Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label QGHC6NguyenCongKhanh. Show all posts
Showing posts with label QGHC6NguyenCongKhanh. Show all posts

Tuesday, 31 December 2024

 Nguyễn Công Khanh ĐS6

HỒI NHỚ HÀ NỘI NĂM 1946 




Có lẽ trong 50 năm qua ở Mỹ tôi chưa được nghe lại tiếng chuông nhà thờ.

Gia đình tôi theo Phật giáo.

Năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, chính phủ và bộ đội Việt Minh rút khỏi thành phố lủi vào rừng sâu ẩn náu, bảo tồn lực lượng, trường kỳ kháng chiến, chờ thời để lại cho thanh niên Tự Vệ thành phố ở lại cầm chân ngăn cản bước tiến của địch và phá hủy các công thự.

Họ nội tôi ở vùng quê theo Việt Minh, bố tôi bỏ Hà nội đem gia đình theo họ vào vùng kháng chiến. Họ ngoại tôi ở Hà nội theo phe Quốc Gia, làm công chức như Kho Bạc, Hỏa xa…Ông cậu, em của mẹ tôi làm Phủ Toàn Quyền theo Việt Quốc bị Việt Minh bắt cùng nhiều người ngay ngày họ cướp chính quyền. Hai đảng thương lượng, được thả và rút lên chiến khu Yên Báy, nhưng chỉ ít tháng sau bị Việt Minh bao vây tàn sát không còn một ai. Họ ngoại tôi chỉ chạy loanh quanh và trở về Hà nội rất sớm. 

Tôi còn nhớ khi chạy loạn, gia đình tôi luôn đến các làng đạo lánh nạn, vì tin rằng quân Pháp sẽ không đến bắn phá, đốt nhà hay bắt bớ. Yên ổn cũng được ít lâu, bố tôi mang tôi đến nhà thờ để xin học. Không lớp nào hợp với tôi, mẹ tôi nói cứ để nó học cho khỏi quên mặt chữ. Tôi 10 tuổi đang học lớp Moyen 1 tại trường Piere Pasquier, ở phố Sinh Từ. Tôi đã học qua lớp Enfantin, Preparatoire, nếu tôi nghĩ không lầm tôi sẽ phải học qua lớp Moyen 2 và lớp Supérieur để thi bằng Certificat, tức là bằng Tiểu Học. Thời đó, người lớn có bằng đó, nói được ít nhiều tiếng Pháp là có thể đi xin việc được rồi.

 Những ngày ở nhà thờ, tôi học thuộc lòng hai bài kinh căn bản là “Kinh Lạy Cha” và “Kinh Kính Mừng”, đến nay tôi vẫn còn có thể đọc lại được. Tôi được Cha xứ tin cậy giao cho việc kéo chuông với một đứa trẻ khác. Tôi nhìn lên gác chuông vút trên cao, một sợi thừng đan bằng chão thả dòng xuống kéo kê trên mặt đất. Thật ra là chúng tôi chỉ nắm lấy dây đánh đu từ góc này sang góc khác theo nhịp chuông.

Đó là tiếng chuông nhà thờ đầu đời mà tôi nghe được và kéo chung với một đứa trẻ khác. Tiếng chuông nghe rộn rã, gọn gàng cuốn lên cao tỏa ra khắp làng và cánh đồng xa tưởng như trong một thuở thanh bình nào đó.

Quân Pháp mở rộng vùng kiểm soát, đánh tới làng, bố tôi lại đem gia đình chạy sang một làng đạo khác, thay vì chạy ngược lại và nói được tiếng Pháp thì họ sẽ chỉ dẫn đường về Hà nội, vì lúc đó chính phủ Quốc Gia đã thành lập và cố chiêu dụ dân chúng. Tôi vẫn được đến nhà thờ học kinh và thỉnh thoảng được kéo những hồi chuông như trước. Nhưng càng chạy xa, càng ở lâu thì càng túng quẫn. Có bao nhiêu thứ có thể bán được đều bán hết. 

Sau cùng kiệt quệ, họ giới thiệu đến một trại tạm cư dành cho dân tản cư từ thành phố đến đó học việc để tìm việc làm. Bố tôi được làm trên văn phòng và họ dậy tôi nhiều nghề từ kéo sợi, làm nón và sau này làm tại xưởng bút chì, làm mực và giấy carbon cho máy chữ… Ở trại gặp được nhiều người cùng cảnh ngộ, mấy cô tiểu thư Hà thành, áo lụa bạc mầu lem luốc, “Như cánh hoa trong thời loạn ly”. Có hai anh thương binh, nguyên là thanh niên Tự Vệ Thành mỗi anh mất một chân, một anh mất chân phải, một anh mất chân trái, lội bộ từ Việt Bắc về đồng bằng. Đường thì xa, hai anh còn một trái lựu đạn bảo nhau cùng mở cho rồi đời, nhưng trái lựu đạn không nổ. Hai anh gài lại và đi tiếp.

Từ ngày có hai anh trại vui hẳn lên. Hai anh thường hay tụ họp chúng tôi bầy ra các trò chơi. Một anh có tài làm ra những câu nhạc “chế” hát mỉa, như câu “Hi sinh đời cho núi sông…” thành “Hi sinh đùi cho núi sông...”, câu “Sống tranh đấu mà không sờn gian khổ…” thành “Sống ăn sắn mà không thèm ăn phở, chết trong nhà mà không chết ở ngoài sân…”. Bọn cán bộ trại tức lắm mà không làm gì được anh.

Một hôm hai anh bảo chúng tôi mang rổ ra sông mang cá về. Ra đến nơi, một anh rút kíp trái lựu đạn, đã một lần hoãn mạng chết cho hai anh. Lúng túng thế nào vì chiếc nạng, anh trượt chân ngã và trái lựu đạn bị tung lên cao và lần này thì nó nổ, nhưng không ai bị thương tích.

Quân Pháp lại đánh đến, đốt phá tan tành trại, mẹ tôi nhân dịp này mang mấy đứa em tôi theo một số người trở về Hà nội. Tôi và bố tôi vì đi làm xa nên không thể về cùng. Sau đó mẹ tôi cho người ra đón tôi, và chính mẹ tôi tự mình ra đón bố tôi về.

Tôi mất bốn năm học, phải học tư tại một trường đạo lớn có tên là Dũng Lạc, cạnh nhà thờ lớn. Hàng ngày tôi lại được nghe tiếng chuông, hình như chuông nhà thờ rung mỗi giờ báo cho mọi biết mấy giờ trong ngày tùy theo số tiếng chuông. Đêm Giáng Sinh tôi đạp xe đến nhà thờ, đêm đông lạnh lẽo vắng người, tôi đứng yên lặng nghe tiếng nhạc ống, những bài thánh ca bằng tiếng La tinh và những hồi chuông rộn rã quyện lên không trung, thấy một điều gì linh thiêng khôn tả. Tôi đỗ xong bằng Tiểu Học và may mắn vào được trường Chu Văn An.

