Có Một Thời Để Nhớ Để Thương
hồn. Những buổi chiều như vậy, tấm bảng gỗ
đen, dãy bàn ghế chợt như thì thầm với tôi, một
câu chuyện kể.
Đến nay, tôi quen thuộc từng khung cửa sổ của
mỗi lớp học; những viên gạch thụng nghiêng,
sứt mẻ; hay cả những chỗ dột của vài phòng
học khi trời đổ mưa dầm. Ngôi trường gồm ba
dãy nhà trệt, quay ra phía mặt đường. Dãy giữa
dài, gồm sáu phòng học và một phòng cuối làm
thư viện, thiết bị. Nối theo đầu nầy, là dãy nhà
bốn phòng tập thể cho thầy cô giáo ở xa. Đối
diện phía bên kia là một dãy ba phòng học với
nền cao hơn. Phía cuối chừng như là một phòng
học dự định xây bỏ dở, chỉ xong phần nền.
Chính giữa ba dãy phòng là sân trường, nửa
nền xi-măng và nửa nền đất là phần sân cho giờ
thể dục của thầy Oanh! Buổi chiều lại biến
thành sân bóng chuyền cho cả học sinh và các
thầy “thi đấu”. Nối theo phần sân xi-măng là
con đường với hai hàng bạch đàn, qua cổng
trường dẫn đến con lộ chính. Hai bên phía sau
cổng trường, một bên là chái để đậu xe; một
bên là văn phòng họp hội đồng và phía sau là
bếp ăn tập thể. Con đường “thơ mộng” thêm
lên, với hai công trình ao đào của” lực lượng”
học sinh và thầy cô cả trường. Đến nay, bên
góc ao đã thắm đầy hoa súng màu hồng tím thật
Có Một Thời Để Nhớ Để Thương
Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 45
đẹp. Đối diện trường, bên kia con lộ là vài quán
nước nhỏ – chủ yếu bán cho học trò và thầy cô
của trường. Một trong quán nước đó, có quán
cà-phê nhà dì Năm. Tôi biết tên qua lời chuyền
tai của học trò. Nơi chứng kiến, là nhân chứng
biết bao “vật đổi sao dời” của ngôi trường cấp
3 bé nhỏ nầy. Lúc bấy giờ, vào những năm
1977-79, lương giáo viên bọn tôi là 60
đồng/tháng. Một ly cà-phê sữa nóng hoặc 2
điếu thuốc Samit là 1 đồng. Mỗi sáng chỉ cần
một ly cà-phê sữa, một điếu Samit là gần mất
toi hết một ngày lương. Quả thật, nếu làm bài
toán nhẩm, thì bọn tôi chẳng còn tiền đâu mà
ăn cơm tập thể (hay còn gọi là cơm cô Thu – vì
cô nấu cơm tập thể cho trường tên Thu)!
Phía sau trường là ao nuôi cá tra, cũng
là nhà vệ sinh mang đầy tính “kinh tế thời đại”
và đạt tiêu chuẩn vệ sinh cao! Sạch sẽ, thông
thoáng và nâng cao thêm nhu cầu “tứ khoái”
của con người. Bên ngoài vòng rào bằng tre, gỗ
(không biết đã có tự bao giờ) là những vuông
ruộng lúa của dân chúng ngụ chung quanh. Và
phía bên hông trái của trường là mấy thửa
ruộng của gia đình thầy Nguyễn Văn Trực. Sau
nầy sang nhượng lại cho thầy Quách Nhứt. Nói
chung là hai phần chu vi của trường được bao
bọc với những thửa ruộng, quanh mùa gió lộng.
Hình ảnh, hương vị của mùa lúa trồ đòng thơm
ngát đầu mùa và mùi rạ khô sau mùa gặt đã ăn
sâu vào mọi ngõ ngách của ký ức, hòai niệm
một đời tôi mãi mãi không nguôi! Phía bên kia
chân cầu Rạch Sỏi, đường vào chợ Giữa, có
một nhà máy xay làm phân bón cá. Những buổi
chiều hanh nắng, mùi phân bón cá theo gió
nồng nực cả một vùng thị trấn. Lúc ban đầu
thật khó chịu, nhưng dần dà cũng thành quen.
