xin cảm ơn anh Cai và quý thính giả. Chương trình của chúng tôi xin tạm ngừng ở đây.. Mến chúc qúy thính giả luôn được bình an, hạnh phúc bên người thân. Chào tái ngộ.

Thursday, 6 December 2012

PHEN NẦY ÔN NGUYỄN LÝ TƯỞNG VĨNH VIỄN ĂN CƠM ÂM PHỦ RỒI - LÊ ĐÌNH CAI CŨNG ĐƯỢC CHÔN CẤT Ở  SUỐI ĐÁ MÀI LUÔN ./- Mt68



Ai đã bán đứng đảng viên
 
Đảng Đại Việt cho CSVN ?? 
 
    
Tháng 8/2003, ông Hoàng Duy Hùng chính thức ra tranh cử chức vụ Nghị viên toàn vùng  số 5 thành phố Houston, nhưng đã không “đậu” trong lần bầu cử này.
Ông Hoàng Duy Hùng là cư dân của Tiểu bang Texas với những tai tiếng không tốt trong thời gian ở Bắc California phát xuất từ những sinh hoạt chính trị vẫn còn nhiều nghi vấn. 
Để giải độc những nguồn tin không tốt đã có trong quá khứ, thời gian ông sinh sống tại California  nhằm mục đích kiếm phiếu tại Houston trong kỳ bầu cử tháng 08/2003, Ls Hoàng Duy Hùng đã tổ chức một buổi họp báo và nội dung buổi họp báo được đăng tải trong bán nguyệt san Kịch Ảnh số 47 trang 141.
Một trong các vấn đề được Ls. Hoàng Duy Hùng nêu ra để cải chính, thanh minh trước bà con là vấn đề:  
Ngày 27/4/1992, Ls. Hoàng Duy Hùng bị  bắt tại Việt Nam về tội hình sự nghiêm trọng là “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, được trả tự do sau 14 tháng tù mà không cần phải đưa ra tòa án CSVN xét xữ vì công lao Ls. Hoàng Duy Hùng đã khai báo 320 đảng viên đảng Đại Việt để đổi lấy lệnh tha này.
Đây là tội phạm được CSVN liệt kê vào các loại tội "Xâm phạm an ninh quốc gia" mà án tối đa là tử hình và chỉ có thể được giảm khinh nếu có thành tích lập công chuộc tội thật xuất sắc để được Tòa án cho hưởng trường hợp giảm khinh theo qui định của Bộ luật hình sự.
Xin trích đoạn lệnh tha tù Hoàng Duy Hùng của CSVN qua bản Quyết định đình chỉ điều tra bị can của Viện Kiểm sát Nhân dân CSVN ký ngày 2/7/1993, số 25/KSĐT-AN:
 
"... hành vi của Hoàng Duy Hùng đã phạm vào tội 'hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo điều 73/TG luật hình sự.
 
Nhưng xét thấy Hùng thấy được lầm lỗi của mình, biết hối cải, đã có đơn xin Nhà nước khoan hồng để được đoàn tụ với gia đình, đã khai báo rõ ràng về tổ chức của Hùng ở trong nước và ngoài nước.
 
Căn cứ vào khoản 1 điều 48 bộ luật hình sự và chính sách nhân đạo của nhà nước VN, xét thấy không cần thiết phải truy tố Hoàng Duy Hùng trước pháp luật... " 
 
Trong buổi họp báo giải độc,  ông Hoàng Duy Hùng đã giải thích lý do CSVN đã trả tự do cho ông  vì ông đã tuyệt thực 21 ngày liên tục trong trại giam và CSVN vừa khâm phục lại vừa sợ ông chết nên phải thả ra.
Mặc dù đã nghe Ls. Hoàng Duy Hùng giải độc …, nhưng lời giải thích của nhà đại  cách mạng trẻ tuổi vẫn không thuyết phục được lòng dân, chỉ làm cho bà con  thấy “buồn cười” nên dư luận không thể tin.
Khi về đến Mỹ,  Hoàng Duy Hùng đã đến tòa soạn báo Người Việt để “báo cáo” và báo Người Việt chỉ có vài hàng chữ  đưa tin trong một cột ngắn ngủi “có một thanh niên tên là Hoàng Duy Hùng đến báo cáo ông bị tù 16 tháng tại Việt Nam và vừa được CSVN trả tự do về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân".
 
