Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label CungTichBienQuangNam. Show all posts
Showing posts with label CungTichBienQuangNam. Show all posts

Monday, 22 July 2024

 Vương Trùng Dương - Một Cây Bút Đa Diện

cung tich bien vuong trung duong

 

Hơn ba mươi năm trở lại đây, trên các báo Việt ngữ ở hải ngoại, độc giả đã quen biết bút hiệu Vương Trùng Dương, một cây bút viết nhanh, viết đều, đủ loại, viết những gì cần thiết, trên rất nhiều phương tiện thông tin, báo giấy, báo mạng, nhật báo lẫn tuần báo, tạp chí, những blog, web văn học.

- Viết nhanh, và đều. Rất nhanh, mỗi ngày có một sự kiện gì trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, âm nhạc, là chỉ cách một vài ngày sau đó, đã có ngay bài viết của Vương Trùng Dương. Dù một bản tin vẫn có ít nhiều tư/tài liệu cần biết về sự vụ ấy.

- Viết đủ loại. Một tác phẩm mới của một tác giả vừa ra mắt độc giả, một văn nghệ sĩ vừa qua đời, một cuộc triễn lãm hội họa, một đêm ca nhạc tầm cỡ, buổi thuyết trình văn học đáng lưu tâm, đều có bài viết của Vương Trùng Dương. Khi là tường thuật hiện tình, đôi khi là một bài nhận định, tiểu luận. Đương nhiên, theo cách viết “trường phái nhanh gọn” Vương Trùng Dương, không phải “chuyên sâu” như các phê bình gia chuyên nghiệp. Nhưng với Vương Trùng Dương, ta có ngay “Cái để đọc”.

Đây là một lợi điểm của Dương, trong một nhơn loại đương thì, cần thức ăn nhanh, ham cái “biết ngay tích tắc”. Thái độ chung hiện nay của quần chúng, qua mọi lĩnh vực, là lướt qua, lướt qua. Nhưng những qua nhanh này là biểu kiến của văn minh, của tiến hóa, không là cái lụp chụp kiểu ăn xổi ở thì.

- Viết những gì cần thiết. Mỗi ngày, mỗi tỉ sự vụ, làm sao viết cho hết. Sự phân loại, lựa ra những hiện tình cần thiết để loan, đề viết về, là một nghệ thuật. Vương Trùng Dương đã rất nhạy bén, nên đã có hằng trăm bài về các nhạc sĩ, văn gia, thi sĩ, những nhân vật nổi tiếng, xưa, tận nay. 

Qua hàng chục năm cầm bút, Vương Trùng Dương, đã viết về những tên tuổi được liệt kê dưới đây:


- Nhạc sĩ, ca sĩ:

Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Lê Thương, Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Hoàng Nguyên, Lê Trạch Lựu, Nguyễn Văn Đông, Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Hiền, Vũ Đức Nghiêm, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Đan Thọ… Thái Thanh, Mộc Lan, Thanh Thúy, Hà Thanh, Lệ Thanh, Lê Thu, Mai Hương…


- Nhà văn, nhà thơ:

Khái Hưng, Nhất Linh, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thạch Kiên, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Bà Tùng Long, Cung Tích Biền, Nguyện Thị Thụy Vũ, Linh Bảo, Văn Quang, Văn Phan, Nguyễn Quang, Hà Mai Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Mai Trung Tĩnh, Võ Thạnh Văn, Trạch Gầm, Trần Yên Hòa, Dương Viết Điền, Phan Xuân Sinh, Lê Đức Luận…

Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Hữu Loan, Nguyễn Bá Trác, Nguyên Sa, Lê Trạch Lựu, Lê Thương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đình Toàn, Du Tử Lê, Trần Tuấn Kiệt, Hà Huyền Chi, Phan Nhự Thức, Lê Văn Trung, Trần Văn Sơn…


- Nhà nghiên cứu, nhà giáo:

Hồ Biểu Chánh, Trần Huy Bích, Lê Văn Khoa, Lê Mộng Nguyên… Những đề tài liên quan về Văn học Nghệ thuật, Âm nhạc…

Nhìn chung, Cõi viết của Vương Trùng Dương thiên về âm nhạc. Tâm sự về ngọn nguồn “ma đưa lối quỷ dẫn đường” vào cái cõi réo rắc lênh đênh của dây tơ tiếng kèn, chính Dương  đã có lời tâm sự. Rằng thì, từ thuở bé anh đã say mê lời ca tiếng hát. Âm nhạc giúp anh hiểu biết hơn, giải khuây khi buồn, làm dịu cơn đau, mở rộng tâm hồn để tiếp cận với cái đẹp của thiên nhiên, con người.

Xem ra, hơn nửa số lượng Dương đã viết là về âm nhạc. Món này nó đa đoan diễm lệ hơn chốn văn chương thơ phú, hội họa rất nhiều. Bởi vì nó luôn, anh anh em em, người tình già đầu non, cô tình trẻ chỗ cổng trường; trong thị thành con đường tình bóng mát lá me bay, nơi chiến trường lửa đạn xương gãy thịt rụng tùm lum, vầy mà qua âm nhạc, tình huống nào cũng gởi gắm được cái nhớ nhung quyến luyến, quanh quẩn với Chữ Tình. Nhà văn, bị người tình cho ra rìa, hiếm khi ngồi kỳ khu, ra công viết cái truyện tả oán. Nhưng với một nhạc sĩ, lời than van tình lỡ tình sầu, tình oan trái, tình thiên thu, tình trong giây phút, tình nghèo tình muộn tình xa’’… lắm khi lại trở thành những tuyệt tác.

