Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label KienGiangRachGia. Show all posts
Showing posts with label KienGiangRachGia. Show all posts

Friday, 10 July 2026

 Có Một Thời Để Nhớ Để Thương

(Hồi tưởng về Ngôi Trường Trung Học Rạch Sỏi tại Quận Kiên Thành, Tỉnh Kiên Giang.)
Durham, North Carolina 
Nguyễn Ngọc Hoàng 

(Trích từ: Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026) 
***
Ngôi trường nhỏ, nằm khiêm tốn khuất phía sau hai hàng bạch đàn dọc vào sân trường. Vạt nắng chiều xuyên cửa sổ, nằm vắt dọc theo dãy bàn ghế trống phía dưới. Mùi rạ khô sau mùa gặt từ những thửa ruộng bên hông trường, như loang tỏa khắp căn phòng.Tôi ngồi lại, tận hưởng khoảng khắc tĩnh lặng từng dãy bàn ghế trống không, lặng lẽ phía dưới. Chừng như chúng cũng mang một đời sống riêng; chừng như chúng cũng có một linh

hồn. Những buổi chiều như vậy, tấm bảng gỗ

đen, dãy bàn ghế chợt như thì thầm với tôi, một

câu chuyện kể.

Đến nay, tôi quen thuộc từng khung cửa sổ của

mỗi lớp học; những viên gạch thụng nghiêng,

sứt mẻ; hay cả những chỗ dột của vài phòng

học khi trời đổ mưa dầm. Ngôi trường gồm ba

 

dãy nhà trệt, quay ra phía mặt đường. Dãy giữa

dài, gồm sáu phòng học và một phòng cuối làm

thư viện, thiết bị. Nối theo đầu nầy, là dãy nhà

bốn phòng tập thể cho thầy cô giáo ở xa. Đối

diện phía bên kia là một dãy ba phòng học với

nền cao hơn. Phía cuối chừng như là một phòng

học dự định xây bỏ dở, chỉ xong phần nền.

Chính giữa ba dãy phòng là sân trường, nửa

nền xi-măng và nửa nền đất là phần sân cho giờ

thể dục của thầy Oanh! Buổi chiều lại biến

thành sân bóng chuyền cho cả học sinh và các

thầy “thi đấu”. Nối theo phần sân xi-măng là

con đường với hai hàng bạch đàn, qua cổng

trường dẫn đến con lộ chính. Hai bên phía sau

cổng trường, một bên là chái để đậu xe; một

bên là văn phòng họp hội đồng và phía sau là

bếp ăn tập thể. Con đường “thơ mộng” thêm

lên, với hai công trình ao đào của” lực lượng”

học sinh và thầy cô cả trường. Đến nay, bên

góc ao đã thắm đầy hoa súng màu hồng tím thật

 

Có Một Thời Để Nhớ Để Thương

 

Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 45

đẹp. Đối diện trường, bên kia con lộ là vài quán

nước nhỏ – chủ yếu bán cho học trò và thầy cô

của trường. Một trong quán nước đó, có quán

cà-phê nhà dì Năm. Tôi biết tên qua lời chuyền

tai của học trò. Nơi chứng kiến, là nhân chứng

biết bao “vật đổi sao dời” của ngôi trường cấp

3 bé nhỏ nầy. Lúc bấy giờ, vào những năm

1977-79, lương giáo viên bọn tôi là 60

đồng/tháng. Một ly cà-phê sữa nóng hoặc 2

điếu thuốc Samit là 1 đồng. Mỗi sáng chỉ cần

một ly cà-phê sữa, một điếu Samit là gần mất

toi hết một ngày lương. Quả thật, nếu làm bài

toán nhẩm, thì bọn tôi chẳng còn tiền đâu mà

ăn cơm tập thể (hay còn gọi là cơm cô Thu – vì

cô nấu cơm tập thể cho trường tên Thu)!

Phía sau trường là ao nuôi cá tra, cũng

là nhà vệ sinh mang đầy tính “kinh tế thời đại”

và đạt tiêu chuẩn vệ sinh cao! Sạch sẽ, thông

thoáng và nâng cao thêm nhu cầu “tứ khoái”

của con người. Bên ngoài vòng rào bằng tre, gỗ

(không biết đã có tự bao giờ) là những vuông

ruộng lúa của dân chúng ngụ chung quanh. Và

phía bên hông trái của trường là mấy thửa

ruộng của gia đình thầy Nguyễn Văn Trực. Sau

nầy sang nhượng lại cho thầy Quách Nhứt. Nói

chung là hai phần chu vi của trường được bao

bọc với những thửa ruộng, quanh mùa gió lộng.