Những năm tháng lưu lạc về sau, tôi vẫn nhơ
nhớ mùi vị đặc biệt nầy trong những buổi chiều
hanh nắng. Con người sẽ dễ quên đi những
bình yên, phẳng lặng. Nhưng sẽ một đời cưu
mang, trăn trở với những vị nồng của đắng cay,
khốn khó đi qua. Tôi cưu mang, yêu thiết tha
ngôi trường cấp 3 nhỏ bé cũng từ bao yêu dấu
đó. Đó là chưa kể đến những kỷ niệm vào
những mùa mưa nước ngập. Có những chiều
mưa dầm trút nước, sân trường lúp xúp ngập, là
những chú cá “lóc” từ những thửa ruộng chung
quanh, quá độ qua sân. Thế là thầy cô có những
bửa cháo cá, những cuộc nhậu nướng trui để
đời! – Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến thầy
Nguyễn Quốc Quân, các em Hồ Văn Bảy, Lê
Đình Nghiêm, Huỳnh Ngọc Bắc, Khưu Hồng
Cẩm (và vài em nữa tôi không nhớ hết tên)
trong một cuộc nhậu “vô tiền khóang hậu”.
Dùng thành ngữ nầy không phải để cường điệu,
mà tôi không tìm được một cụm từ nào để diễn
tả đúng hơn.
Ngôi trường trung học cấp 3 của cả mấy huyện
gom về: Vĩnh Thuận, An Biên, Giồng Riềng,
Gò Quao,... cùng với Rạch Sỏi và các vùng phụ
cận. Tất cả cũng chỉ ngần ấy. Được biết đây
vốn là cơ sở vật chất của trường cấp 1 chuyển
sang. Những ngày mới về trường, tôi ngạc
nhiên thoáng chút thất vọng trước hình dáng
của một ngôi trường trung học cấp 3 của huyện
Châu Thành. Đúng hơn, là trường mang tên của
thị trấn Rạch Sỏi, trường phổ thông trung học
cấp 3 Rạch Sỏi (thường được gọi ngắn là
trường cấp 3 Rạch Sỏi). Tuy cơ sở vật chất
khiêm tốn, nhưng ngôi trường lại tọa lạc không
xa trung tâm của thị trấn. Về mặt địa lý và cả
kinh tế, ngả ba thị trấn Rạch Sỏi, là cửa ngõ
thông thương của tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang).
Là trục lộ chính nối liền giao thông từ các tỉnh
miền tây nam như Đồng Tháp, Long Xuyên,
Cần Thơ... ngay cả thành phố Hồ Chí Minh
(Sài Gòn) về các huyện và thị xã Rạch Giá. Và
kể cả giao thông đường thủy với bến đò về các
huyện vùng xa như Vĩnh Thuận, An Biên và
Có Một Thời Để Nhớ Để Thương
Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 46
Miệt Thứ. Thế nên trong một thời gian ngắn,
tôi dần dà yêu mến ngôi trường nhỏ bé nầy vô
cùng. Ngôi trường như chất chứa cả một quê
hương Rạch Giá trong “lòng con ốc nhỏ”.
Tôi về nhận “nhiệm sở”, dạy môn Văn
vào khoảng giữa học kỳ năm 1976. Thời gian
nầy, trường vừa mới chuyển về cơ sở của
trường cấp 1 vài ba tháng. Thầy cô giáo và học
sinh vẫn còn tiếp tục sắp xếp phòng học, văn
phòng, thư viện và thích nghi với môi trường
mới. Thật khó mà diễn tả tâm trạng của tôi
trong buổi giới thiệu, gặp gỡ đầu tiên với thầy
cô và học sinh của mình. Có chút gì đó băn
khoăn, nghi ngại xen lẫn với niềm hân hoan của
một thầy giáo trẻ. Giai đoạn chuyển thể, đầy
tính “bi-kịch-lịch-sử” của một nền giáo dục
mới, học đường mới. Ngôi trường nhỏ, khiêm
tốn của tôi cũng ngập đầy không khí sinh họat
chính trị. Chính trị xâm nhập vào mỗi tiết học,
mọi bộ môn giảng dạy. Sinh họat đoàn thể
trong học sinh, thầy cô giáo; và hơn thế nữa,
sinh họat đoàn thể chung cho cả học sinh và
thầy cô giáo giảng dạy của toàn trường. Sinh
họat đoàn thể chính trị giữa thầy cô và học trò
kiểu nầy đã tạo ra nhiều cảnh “dỡ khóc dỡ
cười” đầy chua xót.