Nhạc sĩ nói riêng, âm nhạc nói chung là vị thần tình ái. Đủ mùi ca ngâm chỗ biệt ly tái hội. Tiếng tơ đồng, nhịp phách, lời ca nó xoáy vào tâm can con người, đục thẳng và tức thì, hơn mắt phải đọc, mặt phải nhìn từng dòng từng trang chữ. Lại khổ chữ lớn chữ nhỏ trên giấy tốt giấy xấu, đeo kính vào gỡ kính ra. Viễn thị cận thị thậm chí đui mắt vẫn rung cảm khi nghe tiếng nhạc. Nấu bếp, nhậu nhẹt, ngủ với vợ, là lúc sách vở, tranh họa đi chỗ khác chơi, bấy giờ tiếng nhạc lời ca lên ngôi.

Vương Trùng Dương mê nhạc, viết về âm nhạc, là đúng vậy rồi.

Luôn luôn làm việc nhưng thấy Dương cũng khá thảnh thơi. Mỗi sáng luôn có mặt ở một quán cà phê quen thuộc, cùng anh em, ngay cả thời gian 7 năm, phụ trách Section B (bài vở và layout) nhật báo. Những câu chuyện văn nghệ, lan man những sự đời gió trăng mây nước. Dương luôn vui vẻ, khiêm tốn, hài hòa thân thiện với mọi người. Văn là người. Văn phong của Dương cũng nhẹ nhàng, thoáng đảng. Chữ nghĩa khá dễ hiểu.

*

Một khối tình con. Vì đời còn là một bài thơ.

Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.

Buổi chiều, đêm trăng, ngồi bến sông Chợ Được, nhìn sông dài trời rộng, những thuyền trôi, đẹp vô cùng. Sông Trường, non chín mươi năm trước, khi tôi tuổi lên mười, là con sông huyền hoặc, khá đặc biệt của Xứ Quảng.

Tại miền Trung Việt, hầu hết các con sông đều bắt nguồn từ cao, trong lòng dãy Trường Sơn, đổ xuống đồng bằng rồi ra cửa biển. Sông Trường không như thế. Nó chảy dọc theo bờ biển, gần như song song với con đường Cái quan, từ bắc vào nam. Nếu gọi nó có nguồn từ nam ra bắc cũng chẳng ai cãi cọ. Vì nó là một hợp dòng từ hai cửa biển chảy qua về với nhau. Phía bắc là cửa Đại, Hội An, phương nam là cửa An Hòa, Tam Kỳ.

Chẳng ai hiểu nó bắt nguồn từ cửa biển nào. Nên chẳng biết bờ sông bên nào là tả, hoặc là hữu ngạn của nó.

Hằng ngày, tuổi thơ, Dương nhìn ngắm sông, mê mây trôi lòng nước, cùng bọn nhóc nhảy ùm, tắm sông. Ký ức đã dìu dặt.

Sông Trường, có hai dòng nước từ hai cửa biển chảy vào ngược chiều nhau, An Hòa đổ ra, Hội An chảy vào. Mỗi khi thủy triều dâng, biển chảy vào mỗi cửa sông. Thủy triều hạ, nước biến cửa nào tự chảy trả về biển đó. Lúc triều dâng hay rút, nước sông Trường vẫn một dòng nước ngọt, không hề có cái lờ lợ vì pha nước biển. Nơi hai dòng nước ngược chiều đụng/gặp nhau là bến Tây Giang. Suốt chiều ngang sông từ bờ này sang bờ kia song, chỗ này, có một ngấn nước cao. Thủy triều hạ, ngấn nước tan. Sông lại hoàn sông. Chờ ngày mai, thủy triều lên, sự tình lại tái hiện.

Tuổi lên mười, tôi có dịp đến Chợ Được, may còn có dịp nhìn con sông rộng, những đêm trăng, thuyền bến, khu chợ đã vắng người, một vùng quê thơ mộng, bãng lãng vô cùng. Hôm nay Trường Giang đã cạn, chỉ là một con lạch nhỏ, những bùn lầy.

Hội An, một đô thị cổ, một thời rực rỡ cửa biển,  mở ra đại dương với những thương thuyền Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Pháp Lang Sa, Nhựt Bổn… Hội An một thời ngủ dài, ngủ những mấy trăm năm, Hội An thức giấc với xiêm y, hình hài một di sản thế giới; Và, Sông Trường huyền hoặc bên này, Trường Sơn kỳ vĩ núi kia; những quần thể tháp Chàm Mỹ Sơn Đồng Dương; Và, Dòng sông Thu sức chảy bạt ngàn, phá bờ này thành vịnh nước sâu, bồi qua bờ kia thành những bãi dâu xanh chiều chiều; Quảng Nam, khí thiêng ấy đã giúp gì cho những danh nhân Xứ Quảng ở khắp mọi lĩnh vực?

*

Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm.

Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi.

*


Thời thế đã mau chóng đổi trắng thay đen, chiến tranh, ly tán. Mỗi phận người bỗng là, “Một chiếc linh hinh hồn nhỏ / man man thiên cổ sầu” (Huy Cận). Xa nhau tưởng đã quên nhau. Hai mươi bảy năm sau, 1987, tôi tình cờ gặp lại Vương Trùng Dương từ Đà Lạt về Sài Gòn, lúc Dương ghé thăm tôi

Bấy giờ Dương đã là một sĩ quan quân đội Cộng Hòa. Xuất thân khóa I Nguyễn Trãi, Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt (12/1966-5/1969). Phục vụ ở Tiểu Đoàn 20, rồi Tiểu đoàn 10 CTCT, sau cùng trở về quân trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Năm 1975, một thời gian đi trại tù Cải tạo trở về, Dương ghé thăm tôi, chuẩn bị cho năm 1990, đi định cư theo diện H.O tại Mỹ.

Lại 29 năm sau, năm 2016 tôi gặp Dương tại Mỹ. Trên 55 năm (1959-2016) hai anh em chúng tôi chỉ gặp nhau một lần (1987) Sự quý hiếm ấy tạo ra cái tình thân thiết. Vàng này được thử lửa đời.