Hình ảnh, hương vị của mùa lúa trồ đòng thơm

ngát đầu mùa và mùi rạ khô sau mùa gặt đã ăn

sâu vào mọi ngõ ngách của ký ức, hòai niệm

một đời tôi mãi mãi không nguôi! Phía bên kia

chân cầu Rạch Sỏi, đường vào chợ Giữa, có

một nhà máy xay làm phân bón cá. Những buổi

chiều hanh nắng, mùi phân bón cá theo gió

nồng nực cả một vùng thị trấn. Lúc ban đầu

thật khó chịu, nhưng dần dà cũng thành quen.

Những năm tháng lưu lạc về sau, tôi vẫn nhơ

nhớ mùi vị đặc biệt nầy trong những buổi chiều

hanh nắng. Con người sẽ dễ quên đi những

 

bình yên, phẳng lặng. Nhưng sẽ một đời cưu

mang, trăn trở với những vị nồng của đắng cay,

khốn khó đi qua. Tôi cưu mang, yêu thiết tha

ngôi trường cấp 3 nhỏ bé cũng từ bao yêu dấu

đó. Đó là chưa kể đến những kỷ niệm vào

những mùa mưa nước ngập. Có những chiều

mưa dầm trút nước, sân trường lúp xúp ngập, là

những chú cá “lóc” từ những thửa ruộng chung

quanh, quá độ qua sân. Thế là thầy cô có những

bửa cháo cá, những cuộc nhậu nướng trui để

đời! – Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến thầy

Nguyễn Quốc Quân, các em Hồ Văn Bảy, Lê

Đình Nghiêm, Huỳnh Ngọc Bắc, Khưu Hồng

Cẩm (và vài em nữa tôi không nhớ hết tên)

trong một cuộc nhậu “vô tiền khóang hậu”.

Dùng thành ngữ nầy không phải để cường điệu,

mà tôi không tìm được một cụm từ nào để diễn

tả đúng hơn.

Ngôi trường trung học cấp 3 của cả mấy huyện

gom về: Vĩnh Thuận, An Biên, Giồng Riềng,

Gò Quao,... cùng với Rạch Sỏi và các vùng phụ

cận. Tất cả cũng chỉ ngần ấy. Được biết đây

vốn là cơ sở vật chất của trường cấp 1 chuyển

sang. Những ngày mới về trường, tôi ngạc

nhiên thoáng chút thất vọng trước hình dáng

của một ngôi trường trung học cấp 3 của huyện

Châu Thành. Đúng hơn, là trường mang tên của

thị trấn Rạch Sỏi, trường phổ thông trung học

cấp 3 Rạch Sỏi (thường được gọi ngắn là

trường cấp 3 Rạch Sỏi). Tuy cơ sở vật chất

khiêm tốn, nhưng ngôi trường lại tọa lạc không

xa trung tâm của thị trấn. Về mặt địa lý và cả

kinh tế, ngả ba thị trấn Rạch Sỏi, là cửa ngõ

thông thương của tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang).

Là trục lộ chính nối liền giao thông từ các tỉnh

miền tây nam như Đồng Tháp, Long Xuyên,

Cần Thơ... ngay cả thành phố Hồ Chí Minh

(Sài Gòn) về các huyện và thị xã Rạch Giá. Và

kể cả giao thông đường thủy với bến đò về các

huyện vùng xa như Vĩnh Thuận, An Biên và

 

Có Một Thời Để Nhớ Để Thương

 

Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 46

Miệt Thứ. Thế nên trong một thời gian ngắn,

tôi dần dà yêu mến ngôi trường nhỏ bé nầy vô

cùng. Ngôi trường như chất chứa cả một quê

hương Rạch Giá trong “lòng con ốc nhỏ”.

