Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Thursday, 31 July 2025

Câu chuyện cảm động về một anh hùng VNCH cùng vợ con tuẫn tiết tại Đà Nẵng

Sau ngày định mệnh 30 Tháng Tư 1975, người Việt tị nạn cộng sản đã tản mác khắp bốn phương trời. Trên sách vở, báo chí, hồi ký, bút ký, trong các buổi phát thanh, truyền hình, đại nhạc hội, hội họp của các đoàn thể chính trị hoặc các tổ chức xã hội khác, cũng như trong những cuộc chuyện trò giữa bạn bè đồng đội xưa, người ta vẫn thường nhắc đến cái chết bi hùng của những vị tướng lãnh, sĩ quan và chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Những cái chết ấy – cái chết vì danh dự, vì đất nước – xứng đáng được ghi nhận một cách trang trọng, cần được đưa vào sử sách để các thế hệ mai sau biết rằng cha ông họ đã chọn cái chết oanh liệt thay vì sống nhục dưới ách giặc xâm lăng từ phương Bắc.
Với tinh thần đó, tôi xin ghi lại sự tuẫn tiết bi tráng của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con, đã chọn cái chết vào ngày 29 Tháng Ba năm 1975 tại Đà Nẵng – chỉ một tháng trước khi miền Nam hoàn toàn sụp đổ.

Hồi ức những ngày cuối cùng ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng
Vào lúc 8 giờ sáng ngày 28/03/1975, tiểu đoàn của tôi được lệnh rút về tuyến phòng thủ phía Tây Nam Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, có nhiệm vụ bảo vệ Pháo đội 105 ly thuộc Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Trên bản đồ, vị trí đó nằm dọc trục lộ 14C, từ quận Điện Bàn đi Đại Lộc, Thượng Đức – thuộc tỉnh Quảng Nam. Tiểu đoàn nhận trách nhiệm khu vực từ Tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km).

Khi chúng tôi đến nơi vào khoảng 10 giờ sáng, đã thấy một số khẩu pháo 105 ly bố trí sẵn tại các thửa ruộng khô, cách tỉnh lộ khoảng 50 mét. Sau khi liên lạc với vị pháo đội trưởng để phối hợp phương án phòng thủ, tôi phân công vị trí cho từng đại đội, và đặt bộ chỉ huy tiểu đoàn gần pháo đội.
Đến khoảng 12 giờ trưa, vị Đại úy chỉ huy pháo đội thông báo rằng họ vừa nhận được lệnh rút lui. Tôi không thắc mắc, vì pháo binh thường là lực lượng yểm trợ phía sau. Tuy nhiên, tôi vẫn ra lệnh cho Đại úy Quý – Trưởng ban 3 – liên lạc với Tiểu Khu để xác nhận xem đơn vị chúng tôi có cùng rút lui để bảo vệ pháo binh hay không.
Đến 2 giờ 30 chiều, Đại úy Quý báo lại rằng Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã di chuyển về khu vực Non Nước. Tôi bắt đầu thấy tình hình đáng lo ngại, vì qua các băng tần liên lạc với các đơn vị trong vùng I mà chúng tôi có quyền truy cập, tình hình ngày một hỗn loạn.
Vào lúc 4 giờ chiều, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Liên Đoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành chỉ huy – đơn vị mà tiểu đoàn tôi trực thuộc. Các liên lạc với Tiểu Khu cũng không còn phản hồi. Tôi cố gọi về Trung Tâm Hành Quân của Quân Đoàn I cũng như của Sư Đoàn 3 Bộ Binh, nhưng tất cả các đường dây đều bận – có lẽ vì khối lượng thông tin dồn dập từ các đơn vị đang rút lui hoặc giao tranh.
Tôi liền triệu tập các đại đội trưởng và sĩ quan tham mưu để báo cáo tình hình và thảo luận kế hoạch hành động. Không còn mệnh lệnh từ cấp trên, tôi buộc phải tự đưa ra quyết định: cho tiểu đoàn rút về Hội An, vừa để kiểm tra tình hình tại Tiểu Khu, vừa nhằm tìm một đường lui khả thi và tương đối an toàn về Đà Nẵng.

Trên đường rút lui: Gặp Trung tá Nguyễn Tối Lạc và Đại tá Vũ Ngọc Hướng
Khi đơn vị tôi vừa ra đến Quốc lộ 1, cảnh tượng trước mắt khiến tôi chết lặng. Dân và lính hỗn loạn, đổ về Đà Nẵng đông nghẹt – không khác gì một dòng thác người đang hoảng loạn tháo chạy khỏi cơn đại họa.



Họ đang chạy giặc.


Trước tình hình đó, tôi lập tức ra lệnh cho tiểu đoàn dừng lại, tạm ẩn trong một ngôi làng cách quốc lộ chừng 100 mét. Tôi lo sợ nếu để lính tận mắt chứng kiến cảnh hỗn loạn này, họ có thể buông súng, bỏ hàng ngũ mà tìm đường về lo cho gia đình.


Tôi một mình tiến sát quốc lộ để quan sát tình hình thì tình cờ gặp Trung tá Nguyễn Tối Lạc, Quận trưởng Đức Dục. Ông cho biết tất cả các chi khu của Quảng Nam đã rút hoặc tan rã, còn Bộ Chỉ huy Tiểu khu thì đã di chuyển về Đà Nẵng và hiện không còn liên lạc được. Ông cũng báo rằng Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh, vừa chỉ thị ông trực thuộc Đại tá Vũ Ngọc Hướng – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 BB. Đại tá Hướng lúc này đảm trách luôn việc chỉ huy các tiểu đoàn còn lại của Tiểu khu Quảng Nam.
Trung tá Lạc lúc đó chỉ còn lại một người lính mang máy truyền tin và một lính bảo vệ bên cạnh.

Khi chúng tôi đang trao đổi thì một chiến xa M-48 từ phía trong tiến ra. Ngồi trên pháo tháp chính là Đại tá Vũ Ngọc Hướng.

Ông nhận ra tôi, cho xe dừng lại và gọi lớn:
– Tiểu đoàn của mày đâu mà đứng đây?
Tôi nhanh chóng đáp:
– Tiểu đoàn tôi đang trong làng gần đây, thưa Đại tá.
Tôi chỉ tay về phía làng rồi tiếp:
– Quân số còn nguyên, chưa đụng trận lớn, chỉ giao tranh lẻ tẻ với du kích. Đại tá chắc cũng biết rõ tiểu đoàn này rồi mà.
Ông gật đầu:
– Tao biết. Mày đã nhận lệnh của Thiếu tướng Hinh chưa?
– Tôi chưa nhận trực tiếp nhưng đã nghe Trung tá Lạc truyền đạt.
– Tốt. Giờ Bộ Chỉ huy Tiểu khu không còn ai. Từ bây giờ, mày trực thuộc Trung đoàn tao. Có tần số truyền tin chưa?
– Có đầy đủ trong đặc lệnh rồi, thưa Đại tá.
– Vậy nghe đây. Theo lệnh Thiếu tướng Hinh, mày đưa tiểu đoàn về Hội An phòng thủ cùng Trung đoàn. Đến nơi, mày vào gặp tao tại Bộ chỉ huy Tiểu khu để nhận thêm chỉ thị.

Tôi chào Đại tá Hướng, trở về trình bày tình hình và lệnh mới cho toàn bộ sĩ quan trong tiểu đoàn. Sau khi thảo luận, tôi nói với anh em:
– Chúng ta sẽ về Hội An như dự tính ban đầu. Trên phương diện quân sự, tiểu đoàn nay trực thuộc quyền chỉ huy của Đại tá Hướng. Nếu có chiến sự, ta sẽ phối hợp cùng lực lượng của Trung đoàn. Tại Hội An, chúng ta có những lợi điểm sau:
1. Về địa thế, chúng ta đã nắm rõ như lòng bàn tay.
2. Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung tâm Tiếp vận Quảng Nam – thuộc Tiểu khu – có thể sử dụng nếu chiến đấu kéo dài.
3. Nếu có thương vong, tại Hội An có bệnh viện, bác sĩ Trung đoàn 2 và y tá – đủ khả năng cứu chữa.
4. Đường liên tỉnh 13C từ Đà Nẵng đi Hội An vẫn còn thông suốt, có thể dùng làm đường rút lui nếu cần.

Tôi kết luận:
– Nếu tình huống trở nên tuyệt vọng như ở Huế hay Vùng II, tôi sẽ vào trình diện Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Với tiểu đoàn còn nguyên vẹn như hiện nay, tôi tin chắc Quân đoàn sẽ không bỏ rơi chúng ta – sẽ tạo điều kiện để đưa đơn vị vào Sài Gòn, tiếp tục chiến đấu. Nếu tình thế nguy cấp hơn nữa, ta có thể dùng quân số áp đảo để yêu cầu Hải quân hỗ trợ vận chuyển vào Nam. Chúng ta còn người, còn súng, còn tinh thần – thì chưa thể đầu hàng!


Trên đường rút lui về Hội An – Một đêm đầy thử thách
Lúc này đã 6 giờ chiều. Mặc dù ánh nắng mặt trời vẫn còn, nhưng do dân chúng và binh sĩ từ các đơn vị khác đổ dồn về Đà Nẵng quá đông, việc di chuyển cả một đơn vị lớn như Tiểu đoàn trở nên vô cùng khó khăn và dễ gây thất lạc. Tôi ra lệnh cho các Đại đội trưởng và Trung đội trưởng phải bám sát binh sĩ của mình, tuyệt đối không để thất lạc người. Nếu có ai bị lạc, họ phải đến điểm tập trung đã được ấn định: Ty Công chánh Hội An – không vào Tiểu khu. Tôi căn dặn thật kỹ các đại đội phải đếm quân kỹ lưỡng, từng người một, để nắm chắc quân số và điểm tập họp.

Đến 6 giờ 30, Tiểu đoàn bắt đầu di chuyển hướng về Hội An. Trên đường đi, chúng tôi gặp từng đoàn quân lính rã ngũ từ Sư đoàn 2 Bộ binh, các đơn vị thuộc Tiểu khu Quảng Ngãi và Quảng Tín – họ đổ về như kiến cỏ, mất hết chỉ huy, vô kỷ luật, vô trật tự. Chỉ cần một hành động vô ý, một lời nói không đúng lúc, họ có thể rút súng bắn ngay – vì họ đang trong trạng thái tinh thần hoảng loạn.