Lúc này, sau khi có mặt trên đất Mỹ, Vương Trùng Dương, đã có một bề dày hoạt động văn nghệ báo chí khá đáng khen. Là, thành viên trong Trung Tâm Văn Bút VN Nam California những năm đầu của thập niên 1990s và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại. Tổng Thư Ký các tờ Việt Press, nguyệt san Thế Giới Nghệ Thuật, tuần báo Tình Thương, Đất Nước, Rạng Đông, bán nguyệt san KBC (2002-2005), nguyệt san văn học Tân Văn (một thời gian), nguyệt san Hồn Việt…

Năm 2005, Chủ Nhiệm Cali Weekly và trang web Cali Weekly. Năm 2008, phụ trách Section B của nhật báo Saigon Nhỏ (2008-2016, đảm trách bài vở và layout) & Tổng Thư Ký, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa cho đến nay.

Hiện nay Vương Trùng Dương sống tại Little Saigon, nhà cửa khang trang, con cháu đông đúc, tất cả học hành giỏi dang.

Viết những dòng này, tôi đã ở thềm tuổi 90, người em Vương Trùng Dương đã 80. Nhưng còn viết, còn chuyện trò được, cười vui cùng hoa cỏ, nếu tất cả có thể, thì cứ là vui.

Vương Trùng Dương viết nhiều về bạn bè, thân hữu… Nhưng, theo lời tâm sự chỗ riêng tư, Dương cho biết đã từ chối phỏng vấn về bản thân (chỉ có 2 lần với nhà báo Uyên Vũ và nhà thơ Triều Hoa Đại). Với tôi, Dương vẫn luôn luôn coi tôi như một người anh, một Huynh Trưởng trong Gia Đình Phật Tử vào cuối thập niên 1950s nơi quê nhà, vì tôi và người chị thứ sáu của Dương cùng tuổi và trong GĐPT (nay đã ra người thiên cổ).

Cuộc đời gẫm lại, là một bài thơ. Bài thơ lung tung, không vần, không niêm luật bắt buộc, nhiều nắng vàng gió mưa tự động, bao rủi may bất ngờ, là một đời thanh thoát. Cứ là, tôi đến từ buổi sơ nguyên, và hẹn em ở thế kỷ sau. Lãng mạn dỏm, xem sao.

Cung Tích Biền

Senior Village Garden Grove

Orange County, July, 2024

Saturday, 9 September 2023

 Nguyễn Bắc Sơn Một Nẻo Đời Khác.

 
Nguyễn Bắc Sơn
Nguyễn Bắc Sơn
 
Đôi dòng tiểu sử:

Nguyễn Bắc Sơn, tên khai sinh Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết, Bình Thuận.

Theo lời những người gần gũi với Sơn, anh bị khủng hoảng tinh thần rất sớm, Năm 15 tuổi, đã đến nghĩa địa, cắt gân tay nằm chờ chết. Có người tìm thấy, cứu cậu bé thoát chết. Sau này nhảy lầu tự tử “nhiều lần”, nhưng không chết.

Thân phụ Nguyễn Bắc Sơn là cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết năm 1954, sau 30/4/1975 về đoàn tụ gia đình, cấp bậc Đại tá Quân đội nhân dân. Nguyễn Bắc Sơn là lính Việt Nam Cộng Hoà, nhập ngũ năm 1962. Trong quân ngũ, có thời gian làm thông ngôn cho cố vấn Mỹ.

Vắng mặt trên trái đất tháng 8 năm 2015, tại quê nhà.
 
1
Kể lạ, ở “nước non mình”, bút hiệu của các nhà sáng tác qua nhiều lãnh vực văn chương, thi ca, âm nhạc, hội họa, nghiên cứu phê bình, truyền hình, báo chí, diễn viên, có bút hiệu/danh, là Sơn [không kể Sơn ở đầu như Sơn Nam, Sơn Tùng, Sơn Vương…] là đông vô số kể. Thiếu Sơn, Triều Sơn, Trúc Sơn, Phạm văn Sơn, Trịnh Công Sơn, Mai Sơn, Phong Sơn, Vân Sơn, Trần văn Sơn, Linh Sơn, Trần Áng Sơn, Từ Sơn, Vinh Sơn, Tiến Sơn, Cao Sơn, Ngô văn Sơn, Lê Thái Sơn, Nguyễn Lê La Sơn, Lê Tây Sơn. Chu Sơn, Tùng Sơn, Hoài Sơn, Đào Bá Sơn…Trong đó hai ông Sơn thi sĩ là….đáng yêu nhất. Nguyễn Đức Sơn và Nguyễn Bắc Sơn. Đáng yêu, vì hai ông này đều có tài, đều có cái lạ trong thơ, lẫn ngất ngư, ngất ngưỡng, ngất ngây trong đời sống. 

Nguyễn Đức Sơn, thuở kia ở đồng bằng phố thị - Bình Dương, Sàigòn. Sau tháng Tư 1975 ông đưa vợ con lên lập Phương Bối am, vùng rừng núi Lâm Đồng, nên có Biệt hiệu Sơn Núi. Sống đời hoang dã, cách biệt với thế gian.

Nguyễn Bắc Sơn ở Phan Thiết, hiền hòa, lãng du, Nhưng lúc 15 tuổi Sơn đã biết cắt gân tay, nhảy lầu tự diệt. 

Lưỡng Sơn này mần thơ rất dễ dàng như lỗ mũi hít vào thở ra, dung dị như thiếu nữ làng quê đi chân đất, hoa rừng tự nhiên, nắng và gió không hề kiểu cách.

Sơn Núi, Kỳ sĩ Phương Bối am, lồng lộng một nỗi đời:
Một mai cha chết đừng chôn
Ngại chưa xuất kịp chút hồn thiết tha
Cái gì cha nói chưa ra
Biết đâu còn sót trong da máu này
.
Sơn Trung du, một anh lính Cộng Hòa, thời Năm-Bắc phân tranh:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui.
 