Tôi về nhận “nhiệm sở”, dạy môn Văn

vào khoảng giữa học kỳ năm 1976. Thời gian

nầy, trường vừa mới chuyển về cơ sở của

trường cấp 1 vài ba tháng. Thầy cô giáo và học

sinh vẫn còn tiếp tục sắp xếp phòng học, văn

phòng, thư viện và thích nghi với môi trường

mới. Thật khó mà diễn tả tâm trạng của tôi

trong buổi giới thiệu, gặp gỡ đầu tiên với thầy

cô và học sinh của mình. Có chút gì đó băn

khoăn, nghi ngại xen lẫn với niềm hân hoan của

một thầy giáo trẻ. Giai đoạn chuyển thể, đầy

tính “bi-kịch-lịch-sử” của một nền giáo dục

mới, học đường mới. Ngôi trường nhỏ, khiêm

tốn của tôi cũng ngập đầy không khí sinh họat

chính trị. Chính trị xâm nhập vào mỗi tiết học,

mọi bộ môn giảng dạy. Sinh họat đoàn thể

trong học sinh, thầy cô giáo; và hơn thế nữa,

sinh họat đoàn thể chung cho cả học sinh và

thầy cô giáo giảng dạy của toàn trường. Sinh

họat đoàn thể chính trị giữa thầy cô và học trò

kiểu nầy đã tạo ra nhiều cảnh “dỡ khóc dỡ

cười” đầy chua xót.

Cùng về trường cấp 3 Rạch Sỏi với tôi, là thầy

Nguyễn Quốc Quân dạy môn toán và thầy

Nguyễn Văn Nhân dạy môn sử địa. Bấy giờ,

vào năm 1976, thành phần thầy cô của trường

mà tôi có thể nhớ, bao gồm:

-Môn toán có: thầy Nguyễn Văn Tiến, thầy La

Tùng Sơn, thầy Quách Nhứt và thầy Nguyễn

Quốc Quân (sau có thêm thầy Giao, thầy

Minh);

-Môn lý hóa sinh có: thầy Nguyễn Văn Trực,

cô Hoàng Xuân Thảo, cô Nguyễn Ngọc Sương

và thầy Nguyễn Văn Hảo (sau có thêm thầy );

 

-Môn văn có: thầy Nguyễn Đình Lý, cô Bùi Thị

Thanh Trang, cô Nguyễn Ánh Tuyết và tôi (sau

có thêm thầy Nguyễn Văn Hồng, thầy Bảo

Quyến);

-Môn sinh ngữ có: thầy Vũ Học Hải (Anh), cô

Nguyễn Thị Sen (Pháp) (sau có thêm thầy Liệu

dạy môn Anh văn);

-Môn sử địa có: thây Nguyễn Văn Nhân, cô

Nguyễn Bạch Tuyết (sau có thêm thầy Dũng,

cô Nguyễn Thanh Vân);

-Môn thể dục thể thao có: thầy Nguyễn Văn

Oanh;

-Hành chánh có thầy Lê Hữu Thường (kế toán),

cô Nguyễn Thị Loan (phụ trách thư viện kiêm

thủ quỹ, (sau có thêm em Nguyễn Văn Điệp);

-Môn chính trị có: thầy Trương Văn Yến (hiệu

trưởng), sau có thầy Siêu Hải và thầy Nguyễn

Văn Hải (hiệu trưởng);

Những năm sau, mỗi năm đều có sự

thay đổi, kẻ ñeán người đi. Suốt thời gian dạy ở

trường, có lẽ thầy Nguyễn Quốc Quân và

Nguyễn Đình Lý là thân thiết với tôi nhất. Thầy

Lý, dạy môn triết trước đó, tiền thân là trường

Trung Học Kiên Thành. Ngay phút đầu gặp

nhau, tôi và thầy Lý “kết” ngay! Ngoài khả

năng chuyên môn tốt, thầy Nguyễn Đình Lý

còn rất giỏi trong công việc quản lý. Lớn hơn

bốn tuổi, nhưng thầy Lý trông rất trẻ, nhìn

chừng bằng tuổi tôi! Với quan niệm sống, nhất

là trong giai đoạn nầy, khép kín gần như cô lập

và không phô trương tôi cũng khó mà thích

nghi với cuộc sống tập thể nầy. Ngoài giờ dạy,

tôi cố tránh né những sinh họat đòan thể. Nếu

có và phải, thì cũng chỉ cho có lệ. Khác với tôi,

thầy Lý có nhiều nhiệt tình, nhiều sáng kiến để

cải tiến, nâng cao hoàn cảnh và tinh thần giảng

 

Có Một Thời Để Nhớ Để Thương

 

Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 47

dạy của tập thể thầy cô. Ngoài khả năng giảng

dạy, quản lý, giao tiếp giỏi, thầy Lý còn là một

tay nhậu và đánh cờ tướng cừ khôi! Về hai mặt

nầy thì thú thật, tôi thua xa và đành chấp tay

“bái phục, bái phục” thầy! Bên cạnh những

khác biệt đó, tôi và thầy Lý có một điểm chung

“tâm đầu ý hợp” là lãnh vực văn chương, triết

học – nhất là văn chương của triết lý hiện sinh

cận đại.