Báo Người Việt không hỏi thêm lý do tại sao Hoàng Duy Hùng phạm tội nghiêm trọng  “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân"  mà chỉ bị tù có 16 tháng, và Hoàng Duy Hùng cũng không giải thích lý do khó hiểu này.
Chúng tôi tìm thấy một bài viết của tác giả Nguyễn Anh Khoa với tựa đề  “ Sự thật liên hệ giữa GS Nguyễn Lý Tưởng và LS Hoàng Duy Hùng” được đăng tải trong báo PHƯƠNG ĐÔNG TIMES số 371, Thứ Sáu ngày 6-8-1999  phát hành tại Seattle-Washington,  được KBC hải ngoại đưa lên diễn đàn để mọi người cùng nghiên cứu và đánh giá mức độ khả tín,  quí vị có thể tìm lại bài viết này  của tác giả Nguyễn Anh Khoa trên internet,   viết như sau:
                                              “Trích”
 
Kính quý vị,

     Vô tình tôi nhận được tờ báo hiếm hoi nầy (vì đã cũ ít người còn lưu giữ) nên tôi bỏ thì giờ đánh máy đoạn tài liệu liên quan đến GS Nguyễn Lý Tưởng. Xin phổ biến đến quý vị (kể cả người trong cuộc) để rộng đường dư luận.
     
     Kính mời quý vị bỏ chút thì giờ quý báu đọc bài viết nầy để biết thêm sự việc liên quan đến GS Nguyễn Lý Tưởng và LS Hoàng Duy Hùng.
 
Từ đó ta suy được động cơ nào thúc đẩy GS Nguyễn Lý Tưởng đã làm những việc: cố tình bôi lọ cựu Chủ Tịch Bùi Diễm và chống phá Đảng Đại Việt Cách Mạng tổ chức Đại Hội 7, lập danh sách MA ủng hộ ông ta hơn một trăm người vừa rồi, khi đồng bào quốc nội đang dấy lên phong trào biểu tình phản đối Trung Công để làm bàn đạp triệt hạ bọn Việt Cộng bán nước .
 
     Tâm Bền
 
 
(Trích báo PHƯƠNG ĐÔNG TIMES số 371, Thứ Sáu ngày 6-8-1999 phát hành tại Seattle-Washington)
 
LTS: Sau một số bài của bạn đọc khắp nơi gởi về được Phương Đông Times kiểm chứng trung thực và đăng tải có liên quan đến một vài nhân vật trẻ vừa xuất hiện trên chính trường của người Việt lưu vong. Số đông đồng bào hằng quan tâm đến sự tự do, dân chủ của dân tộc và đất nước, đã điện thoại, e-mail, viết thư…muốn biết thêm phần nào về quá trình hoạt động của những nhân vật nói trên để “chọn mặt gởi vàng”.
 
Phương Đông Times nhận được bản tin từ Internet của ông Trần Anh Khoa ngày 10-7-99, nhưng đình lại vì phải chờ kiểm chứng.
 
Nay ông Hoàng Đức Khâm hiện cư ngụ tại Seattle, một thân tộc trong gia đình của LS Hoàng Duy Hùng đích thân lên tiếng nên chúng tôi cho đăng bài nầy để rộng đường dư luận, xin cảm ơn ông Hoàng Đức Khâm và ông Trần Anh Khoa.
 
Đồng thời, trên diễn đàn này, Phương Đông Times cũng chờ đợi tiếng nói thứ hai của những người có liên quan đến vụ việc để độc giả có một nhận định chính xác hơn.
 
Trân trọng.
      
Ngày 25 tháng 6 năm 1999, từ Santa Ana, GS Nguyễn Lý Tưởng đã phổ biến Lời Tuyên Bố, nói là ông không hề liên hệ gì đến các hoạt động của LS Hoàng Duy Hùng, để phản bác lại một bản tin viết về việc GS Nguyễn Lý Tưởng đã giật dây sự kết hợp nhóm Tiên Long của Phạm Văn Thành và Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Động của Hoàng Duy Hùng, trở thành lực lượng chính trị nòng cốt lãnh đạo Phong Trào Giáo Dân Việt Nam.
 