2
Bài viết này từ đây trở đi, chỉ nói về Sơn Trung du. Thử đọc vài ý nghĩ sơ khởi của Sơn:
Đôi lúc nghĩ trời sinh mỗi mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi

…Dù mỗi ngày ta xé đi năm mươi tờ lịch
Nhưng thời gian đâu có chịu trôi nhanh
Dù đen bạc là nơi cố xứ
Nhưng đi biền biệt cũng không đành
[Mai sau dù có bao giờ].
 
Có một thời, miệt Phan Rang Phan Thiết, nơi có Bà Mẹ đẻ ra Người con Thi sĩ, với tôi là trời hoang đường. Từ thuở lên 10, tôi ở Xứ Quảng Nam, dân cả nước chỉ “25 triệu đồng bào”, làng xóm chen lấn với rừng là rừng bao quanh. Bà con truyền tụng, “Cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận”. Những làng xóm người Chàm cô quạnh, những dãi cát mênh mông. Những hồn đi trong nắng. Phan Rang, Phan Rí Lầu…

Quê tôi đi đâu cũng gặp tháp Chàm. Vào hướng nam bốn cây số đã thấy tháp Bà Rầu Con Nghê, tháp Khương Mỹ trên cánh đồng lạnh, con dơi bay, tiếng chim hoang đỉnh tháp, chiều chết trong nắng vàng. Đi ra phía Bắc một buổi đường đã gặp quần thể Tháp Đồng Dương, kinh đô của người Chàm. Lịch sử đã chết. Thời gian nơi này không đi thêm bước nào. Xa hơn vế phương Bắc vùng Mỹ Sơn, hàng chục ngôi tháp lẫn quất trong rừng, sau này là Di sản thế giới. Tôi sống ở một khu chợ quê. Mỗi đầu tháng Giêng, thấy từng đoàn người Chăm “về” tới. Người quê tôi, gọi là “Họ về”, không phải “tới”. Xưa kia đất này là quê hương của họ, tổ tiên còn sâu đậm dấu tích, di chỉ trên vùng Đất Quảng này.

Mỗi lần đọc thơ Sơn, một nhà thơ rất cách biệt thế giới Chàm, nhưng tôi bị huyễn hoặc bởi “Đoàn người du Xuân ấy”. Y phục nhiều sắc màu đẹp đẽ. Bọn nhỏ chúng tôi chạy lon ton theo xem. Họ đi thẳng người, thong dong hai tay buông thòng, khi đang đội trên đầu một cái giỏ bự, trong đó đủ thứ hàng hóa. Họ bày bán những loại thuốc nam, bùa ngãi, sừng nai hưu, nanh voi, mật gấu. Buổi tối quần tụ trong lồng chợ người Việt, người Chàm – Chăm, thức thâu đêm, âm thầm trò chuyện, những tình nước tình đời. Tôi mê nhất là bên ánh lửa khuya, với cây đàn ghita và tiếng hát. Lời Chăm. Giọng buồn. Một kể lễ. Những lời bọn nhỏ chúng tôi chẳng hiểu gì, nhưng chẳng rời xa họ được.

Cha tôi bảo, trong xa hút về xưa, quân nước Việt vào Đất Quảng Nam, từng sống chung với người Chăm bản xứ, hòa trộn trên một trăm năm người Chăm cuối cùng mới biến hẳn đi. Sự giao hòa ấy, có khi một đàn con có cha Việt mẹ Chăm ra đời. Chúng tôi có một họ ngoại dân tộc Chăm. Tình ấy huyền hoặc. Một thiêng liêng rung chuyển tận máu me.  

Đi ra từ những ấn tượng mờ hoang ấy, sau này mỗi lần gặp một người trong phương nam, lòng tôi rờn rợn, như thấy bóng mà không gặp người. Thật ra họ rất thân thiết hiền từ, những người bạn quý như Nhật Trường, Từ Công Phụng, Trần Thiện Hiệp, Nguyễn Bắc Sơn …

Y Uyên, người sĩ quan trẻ, một nhà văn tài năng, tử trận đồn Nora. Y Uyên lại dẫn tôi tới Phan Thiết xa xăm, những địa danh rất đổi mơ màng. Phù My , động Thái An, Hòn Hồng, Hòn Rơm , bầu Ông, bầu Bà, Ma Lâm, Phan Rí Chàm, Tà Dôn, Suối Hồng.

Cõi hoang huyền ấy giúp gì cho hồn thơ của Sơn?

Tôi đọc thơ Sơn, qua một mối giao cảm khá lạ lùng. Một cõi hoang mạc lại rực rỡ màu sắc tuyệt cùng. 
Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng
Còn ngại hành quân động Thái An
Cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
Mùa khô thiếu nước lính hoang mang

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắt-cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoáng đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ thành mây bay

Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vẩn trong rừng động Thái An
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám xương tàn.

[Mật khu Lê Hồng Phong]

Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn, trong tôi, có tiếng vang dội lại từ những khoảng trống, nơi chiến chinh bày ra cho những giấc mơ lẻ loi:
 
Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội
Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng
Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn
Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt

Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng chân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời...
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic

Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
Hãy tránh xa ra ta xin tí điều
Lúc này đây ta không thèm đánh giặc

Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu

Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí

Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hoả châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang
[Chiến tranh Việt Nam và tôi]

Nguyễn Bắc Sơn, một đơn vị người tuồng là vô nhiễm, giữa một môi trường ô uế lý tưởng, ồn ào đạn bom, huyên náo chợ đời.

Có thật, “Lũ chúng ta sống một đời vô vị / Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau”, Phải chăng, “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi” Ai đã đặt khối chất nổ nơi nhà hàng, rạp chiếu bóng, đêm khiêu vũ? một con mắt người ướt máu dán trên vách tường ám khói? một cẳng chân của một ai, lủng lẳng treo trên trần nhà, quán rượu?

Nguyễn Bắc Sơn nói thật lòng cuộc đùa chơi. Chỉ là bồng bồng phi lý. Lửa khói, điêu linh, đã trú ẩn trong cái thế giới vừa đùa vừa đau ấy. Ngôn ngữ ấy chính là trò ảo dụ của Nhà ảo thuật.