Toàn trường lúc bấy giờ, chừng như chỉ có hai

lớp 12, hai lớp 11 và bốn lớp 10. Đây cũng là

một giai đoạn lịch sử thật đặc biệt của trường

mà mãi mãi tôi sẽ không thể nào quên được

một đời. Có những tuần những tháng, mỗi ngày

bước chân vào lớp học, thầy cô phải ngậm ngùi

nhìn dãy bàn ghế trống không, thiếu vắng bóng

dáng học trò vừa mới gặp hôm qua. Có em ra đi

cùng với gia đình, người thân. Nhưng không ít,

các em phải âm thầm ra đi một mình mà hành

trang là những ước vọng khôn lường phía

trước. Ở tuổi các em, tôi biết, có em chưa hề

sống xa nhà dù ngay chính quê hương mình,

nói chi đến một vùng đất xa lạ khác. Khác ngôn

ngữ, đời sống, phong tục, tập quán và con

người. Con đường các em đi qua, tôi cũng đi

qua, nhưng với kinh nghiệm và trưởng thành

hơn. Thế mà rất nhiều, rất nhiều đêm trên bước

đường lưu lạc tôi đã thầm khóc! Những giọt

nước mắt không chảy xuôi, mà chừng như chảy

ngược vào thân phận, vào trái tim với biết bao

khoảng trống mênh mông không gì lấp được

của chính mình. Có thể là chỉ có tôi, vẫn luôn

hy vọng và cầu mong như vậy. Những gặt hái,

những thành công, những vật chất “có được”

chỉ là lớp sơn “mạ” phía bên ngoài. Khả năng

sinh tồn, phục vụ và đóng góp cho gia đình, xã

hội chung quanh vẫn chưa hẳn là ước mơ

chung. Chữ quê hương, chừng như thật đơn

giản, bình thường nhưng sao sâu thẳm, vô hình,

trĩu nặng bên trong. Tôi vẫn ví mình như một

 

cụm lục-bình, trôi dạt giữa dòng, một đời

không bám rễ nhưng vẫn phải nở hoa..!

Thầy Nguyễn Quốc Quân dạy môn toán, là con

trai của nữ nghệ sĩ Hồ Điệp. Bà là giọng ngâm

thơ “vàng”, điêu luyện, trữ tình trong chương

 

trình Thi Văn Tao Đàn của đài phát thanh Sài-

gòn trước năm 1975. Ngoài giọng ngâm thơ

 

tuyệt vời “có một không hai” của Việt Nam, bà

còn rất đẹp với làn da rắng mịn màng, đôi mắt

sáng tinh anh và giọng nói trong trẻo, du dương

khó quên. Chừng như thời gian không hề lướt

qua khuôn mặt thanh tú của bà.Vào khoảng

cuối năm 1978, bà có về sống ở trường cấp 3

Rạch Sỏi một thời gian ngắn với thầy Quân và

bọn tôi. Càng gần giũ, tôi càng quý mến và trân

trọng bà nhiều hơn. – Viết đến dòng chữ nầy,

tôi như thấy lại khuôn mặt thanh tú, hiền dịu và

nụ cười thật đẹp của bà hiện ra trước mặt. Theo

vài nguồn tin đáng tin cậy, bà vượt biên bằng

đưởng bộ và mất tích vào khoảng giữa năm

1988. Xin thắp lên đây nén hương lòng để

tưởng nhớ bà, nữ nghệ sĩ Hồ Điệp!

Thầy Quân với tôi từ những ngày đầu

tiên về trường có cùng chung một quan điểm.