Hà nội những năm đó được bảo vệ khá an ninh, chiến tranh thì ở mãi núi rừng xa. Tôi và các bạn thường hay đạp xe lang thang trong thành phố và các vùng quê xa. Tôi có cảm tưởng như sống lại được cả một thời lãng mạn tiền chiến. Tôi đọc gần như hầu hết các tác phẩm của Tự lực Văn Đoàn, của các nhà văn cùng thời của một tiệm cho thuê sách ở góc chợ Đồng Xuân. Tôi đã chơi đàn và chép lại hàng trăm bài nhạc ướt át ủy mị như “Dư Âm”, Trăng Mờ Bên Suối”, “Về Bến Sông Tương” …mà sau này họ gọi là Nhạc Vàng, vào năm, sáu quyển dầy cộm. Một người bạn tôi, có công ngồi chép lại không biết bao nhiêu bài thơ mới. Nhưng rồi chúng tôi cũng phải bỏ Hà Nội, bỏ những ngày vui theo một triệu người di cư vào Nam, để lại một thành phố trống rỗng. Riêng tôi, tôi rời Hà nội gần giống như bài “Nỗi Lòng” của nhạc sĩ Anh Bằng: “Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu…”. Tôi cũng có một cô hàng xóm, gặp nhau thường nói những chuyện bâng quơ. Cô vào Nam trước, gửi cho tôi một tấm hình và một lá thư hẹn tôi ở Saigon. Chúng tôi gặp lại nhau, nhưng mối tình học trò đó như bong bóng mùa mưa tan lúc nào không hay.

Vào Saigon, tôi cùng mọi người sống những năm mở đầu của thời Cộng Hòa, an bình, hưng thịnh và phấn khởi. Một người cha đi làm có thể nuôi một gia đình sung túc, bệnh viện miễn phí, giáo dục từ Tiểu học đến Đại học đều miễn phí, một số trường Đại học lại cấp học bổng cho sinh viên hàng tháng cho đến khi ra trường.  Tôi thi vào được Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, mỗi tháng được 2,000 đồng như lương một công chức. Trường tọa lạc cạnh Bộ Ngoại Giao trước Phủ Tổng Thống và ngay sau nhà Thờ Đức Bà chỉ cách một công viên. Với số tiền đó, không bao lâu tôi mua được một xe Vespa, cùng bạn bè sống đúng mốt như các thanh niên hồi đó. Nhắc lại để các bạn cùng nhớ, may áo Adam trước cửa Tòa Đô Chánh, mặc quần Chiến Lê Văn Duyệt, đi giầy Gia bên Khánh Hội và đồ bộ Tân Tân trên đường Tự Do… Hàng ngày sau buổi học, các bạn thường rủ nhau ra các quán trên đường Tự Do như La Pagode, Givral, Broda uống cà phê nhìn đường phố hay Pole Nord ở cuối đường cạnh Hotel Majestic để chơi Tilt. Thành thử một ngày có thể tôi đã lái xe qua nhà thờ đến hai, ba lần. Đêm Giáng Sinh, chúng tôi cùng hẹn nhau ở đó trước giờ đi “Bal” khiêu vũ. Tôi được nghe lại nhạc thánh ca và nhìn lên gác chuông vút trên cao. Giáng Sinh ở Saigon không như ở Hà Nội xưa, vui và sống động hơn, ban đêm trời mát, đông người vì không ai nghĩ đến mình có đạo hay không. 

Cuối năm 1961 tôi ra trường, tưởng rằng sẽ được kéo cái cuộc đời ở Saigon như các khóa trước, Tổng Thống Diệm đã thay đổi chính sách đưa nửa khóa của chúng tôi vào ngành Trung Ương Tỉnh Báo và nửa khoá còn lại gửi ra quân trường Đồng Đế theo học một khoá Chuẩn Úy Hiện Dịch trong đó co tôi. Mọi người cho đó là một lò luyện thép, tướng Đỗ Cao Trí, chỉ huy trưởng nói: “Một người lính bộ binh giỏi là một người đi bộ giỏi”. Thành thử chúng tôi đi bộ mút mùa, hàng tuần di hành 60 cây số theo tốc độ, vai đeo sac nặng chĩu và hai tay mang khẩu Garant nặng như cái cùm. Đèo Rù Rì, Núi “Cô Gái nằm”, những cánh rừng Diên Khánh đi đến mòn chân. Có những đêm không được nghỉ lại phải đi gác tại các trọng điểm trong vùng. Một lần toán gác của tôi ở phía biển cạnh khu xóm Ba Làng. Ba Làng được biết đến là cả làng này vượt biển lánh nạn Cộng sản bằng thuyền và mảng trôi vào Nam sau thời hạn di chuyển khi đất nước chia đôi. Tối đó chúng tôi lén vào xóm nhờ một bà nấu cháo gà và mua mấy chai bia ngồi nhậu với cánh và cổ gà.

Sau khi mãn khóa, tôi cầm sự vụ lệnh mới biết nhiệm sở của mình là đảo Phú Quốc. Khi tôi đến đó, tất cả các đường bộ đều bị cắt đứt, chỉ còn lại 5 ấp nằm sát ven biển, 4 ấp đã có hàng rào chiến lược. Di chuyển liên lạc đều phải dùng thuyền hay nhờ hải thuyền. Tối nào nằm trong quận cũng nghe súng bắn lẻ từ phía bên kia sông Dương Đông của du kích bắn sang, và hàng tràng súng của dân vệ bên này bắn lại. Nghe riết rồi thành quen, cứ sau hai hồi súng đó là mọi người có thể ngủ yên cho đến sáng. 

Không hiểu sao tôi đã ở lại đảo gần ba năm mà không xin đổi, thay vì các công chức bị đổi ra đó, họ tính từng ngày để trở lại đất liền. Có thể tôi đã lãng mạn hóa, đã huyền thoại hóa những ngày trên đảo. Tôi tưởng tượng như mình là một Gaugin trong các rừng dừa, ở đó có những chàng trai đánh trống bập bùng, những cô gái mình trần đang múa, cầm những vòng hoa đón khách lạ. Tưởng mình như một Gary Cooper trong phim “Retour au Paradis” hay Marlon Brando trong “Mutinity on Bounty” … Một lần trong những ngày bão biển, không biết làm gì tôi vào trong kho lục tìm được cuốn Địa Phương Chí. Tôi mải mê đọc, có những phần lịch sử của hòn đảo mà nhiều người chưa biết, bao nhiêu huyền thoại được viết lại. Nhất là có một đoạn nói về bà Kim Giao mang 50 con trâu ra đảo lánh nạn Tây Sơn, sau này bị thất bại, bà mất và những con trâu đó thành những con trâu rừng lang thang trên đảo. Tôi cố đi tìm đàn trâu đó tưởng như mình đang đi tìm một thiên đường lỡ dở. Tôi dò hỏi dân thì được biết đàn trâu còn lại hai con, năm trước một con bị bắn chết còn lại một con…