*
Nguyễn Bắc Sơn là nhà thơ gây ấn tượng nhanh, và lan rộng đối với giới yêu thơ tại Miền Nam, trước 1975. Điểm đặc biệt là ông không, hoặc rất ít khi dùng từ Hán-Việt, mà thông thường văn thơ có loại từ ngữ này nhiều được gọi là “hàn lâm”. Trong thơ Sơn rặt từ thuần nôm, dân dã, văn là văn nói thông thường, chỗ đường sá, chợ búa. Nhưng, khi mớ ngôn ngữ này nằm trong thơ Nguyễn Bắc Sơn, chúng nó như được thoát xác, bỗng dưng bay bổng, thanh thoát, khoát chiếc áo thi ca; đích thực là hư ảo, đa tầng ngữ nghĩa.

Trong cõi thơ viết về chiến tranh trước 1945, hiếm có ai viết tài tình, sâu sắc và khiến người đọc giật mình, về chỗ nghênh ngang bất cần, khinh bạc, mà trầm thống nỗi đời, mà lạnh cơn u hàn những hoang mạc phận người.

Bất cứ một thể tài nào, cả chuyện vặt, qua Sơn, đã hiện ra thơ. Sớm mai vợ cho tiền đi hớt tóc, sa đà vào những câu chuyện thời cuộc vớ vẩn, vài bàn cờ tướng, thua độ, hết ngày, tóc  mái đầu còn nguyên. Mà thơ hay, cực hay.

Trích vài đoạn:
 
Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà-phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về.

Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to.

[…] Tháng giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời không có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la.

[…] Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.
[Một ngày nhàn rỗi]
Hãy đọc thêm, Nguyễn Bắc Sơn chuẩn bị “vũ khí” trước lúc ra trận:
Khi tao đi lấy khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
 
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bãi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
 
Những thằng lính trẻ hào hoa
Lưu đày trong cõi rừng già núi xanh
Lao mình vào cuộc phân tranh
Tiếc thương xương máu sinh thành được ư
 
Đời vội quá. Hãy nhàn nhã một đôi khi.
 
Garden Brook Senior Village
Orange County, 2023

Wednesday, 5 December 2018

Ngày Xuân Của Mẹ


cung tich bien
Nhà văn Cung Tích Biền tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1937 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Từ 1970 là giảng viên Trường Sĩ Quan Hành Chánh Sài Gòn. Ông giải ngũ năm 1973 với cấp bậc Đại úy. Sau đó làm Giáo Sư Thỉnh Giảng Viện Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà, Đà Nẵng. Là một nhà văn độc lập, ông có truyện và thơ đăng trên các báo từ Năm 1958, với nhiều bút hiệu khác nhau lúc ban đầu như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh trước khi có bút hiệu Cung Tích Biền. Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật tháng 3-1966 tại Sàigòn, với truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi. Nhanh chóng có truyện đăng trên hầu hết các nhật báo, tuần báo, tập san văn học nghệ thuật có giá trị, trước 
và sau 1975, trong và ngoài nước.

I.
Một Ngày nọ, âm dương có một lúc thuận hòa, Bà Mẹ đẻ ra tôi. Sống riết với nắng mưa, bầu trời trên kia, mặt đất cỏ hoa sông nước bốn bề, tôi xem thiên nhiên cũng là một bà mẹ, Mẹ nuôi. Mẹ đẻ, mẹ nuôi, mẹ nào cũng muốn con mình sống cho dài lâu, nương theo tối sáng mà sống, dù cõi người chẳng thiếu cái lênh đênh.
Đầy hy vọng, chen chúc lòng thương yêu, Mẹ ru tôi bằng một nỗi buồn, qua những nỗi buồn ca dao. Đêm trăng tháng Giêng năm 1937, tôi nằm nôi. Mẹ đã ru tôi bằng, những, // Chiều chiều én liệng truông Mây / cảm thương chú Lía bị vây trong thành // Quê hương tôi 1937 hãy còn trong lành, nhân gian hãy trong tinh mơ ngày mùa // Cái cò cái vạc cái nông / sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò // Có một thuở, một thân cò mong manh dẫm trên một thân lúa đã là điều không may cho dấu chân. Là không nên dẫm đạp cái Sống.