Tôi và Tiểu đoàn đến được Hội An lúc 11 giờ đêm. Tại điểm tập trung Ty Công chánh, hai đại đội đầu tiên đã có mặt đầy đủ. Tôi lập tức ra lệnh tổ chức phòng thủ và chờ các đơn vị còn lại đến sau. Sau đó, tôi vào gặp Đại tá Vũ Ngọc Hướng tại Bộ Chỉ huy Tiểu khu để nhận chỉ thị.

Đúng nửa đêm, toàn bộ Tiểu đoàn đã có mặt. Đại úy Quý – Trưởng Ban 3 – báo cáo: tổng quân số hiện diện là 470 người. Sĩ quan có đủ mặt. Ngoài ra, có 20 thường dân – là thân nhân của binh sĩ trong Tiểu đoàn – đi theo. Họ vốn sống ở Điện Bàn, khi biết Tiểu đoàn quay về khu vực này, đã tìm đến với hy vọng nếu có cơ hội vào Sài Gòn thì sẽ được đi cùng đơn vị.

Ngoài ra còn có 50 quân nhân thuộc các đơn vị khác của Tiểu khu Quảng Nam bị thất lạc và xin gia nhập tạm thời để cùng rút lui. Tôi đồng ý với điều kiện: họ phải tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh của sĩ quan Tiểu đoàn. Nếu có hành vi bất tuân, đặc biệt trong lúc đụng trận, tôi sẽ cho phép bắn tại chỗ. Tất cả đều đồng ý và tôi phân phối họ về các đại đội tác chiến ngay trong đêm.

Riêng 20 thường dân – trong số này có nhiều người tôi từng quen biết – tôi giao trách nhiệm bảo vệ cho Trung sĩ I Nguyễn Thoảng, Hạ sĩ quan Ban 5 của Tiểu đoàn (Trung úy Trưởng Ban 5 lúc này vắng mặt). Tôi đích thân giới thiệu ông Thoảng với bà con và dặn dò:
– Bà con là thân nhân của binh sĩ trong Tiểu đoàn, thì cũng như lính của tôi. Tôi có trách nhiệm bảo vệ bà con như bảo vệ lính tôi vậy. Nếu có đụng trận, phải tuyệt đối nghe lệnh Trung sĩ I Thoảng để được an toàn. Đừng chạy lộn xộn mà thiệt mạng oan uổng. Tiểu đoàn đến đâu, tôi mang bà con theo đến đó.
Nghe tôi nói vậy, mọi người tỏ ra yên tâm và rất cảm kích.

Thành phố Hội An lúc này hoang vắng đến rợn người – gần như toàn bộ dân cư đã di tản ra Đà Nẵng. Sau khi tổ chức xong điểm tập trung, Tiểu đoàn di chuyển đến vị trí phòng thủ mới theo lệnh của Đại tá Hướng – đó là khu vực phía Bắc Hội An, hướng đi Đà Nẵng. Trước khi rời đi, tôi còn để lại một tiểu đội cùng một máy truyền tin, do một Trung sĩ Ban 2 chỉ huy, để đón tiếp và hướng dẫn những người đến trễ.

Tô cháo bồ câu – ly cà phê sữa trong đêm nguy biến
Tại vị trí phòng thủ mới, sau những giờ căng thẳng cao độ, tôi gần như kiệt sức. Vừa ngồi xuống ghế nghỉ, chưa kịp nghĩ gì nhiều thì Hạ sĩ I Minh – một lính cận vệ trẻ – bước đến, tay bưng một tô cháo nóng và ly cà phê sữa bốc khói:
– Mấy ngày nay Thiếu tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước, lo nghĩ nhiều, em thấy Thiếu tá gầy đi rõ rệt. Thiếu tá ăn tô cháo bồ câu này với ly cà phê cho lại sức mà còn đánh giặc nữa chứ.
Tôi định từ chối, bảo cậu dẹp đi – vì đầu óc còn đang lo lắng với tình hình chiến sự. Nhưng thấy cậu lính trẻ thật tình lo cho tôi, giọng nói đầy chân thành và thương mến, tôi không nỡ từ chối. Tôi hỏi:
– Mấy ông kia có ăn chưa? Mà bồ câu ở đâu ra vậy?
– Dạ thưa Thiếu tá, hồi nãy tụi em thấy chuồng bồ câu ở Ty Công chánh, chắc của ông Trưởng ty cũ bỏ lại. Em bắt bốn con, biết chắc Đại bàng sẽ rầy, nhưng giờ này có no mới đủ sức giết Việt cộng chứ, Đại bàng!
Tôi mỉm cười, khẽ gật đầu:
– Thôi được, để đó... mà nhớ đừng giăng võng nghỉ trước tôi nữa nghe!

Rạng sáng ngày 29/3/1975 – Quyết định rút lui về Đà Nẵng
Từ sáng đến lúc này, tôi chỉ uống nước, ngoài một tô mì gói có đập hai quả trứng gà do Hạ sĩ I Minh nấu giúp. Bụng đói cồn cào, tôi vừa húp mấy muỗng cháo, uống vài ngụm cà phê thì bất ngờ nghe tiếng trực thăng từ xa vọng đến. Ngẩng lên, tôi thấy hai chiếc bay vào từ hướng Quân đoàn I, độ cao khá lớn.

Tôi lập tức bảo Trung úy Bình – sĩ quan truyền tin – mở máy dò tần số Quân đoàn để liên lạc. Nhưng hoàn toàn vô vọng. Bình đã thử hết các tần số trong đặc lệnh truyền tin, liên lạc nhiều đầu mối có thể có mặt trên các chuyến bay, nhưng đều không có phản hồi. Tôi đoán chắc đây là máy bay của Quân đoàn, nhưng không rõ mang theo ai hay thuộc đơn vị nào.
Trong lòng tôi tràn đầy thất vọng.

Tôi ra lệnh cho Đại úy Quý – Trưởng Ban 3 – gọi toàn bộ Đại đội trưởng về họp. Đồng thời, tôi cho lệnh thu hồi Tiểu đội đang giữ chốt tại Ty Công chánh trở về Tiểu đoàn. Tôi còn phái Đại úy Hà Thúc Thuyên cùng một máy truyền tin và vài binh sĩ hộ tống đến Bộ chỉ huy Tiểu khu để tìm hiểu xem tình hình Đại tá Hướng thế nào, vì suốt đêm không thể liên lạc được.

Lúc đó là 2 giờ sáng ngày 29/3/1975.

Một lúc sau, Đại úy Thuyên trở về, báo cáo: Trung đoàn 2 đã âm thầm rút ra hướng biển để tìm đường về Đà Nẵng. Tiểu đội tại Ty Công chánh cũng đã trở về, mang theo 9 binh sĩ đi lạc. Tôi cho họ nhập lại đúng đơn vị gốc. Tổng quân số lúc này là 479 quân nhân Tiểu đoàn, chưa kể 50 binh sĩ các đơn vị khác đi theo.
Sau cuộc họp tham mưu ngắn cùng các Đại đội trưởng, toàn thể đều đồng ý rút lui về Đà Nẵng, vào trình diện Quân đoàn I. Tôi đồng tình và trình bày kế hoạch cụ thể:
– Giờ hãy còn sớm, chưa đến 3 giờ. Nếu đến Chùa Non Nước quá sớm, trời chưa sáng, đơn vị phòng thủ Quân đoàn ở đó không nhận diện được ta, dễ xảy ra nhầm lẫn dẫn đến nổ súng oan. Tôi quyết định: 4 giờ sáng, Tiểu đoàn xuất phát theo đội hình sau:
– Đại đội 1 đi đầu;
– Đại đội 3 bên trái lộ;
– Đại đội 4 bên phải, có Đại úy Thuyên đi cùng để tiện liên lạc nếu gặp Trung đoàn 2;
– Đại đội 2 đi sau cùng;
– Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở giữa;
– Gia đình thân nhân theo sát sau bộ chỉ huy.
– Trong trường hợp đụng địch, các đại đội phải yểm trợ cho nhau, phối hợp đưa toàn đơn vị về Đà Nẵng an toàn.
Không ai có ý kiến gì khác. Tôi cho lệnh các đơn vị lui về chuẩn bị hành quân.

Gặp trở ngại tại Non Nước – Những điều lệnh nghịch lý
Đúng 4 giờ sáng ngày 29/3/1975, Tiểu đoàn bắt đầu di chuyển theo đội hình đã định. Trên đường tiến quân, chúng tôi không gặp kháng cự đáng kể, chỉ vài loạt súng bắn tỉa lẻ tẻ từ các toán du kích. Các đại đội phản ứng nhanh, dứt điểm và vẫn tiếp tục tiến.
Đến gần 9 giờ sáng, Trung úy Thành – chỉ huy Đại đội 1 – báo đã đến được khu vực Non Nước, tiếp xúc được với đơn vị bạn. Ông cho biết đã gặp một Đại úy Thủy quân Lục chiến ngồi trên chiến xa, người này thông báo:
– Có lệnh: không một quân nhân nào được mang súng vào Đà Nẵng. Muốn vào, phải bỏ vũ khí tại đây.

Tôi nghe mà sửng sốt.
– Lính mà không có súng thì đánh giặc bằng gì? Ôm địch mà cắn à?

Dù vậy, tôi vẫn bình tĩnh ra lệnh cho Trung úy Thành cho binh sĩ dừng lại, cấm mọi phản ứng. Tôi yêu cầu Đại úy Quý điều động các đại đội thu hẹp đội hình, bố trí sát Tiểu đoàn, chờ lệnh. Đồng thời, gọi Đại úy Thuyên đến để cùng tôi lên tiếp xúc đơn vị bạn.
Trên đường đến gặp Đại úy Thủy quân Lục chiến, tôi thầm nghĩ: tình hình an ninh Đà Nẵng lúc này hẳn đã cực kỳ hỗn loạn. Có lẽ đã có VC cải trang lính ta, xâm nhập nội thành, nên phía Thủy quân mới nhận được lệnh quái gở như vậy.

Tôi gặp vị Đại úy TQLC và trình bày tình huống, yêu cầu được cho Tiểu đoàn vào Đà Nẵng với đầy đủ vũ khí. Ban đầu ông ta rất cứng rắn, nói đó là mệnh lệnh từ cấp trên, ông không thể trái lệnh.
Tôi không nổi giận. Tôi nói tình, nói lý, gần như van nài. Cuối cùng, ông ta cũng mủi lòng, hứa sẽ báo cáo lại cấp chỉ huy.
Tôi tìm hiểu thì biết Thiếu tá Định là cấp trên trực tiếp của ông ta. May mắn thay, tôi và Thiếu tá Định từng học chung một khóa Bộ binh cao cấp năm 1973, lại cùng quê Huế, từng ngủ chung phòng. Chúng tôi khá thân thiết.