Một sự ngẫu nhiên, trong 5 ấp kể trên, có một ấp ở cuối đảo là An Thới lại là nơi định cư chính của dân vượt biển Ba Làng. Họ xây được một nhà thờ khá lớn và có hai linh mục. Ấp có một một trung đội dân vệ, trang bị vũ khí sơ sài, nhưng du kích cũng chưa bao giờ đến trêu trọc. Tôi cũng thường hay xuống đó và quen thân với vị linh mục trẻ có tên là Hoàng văn Cung và ông trưởng ấp Niềm. Thỉnh thoảng cha Cung lên Dương Đông làm lễ, tôi cũng đến dự, như thường lệ tôi vẫn dự các ngày lễ lớn tại chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài hay Hòa Hảo…

Nơi làm lễ là một nhà thờ cổ nhỏ được xây từ thế kỷ trước, mái không còn nữa, chỉ còn trơ 4 bức tường gạch và sàn trơ mầu gạch cũ. Tôi theo mọi người đọc kinh, vẫn những bài kinh cũ mà tôi đã thuộc lòng. Lời kinh và tiếng giảng của cha lẫn trong gió biển. Tôi cũng còn nhớ hai ngôi mộ cổ của hai nhà truyền đạo được xây cũng từ thế kỷ trước có tên lạ hoắc tại gần Dinh Cậu, cạnh Ty Khí Tượng mà mỗi chiều khi tắm biển xong tôi vẫn ngồi nghỉ trên đó. 45 năm sau tôi trở lại Phú Quốc thì ngôi nhà thờ cổ hai ngôi mộ không còn nữa.

Trong thời gian ở đó, tôi đã đến các ấp nhiều lần để củng cố ấp, lập hương ước và thực hiện các chương trình của chính phủ. Tôi lại được giao cho viết dự thảo thành lập tỉnh Phú Quốc. Chuyến đến thăm ấp Hàm Ninh lần cuối, vì biển động tôi đã ở đó một tuần và bỗng nhiên tìm thấy một cái sọ trâu khô trắng nằm ỏ hàng rào, tôi ra bới lên và mang vào nhà hỏi thì họ nói con trâu này vừa bị Thiếu úy đồn trưởng bắn chết. Tôi vội chạy lên đồn thì lính cho biết Thiếu uý lần vừa rồi đi săn đã bị ngã gẫy xương và được đưa về bệnh viện tỉnh tuần trước rồi. Tôi trở lại chỗ sọ con trâu, ôm nó lên tưởng như thiên đường của mình đang đi tìm đã mất thật rồi.

Về quận, tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về tỉnh nhường chỗ cho người khác tiếp tục dự án thành tỉnh. Tỉnh trưởng an ủi tôi: “Anh nên về, ở đó lâu họ sẽ quên anh”.

Vốn  quen sống giữa trời cao biển rộng, chán ngán những ngày dài tù túng của một đời công chức tỉnh lị, tôi thường lấy cớ đi ra ngoài công tác. Có lần tôi theo một phái đoàn đi thăm khu định cư Cai Sắn của dân Công Giáo. Đây là một khu định cư khá lớn trong đồng bằng Cửu Long, dọc theo quốc lộ 4, nằm giữa Ngã Ba Lộ Tẻ phía Bắc và phi trường Rạch Sỏi phía Nam, gổm 8 kinh, kinh nào cũng có nhà thờ riêng, ruộng thẳng cánh cò bay. Trong các kinh còn có những con lạch nhỏ ngang dọc di chuyển bằng ghe thuyền rất thuận tiện.

Hôm đó phái đoàn đi thăm nhiều kinh, kinh cuối cùng là kinh số 8. Khi ghe cặp bến mọi người lên bờ, bỡ ngỡ không thấy dân ra đón như các kinh khác. Thì ra giáo dân ở kinh này đã rời dần về các vùng vui  và yên ổn hơn. Mọi người đi vào nhà thờ, gặp một ông bõ già và một lúc sau mới thấy một linh mục gầy còm khoác áo choàng ra đón. Trong lúc mọi người vây quanh linh mục hỏi han, tôi chợt nhận ra linh mục là một người rất quen và khi linh mục nhìn tôi, tôi cũng thấy có cảm tưởng như thế, nhưng chúng tôi còn e dè chưa có dịp nói chuyện. Lúc sau phái đoàn đem quà ra tặng và vội vã rời khỏi nhà thờ vì trời đã về chiều và vùng này đã có những tin bất an.  Tôi cố tình đi lùi lại gần linh mục và bắt chuyện, chúng tôi nhận ra nhau, thì ra khi vào Saigon, tôi học nhẩy một lớp, không dám ở lại Chu Văn An và phải sang học trường Hồ Ngọc Cẩn, một trường đạo ở Bùi Chu Phát Diệm dọn vào. Tôi còn nhớ rõ, hồi đó hắn nhỏ con, gầy gò, nhưng tính ương ngạnh nên hay bị các học trò khác gây gổ. Không hiểu vì một cớ gì tôi lại hay bênh vực hắn nên thành một người bạn và thường hay đi với nhau. Tôi đỗ Tú Tài 1 xong và trở lại trường Chu Văn An, sau đó tôi không gặp được hắn nữa. 

Chúng tôi định đứng nói chuyện lâu hơn, nhưng bị mấy người dưới ghe to tiếng gọi. Chúng tôi chia tay, tôi nghe thấy người bạn trong bộ áo choàng linh mục bên cạnh bình thản nói với tôi: “Nếu mày còn ở vùng này, nhớ đến thăm tao”. Tôi bỗng thấy cả một thời trung học quay trở lại, tôi rưng rưng ôm lấy hắn và buột miệng: “Cha ơi là Cha”. Lúc ghe đã xa bờ, tôi cố nhìn lại, thấy hắn trong chiếc áo choàng đen vẫn còn đứng như in hình trong bóng trời chiều cho đến khi chiếc ghe rẽ quặt sang một hướng khác.

Tôi đã không làm tròn lời hẹn của người bạn, vì chỉ mấy tuần sau tôi nhận được giấy động viên và phải rời Rạch Giá về Saigon trình diện nhập ngũ… 

*

Hôm nay trong mua ngày Giáng Sinh, vùng Tây Bắc mấy tuần nay mưa lạnh rơi sụt sùi, đang mong ngày có tuyết, ngồi bên lò sưởi nhớ lại những tiếng chuông xưa, những ngôi tháp nhà thờ cổ, những làng đạo mà mình đã đi qua và những mảnh vụn của cuộc đời cũng theo đó mà cuốn về. Lòng thấy nao nao, những dấu vết ngày xưa chắc đã bị xóa nhòa từ lâu, nay chỉ còn trên mấy trang giấy. . .

Nguyễn Công Khanh DS6

 

Thursday, 19 May 2022

Câu Chuyện Của Một Người Chị -
- Nguyễn Công Khanh -ĐS.6 -QGHC



image.png

Một góc Hà Nội xưa (ảnh: Pictures From History/Universal Images Group via Getty Images)

Như là một cuốn truyện hư cấu, nhưng lại là một truyện thật, và câu chuyện này đã kéo dài bẩy chục năm.

Chị sinh năm 1926, năm nay đã 95 tuổi. Chị hơn tôi 10 tuổi. Với từng đó tuổi, vào những quãng thời gian đó, chị đã đi vào những biến cố xa hơn tôi rất nhiều.