oOo

Vào tuổi trưởng thành, anh em “chúng nó” lên đường. Mỗi kẻ một phương trời. Thật ra, về chỗ xưng hô giữa con người với nhau, cực chẳng đã mới đụng tới hai từ “Chúng nó”. Nhưng những người con của mẹ cha âm dương thuận hòa, đã từ lâu rất thù nghịch nhau. Thuận tay thì anh này bấm cò súng vào ngực anh nọ; sẵn dịp bác nọ rút mã tấu phụp cần cổ chú kia, tỉnh bơ như chặt trái mít trái dừa trên cành. Cho nên, chỉ lúc nào bình tâm nhất, khi hận thù như thủy triều rút cạn, họ mới dùng hai từ hiền hòa nhất, “Chúng Nó”.
Khi cần thiết, chúng sẵn sàng moi móc tổ tiên ra để sinh sự. Dành dụm, tích góp không biết bao là sinh linh, chung tay góp vốn điêu linh, để cho “Tháng-Ngày”, vốn là cái bình thản vô danh, bỗng đích thực trở nên đáng ghi nhớ, đáng gọi tên và dán nhãn hiệu, Tết Mậu Thân 1968.
Tên Gọi này sẽ sống rất lâu dài, cùng trường tồn với Sử Việt. Dòng máu từ vết thương này chảy hoài. Buổi khuya một mồng Tết, mẹ dùng băng bông quấn chặt, sáng mở ra, vẫn chảy. Mẹ cho uống mấy viên thuốc đông máu, băng bó lại, chiều mồng Ba Tết mở ra, rằm tháng Giêng mở ra, vẫn chảy. Dòng Đỏ ấy chảy lai láng, miệt mài, không biết mỏi mệt. Như đứa con hoang, đi theo con đường hoang mị, quên mẹ cha, quê nhà, mái tranh giếng nước, để quay về.
Chúng ta có thể soi gương vào một buổi chiều, khi nắng đã dần tắt bên ngoài, và căn phòng chưa bật sáng ngọn đèn. Trong rơi sót ánh hoàng hôn, đã thấp thoáng trong ấy, chiếc gương soi, khuôn mặt của mình. Một nám màu-mậu-thân, một dị dạng nhân tình. Những mắt đen nhòa, những miệng không ra miệng mồm. Mậu Thân đã xa lắm rồi. Nhưng, mãi là bóng hình trong mảnh gương hoàng hôn khi chạm mặt.
Chạm mặt, tôi bị động kinh. Tôi triền miên điên dại một thời. Văn chương tôi cũng chẳng hề tỉnh táo. Thưở này, tôi viết tâp truyện “Ai Tỉnh Ai Điên”, Nhà Trí Dũng xuất bản 1969. Bọn chữ nghĩa thất cơ lỡ vận, xiêu đổ xuống thác ghềnh.
1968. Mặt thật mặt giả nhìn nhau là rất lẫn lộn giả/thật. Mỗi mặt người, mỗi mặt nạ to bằng cánh đồng cỏ. Có những chiếc cầu quê nhà giống như con khủng long bị bom mìn chặt làm ba bốn đoạn, thịt da hoen rỉ. Cầu Hiền Lương, hiền và lương. Dòng nước chảy chân cầu chia đôi Nam-Bắc hai màu đục-trong khó thể phân biệt, dù cùng lúc dưới bóng mặt trăng mặt trời. Nói chung, vạn vật nơi đất nước tôi cư ngụ, lúc này, như đồng loạt đầu thai vào một đám côn trùng.

oOo

1968. Đây cũng là thời tôi sống trong cực điểm cuộc Nam-Bắc phân tranh, một cuộc chiến ngay cái tên gọi đã không mấy vui. Rất hao phí sức khỏe giữa những người cùng bào thai mẹ.
Đang có một nguồn bấn loạn đại đồng lớn rộng từ “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa”, cho chí “Năm Căn, Cái Nước, nắng mưa mỗi mình”. Một cái xương gầy hình chữ S bị bẻ cong rệu rạo. Chuông mõ đánh phá, ruồi nhặng tâm não. Tôi đang trong thời cuộc này. Tôi, một thành phần rất lăng nhăng, nhưng không thể vắng mặt chỗ Nồi da xáo thịt.

oOo
ngay xuan cua me  3
Hình minh họa của Họa Sĩ Ann Phong.

Đầu Xuân 1968. Cuộc hành hình “Mang lại thành tích cao nhất” trong các cuộc đại hành hình trên toàn cõi Đại Cồ Việt, từ cổ chí kim, chính là pháp trường Huế. Nơi, có trường Quốc Học, trường Văn khoa, tôi đã từng lai rai học. Nơi có những con đường cây cao bóng mát, mùa hè ve rỗng ruột ve kêu. Đặc biệt hơn, Huế là nơi mẹ tôi đang nằm dưỡng bệnh, và, mẹ bất ngờ  một thân một mình, rời bỏ bệnh viện. Mẹ đã trở lại khu vườn quê để chờ một ngày xuân khác.
Dù mùa Xuân này tôi đang ở một nơi rất mực chia lìa, Trung đoàn 10 Thiết giáp, trấn đóng tại một vùng biên giới Việt Miên, thị trấn Đức Hòa, tôi vẫn rất gần gũi, thậm hình dung ra một kinh thành Huế. Trong những chiều tưởng nhớ, những khuya khoắt giấc mơ bị băm/chặt, tách lìa bởi những tràng pháo, ánh hỏa châu một đám mắt khuya lơ láo lững lờ rụng dần xuống chân trời đêm, Huế trong tôi, là đều đều trái rụng.
Một mùa trái rụng, toàn đầu người.
Trong sân trường, bãi cỏ công viên. giữa miếu đền, người người Miền Nam đầu não đang rực rỡ tinh khôi, bị kẻ thù xem là đầu kia đã thiu thối, đã sâu bọ xài, chung chung là cần cấp tốc chặt bỏ.
Trong những cái hố đào vội, đầy những mương đất sâu lút đầu người, là bao la trái rụng. Trái tóc bạc, trái đôi mắt thanh xuân, rất mực thì thầm, trái tỏa hương, khi bầu trời bên trên là bùn đất đã dần dà lấp đầy hố người.
Tôi xa Huế cũng lâu, nhưng những tiếng nổ còn vọng lại, rất gần. Vật vờ hồi kinh tụng. Tiếng mõ chùa thiêng. Nghe cả tiếng người mò mẫm tìm nhau, sờ soạn vuốt mặt nhau, trong một thế giới kín đen của tuyệt vọng.

oOo

Huế ngày xưa, những ngày Kinh đô - càng lui về ngày cũ bao nhiêu Huế càng đẹp bấy nhiêu. Một cõi mờ mờ ảo ảo, lạnh và nồng, Huế có đó mà lung linh như huyền tượng trong mơ xa.
Hình như Huế được làm bằng sương mai khói chiều. Trong ký ức tôi, Huế được bỏ trong cái nồi quê, mẹ nấu, để các con ở xa thấy Huế qua làn khói. Khói không muốn bay. Rồi khói lơ lửng lên trời. Có thêm nắng hoàng hôn thì nhớ thương tắt thở.
Ấy là một Huế-nguyên-bản, đã được cất giữ trong chiếc hòm son dĩ vãng. Huế-bản-sao của Hôm nay đã rất khác. Chừng như cái máy photocopy của thời thế, đã quá cũ, bản sao kia nay có phần lem luốc.