Tôi nói với vị Đại úy Thủy quân Lục chiến rằng tôi là bạn thân với Thiếu tá Định – Tiểu đoàn trưởng đơn vị ông. Người Đại úy xác nhận điều đó, rồi liên lạc và trao máy cho tôi. Trong cuộc trò chuyện ngắn, Thiếu tá Định thông báo cho tôi một sự thật cay đắng: Quân đoàn I đã rút lui hết, toàn bộ bỏ ngỏ. Ngay cả đơn vị Thủy quân Lục chiến cũng đang phải tự lo liệu tìm đường về Sài Gòn, không có chỉ thị, không phương tiện, không ai còn chỉ huy nữa. Hải quân ở Tiên Sa cũng đã nhổ neo.

Tôi lặng người. Đưa trả máy, tôi chỉ biết cảm ơn trong lặng lẽ.
Lúc này là 9 giờ 30 sáng ngày 29/3/1975, tại khu vực Chùa Non Nước. Tôi ra lệnh triệu tập toàn thể sĩ quan Tiểu đoàn. Vị Đại úy TQLC cho biết chúng tôi được phép vào Đà Nẵng. Tôi không còn gì để nói, chỉ nhẹ nhàng gật đầu thay lời cảm ơn. Chiếc chiến xa rồ máy, quay đầu rút lui về hướng Đà Nẵng, theo sau là những binh sĩ Thủy quân Lục chiến cuối cùng của mặt trận này.

Tôi trình bày với các sĩ quan những điều vừa biết từ Thiếu tá Định – rằng không còn phương tiện nào để vào Nam, không còn hệ thống chỉ huy, không còn bất cứ nơi đâu có thể nương nhờ. Tôi nói, giọng chậm và nghẹn:
– Tôi đã cùng các anh em chiến đấu suốt bao tháng ngày, nhất là từ sau Tết đến nay. Tình hình chiến sự khốc liệt, tôi đã đoán trước phần nào, nhưng vẫn cố đưa Tiểu đoàn về đây với hy vọng vào được Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Giờ đây, mọi thứ vượt ngoài tầm tay chúng ta. Tôi đau đớn và bất lực.

Tôi chỉ đạo: không nên tập trung binh sĩ quá đông để tránh đụng độ bất ngờ. Các sĩ quan chia từng trung đội, giải thích rõ ràng, an ủi họ. Ai muốn về gia đình thì tùy ý, vũ khí nên tự phá hủy, đừng để lọt vào tay Việt cộng. Từ giây phút này, quyền chỉ huy không còn tập trung nữa – mỗi người, mỗi đơn vị, tự lo cho mình.

Tôi ngồi xuống, lặng im như một cái xác không hồn, dựa vào trụ cổng một ngôi nhà bên đường, nhìn thuộc cấp rơi vào cơn rối loạn tinh thần. Các sĩ quan đến bên tôi, chia sẻ, bàn bạc, nhưng lòng tôi như đã trôi dạt về một vùng tăm tối không lối ra.

Lời từ biệt cuối cùng của một người lính
10 giờ 30 sáng. Trung đội Tình báo của Ban 2 vẫn đứng quanh tôi bảo vệ. Lúc ấy, Trung sĩ I Nguyễn Thoảng bước đến, đứng nghiêm, giơ tay chào trịnh trọng:
– Chắc em không vào Sài Gòn đâu, Thiếu tá. Cả Quân đoàn chưa nổ một trận nào mà đã bỏ đi cả, em thấy buồn chán lắm rồi. Em chúc Thiếu tá may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.

Tôi không đứng dậy, cũng không chào lại. Lòng trống rỗng. Tôi đáp khẽ:
– Tao cũng không biết phải làm gì nữa. Tao cố gắng đưa đơn vị về tới đây, mong một cơ hội cho tất cả. Nhưng bây giờ... thế này đây, vượt ngoài khả năng của tao mất rồi.

Vợ của Trung sĩ Thoảng cũng bước đến, hai con nhỏ – một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi – lẽo đẽo theo sau. Chị nói:
– Em chúc Thiếu tá lên đường bình an, vào được Sài Gòn. Việt cộng mà gặp Thiếu tá chắc không tha đâu.

Tôi xoa đầu hai đứa nhỏ, gượng cười, nói với chị:
– Tôi cũng không chắc có đi nổi không. Thoảng thì chắc không sao, nó cấp bậc nhỏ mà, chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
– Cảm ơn Thiếu tá. Chúc Thiếu tá thượng lộ bình an.

Thoảng bước tới, chào tôi lần nữa. Lần này, tôi đứng dậy, bắt tay anh:
– Thôi... mày về đi. Tùy tình hình địa phương mà sống. Chắc cũng không sao đâu.

Anh rời đi, chào từng sĩ quan – Đại úy Thuyên (Tiểu đoàn phó), Đại úy Nhựt (Ban 2), Đại úy Quý (Ban 3) – rồi lặng lẽ biến mất.
Tiếng nổ sau cùng và lần khóc duy nhất
Tôi lại ngồi xuống. Đầu óc mụ mị. Bỗng một tiếng nổ lớn vang lên phía sau nhà.
– Minh! Mày ra coi coi chuyện gì?
Minh và hai lính khác lao đi. Năm phút sau, Minh quay lại, mặt tái xanh:
– Thiếu tá ơi... Ông Trung sĩ I Thoảng tự sát bằng lựu đạn cùng vợ con rồi!

Tôi đứng bật dậy. Lồng ngực như bị bóp nghẹt. Bao nhiêu năm chinh chiến, từng đứng trước cái chết, từng chứng kiến máu đổ, đầu rơi, tiếng rên la tuyệt vọng – tôi vẫn không khóc. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên, tôi bật khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào, vỡ òa giữa đám đổ nát niềm tin và lý tưởng.
Tôi đi đến căn nhà nơi xảy ra vụ nổ – một căn nhà tôn nhỏ. Cảnh tượng trước mắt khiến tim tôi như ngừng đập: bốn thi thể tan nát, máu, thịt, mền gối vương vãi khắp nơi.

Tôi đứng nghiêm, giơ tay chào lần cuối. Một phút mặc niệm không lời, cho một thuộc cấp – mà giờ đây tôi gọi bằng “Ông”.
Một người lính thì thầm:
– Thiếu tá... ông Thoảng và vợ ông là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đó.

Đồng hồ lúc này điểm 11 giờ sáng. Ngày 29 tháng 3 năm 1975.
Một Trung sĩ I – cấp bậc quá nhỏ so với tôi. Một người mà tôi từng gọi là “thằng Thoảng”, vì thân mật, vì tuổi đời, vì quân phong. Một người tôi từng rầy la, quở mắng. Thế mà hôm nay, trong tận cùng đau thương, tôi cúi đầu gọi anh là Ông Thoảng – một người lính, một con người dám chọn cái chết để giữ tròn tiết tháo, không sống nhục dưới gót giày cộng sản.

Xin nghiêng mình tôn vinh một Anh hùng vô danh – người lính Trung sĩ I Nguyễn Thoảng – Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trích từ nguồn Trương Quang Chung - Khóa 11 Thủ Ðức, sửa bởi Gibbs VIETBF

 RẤT MONG CHUYỆN ÔNG JAY GIÚP SƯ MINH TUỆ LÀ CHUYỆN CÓ THẬT - KHÔNG PHẢI LÀ CHUYÊN "NỔ" ĐỂ "QUẢNG CÁO" NHƯ THÂN THÀNH VŨ VÀ NHIỀU KHỨA MA LE KHÁC.

ÔNG JAY LÀ CHỦ CÔNG TY MỸ PHẨM TRỤ SỞ CHÁNH TẠI CALIFORNIA VÀ VÀI TIỂU BANG KHÁC NHƯ Ở FLORIDA- CÓ CẢ TRỤ SỞ CÔNG KHAI HỢP PHÁP TRONG NƯỚC - NHƯ VẬY ÔNG JAY VÀ CÔNG TY MỸ PHẨM "JN BEAUTY SOLUTIONS" VỪA LÀM ĂN TẠI MỸ VÀ ĐỒNG THỜI CŨNG ĐƯỢC NHÀ NƯỚC VC CẤP PHÉP HOẠT ĐỘNG TRONG NƯỚC.

NHƯ THẾ ÔNG JAY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGƯỜI "VIỆT TỴ NẠN ĐƠN THUẦN" VÀ DĨ NHIÊN ÔNG JAY KHÔNG NHÌN VC NHƯ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN HẢI NGOẠI!!! ÔNG JAY NHỨT ĐỊNH KHÔNG OÁN THÙ VC NHƯ NHỮNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CHÂN CHÍNH.

ÔNG JAY NẾU THẬT SỰ "GIÚP ĐOÀN SƯ MINH TUỆ" = DĨ NHIÊN 100% NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN ĐỀU "HOAN HÔ, CÁM ƠN VÀ ỦNG HỘ HẾT MÌNH"- NHƯNG LIỆU VIỆT CỘNG CÓ ĐỂ YÊN CHO ÔNG JAY BẢO TRỢ "ĐOÀN SƯ MINH TUỆ KHÔNG?" 

BỞI VÌ CẢ THẾ GIỚI ĐỀU CHỨNG KIẾN SUỐT HƠN 1 NĂM QUA LIÊN TỤC TỪNG NGÀY, TỪNG GIỜ CÔNG AN VC VÀ PHẬT GIÁO QUỐC DOANH VÔ TÔN GIÁO NÚP BÓNG PHẬT GIÁO ĐÃ KHÔNG HỀ BỎ QUA MỌI THỦ ĐOẠN ĐỂ TIÊU DIỆT ĐOÀN SƯ MINH TUỆ.

CHÚNG ĐÃ BÁM THEO ĐOÀN SƯ MINH TUỆ SUỐT HÀNH TRÌNH KHI RỜI KHỎI VIỆT NAM - LÀO,  THÁI,  MÃ LAI, INDO, SRI LANKA VÀ HIỆN Ở ẤN ĐỘ ĐOÀN SƯ MINH TUỆ ĐÃ LÃNH ĐÒN THÙ KHÔNG NGƠI CỦA THỂ CHẾ GÔNG CÙM VC.