Nhiệm vụ lớn nhất, tiên phong của thầy cô giáo

là phải dạy giỏi. Những sinh họat xã hội, đoàn

thể và chính trị khác là phải tự nguyện, không

mưu cầu lợi ích cá nhân; và cũng chỉ kết hợp

với thực tế, với đời sống xã hội, với tấm lòng

yêu quê hương đất nước để nâng cao tinh thần

dạy giỏi của mình hơn. Thầy Quân không

những là một thầy giáo dạy toán giỏi, hay nói

theo từ ngữ ngày nay: cực giỏi, còn có một tâm

hồn nghệ sĩ rất giống mẹ. Thầy Quân thuộc rất

nhiều thơ và có giọng đọc thơ rất hay, truyền

cảm mà tôi, thầy giáo dạy văn vẫn còn thua rất

xa! Khác với tôi, dễ an phận thủ hòa, thầy Quân

luôn nêu cao tinh thần đấu tranh cho lẽ phải,

cho sự thật và công bằng. Không sợ đụng chạm

 

Có Một Thời Để Nhớ Để Thương

 

Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 48

và đấu tranh, thầy Quân đã gặp không ít khó

khăn với các đoàn thể chính trị trong trường và

cả địaphương. Nhưng ngược lại, đối với học

trò, thầy rất mực yêu thương và gần gũi. Trong

nhiều hòan cảnh sống thật khó khăn, vất vã,

thầy Quân không ngại dành nhiều thời gian dạy

kèm từng em, từng nhóm về môn toán sở

trường và kể môn vật lý. Chẳng vậy, vài em

học trò ở xa gặp khó khăn về tài chính nơi ăn ở,

thầy mạnh dạn đứng ra xin nhà trường cho các

em tạm ở chung phòng! Cũng như thầy Lý,

ngoài việc dạy giỏi, thầy Quân còn là một tay

cờ tướng và nhậu “tới bến, múc chỉ cần câu”...

Năn mươi năm, câu nói thật ngắn ngủi mà cả

một đời người. Thời gian trôi đi theo dòng chảy

“trăm năm là mấy, một ngày dài ghê”, như nhà

thơ Tản Đà đã viết. Năm năm dạy trường cấp 3

Rạch Sỏi, hình ảnh tôi mang theo không nhiều

nhưng cũng đủ một đời để nhớ để thương. Ngôi

trường đổi tên, cổng trường lớp học đã khác,

khang trang cao đẹp hơn ngày trước, nhưng ký

ức luôn giữ nguyên hình ảnh môt thời. Một lần

về Việt Nam năm 2011, tôi và gia đình có ghé

thăm trường. Thoáng chốc, chỉ đủ ghi lại vài

bức ảnh của ngôi trường hôm nay. Thay đổi là

quy luật tất yếu của sự vật, nhìn sân trường với

khuôn mặt, tà áo trắng bay lượn thế hệ tương

lai, không hiểu sao tôi thương nhớ vô cùng

những hình bóng của một thế hệ hôm qua.

Những lớp học thấp, bàn ghế chông chênh học

sinh với muôn màu muôn vẻ, có gì mặc nấy tô

thắm đậm cả một sân trường. Ký ức chỉ là phần

bé nhỏ của lịch sử, không có hôm qua làm sao

có được một hôm nay và trước mặt. Tôi hôm

nay là của hôm qua có được. Kỷ niệm là của

hôm qua nhưng là bông hoa tươi thắm của hiện

tại và cả mai này. Trân trọng thành quả đang có

bao nhiêu, tôi càng trân quý những mất mát của

quá khứ nhiều hơn thế nữa. Tất cả đã lùi sâu vào quá khứ, đã người còn kẻ

mất. Thầy Trực, thầy Quách Nhứt, thầy

Thường, cô Loan, cô Thu, tiếng hát trầm ấm

của em Lý Hữu Di... cũng đã lần lượt ra đi, từ

giã cuộc đời này! Tất cả đã trở thành kỷ niệm.

Kỷ niêm như những bông hoa lục bình tím

nhạt, một đời không bám rễ, trôi mênh mông

từng cụm trên dòng sông đời muôn thuở. Kỷ

niệm luôn đẹp và trân trọng dù ở bất cứ lứa tuổi

nào... Viết những dòng chữ này hôm nay, nhiều

thầy cô và các em đang sống trên quê hương

hay cùng khắp một vùng đất nào đó của mặt địa

cầu, xin hãy xem bài viết này của tôi như một

ký ức, một kỷ niệm thật đẹp: có một thời để

nhớ để thương...

Durham, North Carolina

Nguyễn Ngọc Hoàng

 

Sunday, 14 June 2026

Saturday, 29 January 2022

KIÊN LƯƠNG NẰM GIỮA ĐOẠN ĐƯỜNG RẠCH GIÁ-HÀ TIÊN -NƠI TỌA LẠC CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG HÀ TIÊN THỜI VNCH./-TCLãnh

 Tạm giữ nghi can vụ phóng hỏa làm cháy 14 tàu cá trong đêm.