Cùng về trường cấp 3 Rạch Sỏi với tôi, là thầy
Nguyễn Quốc Quân dạy môn toán và thầy
Nguyễn Văn Nhân dạy môn sử địa. Bấy giờ,
vào năm 1976, thành phần thầy cô của trường
mà tôi có thể nhớ, bao gồm:
-Môn toán có: thầy Nguyễn Văn Tiến, thầy La
Tùng Sơn, thầy Quách Nhứt và thầy Nguyễn
Quốc Quân (sau có thêm thầy Giao, thầy
Minh);
-Môn lý hóa sinh có: thầy Nguyễn Văn Trực,
cô Hoàng Xuân Thảo, cô Nguyễn Ngọc Sương
và thầy Nguyễn Văn Hảo (sau có thêm thầy );
-Môn văn có: thầy Nguyễn Đình Lý, cô Bùi Thị
Thanh Trang, cô Nguyễn Ánh Tuyết và tôi (sau
có thêm thầy Nguyễn Văn Hồng, thầy Bảo
Quyến);
-Môn sinh ngữ có: thầy Vũ Học Hải (Anh), cô
Nguyễn Thị Sen (Pháp) (sau có thêm thầy Liệu
dạy môn Anh văn);
-Môn sử địa có: thây Nguyễn Văn Nhân, cô
Nguyễn Bạch Tuyết (sau có thêm thầy Dũng,
cô Nguyễn Thanh Vân);
-Môn thể dục thể thao có: thầy Nguyễn Văn
Oanh;
-Hành chánh có thầy Lê Hữu Thường (kế toán),
cô Nguyễn Thị Loan (phụ trách thư viện kiêm
thủ quỹ, (sau có thêm em Nguyễn Văn Điệp);
-Môn chính trị có: thầy Trương Văn Yến (hiệu
trưởng), sau có thầy Siêu Hải và thầy Nguyễn
Văn Hải (hiệu trưởng);
Những năm sau, mỗi năm đều có sự
thay đổi, kẻ ñeán người đi. Suốt thời gian dạy ở
trường, có lẽ thầy Nguyễn Quốc Quân và
Nguyễn Đình Lý là thân thiết với tôi nhất. Thầy
Lý, dạy môn triết trước đó, tiền thân là trường
Trung Học Kiên Thành. Ngay phút đầu gặp
nhau, tôi và thầy Lý “kết” ngay! Ngoài khả
năng chuyên môn tốt, thầy Nguyễn Đình Lý
còn rất giỏi trong công việc quản lý. Lớn hơn
bốn tuổi, nhưng thầy Lý trông rất trẻ, nhìn
chừng bằng tuổi tôi! Với quan niệm sống, nhất
là trong giai đoạn nầy, khép kín gần như cô lập
và không phô trương tôi cũng khó mà thích
nghi với cuộc sống tập thể nầy. Ngoài giờ dạy,
tôi cố tránh né những sinh họat đòan thể. Nếu
có và phải, thì cũng chỉ cho có lệ. Khác với tôi,
thầy Lý có nhiều nhiệt tình, nhiều sáng kiến để
cải tiến, nâng cao hoàn cảnh và tinh thần giảng
Có Một Thời Để Nhớ Để Thương
Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 47
dạy của tập thể thầy cô. Ngoài khả năng giảng
dạy, quản lý, giao tiếp giỏi, thầy Lý còn là một
tay nhậu và đánh cờ tướng cừ khôi! Về hai mặt
nầy thì thú thật, tôi thua xa và đành chấp tay
“bái phục, bái phục” thầy! Bên cạnh những
khác biệt đó, tôi và thầy Lý có một điểm chung
“tâm đầu ý hợp” là lãnh vực văn chương, triết
học – nhất là văn chương của triết lý hiện sinh
cận đại.