DO ĐÓ NHỮNG AI VỘI TUNG HÔ ÔNG JAY HÃY CẦN CÓ CHÚT CẨN THẬN -VÌ CHẮC CHẮN 100% VC KHÔNG ĐỂ YÊN CHO BẤT CỨ AI ĐÃ LÀM ĂN VỚI CHÚNG, CHỊU ƠN MƯA MÓC CỦA CHÚNG MÀ "NGANG NHIÊN CÔNG KHAI GIÚP HAY VANG TAY BẢO VỆ ĐOÀN BỘ HÀNH CỦA SƯ MINH TUỆ" - 

HÃY MỞ TO MẮT MÀ NHÌN TRƯỜNG HỢP THÂN THÀNH VŨ MỘT CÁCH CỤ THỂ VÀ THỰC TẾ HƠN - MR JAY CÓ KHÁC GÌ THÂN THÀNH VŨ KHÔNG MÀ VỘI MƠ MÀNG NHƯ CON BÒ VÀNG PHƯỚC NGHIÊM ĐANG BỊ CỘT DƯỚI ĐÁY GIẾNG VC???!!!./-Mt68 (Tỵ Nạn Hải Ngoại)

///////////////////////////


CÔNG TY TNHH TMDV JNC

JNC Company Limited - Nhà phân phối độc quyền thương hiệu dược mỹ phẩm JN Beauty Solutions USA tại VN.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: 145 đường 79 Phường Tân Quy, Quận 7, TP.HCM

ĐIỆN THOẠI: 090 824 8242

Email: office@merbeautyspa.com

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI


 SAU 50 NĂM VC CHIẾM TRỌN MIỀN NAM:

NGÀY NAY HÀ NỘI CÓ CẢ TRIỆU CHÁU NGU KU HỒ GIẢ DẠNG NHÀ LÀNH MÀ "ĐĨ ĐIẾM" NHƯ THẾ NẦY ĐÂY - NẾU Ở MỸ THÌ MỸ DA MÀU VỚT KHÔNG KỊP NGÁP NHÉ CHÁU HÀ NỘI./-Mt68

///////////////////////

CÓ MỘT CHUYỆN MÀ HỒNG ĐÀO VÀ CẢ ĐÁM CA SĨ HẢI NGOẠI ĂN ĐỒ DƠ VC KHÔNG NÓI TỚI:

"NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN RẤT THÙ OÁN BỌN ĐĨ ĐIẾM ĂN NGON NHỜ TIỀN NGƯỜI TỴ NẠN MÀ TRỞ MẶT VỀ LIẾM VÁI VC"= CHÚNG BÂY SẼ CHẾT THẢM MỘT NGÀY KHÔNG XA- BỌN KHỐN NẠN CHÚNG BÂY CÒN THUA SÚC VẬT NHIỀU./-Mt68
///////////

Nữ nghệ sĩ bị bệnh nặng phải nhập viện, bác sĩ Mỹ nói thẳng một câu.




Vừa qua, tại chương trình The Khang Show, nghệ sĩ Hồng Đào đã tâm sự về cách vượt qua những biến cố lớn trong cuộc đời.

Cô nói: "Cuộc sống của tôi có những lúc rất trầm, trầm xuống một cách ghê gớm. Có những lúc tôi tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi.

Nhưng vì xung quanh còn rất nhiều người yêu thương tôi, còn con cái, bố mẹ tôi và cái nghề mà tôi rất yêu. Nhờ đó mà tôi ngoi lên dần được sau khủng hoảng.

Mọi người thường nghĩ nghệ sĩ hài thì lạc quan, dễ dàng vượt qua biến cố nhưng điều đó không phải. Tôi không dễ dàng gì vượt qua được biến cố.


Việc diễn hài là đem lại tiếng cười cho khán giả, nhưng để mang lại tiếng cười cho chính mình lại là cả một vấn đề khác.

Tôi vốn có vấn đề về sức khỏe, từng mắc bệnh nặng. Đợt đó tôi vào bệnh viện ở Mỹ và rất buồn vì biết mình bị bệnh. Bác sĩ là người Mỹ nên không biết tôi là ai.

Nhưng cô y tá là người Việt và biết tôi. Cô ấy bảo với bác sĩ rằng bệnh nhân này là một diễn viên hài nổi tiếng. Chính tôi cũng ngồi than vãn rằng tôi làm cho mọi người cười, nhưng tôi lại không cười được, toàn gặp những chuyện không đâu.

Bác sĩ nghe vậy mới bảo: "Mày làm được cho mọi người cười thì tại sao mày không cười để tự đối mặt với các vấn đề của mày?".

Tôi nghe bác sĩ nói vậy mới nhận ra rằng bây giờ có buồn bã, khóc lóc cũng không giải quyết được gì. Thay vào đó, tại sao không vui vẻ, nhẹ nhàng chấp nhận và giải quyết. Nghĩ theo hướng tích cực đó sẽ khiến tôi được nhẹ nhàng hơn.


Kể cả là giả bộ cười thì giữa giả bộ cười và khóc lóc thì tôi vẫn chọn giả bộ cười, vì dù sao như thế cũng giúp tôi lí trí để giải quyết vấn đề.

Nhưng để chữa lành được mọi vết thương đó tôi cần có thời gian. Tôi có lên gặp một sư thầy, sư thầy bảo tôi giống như một con hổ bị thương, cần lui vào hang tĩnh dưỡng, nghỉ ngơi để chữa lành. Tôi nghe lời thầy và cứ dần dần công việc, bạn bè lại đến với tôi.

Tôi chấp nhận những vết sẹo và để nó nhạt dần theo thời gian".


VietBF@ Sưu tập
MỘT PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN - MỘT ĐỒNG CẢM CHO ƯỚC NGUYỆN KHÔNG THÀNH- CẦU MONG VẪN BAY VÀO KHÔNG GIAN AN BÌNH VĨNH CỬU./-Mt68
______________
Nữ phi công gốc Việt tử nạn ở Mỹ trên hành trình vòng quanh thế giới.

Nữ phi công gốc Việt tử nạn trong vụ rơi máy bay tại Greenwood thuộc bang Indiana – Mỹ là người phụ nữ thứ 10 từng bay một mình vòng quanh thế giới.

Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 30-7 (giờ Mỹ), không lâu sau khi máy bay cất cánh từ Indy South Greenwood.

Chiếc máy bay cỡ nhỏ bất ngờ rơi xuống phía sau trạm xăng Circle K tại số 1183 đường E. Main, TP Greenwood.

Nữ phi công thiệt mạng được xác định là Anh-Thu Nguyen, 44 tuổi, đến từ Miami.


Nữ phi công gốc Việt Anh-Thu Nguyen tử nạn hôm 30-7. Ảnh: Wishtv

Nạn nhân là người gốc Việt, cựu sinh viên ĐH Purdue và là người phụ nữ thứ 10 từng bay một mình vòng quanh thế giới.


Nhà chức trách xác định Anh-Thu Nguyen là người duy nhất trên máy bay và đã thiệt mạng tại hiện trường.

"Tôi vừa lái xe đến, nhảy ra khỏi xe thì ngửi thấy mùi xăng và thấy khói. Khi lại gần, tôi biết ngay là không có ai sống sót" - nhân chứng có tên Frank Williams kể lại.

Nguyên nhân vụ tai nạn vẫn đang trong quá trình điều tra.

Theo chia sẻ trên mạng xã hội của Anh-Thu Nguyen, chuyến bay hôm đó là một phần trong hành trình bay vòng quanh thế giới lần thứ hai của cô.


Hiện trường vụ tai nạn khiến nữ phi công gốc Việt Anh-Thu Nguyen tử nạn. Ảnh: Sở cảnh sát Greenwood

Anh-Thu Nguyen là người sáng lập tổ chức "Phụ nữ châu Á trong lĩnh vực Hàng không và Vũ trụ" (Asian Women in Aerospace & Aviation - AWAA), ra đời năm 2018 với mục tiêu khuyến khích, trao quyền và truyền cảm hứng cho thế hệ nữ phi công, kỹ sư hàng không và các chuyên gia STEM gốc Á.


Theo trang web AWAA, ước mơ trở thành phi công của Anh-Thu Nguyen bắt đầu từ thuở nhỏ khi cô sống tại Tuy Hòa - Việt Nam. Gia đình cô nhập cư vào Mỹ khi cô 12 tuổi.

AWAA cho biết Anh-Thu Nguyen từng bị nhiều giáo viên dạy bay từ chối, thậm chí loại ngay từ đầu nhưng cô không bỏ cuộc.

Khi học đại học, cô vừa làm gia sư toán với thù lao 6 USD/giờ, vừa vay nợ sinh viên, từng phải ngủ trong xe hơi để nuôi giấc mơ học bay.

Sau này, cô trở thành giảng viên dạy bay xuất sắc của Hiệp hội chủ sở hữu và phi công máy bay (AOPA ) và là phi công Boeing 767 cho một hãng hàng không lớn.


Anh-Thu Nguyen tốt nghiệp thủ khoa trung học, nằm trong top 10 của ĐH Purdue với bằng cử nhân toán học, sau đó lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành hàng không và vũ trụ tại Viện Công nghệ Georgia (Georgia Tech).

Năm 2018, Anh-Thu Nguyen còn thành lập học viện đào tạo bay Dragon tại sân bay North Perry, bang Florida, nơi cô trực tiếp huấn luyện và truyền cảm hứng cho nhiều học viên trẻ.

Năm 2024, Anh-Thu Nguyen trở thành nữ phi công thứ 10 và là người gốc Việt đầu tiên bay một mình vòng quanh thế giới với hành trình 25 điểm dừng.


Sau chuyến bay, Anh-Thu Nguyen chia sẻ: "Tôi luôn khao khát cảm giác điều khiển một chiếc máy bay, vừa thấy mình nhỏ bé và mong manh, vừa cảm nhận sức mạnh to lớn".

Năm 2025, cô tiếp tục hành trình bay vòng quanh thế giới lần thứ hai, khởi hành từ TP Oshkosh, bang Wisconsin hôm 27-7 và cất cánh từ bang Indiana vào sáng 30-7.

Trước chuyến bay, cô đăng video từ buồng lái: "Đây không chỉ là một chuyến bay. Đây là sứ mệnh truyền cảm hứng cho thế hệ nữ phi công và kỹ sư hàng không tương lai".

Tổ chức AWAA đã phát đi thông báo chia buồn, gọi Anh-Thu Nguyen là "người sáng lập, người bạn, người hướng dẫn và là nhà lãnh đạo truyền cảm hứng, sống bằng sự táo bạo, tò mò và đầy nghị lực".

Wednesday, 30 July 2025

THỔ ĐỊA U-MINH THĂM LẠI CHỐN CŨ QUA GOOGLE MAP

 Quốc Lộ 63 nối liền Rạch Giá tới Cà Mau xuyên qua Rừng U-Minh là con đường được xây dựng sau năm 1975. Trước 1975 giao thông trên đoạn đường nầy chỉ bằng ghe, xuồng theo kinh, rạch- không hề có đường bộ như bây giờ.