Nguyễn Hành

(Dân trí) - Liên quan việc 14 tàu cá và nhiều căn nhà bị cháy vào tối 28/1, hiện Công an huyện Kiên Lương đang tạm giữ một nghi can để điều tra về vụ hỏa hoạn này.

Chiều 29/1, một lãnh đạo huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang cho biết, Công an huyện đang tạm giữ một nghi can làm cháy 2 căn nhà và 14 tàu cá đang neo đậu tại Cảng Ba Hòn (thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang).

Tạm giữ nghi can vụ phóng hỏa làm cháy 14 tàu cá trong đêm - 1

Hiện trường vụ cháy vào đêm 28/1 (Ảnh: CTV)

Tạm giữ nghi can vụ phóng hỏa làm cháy 14 tàu cá trong đêm - 2

Có 14 tàu cá bị thiệt hại, trong đó có 11 tàu bị hư hỏng nặng (Ảnh: CTV)

Theo vị lãnh đạo này, sau khi vụ hỏa hoạn xảy ra, Công an xác định được 2 nghi can nên ráo riết truy bắt. Một nghi can sau đó đã đến công an huyện đầu thú, nghi can còn lại đã trốn khỏi địa phương.

Lời khai ban đầu của nghi can đang bị công an huyện Kiên Lương tạm giữ thể hiện, đối tượng chỉ là người chở nghi can còn lại đi mua xăng. Còn việc phóng hỏa 2 nhà tạm ở cảng Ba Hòn là do nghi can còn lại thực hiện, do có mâu thuẫn với chủ tàu cá về chuyện tiền nong, khi chủ tàu không cho mượn tiền.

Tạm giữ nghi can vụ phóng hỏa làm cháy 14 tàu cá trong đêm - 3

Hiện một nghi can liên quan vụ hỏa hoạn đã đến công an huyện Kiên Lương đầu thú (Ảnh: CTV)

Tạm giữ nghi can vụ phóng hỏa làm cháy 14 tàu cá trong đêm - 4

Thiệt hại trong vụ hỏa hoạn ước tính đến hàng chục tỷ đồng (Ảnh: CTV)

Được biết, vụ hỏa hoạn xảy ra vào khoảng 20h ngày 28/1. Khi đó, 2 căn nhà kho ở Cảng Ba Hòn bốc cháy dữ dội rồi cháy lan đến các tàu cá đang neo đậu.

Ngay sau đó, người dân báo với chính quyền địa phương và lực lượng phòng cháy chữa cháy. Mặc dù các lực lượng nỗ lực dập lửa nhưng các tàu cá có chứa dầu và các vật liệu dễ cháy, đã thiêu rụi 2 căn nhà, làm 14 tàu cá bị hư hỏng nặng, ước thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng.

Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục làm rõ vụ hỏa hoạn này. 

Tuesday, 13 August 2019

Vì sao Kiên Giang phải từ bỏ giấc mộng ‘đặc khu Phú Quốc’?