Toàn trường lúc bấy giờ, chừng như chỉ có hai
lớp 12, hai lớp 11 và bốn lớp 10. Đây cũng là
một giai đoạn lịch sử thật đặc biệt của trường
mà mãi mãi tôi sẽ không thể nào quên được
một đời. Có những tuần những tháng, mỗi ngày
bước chân vào lớp học, thầy cô phải ngậm ngùi
nhìn dãy bàn ghế trống không, thiếu vắng bóng
dáng học trò vừa mới gặp hôm qua. Có em ra đi
cùng với gia đình, người thân. Nhưng không ít,
các em phải âm thầm ra đi một mình mà hành
trang là những ước vọng khôn lường phía
trước. Ở tuổi các em, tôi biết, có em chưa hề
sống xa nhà dù ngay chính quê hương mình,
nói chi đến một vùng đất xa lạ khác. Khác ngôn
ngữ, đời sống, phong tục, tập quán và con
người. Con đường các em đi qua, tôi cũng đi
qua, nhưng với kinh nghiệm và trưởng thành
hơn. Thế mà rất nhiều, rất nhiều đêm trên bước
đường lưu lạc tôi đã thầm khóc! Những giọt
nước mắt không chảy xuôi, mà chừng như chảy
ngược vào thân phận, vào trái tim với biết bao
khoảng trống mênh mông không gì lấp được
của chính mình. Có thể là chỉ có tôi, vẫn luôn
hy vọng và cầu mong như vậy. Những gặt hái,
những thành công, những vật chất “có được”
chỉ là lớp sơn “mạ” phía bên ngoài. Khả năng
sinh tồn, phục vụ và đóng góp cho gia đình, xã
hội chung quanh vẫn chưa hẳn là ước mơ
chung. Chữ quê hương, chừng như thật đơn
giản, bình thường nhưng sao sâu thẳm, vô hình,
trĩu nặng bên trong. Tôi vẫn ví mình như một
cụm lục-bình, trôi dạt giữa dòng, một đời
không bám rễ nhưng vẫn phải nở hoa..!
Thầy Nguyễn Quốc Quân dạy môn toán, là con
trai của nữ nghệ sĩ Hồ Điệp. Bà là giọng ngâm
thơ “vàng”, điêu luyện, trữ tình trong chương
trình Thi Văn Tao Đàn của đài phát thanh Sài-
gòn trước năm 1975. Ngoài giọng ngâm thơ
tuyệt vời “có một không hai” của Việt Nam, bà
còn rất đẹp với làn da rắng mịn màng, đôi mắt
sáng tinh anh và giọng nói trong trẻo, du dương
khó quên. Chừng như thời gian không hề lướt
qua khuôn mặt thanh tú của bà.Vào khoảng
cuối năm 1978, bà có về sống ở trường cấp 3
Rạch Sỏi một thời gian ngắn với thầy Quân và
bọn tôi. Càng gần giũ, tôi càng quý mến và trân
trọng bà nhiều hơn. – Viết đến dòng chữ nầy,
tôi như thấy lại khuôn mặt thanh tú, hiền dịu và
nụ cười thật đẹp của bà hiện ra trước mặt. Theo
vài nguồn tin đáng tin cậy, bà vượt biên bằng
đưởng bộ và mất tích vào khoảng giữa năm
1988. Xin thắp lên đây nén hương lòng để
tưởng nhớ bà, nữ nghệ sĩ Hồ Điệp!
Thầy Quân với tôi từ những ngày đầu
tiên về trường có cùng chung một quan điểm.