 Từ Rạch giá đi vô Rạch Sỏi (Quận Lỵ Kiên Thành 75) - đi tiếp qua Minh Lương, quẹo phải xuống Tắc Cậu - qua một cầu mới (sau 75) bắc ngang Sông Cái Bé, qua sông cái bé lại qua một cầu dài hơn bắc ngang Sông Cái Lớn (sau 75) dưới chân cầu là Xẻo Rô.

Bất đầu chạy trên bờ sông Cán Gáo nối liền đến Chợ Thứ 3 (Quận Lỵ Kiên An cũ) nay là Quân An Biên VC - Tiếp tục trên bờ sông Cán Gáo sẽ đi qua Thứ 7, tới độ Thứ 8 thì QL 63 Không tiếp tục cặp bờ kinh Cán Gáo đến Thứ 9 rưởi là Đầu con Sông Trẹm mà QL 63 QUẸO ngang phia trái đối diện với bờ biển, đi sâu vào lòng U-Minh - Chạy chừng 30 km thì tới Thị Trấn Vĩnh Bình Nam (Tên Mới)- Từ đó QL 63 đổi hướng ra phia bờ Sông Trẹm chừng 10 km , Lại đổi hướng vô U- Minh chừng 5 km - QL 63 lại hướng thẳng qua Quận Thái Bình để vô Tỉnh Lỵ Cà Mau (Xưa gọi là Quản Long).

QL 63 từ Rạch Giá đến Cà Mau dài hơn 126 km - Xe hơi chạy mất từ hơn 2 giờ đến 3 giờ tùy thời tiết mưa hay nắng ráo.

Qua video bên dưới Bà Con gốc U-Minh sẽ nhận ra vài nơi quen thuộc và người thực hiện video nầy có vẻ là người xa lạ với U-Minh nên anh ta không biết những địa danh cũ - Video nầy người thực hiện đã đi ngược từ Cà Mau lên Rạch Giá. Trái với lộ trình từ RG xướng Cà Mau của người Thổ Địa.

*Ghi Chú: 

1./-Con Sông ghi từ A (Rạch Giá) tới B (Cà Mau) có màu xanh dương là Con Sông CÁN GÁO từ Xẻo Rô đến Thứ 9 rưởi thì nối liền với SÔNG TRẸM chạy tới Cà Mau - Đó là 2 con sông chảy dọc ven biển Rạch Giá Cà Mau - QL 63 chỉ chạy dọc Kinh Cán Gáo một đoạn đâu mà không hề chạy dọc theo bờ Sông Trẹm.

2./-Nghe kể ngày nay dân chúng có thể đi từ RG đến CM bằng tàu chạy nhanh- Lộ trình theo kinh Cán Gáo nối liền với Sông Trẹm ở Thứ 9 rưởi đi xuống Cà Mau = Thời lượng được thu ngắn hơn đi xe khá nhiều- Dòng Sông Trẹm là nơi khi xưa gắn liền với cuốn Tiểu Thuyết "BÊN DÒNG SÔNG TRẸM", 1952 Tác Giả Dương Hà-  /-Mt68



Tuesday, 29 July 2025

 HẢI NGOẠI KHÔNG TIN HOÀNG HIỀN TỐ GIÁC SAI - BÁO CHO SƯ MINH TUỆ BIẾT LÀ ĐIỀU ĐÁNG MỪNG- ĐÁNG CÁM ƠN HOÀNG HIỀN.

NHƯNG Ở MỘT "ĐIỂM KHUẤT" KHÁC NÓ CHO THẤY HOÀNG HIỀN THẤY NGƯỜI KHÁC LÀ VUA LỪA ĐẢO MÀ "HOÀNG HIỀN KHÔNG THẤY CHÍNH ÔNG TA" ĐANG "ÂM MƯU MỘT LỪA ĐẢO TO LỚN HƠN ÔNG SƯ ẤN ĐỘ NHIỀU"- 

HOÀNG HIỀN ĐANG CẤU KẾT VỚI NA TRA CHẮC CHẮN TƯƠNG LAI SẼ BÙNG NỔ KHỦNG KHIẾP HƠN TÊN ẤN ĐỘ NHIỀU - XIN CỨ CHỜ XEM - HÃY XEM HOÀNG HIỀN KÈ KÈ QUAY VIDEO SÁT MẶT SƯ MINH TUỆ - LẤY CÁI MỀN BỎ XUỐNG ĐẤT CHÀ CHÂN RỒI LẠI TIẾP TỤC ÔM CÁI MỀN ĐÓ - CHÍNH HOÀNG HIỀN KHẢ Ố HƠN TÊN TRÙM LỪA ĐẢO ẤN ĐỘ NHIỀU MÀ HOÀNG HIỀN KHÔNG TỰ NHÌN THẤY SỰ LƯU MANH, VÔ HỌC, MẤT DẠY CỦA ÔNG TA ./-Mt68

///////////////////////////////

 HỌP MẶT QGHC MIỀN ĐÔNG 

Tại Tư Gia Anh Chị Phạm Thành Châu ĐS14

 Ngày thứ tư 16 tháng 7 năm 2025 Mùa Hè đến, anh chị Phạm Thành Châu mời một số anh chị đồng môn đến tư gia hội ngộ mùa Hè 2025. Tham dự có Giáo sư Cao Thị Lễ, anh Hương Hỏa cùng các anh chị Trần Nhựt Thăng, Lê Hữu Em, Đỗ Quang Tỏa, Nguyễn Trường Phát, Tạ Cự Nguyên, Khương Thành Cao, Nguyễn Quang Dũng, Vũ Bá Hoan, Lê Văn Quan. Anh em được thưởng thức món "Bánh Canh Giò Heo " đặc biệt cùng nhiều món ăn đặc sản gốc Huế mà chị đã dành ra nhiều ngày chuẩn bị cho buổi cơm trưa này. 

 Cám ơn anh chị Phạm Thành Châu đã tổ chức Buổi Họp Mặt để anh em có một buổi trưa hội ngộ Hè 2025 thật vui cùng nối kết tình thân đồng môn. 

 Xin nói thêm, tư gia anh chị Phạm Thành Châu rất đặc biệt - có hòn non bộ, có khu vườn rau, vườn hoa trồng các loại hoa mùa Hè như cúc, hoa dâm bụt - vàng, đỏ rực cả khu mặt tiền nhà. Anh cho biết - làm vườn, chăm sóc cây, hái rau, tưới nước tuy vất vả nhưng mang lại rất nhiều niềm vui dù mùa Hè năm nay luôn nóng trên 85 độ. Mời xem vài hình ảnh buổi Họp Mặt tại nhà chị Phạm Thành Châu qua link dưới đây: https://photos.app.goo.gl/2du3iBNNg9i9rCJ7A 



 Từ trái: Anh Lê văn Quan, Anh Tạ Cự Nguyên, GS Cao Thị Lễ, Chị Nguyễn Trường Phát, Chị Vũ Bá Hoan, Chị Tạ Cự Nguyên, Anh Đỗ Quang Tỏa (đội mũ), Chị Đỗ Quang Tỏa, Chị Phạm Thành Châu (ngồi), Chị Lê Hữu Em, Chị Trần Nhựt Thăng, Anh Chị Nguyễn Quang Dũng, Anh Phạm Thành Châu, Anh Trần Nhựt Thăng, Anh Lê Hữu Em (mang kiếng mát), Chị Khương Thành Cao, Chị Lê Văn Quan, Anh Khương Thành Cao, Anh Vũ Bá Hoan và Anh Nguyễn Trường Phát.

*NHIỀU HÌNH ẢNH HƠN

Ở LINK SAU ĐÂY:

https://photos.app.goo.gl/2du3iBNNg9i9rCJ7A

 NĂM 1975 ĐẢO THỔ CHÂU (CHU) LÀ MỘT XÃ CỦA QUẬN KIÊN THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG - NĂM 1974 VỚI CHƯƠNG TRÌNH KHẨN HOANG LẬP ẤP CỦA BS PHAN QUANG ĐÁN ĐÃ ĐƯA HƠN 400 DÂN CHÚNG ĐA SỐ TỪ TÙNG NGHIA -ĐÀ LẠT RA ĐỊNH CƯ Ở THỔ CHÂU.

ĐẢO THỔ CHÂU BỊ MIÊN ĐỎ CHIẾM VÀI NGÀY SAU  30-4-75- MIÊN ĐỎ ĐÃ GIẾT SẠCH TẤT CẢ HƠN 500 DÂN TRÊN ĐẢO CHỈ CÒN MỘT GIA ĐÌNH CỦA ÔNG HUỲNH TRẠNG GỐC BÌNH ĐỊNH - MỘT CƯ DÂN LÂU ĐỜI NHỨT CỦA ĐẢO - TỪNG LÀ TRƯỞNG ẤP CỦA ĐẢO KHI ĐẢO THỔ CHÂU CHỈ LÀ MỘT ẤP (MỘT ĐƠN VỊ HẢI QUÂN THƯỜNG TRỰC)- GIA ĐÌNH ÔNG HUỲNH TRẠNG SỐNG SÓT NHỜ ÔNG BIẾT MỘT HANG BÍ MẬT TRÊN ĐẢO MÀ MIÊN ĐỎ KHÔNG TÌM RA- **VC ĐEM QUÂN RA CHIẾM LẠI ĐẢO THỔ CHÂU 1,2 THÁNG SAU 30/4/75./-Mt68

///////////////////////////////

 VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ CAMBODIA ĐÃ TỪNG THỜI KỲ XẢY RA TRONG LỊCH SỬ KỂ TỪ THỜI MẠC CỮU KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN - MỘT SƯ KIỆN ĐƯỢC HÂM NÓNG TRONG CUỘC CHIẾN VN 1954-1975- HỒ CHÍ MINH CHO CA VĂN THỈNH (ĐẠI SỨ VC TẠI CAMBODIA) HỨA MIỆNG VỚI SHIHANOUK NẾU CAMBODIA GIÚP BẮC VIỆT ĐÁNH ĐỔ ĐƯỢC VNCH THÌ VIỆT CỘNG SẼ ĐỂ CHO 6 TỈNH MIỀN TÂY (CUỐI VIỆT) ĐƯỢC HƯỞNG QUY CHẾ TỰ TRỊ ĐƯỢC ĐẶC QUYỀN NGOẠI GIAO VỚI CAMBODIA - 

CHO NÊN SHIHANOUK MỚI ĐỂ CHO QUÂN BẮC VIỆT LẬP MẬT KHU TRÊN ĐẤT MIÊN - BỌN ĐẦU NÃO MT/GPMN ĐỀU CƯ TRÚ NGAY TẠI NAM VANG - CHỨ KHÔNG HỀ SỐNG TRONG BƯNG BIỀN (*GIA ĐÌNH PHÙNG VĂN CUNG ĐÃ KỂ RÕ SỰ KIỆN NẦY)./-Mt68

//////////////////////////

 PHƯỚC NGHIÊM NGỒI ĐÁY GIẾNG VIỆT CỘNG ĐÉO BIẾT GÌ VỀ BÊN NGOÀI - 

TUYÊN BỐ HÀNG TRĂM LUẬT SƯ MỸ SANG ẤN ĐỘ GIÚP ĐOÀN SƯ MINH TUỆ LÀ "4 XẠO" 100%- TÉ RA ĐỨA CẦM ĐẦU VỤ NẦY LÀ TÊN JAY XỎ LÁ NÀO ĐÓ??? 