Lời Tuyên Bố của GS Nguyễn Lý Tưởng đã không viết hết sự thật về sự liên hệ giữa ông với LS Hoàng Duy Hùng. GS Nguyễn Lý Tưởng viết rằng ông bị Việt Cộng bắt giam vào tháng 6 năm 1992 không phải vì tham gia trong tổ chức của Hoàng Duy Hùng mà vì một lý do khác? Lý do khác là gì?
 
Từ ngày GS Nguyễn Lý Tưởng cho phổ biến Lời Tuyên Bố đến nay đã hơn 2 tuần lễ trôi qua. Nghi vấn vẫn bao trùm vì sự thật đã không được GS Nguyễn Lý Tưởng trình bày một cách minh bạch.
 
Sau đây là những sự thật nói thay cho GS Nguyễn Lý Tưởng để mong ông trở về đúng với chân lý chính nghĩa của Đức Kitô.
 
LS Hoàng Duy Hùng tham gia Mặt Trận Việt Nam Tự Do năm 1987 lúc đang còn là sinh viên tại Houston. LS Hoàng Duy Hùng được cơi là cánh tay mặt của hệ phái Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ Tịch Mặt Trận Việt Nam Tự Do.
 
Năm 1989, Hùng được Nguyễn Văn Kim giới thiệu kết nạp vào làm đảng viên Đại Việt Cách Mạng.
 
Cũng năm nầy, gia đình Hùng đã xảy ra biến cố lớn: vợ chồng ly dị vì cô vợ trẻ không chịu nổi tính ngạo mạn và ngông cuồng của triết gia trẻ (lúc này Hùng vừa xong cử nhân triết và sinh ngữ).
 
Thấy Hùng nãn chí Nguyễn Văn Kim đề nghị Hùng đi công tác xa, về Việt Nam móc nối phát triển cơ sở. Kim đề nghị, vì Hùng có người Bác ruột, từng là cán bộ cao cấp của Đại Việt mà ông Hà Thúc Ký muốn móc nối.
 
Tháng 12 năm 1990, Hoàng Duy Hùng về Việt Nam chuyến đầu tiên với hai nhiệm vụ:
     
      1/- Cầm thư giới thiệu của ông Hà Thúc Ký về đưa cho người Bác ruột của Hùng là Hoàng Văn Khoát ở Xuân Lộc và GS Nguyễn Lý Tưởng ở Sài Gòn để giúp Hùng gầy dựng lại cơ sở Đại Việt.
     
     2/- Móc nối lại nhóm bạn bè quen biết ngày xưa ở Tiểu Chủng Viện Lê Bảo Tịnh để kết nạp vào Đại Việt
     
Ông Hoàng văn Khoát vui mừng gặp lại cháu và nhận được thư của một thủ lãnh từ hải ngoại nên ông Khoát rất sốt sắng trong việc hợp tác và giới thiệu Hùng đi gặp một số cựu đảng viên Đại Việt.
 
GS Nguyễn Lý Tưởng vì  mới ra khỏi tù nắm 1988, nên dè dặt và nói là để suy nghĩ lại.
 
Hoàng Duy Hùng lên Đà Lạt tổ chức buổi họp mặt khoàng 8 cựu học sinh Tiểu Chủng Viện Lê Bảo Tịnh tại một tiệm ăn và cho 8 người trẻ này ăn uống no say, để dụ dỗ tham gia vào Đại Việt và hứa mỗi tháng sẽ cấp 50 Mỹ kim để sống.
 
Sau khi từ Việt Nam trở về vào tháng 2 năm 1991 thì Hoàng Duy Hùng chứng kiến cảnh Nguyễn Văn Kim tạo phản đảo chánh Hà Thúc Ký nhưng bất thành. Hoàng Duy Hùng nhập vào nhóm Nguyễn Văn Kim chống lại Hà Thúc Ký.
 