Chúng tôi đều sinh ra trong thời nước Việt Nam còn có vua, nhưng lại là thuộc địa của người Pháp. Tôi nhớ lại thời đó là một thời thanh bình. Rồi chúng tôi đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh triền miên suốt hơn ba mươi năm trời. Đệ Nhị Thế Chiến 1939-45, quân Nhật tràn vào Đông Dương lật đổ người Pháp. Trên trời thì máy bay Mỹ dội bom xuống doanh trại của lính Nhật và phá hủy các trục lộ giao thông. Cùng chứng kiến cảnh hai triệu người chết đói ở các làng quê và một số đông đã lần về thành phố Hà Nội mong có miếng ăn, nhiều người nằm chết la liệt hàng ngày trên các đường phố. Nguyên do lính Nhật cấm nông dân trồng lúa và phải trồng các cây phục vụ cho kỹ nghệ chiến tranh của họ.

image.png

Hà Nội 1951 (ảnh: KEYSTONE-FRANCE/Gamma-Rapho via Getty Images)

Thế chiến chấm dứt, cả một sư đoàn Quốc quân Tầu chuyển sang giải giới quân Nhật. Rồi Cộng sản đội lốt Việt Minh lợi dụng tình thế cướp chính quyền, phá bỏ chế độ quân chủ, diệt trừ các đảng quốc gia đối lập. Người Pháp quay lại Đông Dương, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, kéo dài nhiều năm 1946-54. Pháp thua trận Điện Biên Phủ, rút khỏi Việt Nam. Đất nước chia đôi. Chúng tôi sợ Cộng sản, với đấu tranh giai cấp và diệt trừ những người mà họ liệt vào hàng địa chủ, tiểu thương, phản động… hành động diễn ra thật là khủng khiếp. Gần triệu người rời bỏ miền Bắc, di cư vào Nam  tìm tự do và đã hưởng được những năm đầu an bình và thịnh vượng ở đó.

Không bao lâu, cuộc nội chiến tương tàn lại bắt đầu giữa Bắc-Nam. Miền Bắc được cả một khối Cộng sản khổng lồ kiên trì hỗ trợ, miền Nam được Hoa Kỳ mang quân vào chống lại. Cuộc chiến tranh kéo dài hai mươi năm, hơn một triệu lính chết, mấy triệu thường dân bỏ mạng. Nước Mỹ cuối cùng bỏ cuộc và ngưng yểm trợ cho miền Nam, khiến cho Cộng sản miền Bắc thôn tính cả đất nước năm 1975.

Một lần nữa chúng tôi lại cố thoát khỏi Cộng sản bất chấp nguy hiểm. Mỗi người tìm đường vượt biển một cách. Cuối cùng Hoa Kỳ đã chấp nhận cho tỵ nạn. Chúng tôi đã trở thành công dân Mỹ, và đã sống ở đây đến nay đã hơn 45 năm rồi. Cuộc đời biết bao nhiêu biến đổi, mất mát trắng tay.

image.png
Hoa Thu 1951. Ảnh từ Vienkhach.free.fr

… Trở lại chuyện của chị tôi.  Những năm cuối đời, sau khi chồng mất, chị cư ngụ một mình trong một căn cao ốc của các cao niên trong thành phố tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Vốn thích văn thơ, lãng mạn chị sống lại cái quá khứ của một thời. Chị bắt đầu soạn lại tác phẩm kịch thơ mà chị đã giúp viết chung với một người và viết hồi ký.

Chị góp lại và nhờ một người học trò cũ, là một bác sĩ đã về hưu, thuê người đánh máy, layout và sẽ in thành sách. Chị cho biết bản thảo dầy khoảng trên sáu trăm trang. Nhưng trong nhiều năm cuốn sách mãi không xong vì cô giáo và ông học trò cứ mãi tranh luận về nội dung. Riêng tôi cũng có một chút kinh nghiệm viết lách, thường các bài được đăng trên các tạp chí văn học tại Cali. Khi tôi chọn ra một số bài để in cuốn sách đầu tiên và được Thư Viện Trung Ương Seattle giúp ra mắt tại thính đường, thì chị tin tôi có thể hoàn thành ý nguyện của chị. Chị đành cám ơn ông học trò cũ và chuyển lại những phần ông đã làm cho tôi. Dĩ nhiên ông ta vui vẻ được rảnh tay, an hưởng tuổi hưu.

Tôi đọc lại tập bản thảo đã đánh máy và layout. Phần đầu là vở kịch thơ “Viễn Khách”, khi chị đem từ khu Kháng Chiến về Hà Nội năm 1948, đưa cho nhà văn Vũ Bằng, phải đổi tên tác giả và lấy tên hai người ghép lại thành “Hoa Thu”. Vở kịch thơ đã được đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy và đã được trình diễn tại nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1951, với nhiều nghệ sĩ tên tuổi đóng góp như Vũ Khắc Khoan, Hoàng Thư, Văn Phú, Phan Tại, Tạ Tỵ, Mộng Lan…

Nhưng sau nhiều năm tên vở kịch bị gắn lầm vào tên hai nhà thơ viết kịch tên tuổi khác là Hoàng Cầm và Hoàng Công Khanh. Vì người xưa, chị đã mất nhiều công sức liên lạc với hai nhà thơ trên để lấy lại chính danh cho tập “Viễn Khách”. Chị cho là chưa đủ, nên đã bỏ rất nhiều thời giờ để viết những lá thư dài cho các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, và các tạp chí có ảnh hưởng trong và ngoài nước về hoàn cảnh và việc của chị đang làm như: Thượng Sỹ, Phan Tại, Võ Văn Ái Tạp chí Quê Mẹ, Đỗ Quý Toàn báo Người Việt và Tạp chí Thế Kỷ 21, Nguyễn Thị Giáng Châu Tạp chí Hợp Lưu, Băng Sơn Tạp chí Sân Khấu, Vương Trùng Dương Báo Saigon Nhỏ, hai học giả Nguyễn Huệ Chi, Đặng Tiến, nhà Biên Khảo Thụy Khuê, Tạp chí Văn Học và Thư Viện Đại học Cornell. Tất cả đều sốt sắng hồi âm và đã có bài viết hỗ trợ cho việc giải mã tên tác gỉả của cuốn kịch thơ Viễn Khách trên các tạp chí..

image.png
Hà Nội, Tháng Bảy 1954: Những ngày hai miền Nam Bắc sắp bị chia cắt (ảnh: Keystone-France/Gamma-Rapho via Getty Images)

Phần hai là những trang hồi ký cùng những tài liệu, hình ảnh không được xếp đặt một cách hợp lý. Tôi đề nghị với chị, sẽ chia cuốn bản thảo ra hai phần riêng biệt để dễ dàng thực hiện và không ảnh hưởng đến nhau. Lúc đó sức khỏe chị đã suy yếu, trí óc không còn như xưa, chị để cho tôi quyết định. Chúng tôi đã không khó khăn lắm khi biên soạn cuốn kịch thơ Viễn Khách. Khi cuốn thơ này được in thành sách dầy khoảng 250 trang, chị đã rất hài lòng cả về nội dung cũng như hình thức.

image.png

Cuốn thứ hai là phần hồi ký, khó khăn hơn. Tôi cũng đã có nhiều dịp nghe chị kể chuyện về cuộc đời, sau những bữa ăn gặp nhau trong mùa Hè hay những tối ngồi bên lò sưởi trong những ngày tuyết mùa Đông trên vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Có lần có cả mấy cô con gái của chúng tôi và cô bạn Mỹ ngồi nghe, đã thốt lên “Truyện đời của bác còn ly kỳ hơn cả truyện phim Gone with The Wind”.