HẮN LÀ ĐỨA LÀM ĂN CHỤP GIỰT NHƯ BAO NHIÊU ĐỨA KHÁC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 

HẮN TỰ XÁC NHẬN KHÔNG PHẢI LÀ LUẬT SƯ - PHƯỚC NGHIÊM HÒA HẢO NGHE RÕ CHƯA? - TÉ RA JAY LÀ ĐỨA CHỦ CÔNG TY MỸ PHẨM ĐĂNG QUẢNG CÁO THƯỜNG TRỰC TRÊN TD MEDIA CỦA MAI TIẾN DŨNG VÀ THÍCH MINH TÁNH - 

"JN BEAUTY SOLUTION" CHO NÊN HẢI NGOẠI XIN XÁC ĐỊNH TÊN JAY TUNG TIN 4 XẠO VỀ LUẬT SƯ MỤC ĐÍCH CHỈ CHƠI NỔI ĐỂ QUẢNG CÁO MÀ THÔI! PHƯỚC NGHIÊM DỐT 100% NÊN TƯỞNG BỞ !!! 

***DIỆT SÔNG LAM SÒ LÔNG BẰNG CÁCH "XỊT SƠN" KHÉO LÉO KHÔNG LỘ LIỄU LÀ GIẢI CÁCH THƯỢNG SÁCH HƠN CẢ - VÌ SÔNG LAM ĐƯỢC CHI TIỀN RỪNG BẠC BIỂN LÀ CỦA NHẬT TỪ VÀ CÔNG AN VC ĐẤY./-Mt68

//////////////////////

 NHÀ NƯỚC VIỆT CỘNG TỔ CHỨC ĐOÀN CÔNG AN ĐỂ KHỦNG BỐ ĐOÀN SƯ MINH TUỆ - HẢI NGOẠI CHẮC CHẮN ĐOÀN NẦY ĐÉO CÓ TU HÀNH GÌ CẢ - CHỈ LÀ HÌNH THỨC ĐỒNG PHỤC KHỐN NẠN CỦA VIỆT CỘNG TRONG NƯỚC- *CÓ AI DÁM CHO CHÚNG NÓ ĂN SƠN XỊT LÀ TAN RÃ NGAY./-My68

//////////////////////////

Người tù VNCH kiên cường đã thành thánh trong lòng người sống và hóa thần trong dòng máu của dân tộc.

Nhớ Anh Linh Anh Hùng Nguyễn Ngọc Trụ – Cựu Cán Bộ Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt

“Con ngựa phóng trên đồng cỏ, dưới chân nó là một thảm cỏ xanh mịn như nhung. Nó không biết phía trước là một vực thẳm đang chờ sẵn, và con ngựa đã lao đầu xuống vực sâu vì mắt đã bị bịt. Người dân trong xã hội chủ nghĩa chính là những con ngựa đó.”
— Nguyễn Ngọc Trụ

Tôi trình diện tập trung tại trường Lê Quang Định chiều ngày 26 tháng 6 năm 1975, hạn chót dành cho cấp Thiếu úy và Trung úy. Tối khuya ngày 28, tất cả chúng tôi được dồn lên xe, không ai biết sẽ bị đưa đi đâu. Bọn cộng sản đưa chúng tôi đi vòng vèo, hết dừng rồi lại chạy, để đánh lạc hướng.

Cuối cùng, sau hơn mười tiếng đồng hồ lắt léo, chúng tôi bị "đổ quân" gần chân núi Bà Đen, vùng Trảng Lớn, Tây Ninh – nơi từng đặt Bộ Tư lệnh Tiền phương của Sư đoàn 25 Bộ binh, cách nơi xuất phát không đầy hai giờ lái xe.


Bài học đầu tiên mà cộng sản dạy chúng tôi là: lươn lẹo, lắt léo, gian trá.

Sau đó, chúng tôi bị chia thành tổ, khối, trại. Tôi ở trại L4T1, gồm 14 khối, mỗi khối là một nhà chứa 120 người, chia thành các tổ 10 người. Khoảng hơn một tháng sau, chúng tôi bị "biên chế" lại, chỉ còn 5–6 khối cho một trại.

Tôi ở khối 13, khối 14 là khối nữ. Cả hai khối cộng lại cũng chưa đầy 120 người nên tạm thời sinh hoạt chung. Ngày hôm sau, các cô được phân công tháo đinh từ thùng đạn pháo, còn tù nam thì rào kẽm gai quanh trại.
Tôi vừa làm hàng rào tự nhốt mình, vừa nhìn quanh. Thấy lá cờ đỏ sao vàng dơ bẩn và tởm lợm đang đung đưa trên sân trại bộ đội, tôi bất giác căm ghét luôn cả lá cờ vàng sao đỏ của ông Thiệu – một lá cờ mà vài năm trước tôi đã linh cảm là điềm xấu. Cả hai lá cờ, dù màu sắc đối nghịch, lại trông y hệt nhau. Trong phút chốc hoang tưởng, tôi huýt gió một đoạn của bài hát “Cờ bay, cờ bay…”

Bất ngờ, có tiếng nói sát sau lưng: “Hay lắm, nào, chúng ta cùng hát!” Rồi người ấy hát theo vài câu, trong đó có câu anh sửa lại thành: “…Sài Gòn ơi, chờ quê hương giải phóng…”


Người đó chính là Nguyễn Ngọc Trụ, người mà không lâu sau đã trở thành huyền thoại trong các trại tù vùng Trảng Lớn, Tây Ninh.

Anh Trụ khoảng ngoài 30 tuổi, vóc dáng trung bình, da trắng, đeo kính dày, phong thái trí thức, điềm đạm và nói năng nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Sau này tôi mới biết thêm anh có vợ và hai con, là Trung úy, có bằng Cao học Luật – Công pháp Quốc tế, và luận án Tiến sĩ của anh sắp hoàn thành. Anh từng giảng dạy tại Trường Võ Bị Đà Lạt, chuyên về các môn Luật và Chính trị.
Vì tôi và anh không ở cùng nhà, thậm chí sau đợt “biên chế” cũng không còn cùng trại nên tôi chỉ biết về anh chừng đó. Sau đó, tù nữ khối 14 bị chuyển khỏi Trảng Lớn. Anh Trụ vẫn ở lại trại T1, còn tôi chuyển sang trại T3, cách T1 khoảng 1km.

Tại trại mới, tù nhân bắt đầu bị khủng bố tinh thần bằng một đợt thẩm vấn chính thức kéo dài nhiều tuần. Một sáng nọ, chúng tôi được lệnh nghỉ lao động để viết bản tự khai. Đến chiều, dưới sự giám sát của quản giáo, từng người phải đứng lên đọc bản khai của mình cho người khác góp ý và đánh giá “mức độ thành khẩn”, rồi ghi biên bản nộp lại cho quản giáo.


Ngày kế tiếp, trong lúc thảo luận tiếp, có hai vệ binh với gương mặt hung dữ, cầm súng AK kêu từng người ra khỏi trại. Họ bị dẫn đi thẩm vấn trong các lều tranh kín nằm trên một khu đất rộng lớn và xa hẳn trại. Trước mỗi lều có một vệ binh vũ trang đứng gác. Bên trong, hai cán bộ công an ngồi chờ – một người hỏi cung, một người quan sát – với thái độ đanh ác và sẵn sàng buộc tội.
Trong thời gian ấy, nỗi sợ bao trùm. Ai cũng nghĩ mình có thể bị xử bắn, vì bị buộc tội phản động hoặc “ác ôn”.

Sau giai đoạn thẩm vấn và khủng bố tinh thần, "cách mạng" chính thức ban cho tù nhân "vinh dự" được lao động khổ sai dài hạn. Dù trước đó chúng tôi cũng đã bị lao động cực nhọc nhưng ít ra còn chưa theo quy hoạch. Chỉ vài tháng sau, nhiều người đã chỉ còn da bọc xương.

Thế nhưng, trên đường đi lao động, chúng tôi có cơ hội gặp người ở trại khác và nghe nhiều chuyện kể về Nguyễn Ngọc Trụ. Càng ngày, danh tiếng anh càng lan rộng như một biểu tượng anh hùng bất khuất. Nhất là sau mỗi đợt học tập chính trị, câu chuyện về anh lại được nhắc nhiều hơn, dù lúc đó tôi vẫn bán tín bán nghi, cho rằng có phần thêu dệt.

Rồi một hôm, có tin Quang và Vũ ở trại T1 trốn trại nhưng bị bắt lại. Nghe nói họ là học trò cũ của anh Trụ – khóa cuối Trường Võ Bị Đà Lạt. Trước khi trốn, họ đã nhờ anh Trụ giữ một bức thư để chuyển cho gia đình khi có dịp. Khi nghe tin hai người bị bắt, anh Trụ lập tức tiêu hủy lá thư đó.

Tuy nhiên, chính việc này đã khiến anh bị liên lụy. Sau đó là tin anh Trụ bị bắt đi biệt giam, lý do là hai người kia bị ép cung, khai rằng họ trốn trại theo "lệnh của thầy Trụ", với kế hoạch quay lại giải thoát trại.

Khi nghe tin anh Trụ bị biệt giam, tôi bắt đầu xét lại những điều trước đó mình từng cho là "thêu dệt" trong các câu chuyện về lòng anh dũng bất khuất của anh. Sau này, khi chuyển qua nhiều trại khác và được tiếp xúc với những người từng ở cùng anh Trụ, tôi mới nhận ra: sự thật về anh còn lớn lao và kinh ngạc hơn tất cả những gì tôi từng nghe.