III
Một ngày cuối năm âm lịch, mẹ tôi trở lại làng quê. Không hiểu làm sao mẹ đang nằm chữa một căn bệnh hiểm nghèo tại Viện Bài Lao, mẹ lại bỏ giường bệnh ra đi. Không trở về khu chợ nhỏ, nơi mẹ có một cửa hàng tạp hóa. Mẹ về thẳng làng quê nơi có ngôi nhà thờ thừa tự tổ tiên.
Nơi đây hãy còn một gian nhà ngói loại nhà rường cổ, những cánh cửa, cột kèo gỗ được chăm trổ khá tinh vi. Những chân cột cao to đều được táng trên một viên đá, loại đá núi Ngũ Hành Sơn, hình tròn, màu xám xanh. Theo chiều dọc những hàng cột xưa kia treo nhiều câu liễn gỗ, chữ nho, mặt chữ được thếp vàng. Thời kháng chiến chống Pháp, loại liễn đối bằng phẳng này thích hợp cho việc dựng chung quanh hầm trú ẩn, hầm được chắc và sạch sẽ.
Khu vườn rộng thênh, lúc mẹ trở lại, gần như một vườn hoang. Bàn thờ tộc ba gian từ lâu rất thiếu khói hương. Bọn con cháu “có máu mặt” chẳng còn đứa nào cư ngụ trong vùng quê tranh chấp này. Thỉnh thoảng có một đứa về thăm quê nhưng người ta khiêng nó về trong áo quan.
o0o
Không hiểu làm sao mẹ mang chiếc thân già nua xanh xao trở về. Mẹ bị lao phổi thời kỳ cuối, ho xuất huyết thường trực. Một ngày lau năm bảy cái khăn ướt đỏ. Chỉ một người cháu gái bà con đi theo chăm sóc. Không một đứa con nào bên mẹ cho tới lúc mẹ qua đời.
Mẹ trốn viện. Có thể trời cuối đông làm mẹ nhớ những ngày kỵ giỗ, chạp mả. Mẹ nhớ nắng, nhớ khói hương, nhớ những nụ hoa nở trong ngày xuân vườn nhà, thuở an bình.
Khu vườn rộng, rất nhiều lá rụng lâu ngày chẳng ai thu dọn. Ngôi nhà thờ lạnh vắng đầy những mạng nhện, và bầy dơi chiều. Tiếng vang trong hoang vắng làm mẹ rất buồn.
Mẹ bắt đầu thuê người quét dọn vườn, dặm lại những khoảng bờ rào nghiêng đổ, sửa lại hai cánh cổng vườn đã nghiêng ngả, lau chùi sạch sẽ lư hương, bàn thờ, những cánh cửa, rui mè trên sườn nhà.
Hãy còn hàng cây cau. Từ lâu những gốc trầu đã chết mất xác. Mẹ nhờ người trồng chỗ mấy gốc cau mấy dây trầu, lòng mong được thấy chúng bò lên thân cau, mong được thấy lá.
Vườn mùa đông, đầy lá mục và trái rụng, có xác chim. Nhìn người làm thuê đốt một ít lá úa, củi mục trong vườn, mẹ thấy trong khói là nỗi nhớ. Năm bảy ngày, tuy quạnh quẽ, mẹ thấy đời sống tĩnh lặng, bình yên hơn cảnh đời nơi phố thị.

oOo

ngay xuan cua me 1
Hình minh họa của Họa Sĩ Ann Phong.

Mẹ chỉ biết đến vậy. Mẹ nào hiểu khu vườn mẹ hướng về con đường cái quan, cách chỗ mẹ non cây số đường chim bay, trên vùng đồi cao Tuần Dưỡng là một căn cứ quân sự rộng lớn. Quanh đấy nhiều đơn vị bộ binh, pháo binh, thiết giáp. Đồn lũy sầm uất những khẩu trọng pháo, xe tăng.
Ngược lại, về hướng biển là một vùng thôn quê rộng lớn dọc miền duyên hải, quân du kích đã kiểm soát. Vùng đất này toàn cát trắng, nằm kẹp giữa bên kia là biển đông, bên này là con sông Trường. Diện địa này rất thuận lợi là những mật khu. Mất dần quyền kiểm sóat, những cơ quan làng xã trong vùng chỉ còn là hình thức. Hoạt động cầm chừng vào ban ngày. Ban đêm toàn bộ viên chức cùng những lính dân vệ, mạnh ai nấy đi, về quận lỵ trú túc cho an toàn qua đêm.
Quân du kích ban ngày vắng bóng, nhưng về đêm từ những chỗ bí mật chui lên. Đã phần nào qua cái thời kỳ đầu trần chân đất, thiếu vũ khí, chỉ gây hấn để lấy tiếng vang chính trị, bọn họ nay được quân tăng viện, cùng vũ khí từ ngoài kia chuyển vào. Đã có những trận tập kích đoàn xe quân sự, hoặc đánh vào những thị trấn nhỏ giữa ban ngày. Quân lâm trận chết đầy mặt đất dưới lằn đạn của từng bầy trực thăng nã xuống. Phương Bắc dùng biển xác người thí nghiệm, để rút kinh nghiệm cho những trận địa mang tính quy ước, trong/trên đường phố, sẽ diễn ra về sau.
Quanh mẹ là chiến trường. Mẹ không bao giờ hiểu mình đang nằm chính giữa hai diện địa thù nghịch. Chúng có thể nã đạn pháo qua về, đường đạn sáng lòa ngay trên vườn mẹ.