Tôi tìm đọc lại bản tóm tắt của tác phẩm Gone with The Wind. Cuộc đời của Scarlett phức tạp hơn. Nàng có ba đời chồng, mà đời nào cũng có con, nhưng cả đời Scarlett chỉ yêu có Ashley, một người mà không thể lấy được. Những người mà Scarlett gặp trong cuộc, họ ở trong cùng một giới tuyến miền Nam nước Mỹ trong thời nội chiến.

Điểm khác biệt với truyện của chị là chị ngẫu nhiên gặp ba người, thì những người trong cuộc này ở trong ba giới tuyến khác nhau, trong cùng một thời gian của một cuộc chiến: Thực dân, Quốc gia và Cộng sản. Họ ở trong ba guồng máy đối nghịch nhau và đều phải tìm cách hủy diệt lẫn nhau. Chị kết hôn với một người, nhưng giữ mãi mối tình đầu tiên với người trước suốt đời, vì đã không lấy được nhau.

Tôi đọc lại nhiều lần tập hồi ký, có lúc tôi có ý định không để nguyên văn những gì chị đã viết, mà dựng thành một tiểu thuyết trường thiên, một “saga” như những truyện đã được dựng thành phim ảnh mà tôi vẫn hâm mộ theo kiểu War and Peace, Gone with The Wind hay Doctor Zhivago. Việc này chắc tôi không đủ tài, sợ sẽ kéo dài và không thể xong. Trong thời gian đó, chị càng ngày càng yếu, lại hay bị ngã, phải vào rehab mấy lần. Các cô con gái của chị phải đem mẹ về nhà săn sóc, trả lại căn phòng cho chính phủ và khuân đến nhà chúng tôi hơn chục thùng sách và các tập hồi ký cùng thư từ trao đổi mà chị từng giữ gìn trân quí.

Tôi đọc đến ngàn trang thư viết tay chữ nhỏ, thẳng hàng mà chị và người đó trao đổi với nhau. Đó là những tư liệu hiếm có, không những chỉ liên quan đến cá nhân của họ mà còn phản ảnh đến thời cuộc. Tôi quyết định tôn trọng giữ hồi ký của chị, những gì chị đã viết, chỉ thay đổi chút ít, và trích các đoạn thư trên cùng viết thêm các đoạn nối để cấu tạo thành truyện cho diễn tiến liên tục. Truyện của chị có nhiều tình tiết, tôi muốn tóm tắt ngắn gọn sau đây trước khi soạn để khỏi đi ra ngoài cái khung và những gì tôi muốn nói lên cái ý nghĩa cuối cùng của cuốn truyện. Chị lấy tên là Liên trong truyện, chỉ giữ tên một số người và đổi tên một số khác.

*****

“Bố Liên là một người có chức quyền tại địa phương và là chủ một trang trại lớn ở một vùng đồi núi, góa vợ có một con trai. Mẹ Liên là con gái Hà Nội, lỡ duyên đầu với một sinh viên y khoa gốc người miền Trung, vì thân sinh của bà từ chối không muốn con lấy chồng xa. Sau đó lại phải theo tục lệ thời cổ, để tang hai cụ cố nên lỡ thì. Đến năm hai mươi bảy tuổi thì một bà mai giới thiệu, bà kết hôn với bố Liên và theo lên ở đó.

Mẹ Liên thuở nhỏ có được học chữ Nho và chữ Quốc ngữ ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Bà thích đọc những truyện Tàu như bộ Tái Sinh Duyên… và hay làm thơ, nhưng đều là thơ than thân trách phận. Sẵn tài quán xuyến, mẹ Liên mở mang trang trại, xây kho dự trữ thóc gạo, hầm chứa nước mưa, các chuồng nuôi gia súc, xây tường cao bao quanh thành một dinh cơ có tiếng trong vùng, thế mà cũng vẫn bị cướp đến mấy lần. Có ai bán ruộng thì mẹ Liên mua, sau này có thể nói là ruộng thẳng cánh cò bay.

Liên được gửi lên Hà Nội học cùng với con trai riêng của chồng sau khi cả hai cùng đỗ xong Certificate, tức là bằng Tiểu học. Hồi đó học hành lên cao rất là khó khăn, thường bị hạn chế, nhất là đối với con gái, phần lớn chỉ dành cho con cái nhà có tiền và có đầu óc cấp tiến ở thành phố. Cấp trung học, các môn học đều bằng tiếng Pháp, học lịch sử Pháp, văn chương Pháp. Liên đậu được bằng Brevet, tức là bằng Trung Học đệ nhất cấp và đang tiếp tục học lên Tú Tài thì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ cuối năm 1946.

Liên rời Hà Nội, trở về trang trại và bắt đầu lao vào một cuộc phiêu lưu của thời lửa đạn. Liên gặp lại được một số bạn cũ và một số sinh viên cũng tản cư về quanh vùng. Họ tổ chức thành một đoàn tuyên truyền hô hào dân chúng ủng hộ kháng chiến, chống lại người Pháp. Sẵn có tinh thần yêu nước, Liên hăng hái gia nhập với họ. Lại thêm có tài viết, Liên thảo các truyền đơn, diễn thuyết… Liên tháo vát và can đảm nên trở thành một phần tử chính của phong trào. Bố mẹ Liên cũng đóng góp công của đáng kể và còn cho các thành viên của phong trào họp hành, tá túc tại gia trang của ông bà.

Chiến tranh lan rộng, quân Pháp mở rộng vòng kiểm soát tiến ra xa Hà Nội và chiếm đóng một số tỉnh lỵ khác. Lực lượng chính qui Việt Minh yếu thế, phải rút lui về vùng rừng núi để bảo toàn lực lượng và chủ trương trường kỳ kháng chiến, nhưng vẫn cố tổ chức du kích quấy phá trong các vùng quê do Pháp kiểm soát. Quân Pháp đến lập một đồn lớn trên một quả đồi gần trang trại nhà Liên.

Một lần họ hành quân tảo thanh và ập đến nhà Liên, lục soát tìm ra được vũ khí và một số tài liệu. Họ tra khảo ông bố của Liên và định đưa ông và một số người trong gia đình giải lên đồn. Sẵn biết tiếng Pháp, Liên nói với viên đại úy Pháp, tất cả là do Liên, bố Liên và các người khác không có liên hệ gì, Liên chịu bị bắt và theo lên đồn một mình. Vụ việc của Liên được báo về Hà Nội. Ngay ngày hôm sau, một thiếu tá cấp trên đến đồn, họ bàn chuyện với nhau những gì Liên không được biết, nhưng trước khi ra về, viên thiếu tá dặn viên đại úy gần như muốn cho Liên nghe được, là đừng để ai hãm hại và phải bảo vệ Liên.