Không nhận tội “tay sai đế quốc, bán nước, có nợ máu với nhân dân”

Chỉ trong vài tháng đầu, mỗi tù nhân phải viết và đọc hàng chục bản tự khai, lý lịch, thu hoạch… để nhận mình có tội theo đúng những luận điệu của cộng sản. Dù chỉ tự kể tội một cách "chung chung", tôi cũng cảm thấy vô cùng xấu hổ. Chính từ cái hèn mọn của bản thân mà tôi càng thấm thía sự vĩ đại của anh Nguyễn Ngọc Trụ.

Trong tất cả những bài viết đó, anh Trụ chỉ ghi tên, chức vụ, và để trống hoàn toàn phần "nhận tội". Anh khẳng định công việc của mình là phục vụ cho một tương lai Việt Nam độc lập, dân chủ, nhân bản. Một lý tưởng cao đẹp như thế không thể bị coi là tội lỗi.

Cộng sản và Mỹ đều là hiểm họa đối với dân tộc Việt Nam

Trong các buổi "thảo luận chính trị" do quản giáo chủ trì hoặc tại hội trường đông đến hàng ngàn người, nơi cán bộ chính trị cấp cao từ xa đến giảng bài, anh Trụ vẫn thẳng thắn lên tiếng. Anh tố cáo cả Mỹ và cộng sản: Mỹ lợi dụng xương máu của người Việt và nhân dân Mỹ để phục vụ quyền lợi nhóm. Còn chủ nghĩa cộng sản, theo anh, là một học thuyết hoang tưởng, lỗi thời, không thể thuyết phục được người văn minh.

Trước hai hiểm họa, không thể chống cả hai cùng lúc, anh buộc phải chọn hiểm họa nhẹ hơn là Mỹ, để đối đầu với cái họa lớn là cộng sản – dù bản thân anh không hề ủng hộ sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Theo anh, súng Mỹ, súng Nga hay súng Trung Quốc đều là kẻ thù của dân tộc.

Người dân trong xã hội chủ nghĩa giống như con ngựa bị bịt mắt

Trước hàng ngàn người trong hội trường T1, dưới sự giám sát của toàn bộ hệ thống cán bộ các cấp, anh Trụ kể một dụ ngôn:

“Con ngựa phóng trên đồng cỏ, dưới chân nó là thảm cỏ xanh mịn như nhung. Nó không hề biết phía trước là một vực thẳm đang chờ sẵn, và thế là con ngựa lao thẳng xuống vực sâu vì mắt đã bị bịt. Người dân sống trong xã hội chủ nghĩa chính là những con ngựa đó.”
Cả hội trường im phăng phắc. Anh nói thẳng, không che giấu, không sợ hãi.

Chuyện mới nhất kể lại về ngày đầu anh bị biệt giam

Cuối tháng 3 năm 2008, tôi may mắn liên lạc được với một người từng ở cùng khối và thân thiết với anh Trụ – anh T.T.T., hiện sống ở Mỹ. Anh xác nhận mọi điều tôi nghe về anh Trụ đều là thật, thậm chí còn chưa phản ánh hết được con người anh.

Theo lời kể của anh T.T.T., không lâu sau khi hai người trốn trại bị bắt lại, toàn trại T1 được lệnh tập trung tại hội trường. Anh T.T.T. ngồi bên cạnh anh Trụ. Chủ tọa buổi họp là một “đoàn cán bộ cấp cao” do một tên trung tá cộng sản dẫn đầu.

Khi tên trung tá tuyên bố rằng “có một phần tử cầm đầu tổ chức phản động…”, anh Trụ lập tức đứng dậy, dõng dạc nói:

“Tôi biết người ông định nói là ai. Là tôi, đúng không? Tôi không cầm đầu ai cả. Tôi chỉ bày tỏ chính kiến. Tôi không thích chế độ cộng sản. Ông có muốn nói chuyện với tôi về chủ nghĩa cộng sản không?”

Cả hội trường hơn ngàn người im lặng. Bọn cán bộ lý luận cộng sản khựng lại hoàn toàn trước sự kiên cường và khí phách của một kẻ sĩ. Sau phút lúng túng, tên trung tá chỉ đáp rằng "sẽ nói chuyện với anh sau", rồi yêu cầu anh ngồi xuống. Anh T.T.T. kể thêm rằng trước hôm buổi họp, anh Trụ đã nhờ anh chuyển lời trăn trối cho gia đình nếu có thể.

Ngoài những điều tôi nghe và kiểm chứng, tôi còn tận mắt chứng kiến năm tháng cuối đời của anh Trụ. Tôi thấy tận mắt cái cách bọn dã thú dàn dựng một phiên tòa giả tạo và trơ trẽn, để giết hại anh. Chính anh T.T.T. là một trong những người đã chôn cất anh Nguyễn Ngọc Trụ tại khu An Dưỡng Biên Hòa cũ – không phải ở Trảng Lớn, Tây Ninh như một số người lầm tưởng.

Chuyến xe cuối định mệnh

Vào một buổi chiều giữa tháng 5 năm 1976, tôi thuộc danh sách những tù nhân Trảng Lớn bị chuyển đi đợt đầu tiên. Khoảng 4 giờ chiều, một đoàn xe tiến vào giữa sân trại T3. Tù nhân từ các trại lân cận được dẫn đến và tống lên xe, sau cùng mới đến lượt tù T3. Mỗi xe chở 40 người. Tôi lên chiếc xe cuối cùng – chiếc thứ 25.

Trong xe, không kể hai vệ binh ngồi hai bên phía sau, có tất cả 24 người tù. Hai người tên Non và Tỷ bị trói, bị cáo buộc là gián điệp CIA hạng bét, đã bị biệt giam trước đó một tháng. Khi trời sẩm tối, một chiếc xe hơi khác chạy đến, dừng sát bên xe tôi. Một người bị trói tay quặt sau lưng được lôi ra và tống lên xe tôi: Nguyễn Ngọc Trụ.

Anh bị nhét vào cùng khoang với Non và Tỷ. Lúc đi ngang qua chỗ tôi, lợi dụng bước chân anh chao đảo vì bị trói, tôi đứng lên giả vờ đỡ, rồi bóp nhẹ cánh tay anh. Anh mỉm cười, gật đầu chào. Có người thì thầm: “Xin anh đừng chết!”

Xe bắt đầu chuyển bánh khi trời tối hẳn. Lại một lần nữa, cộng sản cho chúng tôi ôn lại bài học “lắt léo lươn lẹo” – xe đi đường vòng, ngừng nghỉ liên tục. Đến khoảng 2 giờ sáng, chúng tôi bị đổ xuống Trung tâm An Dưỡng Biên Hòa. Anh Trụ bị nhốt thẳng vào một thùng sắt Connex ngay cổng trại. Non và Tỷ được cởi trói, nhập vào hàng cùng chúng tôi.

Chúng tôi – 24 người, cùng với 40 người khác – được chia về các đội lao động như Mộc, Rèn, Chăn nuôi. Tôi vào đội Mộc, nơi có nhà văn Nguyễn Hữu Nhật, tức thi sĩ Động Đình Hồ.

Trung tâm An Dưỡng gồm nhiều trại, mỗi trại khoảng 1.000 người, đánh số T1, T2, T3... Tôi không nhớ chính xác trại mình ở là số mấy, chỉ nhớ rõ thùng sắt giam anh Trụ nằm ngay sát cổng, nơi lúc nào cũng có vệ binh canh gác.

Từ cổng trại, một con đường lớn chạy thẳng, sát hàng rào bên trái. Bên phải là hai dãy nhà dài song song theo hàng rào. Cuối sân là hội trường lớn bằng tôn, nghe nói là nhà xác của Mỹ để lại – cũng chính là nơi xử án anh Nguyễn Ngọc Trụ năm tháng sau đó.
Phía cuối đường là dãy nhà 4 căn, tôi ở căn đầu tiên sát mặt đường. Đối diện bên kia đường là dãy hơn chục cầu tiêu nổi dành cho toàn trại.

Mỗi ngày, vào khoảng 8 giờ sáng, anh Trụ có chừng 15–20 phút để ra khu cầu tiêu. Đường đi từ thùng sắt connex tới đó phải băng ngang nhà có Quang và Vũ, rồi qua sân trại chiều ngang, đến gần nhà tôi thì quẹo vào dãy cầu tiêu. Trên tay anh luôn cầm theo lon "gô" đựng nước để vệ sinh cá nhân. Thường có một tên vệ binh mang súng đi kèm. Dáng anh đi trông thất thểu, nhưng khuôn mặt lại vô cùng an nhiên và đặc biệt lúc nào cũng nở nụ cười mỉm.
Vào những ngày không lao động, anh em trong trại thường đứng dọc theo hiên nhà, lặng lẽ nhìn theo bước chân anh. Có lần, anh hướng về phía Quang và Vũ đang đứng giữa đám anh em, dịu dàng nói: “Thầy không hề buồn giận em. Thầy biết, bằng mọi cách, họ sẽ giết thầy.” Anh em trong trại vẫn âm thầm tiếp tế cho anh bằng cách giấu một gói nhỏ đồ ăn trong buồng cầu tiêu cuối cùng – nơi dành riêng cho anh – dù khu vực này đã được bảo đảm là không có ai. Anh phải ăn ngay tại đó, giữa không gian tanh tưởi của phân và nước tiểu.

Chiếc Quan Tài Trong Bụi Rậm

Đợt thăm nuôi đầu tiên trong đời tù bắt đầu vào cuối tháng 10 năm 1976. Đội Mộc gồm năm người, trong đó có tôi và anh Nguyễn Hữu Nhật, được thăm nuôi vào ngày 29 tháng 10 – cũng là ngày cuối cùng của đợt này.

Buổi tối thứ Bảy cuối cùng của tháng đó, tôi cùng vài người được lệnh đi theo hai tên vệ binh đẩy xe nước đến khu thăm nuôi, cách trại khoảng 2km. Trên đường trở về, chúng tôi bắt gặp bốn tên bộ đội đang chờ sẵn. Chúng ra lệnh kéo ra từ bụi rậm một chiếc quan tài gỗ thô sơ, đặt lên xe đẩy và tiếp tục di chuyển. Khi đến gần trại, chúng bảo chúng tôi giấu chiếc quan tài vào bụi cỏ cao bên đường và cấm không được nói ra với bất cứ ai. Chúng tôi hoang mang, không ngờ rằng chính chiếc quan tài ấy sẽ dành cho anh Trụ vào ngày hôm sau.

Sáng Chủ nhật cuối tháng 10 năm 1976, không thấy anh Trụ ra khu cầu tiêu như thường lệ. Có thể họ đã cho anh đi sớm hơn. Khoảng 7 giờ sáng, các nhà trưởng trong trại được lệnh đi "giao ban". Gần một giờ sau, một nhà trưởng quay về, tập hợp anh em lại và thông báo: sẽ có một phiên tòa xử Nguyễn Ngọc Trụ. Danh sách người tham dự bao gồm các tổ trưởng, tổ phó và nhà trưởng – và họ bị cấm bàn tán.