oOo

Đêm định mệnh đã đến. Nhang cúng trên bàn thờ tàn, chừng hơn giờ sau mẹ thắp tiếp. Mẹ nghĩ đó là cách tiếp đón ông bà trên bàn thờ ba ngày Tết. Lúc nào cũng thường trực có ánh đèn lạp, khói nhang thơm. Mẹ ngồi một mình trong đêm, cùng một đứa cháu qua ngủ cùng, Cho Bà vui.
Khởi đầu là những tràng pháo kích từ phía biển, miệt Trà Sơn lên đồn lũy Tuần Dưỡng. Trận công đồn của đêm ấy, là để yểm trợ cho cuộc tổng tấn công, hỏa lực mạnh, mở đầu chiến dịch chiếm cứ, khắp miền Nam.
Những tiếng ầm vang của pháo cối từ hướng mật khu ven biển làm mẹ thức giấc. Rồi liên tiếp, hung dữ lằn đạn, từ đồn lũy hướng tây trả lời. Thông thường bên ngoài nã vào một loại súng cối, thì trong đồn lũy “trả lễ” năm bảy tràng đại pháo.
Rõ thực, không phải pháo qua về trong đêm như Bắc-Nam từng trò chuyện bấy nay. Đầu Xuân này là “Tao-Mầy” phải chết sống cho ra trò. Mẹ nghe rõ cả tiếng hò thét tấn công đồng loạt như cùng lúc phát ra từ hàng nghìn cổ họng. Bầu trời khuya lạnh lẽo, bỗng sáng rực những chùm hỏa châu.
Đạn phía nào cũng rít bay qua làng xóm mẹ. Sáng rực trời đêm. Phía đồn lũy cháy. Phía xóm làng khai hỏa tấn công cháy. Đạn lạc rơi khắp nơi. Tiếng máy bay gầm rú, tiếng động của chuyển quân, tải thương từ phía rừng ngoài bìa làng, vọng lại khá rõ.
Mẹ một mình trong đêm, quá sợ hãi, mẹ ho nhiều tràng, máu bắt đầu trào ra miệng. Mẹ lăn từ giường xuống đất, cố bò đến nấp dưới bàn thờ.
Một căn hầm trên nóc được đắp vài lớp bao cát đạn pháo ấy vẫn xuyên thủng, nhưng mẹ không có gì trên đầu, mẹ quên phải thuê người đào một căn hầm trú ẩn. Đêm khốn cùng, có thể mẹ nghĩ chui dưới gầm bàn thờ mình từng khói hương kia sẽ có ông bà che chở.
Mẹ chết từ lúc nào trong đêm chẳng ai hay biết. Khi bà con hàng xóm biết ra đã lúc trời rưng rưng sáng ngày hôm sau.
Đứa cháu gái bé nhỏ vẫn chưa hết hoảng sợ, ngồi tê cứng như một xác chết nơi góc phòng thờ. Áo quần cháu lem luốc vì hai bà cháu ôm nhau bò lê quanh quẩn, từ giường ngủ tới cửa, cửa đóng kín, lại men vào. Đèn lạp trên bàn thờ đã tắt ngấm.
Trong bóng tối, qua ánh chớp của lửa đạn, của hỏa châu bên ngoài, mẹ vừa ngất xỉu vừa cố mò mẫm bò. Cái lóe sáng từng hồi ngoài không trung như thần linh đang chỉ lối.
Biết được “con đường” mẹ bò lê trong đêm đen, từ chiếc giường ngủ tới chỗ bàn thờ đã xiêu đổ, là nhờ những dòng máu quạnh quẽ, chỗ đậm chỗ nhạt, trên nền nhà. Đó cũng là con đường mở rộng, phóng lớn dấu vết được nhận ra, của những kẻ thân yêu từ Bắc về Nam, là những xác người, những chịu đựng khổ đau, trải từ Lăng Ba Đình tới thềm nhà của mẹ.
Mẹ này là Mẹ của tôi.

ngay xuan cua me  2
Hình minh họa của Họa Sĩ Ann Phong.

IV
Viết/Nói về mùa Xuân, gặp gỡ chuyện trò trong ba ngày Tết, phải rặt là những điều vui hạnh phúc, lời chúc nhau đẹp đẽ nhất. Phải trình diễn với nhân gian một thần thái an bình, từ cõi lòng rộng mở rất mực. Chẳng ai nở kể lể, than van những nỗi đau, điều bất tường, bao rủi ro chịu phải, trong phận người. Có nên vậy không? Quả thật là đúng như vậy sao? Chúng ta có dối trá với lòng dạ chính mình không?
Hãy ngồi lại với nhau, chiều nay, đêm này, cùng nhau chọn tìm ra cho được, dù bất cứ đâu đó, đầu non góc biển, nhiều chục năm qua, có được một Hạnh phúc, một Niềm vui, đúng nghĩa Một Niềm Vui Chung, cho toàn thể người người đó đây, không phân biệt Tả - Hữu - Bắc - Nam.
Ngay lúc này đây, Xuân về, trước khói hương tổ tiên, hằng triệu người lưu lạc, hàng triệu người còn trong nước, đang trong giờ giỗ kỵ cha mẹ anh em, thương xót những số phận không may, đã không còn quanh đây, nhưng họ chưa, “Chưa hề được yên nghỉ” trong các mồ chôn tập thể, giữa biển Đông, dọc dài trong lòng Trường Sơn. Ta có thể cùng nhau thắp nhang cả trên mặt biển.
Và. Cũng là ngay trong giờ phút này đây, trên quê hương này đây, ngoài kia là tượng đài, là cổng chào cờ xí, hàng nghìn bàn tay nâng cao ly rượu mừng, “Kỷ niệm năm mươi năm chiến thắng Tết Mậu Thân”. Hãy mừng và hãy uống, dù tự đáy lòng một ai đó le loi trong ấy, biết là rượu này được chưng cất từ những xương máu anh em, từ những núi đầu lâu người vô tội.
Hãy tìm cho tôi một Ngày Vui, để chẳng còn lòng dạ nào nhắc tới nỗi buồn.
Văn chương tôi chưa hề siêu thoát.
Tôi có quyền mơ tưởng. Rồi sẽ có một ngày, có đúng nghĩa một Ly Rượu Mừng, cho khắp cả. Sẽ có một dòng chảy bao la, đồng điệu, nối liền những thành tâm. Là từ/của/bởi các thế hệ trong mai sau.
Hãy còn đầy mù sương. Quá vắng niềm tin. Tin vậy, cũng hơi liều.

Cung Tích Biền
Bolsa, tháng 11, 2017