Nhiệm vụ lớn nhất, tiên phong của thầy cô giáo
là phải dạy giỏi. Những sinh họat xã hội, đoàn
thể và chính trị khác là phải tự nguyện, không
mưu cầu lợi ích cá nhân; và cũng chỉ kết hợp
với thực tế, với đời sống xã hội, với tấm lòng
yêu quê hương đất nước để nâng cao tinh thần
dạy giỏi của mình hơn. Thầy Quân không
những là một thầy giáo dạy toán giỏi, hay nói
theo từ ngữ ngày nay: cực giỏi, còn có một tâm
hồn nghệ sĩ rất giống mẹ. Thầy Quân thuộc rất
nhiều thơ và có giọng đọc thơ rất hay, truyền
cảm mà tôi, thầy giáo dạy văn vẫn còn thua rất
xa! Khác với tôi, dễ an phận thủ hòa, thầy Quân
luôn nêu cao tinh thần đấu tranh cho lẽ phải,
cho sự thật và công bằng. Không sợ đụng chạm
Có Một Thời Để Nhớ Để Thương
Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 48
và đấu tranh, thầy Quân đã gặp không ít khó
khăn với các đoàn thể chính trị trong trường và
cả địaphương. Nhưng ngược lại, đối với học
trò, thầy rất mực yêu thương và gần gũi. Trong
nhiều hòan cảnh sống thật khó khăn, vất vã,
thầy Quân không ngại dành nhiều thời gian dạy
kèm từng em, từng nhóm về môn toán sở
trường và kể môn vật lý. Chẳng vậy, vài em
học trò ở xa gặp khó khăn về tài chính nơi ăn ở,
thầy mạnh dạn đứng ra xin nhà trường cho các
em tạm ở chung phòng! Cũng như thầy Lý,
ngoài việc dạy giỏi, thầy Quân còn là một tay
cờ tướng và nhậu “tới bến, múc chỉ cần câu”...
Năn mươi năm, câu nói thật ngắn ngủi mà cả
một đời người. Thời gian trôi đi theo dòng chảy
“trăm năm là mấy, một ngày dài ghê”, như nhà
thơ Tản Đà đã viết. Năm năm dạy trường cấp 3
Rạch Sỏi, hình ảnh tôi mang theo không nhiều
nhưng cũng đủ một đời để nhớ để thương. Ngôi
trường đổi tên, cổng trường lớp học đã khác,
khang trang cao đẹp hơn ngày trước, nhưng ký
ức luôn giữ nguyên hình ảnh môt thời. Một lần
về Việt Nam năm 2011, tôi và gia đình có ghé
thăm trường. Thoáng chốc, chỉ đủ ghi lại vài
bức ảnh của ngôi trường hôm nay. Thay đổi là
quy luật tất yếu của sự vật, nhìn sân trường với
khuôn mặt, tà áo trắng bay lượn thế hệ tương
lai, không hiểu sao tôi thương nhớ vô cùng
những hình bóng của một thế hệ hôm qua.
Những lớp học thấp, bàn ghế chông chênh học
sinh với muôn màu muôn vẻ, có gì mặc nấy tô
thắm đậm cả một sân trường. Ký ức chỉ là phần
bé nhỏ của lịch sử, không có hôm qua làm sao
có được một hôm nay và trước mặt. Tôi hôm
nay là của hôm qua có được. Kỷ niệm là của
hôm qua nhưng là bông hoa tươi thắm của hiện
tại và cả mai này. Trân trọng thành quả đang có
bao nhiêu, tôi càng trân quý những mất mát của
quá khứ nhiều hơn thế nữa. Tất cả đã lùi sâu vào quá khứ, đã
người còn kẻ
mất. Thầy Trực, thầy Quách Nhứt, thầy
Thường, cô Loan, cô Thu, tiếng hát trầm ấm
của em Lý Hữu Di... cũng đã lần lượt ra đi, từ
giã cuộc đời này! Tất cả đã trở thành kỷ niệm.
Kỷ niêm như những bông hoa lục bình tím
nhạt, một đời không bám rễ, trôi mênh mông
từng cụm trên dòng sông đời muôn thuở. Kỷ
niệm luôn đẹp và trân trọng dù ở bất cứ lứa tuổi
nào... Viết những dòng chữ này hôm nay, nhiều
thầy cô và các em đang sống trên quê hương
hay cùng khắp một vùng đất nào đó của mặt địa
cầu, xin hãy xem bài viết này của tôi như một
ký ức, một kỷ niệm thật đẹp: có một thời để
nhớ để thương...
Durham, North
Carolina
Nguyễn Ngọc Hoàng