Liên bị giữ ở lại đồn hơn một tuần lễ, không ai tra hỏi, và được tự do đi lại trong vòng trại. Trại khá nhiều lính, gồm lính Pháp, lính thuộc địa Phi châu và một số đông lính Việt Nam. Không ai dám trêu chọc. Liên nghĩ rằng trong chương trình bình định của người Pháp, họ muốn có nhiều người hợp tác với họ. Họ có ý phủ dụ và lấy lòng Liên và gia đình. Liên biết tên viên đại úy là Marchadier, trước hắn thường “tutoyer” mày tao với Liên, sau đổi thành “vouvoyer” cô với tôi đàng hoàng.

Một lần đi qua văn phòng của hắn, Liên thấy có một số sách văn thơ và hỏi mượn cuốn thơ Alfred de Vigny. Trong lúc ngồi chép một đoạn thơ sau:

Gémir, pleurer, prier, est également lâche
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le sort a voulu t’appeler,
Après, comme moi. Souffres et…

[Rên rỉ, khóc lóc, cầu xin đều là hèn nhát. Hãy hăng hái thực hiện nhiệm vụ lâu dài và khó khăn của bạn. Theo như mà số phận muốn gọi bạn. Rồi, cũng như tôi. Khổ đau và…]

Marchadier đi tới, nhìn vào và đọc tiếp: “… meurs sans parler” (… chết mà không nói nên được) và y nói thêm có ai làm gì cô mà phải chết? Có khi Liên kiếm được mảnh vỏ cau, chà răng và lấy gương soi thử, hắn nhìn thấy nói: Cô đâu có xoàng (vous n’êtes pas mal), cô có nụ cười tuyệt vời (vous avez un sourire épatant). Liên nhớ đúng như ngày lên Việt Bắc, đến các đơn vị bộ đội, các người lính trẻ đều khen Liên như thế.

Nhiều khi Marchadier tự tay săn sóc Liên trong các bữa ăn. Hai người vì thế nói chuyện với nhau dễ dàng hơn. Họ nói với nhau về văn chương Pháp, những tác phẩm mà Liên học trong thời trung học. Có những tối họ thức khuya, ngồi trên đồi nhìn xuống làng quê, họ nói đến những bài thơ trữ tình của thời thi ca lãng mạn như Lamartine, Paul Verlaine, Beaudelaire…

Họ bàn luận luôn cả các vấn đề thời cuộc. Họ đều trẻ, có tri thức. Marchadier cố gắng giảng cho Liên những gì mình tin tưởng: Nước Pháp muốn đến khai hóa và phát triển cho một nước Việt Nam nghèo đói, lạc hậu. Liên thì khăng khăng nói Việt Nam cần chiến đấu để dành quyền độc lập, thoát ách thuộc địa. Marchadier còn giảng thêm cho Liên biết về Cộng sản, Việt Nam sẽ được độc lập, nhưng không thể đứng một mình được, mà phải Liên Lập trong khối Liên Hiệp Pháp… Chắc Liên lúc đó cũng chưa nghĩ đến điều đó, và đang bị Việt Minh mê hoặc, lợi dụng lòng yêu nước mà bị lôi cuốn theo họ.

Dù có quan điểm khác nhau, Marchadier lại mê luôn Liên, anh ta vẫn tin ở mình sẽ chinh phục được Liên. Cũng không đáng ngạc nhiên lắm, Liên lúc đó khoảng hai mươi tuổi với sắc đẹp tỉnh thành, có học, thông minh, gan dạ, không biết gì là nguy hiểm. Liên xuất hiện nổi bật giữa những đám dân quê nghèo nàn, thất học, sợ sệt.

Rồi Liên được thả về nhà, nhưng vẫn phải lên đồn trình diện. Marchadier đề nghị Liên làm xã trưởng, Liên giẫy nảy từ chối. Nếu không thì bố Liên phải làm, nhưng đời nào bố Liên nhận. Liên về gặp Hồng Phong, người chỉ huy Việt Minh trong vùng và báo cáo cho họ biết những việc xảy ra vừa qua. Việt Minh lợi dụng luôn tình trạng của Liên và giao cho Liên hai công tác, tìm hiểu các tin tức như quân số, vũ khí, tin tức hành quân của địch. Việc thứ hai là địch vận, tìm cách dụ các lính Việt Nam bỏ súng quay về với cách mạng.

Một lần lên đồn, Marchadier đột nhiên đòi cầu hôn, và trao chiếc nhẫn cho Liên. Liên quýnh lên, hồi đó chuyện lấy Tây là một điều nhục nhã cho bản thân và cả gia đình, nhưng vì lo ngại không dám từ chối, đành nhận chiếc nhẫn. Marchadier hẹn ngày mai sẽ mang lễ vật theo đúng nghi lễ đến nhà bố mẹ Liên xin cầu hôn và sẽ đưa Liên và gia đình về Hà Nội. Liên về báo cáo cho Hồng Phong và y bèn phái người đưa Liên sang sông vào vùng Việt Minh kiểm soát ngay đêm đó.

Sáng hôm sau, khi Marchadier đến nhà, thấy Liên đã bỏ đi, anh quá thất vọng thốt lên “Sao cô ta đã quá vội vàng”, cùng lúc chắc anh cũng tự trách mình cũng quá vội vàng.
image.png

Hà Nội sau khi về tay Việt Minh (Getty Images)

Sau một đêm và gần một ngày lặn lội đi bộ, đến nơi Liên mệt lả nằm thiếp đi. Lúc tỉnh dậy hỏi ra mới biết mình đang nằm trong một trại giam. Những người xung quanh đều là tù nhân, nhiều nhất là buôn lậu, rồi đến trộm cắp, giết người và những người bị liệt là Việt gian. Họ giam nam nữ riêng phòng nhưng trong cùng một trại, vì không có đủ chỗ và người canh giữ. Họ giam Liên ở đó khá lâu, không tra hỏi, không xét xử. Liên lại còn nhìn thấy một thanh niên bị còng cả chân lẫn tay ở cuối phòng, hỏi thêm thì họ xì xào nói đó là một “Đại Việt gian”.

Ít lâu sau anh ta không bị cùm nữa và được đi lại thong thả. Trong trại có một người lớn tuổi, là một công chức thời Pháp không biết chống đối gì mà bị coi là phản động cũng bị nhốt, nhưng lại được mọi tù nhân kính nể. Ông nói cho Liên biết, người bị cùm tên là An, trước làm công chức Phủ Toàn Quyền và là một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ba người đó tự nhiên hợp chuyện hay gặp nhau, có khi họ nói nhỏ với nhau bằng tiếng Pháp. Sau này có một chuyện mà ai cũng cảm kích và còn nhắc lại hoài là khi được gia đình tiếp tế cho một chiếc xe đạp, An xin phép trưởng trại đem bán và chia cho cả trại giam.