Sự đổ bể tại hải ngoại làm ảnh hưởng đến tiềm lực của Đại Việt Cách Mạng tại Việt Nam, nên Nguyễn Văn Kim đã yêu cầu Hoàng Duy Hùng trở lại Việt Nam làn thứ hai vào tháng 8  năm 1991 để tổ chức đường dây riêng của nhóm Nguyễn Văn Kim, qua danh xưng mới là Tổ Chức Thanh Niên Tân Dân Chủ.
 
Hoàng Duy Hùng về Việt Nam đã nhờ người Bác ruột là Hoàng Văn Khoát giới thiệu gặp gỡ tất cả những cựu đảng viên Đại Việt để lôi kéo theo Nguyễn Văn Kim chống Hà Thúc Ký, phát triển hàng ngũ trẻ và nhờ GS Nguyễn Lý Tưởng phụ trách tuyên huấn nhằm viết bài và tổ chức các khóa huấn luyện. Thay vào đó, từ bên ngoài Hoàng Duy Hùng sẽ gởi tiền vào nuôi gia đình Nguyễn Lý Tưởng.
 
GS Nguyễn Lý Tưởng đã đồng ý và chính thức cộng tác với Hoàng Duy Hùng từ cuối tháng 8 năm 1991, phụ trách huấn luyện cho các đảng viên.
 
Vào lúc nầy do sự tích cực của ông Khoát và GS Tưởng, Đại Việt đã móc nối cả ngàn cựu đảng viên Đại Việt. Đa số các cựu Đại Việt ở trong nước đều đề nghị Hoàng duy Hùng làm trung gian hòa giải sự tranh chấp giữa hai ông Ký và Kim.
 
Sau một tháng công tác tại Việt Nam, Hoàng Duy Hùng trở lại Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 1992. Lúc nầy thái độ của Hùng thay đổi, Hùng lên giọng đối với Nguyễn Văn Kim và tìm gặp Hà Thúc ký để trình bày những điều nhắn gởi của các đảng viên Đại Việt từ trong nước.
 
Việc làm của Hùng đã gây cho Nguyễn Văn Kim bực mình nhưng chỉ chỉ có Hùng là con thoi ra vào Việt Nam nên Kim đành ngậm miệng.
 
Đầu năm 1992, GS Nguyễn Lý Tưởng liên lạc ra đề nghị Hoàng Duy Hùng trở về chuyến thứ ba để tăng cường…phát triển.
 
Hoàng Duy Hùng về Việt Nam chuyến thứ ba vào ngày 25 tháng 4 năm 1992, nhưng Hoàng Duy Hùng đã bị chận bắt tại phi trường Tân Sơn Nhất.
 
Những ngày đầu sau khi bị bắt, Hoàng Duy Hùng bị giam ở phòng phản gián (A 24) trên đường Tôn Đức Thắng và sau đó chuyển sang Chí Hòa.
 
Tại Chí Hòa do những dụ dỗ của công an và nhất là do hoàn cảnh khắc nghiệt của trại tù, Hoàng Duy Hùng đã “đầu hàng” bằng cách cung khai tất cả những gì mà Hoàng Duy Hùng liên hệ trong hai chuyến công tác đi về Việt Nam “đấu tranh”.
 
Sở dĩ Hoàng Duy Hùng bị giam trên một năm là vì Hùng đã khai báo quá thành thật về những chi tiết liên quan đến các cá nhân của Đại Việt.
 
Xuyên qua lời khai của Hoàng Duy Hùng, công an của sở Phản Gián đã lần lượt đi “tóm” các nhân sự Đại Việt lên sở công an. Bị bắt đợt đầu là Hoàng Văn Khoát và GS Ngyễn Lý Tưởng vào tháng 6 năm 1992.
 
Liên tiếp những tháng sau đó qua lời khai của Hoàng Duy Hùng, công an Việt Cộng đã bắt tổng cộng 320 đảng viên Đại Việt.
 
Việt Cộng đã lấy những lời khai của Hoàng Duy Hùng để vừa đe dọa và dụ dỗ GS Nguyễn Lý Tưởng và nhất là chúng hăm sẽ nhốt tù chung thân GS Nguyễn Lý Tưởng nên GS Tưởng cũng giống Hoàng Duy Hùng đã khai thật và tố cáo một số người Đại Việt đang lẫn trốn.
 