Thường Sơn
(VNTB) – Tháng 8 năm 2019, ngay sau khi chính quyền xứ Kiên Giang, với bí thư tỉnh này là Nguyễn Thanh Nghị – con trai của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – thình lình có văn bản chính thức đề nghị Chính phủ ngừng quy hoạch Phú Quốc làm đặc khu để chuyển sang hình thức khu kinh tế đơn thuần, giới đầu cơ bất động sản và những quan chức đã ôm đất giá rẻ nhưng chưa kịp ‘thoát hàng’ giá cao đành ôm nỗi hận thiên thu.
Vụ việc trên xảy ra trong bối cảnh tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 được Trung Quốc cho thẳng tiến vào khu vực Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền Việt Nam và lì lợm ở đó đến hơn một tháng, gây ra một trận ‘vờn tàu’ và gấu ó ở mức độ vừa phải giữa ‘đảng anh’ và ‘đảng em’ khiến cộng đồng quốc tế phải chú ý.
Hẳn đó là nguồn cơn chính trị rất trực tiếp mà đã khiến ‘đảng em’ tìm cách phản pháo đối với ‘đảng anh’ bằng cách cho đóng sổ giấc mơ ‘lên đặc khu’ của Phú Quốc và Vân Đồn.
Trước khi dự luật Đặc khu được khởi sự ‘lobby’ Bộ Chính trị đảng vào ngay sau tết nguyên đán năm 2018 và được chính thức tung ra Quốc hội vào giữa năm 2018, quan chức Thường trực Ban bí thư Đinh Thế Huynh (vào lúc còn chưa ‘mất tích dài hạn’) đã ký một thông báo thay mặt Bộ Chính trị kết luận về chủ trương ‘làm’ các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, chính thức mở đường cho một khung pháp lý mà sau này bị dư luận xã hội phản ứng quyết liệt vì cho đó là ‘luật bán nước’.
Đáng chú ý, bản thông báo do Đinh Thế Huynh ký được dựa trên đề xuất của bí thư tỉnh Quảng Ninh – một địa phương giáp biên giới với Trung Quốc – vào thời đó là Phạm Minh Chính. Khi đó, sau những cuộc làm việc đầy ‘tình hữu nghị’ với Đào Nhất Đào – trợ lý của Tập Cận Bình về đặc khu,thậm chí Phạm Minh Chính còn nêu ra đề xuất cho thuê đất đặc khu đến 120 năm, chứ không chỉ là 99 năm!
Sau ‘thành tích’ đề xuất ý tưởng và cả kế hoạch về xây dựng đặc khu Vân Đồn dành nhiều ưu ái cho nhà đầu tư cùng giới tài phiệt Trung Quốc và lại khá tương thích với ý đồ lấn dần lãnh thổ Việt Nam của Bắc Kinh, không hiểu sao Phạm Minh Chính đã lọt vào Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban Tổ chức trung ương tại đại hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016.
Dù đã được âm thầm chuẩn bị từ lâu, nhưng chỉ đến sát kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 năm 2018, ‘luật bán nước’ mới được công bố một cách chính thức như sự đã rồi. Trước đó, đã không có bất kỳ một động tác nào, dù là nhỏ nhất hoặc chỉ mang tính mị dân, nhắm đến việc thông báo cho dân hoặc lấy ý kiến của dân về dự luật đặc khu.
Nhưng ngay sau khi dự luật Đặc khu được công bố, rất nhiều người dân và trí thức đã dậy lên một làn sóng phản kháng phẫn nộ, so sánh Dự luật về đặc khu kinh tế với hình thức nhượng địa mà chỉ đất nước nào nghèo đói lạc hậu mới cần đến, mặt khác họ cảnh báo nó có thể bị ‘đồng chí tốt’ Trung Quốc lợi dụng để di dân. Một cuộc biểu tình khổng lồ lên tới hàng trăm ngàn người phản đối ‘luật bán nước’ đã nổ ra ở Sài Gòn và lan ra đến một nửa trong tổng số 63 tỉnh thành ở Việt Nam.
Sau khi dự luật Đặc khu bị phản ứng dữ dội, người dân đã phát hiện ra nguồn cơn vì sao Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân lại nhấn mạnh theo lối áp đặt ‘Bộ Chính trị đã quyết định về luật đặc khu rồi…’: vào thời gian hội thảo về chủ trương đặc khu Vân Đồn ở Quảng Ninh, Nguyễn Thị Kim Ngân nằm trong số quan chức VIP tham dự hội thảo này và đã ‘nhiệt tình vỗ tay’ dành cho ‘luật bán nước’.