Liên ở trại giam gần một tháng, thì được tin An bị đưa đi quản thúc ở một trại tù khác trên Bắc Kạn, Liên nghĩ ngay chắc An bị đem đi thủ tiêu, như một số tù trước đây. Lúc bị giải đi, anh nói với Liên một câu bằng tiếng Pháp: “Dans une semaine, je serai dans la capitale” [Trong một tuần nữa, tôi sẽ ở thủ đô (Hà Nội]. An là Việt gian hạng nặng, bị đưa đi nơi khác, Liên nghe An nói lấy làm lạ, nhưng không có thời giờ hỏi. Đột nhiên Liên xúc động vì có người tin cẩn và chí tình với mình, Liên xé vội một mẩu giấy ở một góc tờ báo viết mấy chữ: “Courage, je vous attendrai” [Hãy can đảm, tôi sẽ chờ anh] và dúi vào tay anh ta. Thực tâm khi Liên bồng bột viết dòng chữ trên, Liên chỉ vì lòng vị tha, như thương một người bạn trong cơn hoạn nạn, mà không có tình ý riêng gì, vì thực ra không ai biết tính mạng An rồi sẽ ra sao.

*****

Thời gian ở trại giam Đại Bàng quá lâu, Liên làm đơn giải thích trường hợp của mình nhiều lần, nhưng không thấy động tĩnh gì. Liên nghĩ lại, cũng không thể trách họ nghi ngờ và đặt những câu hỏi về mình. Tại sao Liên không bị người Pháp hại, lại được đối xử một cách khác thường. Có thể Liên là một gián điệp của Pháp. Một mặt Liên và gia đình tuy là thành phần địa chủ nhưng có nhiều thành tích với cách mạng.

Liên là một cô gái rất tỏ ra rất thành thật. Họ chưa biết xử trí ra sao, nên cứ tạm giam để theo dõi, nếu không đã bị mang đi thủ tiêu như những người khác rồi. Họ có câu “Giết nhầm còn hơn tha nhầm”. Trong thời gian trong tù, Liên tổ chức lớp học cho những người không biết chữ trong trại, được một số tù nhân yêu mến và họ thường săn sóc đến Liên. Giám thị trại cũng tin cậy Liên, thường nhờ Liên giải quyết những vụ lộn xộn giữa các tù nhân. Trại giam này trực thuộc một ty công an, có nhiều quyền, coi cả vùng lớn từ đường số 5 và cả vùng ven đô Hà Nội, có thời kiêm cả nội thành khi các lực lương rút lui khỏi thành phố.

Ít lâu sau, trại thêm quá nhiều tù nhân và sợ bị lộ nên phải di chuyển đến một địa điểm khác, là trại Đông Lâu, đồng thời có sự thay đổi cấp chỉ huy. Nhờ giám thị trại đưa trường hợp của Liên lên ủy ban chuyển tiếp. Họ quyết định để trưởng ty mới giải quyết. Trưởng ty mới nhận chức tên là Nghiêm, một người trông cao ráo, nghiêm túc. Ông ta đã xem kỹ hồ sơ của Liên và cho người gọi Liên lên trình diện, trước mặt mình là một cô gái tỉnh thành có sắc đẹp, có học, thông minh, bạo dạn và có vẻ thành thật. Ít lâu sau, Nghiêm đưa Liên ra khỏi trại giam và chỉ định Liên làm thư ký trong văn phòng của mình.

Chuyện của Liên và Nghiêm gần giống như chuyện của Liên với Marchadier. Làm thư ký nhưng không có việc gì, Liên ngồi nhớ và chép lại những bài thơ mà mình làm trong thời gian qua. Nghiêm đi qua, hỏi xem và không nói gì. Những ngày sau, Nghiêm hay đến gợi chuyện bâng quơ, rồi dần chuyển sang văn thơ. Điều tất nhiên là Nghiêm cũng không tránh khỏi lụy tình với Liên.

Trong đám thuộc hạ chỉ biết răm rắp theo lệnh và đám tù nhân khốn khổ, nay Liên cũng lại nổi bật lên như một đóa hoa trong sáng, thông minh. Phần Liên cũng dậy lên một tình yêu chưa bao giờ có. Nghiêm trí thức, hiểu rộng, đã từng viết báo, viết kịch, làm thơ, rất hợp chuyện với Liên và nhất là người đã cứu Liên ra khỏi vòng tù tội. Đó chính là mối tình đầu và cũng là “mối tình lớn” của Liên.

Từ đó, Liên được Nghiêm tin cậy và đã giúp Nghiêm trong một số việc của cơ quan, giữ một kho hàng thực phẩm và hàng hóa tịch thu của dân buôn lậu. Liên lại thích thú ngồi chữa lại bản thảo còn đầy những gạch xóa thêm bớt của cuốn kịch thơ Viễn Khách mà Nghiêm đã viết từ năm 1943.

Trong hơn một năm trời, hai người đã chung sống với nhau thắm thiết. Nghiêm lại cho phép Liên bảo lãnh mấy cô gái trong trại giam ra để giúp việc, sai bảo. Nghiêm chiều chuộng Liên và cuộc sống của Liên thay đổi khác hẳn với đời sống loạn lạc kiệt quệ xung quanh. Liên nhờ người về đưa cha mẹ già và hai đứa em nhỏ lên ở cùng, vì lo ngại có thể bị hại nếu còn ở lại trại.

Cho đến một ngày quân Pháp mở một mặt trận lớn đến nơi có cơ quan của Nghiêm. Tất cả đều phải di chuyển sâu vào vùng rừng núi. Liên không muốn đưa gia đình đi xa hơn nữa, không muốn các em mất học và nhất là ông bố Liên nhất định trở về trang trại, nên Liên nói với Nghiêm là sẽ đưa gia đình về quê và sẽ trở lại. Buổi tối, trên đường đi, khi gần đến trang trại, gặp một toán lính tuần tiễu, thấy động, họ xả súng bắn. Liên đi đầu bị trúng đạn vào bàn tay trái, vội kêu to: “Ne tirez plus, je suis blessée” [Đừng bắn nữa, tôi bị thương rồi]. Nghe thấy tiếng Pháp, lính Pháp ngưng bắn ngay.

Sau đó họ cho phép gia đình Liên hồi cư về trại. Riêng Liên được đưa về một bệnh viện ở Hà Nội để chữa trị. Khi khám trong người Liên có một số giấy tờ khả nghi nên họ giữ trong một phòng riêng để theo dõi. Lúc một bác sĩ người Pháp vào khám, ông ta xem qua và bảo mấy sinh viên nội trú cắt luôn hai ngón tay đó đi. Mấy sinh viên thấy một cô gái xinh đẹp, có học như thế không đành nên bảo nhau cố nối lại ngón tay cho Liên và tìm cách đổi Liên sang khu khác. Một lần nữa Liên thoát nạn.