Công an lại bắt thêm,  non 100 người Đại Việt.
 
Tin tức nầy lọt ra hải ngoại đã làm cho ông Hà Thúc Ký bị “tai biến mạch máu não” nhưng bị nhẹ nên không đến nổi nguy hiểm. trong khi đó Nguyễn Văn Kim đã công khai tuyên bố là Hoàng Duy Hùng đã phản bội lại Đảng.
 
      Sau gần một năm giam giữ, Hoàng Duy Hùng, Hoàng Văn Khoát và GS Nguyễn Lý Tưởng đã “thành thực” khai báo, đặc biệt là “ký giấy” không hoạt động chính trị và sẽ hợp tác với chế độ  nên Cộng sản Việt Nam đã đưa Hoàng Duy Hùng và nhiều đảng viên Đại Việt trở lại trại giam tạm ở đường Tôn Đức Thắng để tu bổ trước khi phóng thích mà không cần ra tòa.
 
Ngày 10 tháng 7 năm 1993, Hoàng Duy Hùng được công an hộ tống ra phi trường Tân Sơn Nhất để bay đến phi trường Seoul.
 
Sau khi Hoàng Duy Hùng rời khỏi Việt Nam thì GS Nguyễn Lý Tưởng cũng đã làm giấy cam kết và được phóng thích ra khỏi trại sau đó cùng với các anh em trong nhóm Đại Việt.
 
Khi về lại Hoa Kỳ, Hoàng Duy Hùng đã làm bộ giận dữ tố Nguyễn Văn Kim là đã phản bội bán đứng mình khi về tới phi trường Tân Sơn Nhất. còn Kim thì tố Hùng đã bán đứng toàn bộ cơ sở đảng viên Đại Việt cho Việt Cộng để được tự do.
 
Hoàng Duy Hùng đã đi nhiều nơi lôi kéo những thành phần đảng viên trẻ chống lại Kim và đòi Nguyễn Văn Kim phải từ chức. Sự hỗn láo và xất xược của Hoàng Duy hùng đã làm cho Kim tức giận và vì vậy mà ông Kim đã bị tai biến mạch máu não chết bất đắt kỳ tử vào năm 1997.
 
Trong khi đó, từ khi ra khỏi trại tù, GS Nguyễn Lý Tưởng làm việc rất cần mẫn với công an và hứa là sẽ cộng tác với chế độ khi ra hải ngoai. Nhờ sự ăn năn và hứa hợp tác này, công an đã không làm khó dễ  việc xin Passport nên một năm sau GS Nguyễn Lý Tưởng được Việt Cộng cho ra đi khỏi Việt Nam vào tháng 7 năm 1993.
 
Sau khi ra hải ngoại, GS Nguyễn Lý Tưởng đã ở ẩn một thời gian, nhưng trong thực tế là ông đã âm thầm móc nối lại Hoàng Duy Hùng và một số nhân sự liên hệ trong cánh Đại Việt Duy Dân.
 
Ngoài những sinh hoạt trong Phong Trào Giáo Dân, GS Nguyễn Lý Tưởng còn là diễn giả của nhiều diễn đàn chính trị tại San Jose, Seattle, Houston, Paris, Bruxell…
 
Tất cả những di chuyển và hoạt động GS Nguyễn Lý Tưởng có thông báo và bàn thảo rất kỹ với một người có bí danh là Ba Đình thường xuyên lui tới giữa Paris và Nam Cali.
 
GS Nguyễn Lý Tưởng đã từng giới thiệu ông  Ba Đình này gặp Hoàng Duy Hùng nhiều lần kể cả lần Hoàng Duy Hùng sang Pháp gặp Phạm Văn Thành hồi đầu tháng 1 năm 1999.
 
Ba Đình chính là trùm tình báo của Việt Cộng tại Paris có nhiệm vụ “chỉ đạo” các bước đi của những “Cựu tù nhân” chính trị đã từng ký giấy hợp tác âm thầm nhưng đắc lực cho chế độ Hà Nội sau khi được tự do ra hải ngoại.
 
(Trần Anh Khoa)