Nhưng cấm sao được lòng người. Mỗi người đều đoán số phận anh Trụ: có người cho rằng chỉ bị cảnh cáo, người đoán án tù vài năm, kẻ khác nghĩ có thể vài chục năm. Riêng tôi, khi nhớ đến chiếc quan tài trong bụi rậm, chỉ thì thầm với một người bạn: “Tử hình.”

Ruột gan tôi nhộn nhạo, như có ai đang bóp nghẹt. Tôi cảm thấy mình như người ngoài cuộc, lạc lõng giữa một cảnh phim. Dù không có tên trong danh sách đi dự phiên tòa, tôi xin đi thay một người bị đau bụng (hình như tên là Hùng "mặt mâm"). Những tù nhân từ các trại khác cũng được dẫn đến dự. Hội trường kín người.

“Công lý là công lý. Công lý luôn luôn thắng.”

Bên ngoài hội trường là một hàng rào lính cầm súng. Bên trong, ghế ngồi xếp hai hàng trên cùng dành cho cán bộ các trại. Trên sân khấu, bàn dài trải vải đỏ, treo hình Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng trông dơ bẩn, lạnh lùng và chết chóc. Dòng chữ "Tòa Án Quân Sự Khu 7" hiện rõ phía trước, bao quanh sân khấu là lính võ trang đứng gác mặt mày hung dữ.
Vành móng ngựa là một nửa ống cống bằng sắt, hình bán nguyệt, đường kính khoảng 1,5m – “di sản” của quân đội Mỹ để lại. Mọi người đứng lên khi đoàn xử án tiến vào. Hai sĩ quan mang quân hàm trung tá dẫn đầu, theo sau là cả chục cán bộ.

Anh Nguyễn Ngọc Trụ được dẫn ra, cởi trói, đứng vào trong vành móng ngựa. Một cây đèn dầu được thắp lên với lời tuyên bố: “Đây là ánh sáng công lý.” Nhưng ánh sáng ấy chỉ là một vầng lửa tù mù và tàn lụi.

Bản lý lịch được đọc lên: Nguyễn Ngọc Trụ, Trung úy, Cao học Luật, giảng viên Chính trị Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Cha là ông Nguyễn Văn Thắng – Trung tá Cảnh sát, đang cải tạo ngoài Bắc. Có vợ và hai con.

Sau các nghi thức, tòa hỏi anh có muốn thay đổi thành phần hội đồng xử án không. Anh đáp: “Tôi nghĩ không cần thiết.”

Tòa hỏi: “Anh có phải là trí thức không?”
Anh đáp: “Đúng.”

Rồi bắt đầu phần buộc tội: “tay sai đế quốc,” “phản động,” “nợ máu,” “xúi giục cải tạo viên chống phá đường lối khoan hồng.” Công tố viên lôi cả gia đình anh vào để làm "tang chứng", đọc từ giấy viết sẵn, vấp váp từng chữ. Tòa không có luật sư, nhưng anh Trụ được phép phản biện.

Anh phủ nhận tất cả. Nói ngắn, gọn, sắc bén. Anh cho rằng chính những người buộc tội anh mới là những kẻ phạm tội. Anh nói anh không chống lại việc cải tạo, ngược lại, anh đã thành khẩn bày tỏ tư tưởng để "được cải tạo".

Câu nói cuối của anh vang lên giữa hội trường:

“Công lý là công lý. Công lý luôn luôn thắng. Tôi tin vào công lý và chấp nhận mọi số phận cho niềm tin đó.”

Sau chừng mười phút "nghị án", đoàn xử án quay lại, đọc bản án đã được đánh máy sẵn:
“Tử hình tội phạm Nguyễn Ngọc Trụ. Thi hành ngay sau khi phiên tòa bế mạc.”

Ngay khi hai chữ "tử hình" vang lên, một tên trong đoàn xử án thổi tắt cây đèn dầu – "ánh sáng công lý" – giờ đã chỉ còn khói đen ám nghịt. Hai tên lính xông tới trói tay anh, tên thứ ba tiến lên bịt miệng anh bằng giẻ. Anh hét lên:

“Xin đừng bịt mắt tôi!”
Rồi ngẩng cao đầu, hô lớn:

“Chào các anh em ở lại! Tôi đi!”

Không đầy một giờ, phiên tòa kết thúc. Cả hội trường lặng ngắt, không ai nói một lời. Mọi người cúi đầu bước ra, chỉ còn tiếng bước chân lặng lẽ trên nền sỏi và tiếng hô lạc lõng: “Khẩn trương lên!”

Không ai buồn ăn uống trong suốt ngày hôm đó, dù có đồ thăm nuôi chia sẻ với nhau. Người ta mới thấm thía câu nói xưa: "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ."

Người Đào Mộ

Dù đã chứng kiến và trải qua biết bao cảnh đau thương do “đảng và cách mạng” gây ra, tôi vẫn không khỏi có lúc hoài nghi về mức độ khát máu của họ. Sau phiên tòa ấy, suốt hơn 30 năm, trong lòng tôi vẫn le lói một tia hy vọng: phải chăng bản án tử hình chỉ là một trò hù dọa, một biện pháp răn đe để kiểm soát số đông? Phải chăng anh Trụ được đưa đi nơi khác giam giữ, vì chính bọn chúng cũng biết anh không làm gì sai, chỉ “tội” nói thật lòng?

Niềm hy vọng mong manh ấy chỉ thực sự chấm dứt vào cuối tháng 3 năm 2008, khi tôi tìm gặp được anh T.T.T. – người từng ở cùng trại với tôi trong Khu An Dưỡng Biên Hòa, tuy ở nhà khác. Chính anh là người đã đào huyệt và chôn xác anh Nguyễn Ngọc Trụ vào sáng hôm sau phiên tòa kết thúc. Dưới đây là một đoạn trong bức thư anh T.T.T. viết ngày 25 tháng 3 năm 2008:

“Sáng sớm, khoảng 3 giờ, tổ của tôi – gồm toàn là các cựu sĩ quan cảnh sát lớn tuổi, chỉ có tôi là người trẻ thuộc quân đội – bị gọi đi công tác khẩn cấp. Khi ra đến cổng trại thì có một toán bộ đội khoảng mười người chờ sẵn. Tỷ lệ mười bộ đội kèm mười tù khiến chúng tôi linh cảm điều gì đó rất nghiêm trọng sắp xảy ra.

Đi được khoảng 200 thước, thì nghe tiếng lên đạn, tiếp theo là tiếng hô ‘đứng lại!’ Không khí căng thẳng tột độ. Một người bộ đội tách ra, đi vào lề đường, rồi kêu chúng tôi lại kéo ra một chiếc xe bốn bánh nhỏ (loại ‘rơ-mọt’). Trên xe có một chiếc quan tài gỗ thô.

Đi thêm chừng 500 thước nữa, chúng tôi dừng lại một lần. Trời còn tối nên không rõ đi đâu. Mãi tới sáng, khi mặt trời lên, chúng tôi mới thấy rõ địa hình xung quanh – đó là một khu chống pháo kích cũ của thiết giáp VNCH, gồm nhiều ô vuông với vách đất, có thể cho xe thiết giáp ẩn nấp.

Gần trưa, một đoàn xe jeep từ xa băng qua trảng trống, tiến thẳng đến chỗ chúng tôi. Bộ đội đi kèm lập tức lên đạn, quát bảo chúng tôi ngồi yên. Tôi nhìn thấy một người cao lớn hơn đám lính, bị trói tay, bị xô đẩy bước vào ô vuông phía sau vách đất.

Khoảng 10 phút sau, vang lên nhiều tràng súng AK, rồi hai tiếng súng ngắn. Sau đó, chúng tôi được dẫn vào trong ụ đất. Cuốc xẻng đã được chuẩn bị sẵn. Người đó – Nguyễn Ngọc Trụ – nằm dưới chân một cây cột, tay bị trói, mắt bị bịt.

Một tên trung tá cộng sản hỏi: ‘Có ai là học trò của hắn không?’ rồi lạnh lùng nói: ‘Tên này ngoan cố đến cùng.’ Không ai trong chúng tôi lên tiếng. Tên đó lại ra lệnh: ‘Các anh làm thủ tục của các anh đi.’ Chúng tôi chưa hiểu, hắn nói tiếp: ‘Quỳ lạy và cầu nguyện đi.’

Không ai trong chúng tôi nhúc nhích. Cuối cùng, hắn hét: ‘Chôn nó đi!’

Tôi là người cởi dây trói, tháo băng bịt mắt cho anh Trụ. Trên người anh chi chít vết đạn, máu không còn chảy nhiều. Da anh trắng bệch, gương mặt bình thản, không mang dấu vết đau đớn. Chúng tôi âm thầm đào huyệt và chôn anh.”

Sau khi trở về trại, anh T.T.T. mới biết được chuyện xảy ra tại phiên tòa. Anh cũng cho biết trước hôm xử án, anh Trụ đã gửi gắm anh lời trăn trối nếu có cơ hội gặp lại gia đình.

Hồn Thiêng Sông Núi

Có người tin rằng “Hồn Thiêng Sông Núi” là một vị thần đầy phép tắc, có thể khấn vái, cầu xin. Riêng tôi, tôi hiểu đơn giản hơn: Hồn Thiêng Sông Núi chính là di sản tinh thần, là lịch sử dựng nước và giữ nước bằng xương máu của cha ông – thứ tài sản linh thiêng mà những thế hệ hôm nay phải có bổn phận gìn giữ, để truyền lại cho con cháu mai sau.
Trong ý nghĩa ấy, Tâm và Huyết của Nguyễn Ngọc Trụ đã trở thành một phần bất khả phân ly của Hồn Thiêng Sông Núi. Anh là hiện thân của khí phách bất khuất, của đạo lý làm người, và là minh chứng sống động cho tinh thần của người trí thức miền Nam – dám sống, dám nói, dám chết cho điều mình tin là đúng.

Nhà ái quốc Phan Bội Châu từng nói:

“Hồn thành thánh, phách hóa thần.”

Với tôi, anh Nguyễn Ngọc Trụ – người giáo sư trẻ tuổi, người sĩ quan tận tụy, người tù kiên cường – đã thành thánh trong lòng người sống, và hóa thần trong dòng máu của dân tộc.

Trích hồi ký Tù cựu XM520. Ghi chép và tổng hợp bởi Hoàng Thái Sơn. Sửa bởi Gibbs VietBF./-