Sunday, 21 July 2019

MỘT CHÚT TÓM TẮT VỀ KIÊN GIANG-RẠCH GIÁ./-TCL

Tỉnh Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá) giai đoạn 1956-1976

Image result for cổng tam quan rạch giá

Việt Nam Cộng hòa

Dân số tỉnh Kiên Giang 1967[13]
QuậnDân số
Hà Tiên11.599
Kiên An63.531
Kiên Bình55.184
Kiên Lương29.617
Kiên Tân77.610
Kiên Thành118.827
Phú Quốc12.449
Tổng số368.817
Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên như thời Pháp thuộc.
Ngày 15 tháng 2 năm 1955, Thủ hiến Nam Việt của chính quyền Quốc gia Việt Nam quyết định tạm sáp nhập vùng Chắc Băng và quận An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Sóc Trăng. Ngày 24 tháng 5 năm 1955, quyết định sáp nhập ba quận An BiênPhước Long và Chắc Băng để thành lập đặc khu An Phước thuộc tỉnh Sóc Trăng, nhưng không lâu sau lại cho giải thể đặc khu này. Sau đó, quận An Biên và vùng Chắc Băng lại trở về thuộc tỉnh Rạch Giá như cũ.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Hà Tiên bị bãi bỏ và 4 quận là Châu Thành, Hòn Chông, Giang ThànhPhú Quốc được sáp nhập vào tỉnh Rạch Giá để thành lập tỉnh Kiên Giang. Tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang đặt tạiRạch Giá và vẫn giữ nguyên tên là "Rạch Giá", về mặt hành chánh thuộc xã Vĩnh Thanh Vân, quận Kiên Thành.
Sau năm 1956, thành phố Rạch Giá bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn xã Vĩnh Thanh Vân thuộc quận Kiên Thành của tỉnh Kiên Giang.
Năm 1957, theo Nghị định số 281-BNV/HC/NĐ, tỉnh Kiên Giang gồm 6 quận là Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên Bình, Kiên An, Hà Tiên, Phú Quốc. Ngày 27 tháng 12 năm 1957, Nghị định số 368-BNV/HC/NĐ bổ túc Nghị định số 281-BNV/HC/NĐ ấn định các đơn vị hành chánh tỉnh Kiên Giang. Quận Kiên An gồm thêm xã Vĩnh Tuy. Trong đó, quận Kiên An đổi tên từ quận An Biên cũ, quận Kiên Thành đổi tên từ quận Châu Thành cũ, quận Kiên Tân tách ra từ quận Châu Thành cũ, quận Kiên Bình thành lập trên phần đất hai quận Gò Quao và Giồng Riềng cũ.
Ngày 13 tháng 6 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành ban hành Nghị định 314-BNV/HC/NĐ về việc sửa đổi đơn vị hành chính tỉnh Kiên Giang. Trong đó quận Kiên Bình được tách thành quận Kiên Bình và quậnKiên Hưng. Năm 1958, tỉnh Kiên Giang có 7 quận: Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên An, Kiên Bình, Kiên Hưng, Hà Tiên, Phú Quốc. Sau đó lại lập thêm quận Kiên Long. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập thêm quận Kiên Lương do tách đất từ hai quận Kiên Thành và Hà Tiên (địa bàn quận Kiên Lương lúc bấy giờ khác hẳn huyện Kiên Lương ngày nay). Ngày 24 tháng 12 năm 1961, lại giao hai quận Kiên Long và Kiên Hưng cho tỉnh Chương Thiện vừa mới thành lập.
Năm 1968, tỉnh Kiên Giang có 7 quận là: Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên Bình, Kiên An, Kiên Lương, Hà Tiên, Phú Quốc. Sau năm 1968, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại lập thêm quận Hiếu Lễ, do tách đất từ quận Kiên An.
Năm 1971, tỉnh Kiên Giang có 8 quận là: Kiên ThànhKiên TânKiên BìnhKiên AnKiên LươngHà Tiên, Phú QuốcHiếu Lễ.
  • Quận Hà Tiên gồm 3 xã: Mỹ Đức, Phú Mỹ, Thuận Yên;
  • Quận Hiếu Lễ gồm 4 xã: Đông Hưng, Đông Thạnh, Tân Bằng, Vân Khánh Đông;
  • Quận Kiên An gồm 4 xã: Đông Hòa, Đông Thái, Đông Yên, Tây Yên;
  • Quận Kiên Bình gồm 8 xã: Bàn Tân Định, Hóa Quản, Long Thạnh, Ngọc Chúc, Thạnh Hòa, Thạnh Hưng, Thới An, Vĩnh Thạnh;
  • Quận Kiên Tân gồm 5 xã: Giục Tượng, Mông Thọ, Tân Hiệp, Tân Hội, Thạnh Đông;
  • Quận Kiên Thành gồm 7 xã: An Phước, Bình An, Lại Sơn, Minh Hòa, Mỹ Lâm, Sóc Sơn, Vĩnh Hòa Hiệp;
  • Quận Kiên Lương gồm 6 xã: An Bình, An Hòa, Bình Trị, Dương Hòa, Đức Phương, Tín Đạo;
  • Quận Phú Quốc gồm 3 xã: An Thới, Dương Đông, Hàm Ninh.
Ngày 20 tháng 11 năm 1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập thị xã Rạch Giá, là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang. Thị xã Rạch Giá được tái lập trên cơ sở các xã Vĩnh Thanh Vân và An Hòa cùng thuộc quận Kiên Thành trước đó. Từ đó cho đến năm 1975, thị xã Rạch Giá và tỉnh Kiên Giang là hai đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau theo sự phân chia sắp xếp hành chính của Việt Nam Cộng hòa./-