Sau khi ra khỏi bệnh viện, Liên lo việc ăn ở cho gia đình và thi vào trường sư phạm. Ra trường, Liên được gửi đi dạy học ở Hải Dương. Năm 1952, được thư của Nghiêm, nhân dịp nghỉ Hè, Liên cùng mẹ lặn lội ra hậu phương, xuyên đường rừng vào tận ‘An Toàn Khu’, nơi Hồ Chí Minh đặt bản doanh, tìm Nghiêm, có mẹ chứng kiến để mong được kết hôn chính thức. Khi gặp lại Nghiêm, Liên mới biết là Nghiêm đã bị tước hết chức vụ, đảng tịch và đang bị quản thúc, vì bị kết tội có liên hệ với địa chủ và tiểu tư sản, nhất là lại lo liệu cho Liên đưa gia đình về vùng Pháp. Tuy nhiên vì Nghiêm là người có nhiều khả năng nên họ vẫn sử dụng trong một số công tác.

Sau khi hai người gặp nhau trong một cuộc họp mặt ngắn ngủi, có cảnh vệ đi kèm để kiểm soát, Liên và Nghiêm không nói được điều gì với nhau và đều hiểu là đành phải xa nhau. Từ đó, họ không được tin nhau nữa. Liên trở về Hà Nội và Nghiêm ở lại chiến khu. Liên suốt đời lúc nào cũng xót xa ân hận vì mình mà Nghiêm gặp nhiều hoạn nạn.

image.png
Những dòng người di cư vào Nam trong chiến dịch Passage to Freedom, Tháng Mười 1954 (ảnh: Pictures From History/Universal Images Group via Getty Images)

Liên về Hà Nội với trái tim tan nát. Nàng coi như cuộc đời mình thế là xong rồi. Cũng có nhiều người muốn kết thân để tiến đến hôn nhân nhưng Liên đều nói đã có chồng. Chợt một hôm, An, người tù Việt Quốc xuất hiện. An, người bạn trong tù bị cùm mà Liên đã gặp mấy năm trước. An đưa ra mảnh giấy báo mà Liên đã viết vội cho An khi anh bị chuyển trại, tưởng là đã bị thủ tiêu. Chừng ấy năm mà An vẫn còn giữ. Liên không biết rằng cái mảnh giấy báo và mấy chữ Liên viết trên đó trong lúc bồng bột đã là định mệnh của đời Liên. An cũng coi đó như là định mệnh đi tìm Liên và nay An đã tìm được Liên. Liên không hề hỏi tại sao hồi đó An thoát được, ngay cả những năm về sau. Liên cũng cho An biết mình đã có chồng, và nói rõ đó là Nghiêm. Nhưng nói thế nào, An cũng không nghe, không thể lay chuyển lòng An. Anh nhất định là Liên có duyên nợ ràng buộc với anh.

An là con nhà khá giả trên Lạng Sơn, bố mẹ giao du rộng, quen biết nhiều người Pháp ở đó, mà cũng thường dùng nhà của mình làm trạm chuyển tiếp những người làm cách mạng tìm đường sang Tàu, phần lớn họ thuộc đảng Đại Việt hay Quốc Dân Đảng. Năm 1954, Pháp thua trận. Hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam. Việt Minh chiếm miền Bắc và sắp đem quân vào tiếp thu Hà Nội. Không kỳ vọng gì khi ở lại và tương lai, Liên chấp nhận An. Họ kết hợp ngay lúc đất nước chia đôi, rồi vội vã cùng gần một triệu người di cư vào miền Nam. Liên đem theo mẹ và mấy đứa em nhỏ vào Sài Gòn.

Bố Liên không chịu theo vào Nam, ở lại coi dinh cơ và chờ người con trai theo kháng chiến trở về. Sau khi ông gặp được con trai thì phong trào Cải Cách Điền Địa, tố khổ địa chủ sắp đến làng. Đúng dịp ông đi ăn đám giỗ, lúc về bị một trận cảm cúm và qua đời, người con trai bị chính quyền nghi là cố tâm đầu độc bố để tránh bị đấu tố. Hậu quả là anh bị lột hết quân hàm, thu hồi đảng tịch, gian khổ suốt đời.

*****

Định cư ở Sài Gòn từ năm 1954 đến 1975, hơn hai mươi năm, Liên với An có với nhau năm người con. Được coi như thành công, xây dựng được cơ ngơi giữa thành phố, nhà rộng hai mặt tiền, cao năm tầng và gửi hai con du học tại Pháp, được vào trường lớn. Năm 1975, Cộng sản chiếm miền Nam, Liên đưa được gia đình vượt biển đến Mỹ. Khi ra khỏi nước, An không muốn ở Mỹ và sang Pháp, vì thông thạo tiếng Pháp và hận Mỹ, cho rằng Mỹ đã phản bội Việt Nam. Mấy năm sau Liên mới sang đón được An về Mỹ cùng với gia đình. Nay An đã qua đời.

Nhiều năm sau, khi các con cái đều có đời sống vững vàng, Liên nghĩ đến chuyện đi tìm lại những người xưa để trả lễ. Liên sang Pháp thăm con gái và nhờ Bộ Quốc phòng tìm Marchadier. Họ cho biết, sau khi hết hạn kỳ tại Việt Nam, Marchadier chuyển sang Cam Bốt và tiếp tục qua Algérie tham dự một cuộc chiến tranh khác. Nay ông đã qua đời, còn người vợ Josette đang ở vùng phía Nam nước Pháp. Liên đến thăm, hai người trở nên thân nhau và thư từ qua lại một thời gian dài. Liên cũng đến thăm mộ Marchadier, nói lời xin lỗi: “Cám ơn mối tình của anh và xin anh hiểu cho rằng mỗi người ở một chiến tuyến khác nhau”.

*****

Còn về Nghiêm, Liên được biết, khi hết chiến tranh năm 1954, Nghiêm trở lại Hà Nội tìm Liên thì biết Liên đi rồi. Nghiêm đã thốt lên:

Những dấu chân em mất hẳn rồi,
Thế là tôi đã phá đời tôi…

Năm 1975, sau khi miền Nam bị chiếm, Nghiêm vào Sài Gòn tìm Liên một lần nữa, mà sao tìm thấy được. Nghiêm như mất hồn, lòng tan nát. Lý tưởng mình theo đuổi thì bị ruồng bỏ, người mình yêu thì đã bỏ ra đi. Nghiêm nhiều lần làm đơn xin xét lại để phục hồi đảng tịch nhưng vô hiệu. Sau này, trong tình trạng mất ân sủng lại bị trù dập, Nghiêm phải lấy những bút danh khác nhau để dịch sách kiếm sống. Nghiêm, người của một mối ân tình và là mối tình đầu. Năm 1990, hai người liên lạc lại được. Họ hẹn gặp nhau tại Hà Nội, nhưng Nghiêm mất năm 1992, trước ngày Liên trở về. Một lần họ nữa lại lỡ hẹn!

Liên về Việt Nam, tìm đến ngôi mộ Nghiêm ở một tỉnh sát biên giới Hoa Việt, thắp nén hương. Con gái Nghiêm đưa cho Liên tất cả tác phẩm và những gì mà Nghiêm đã viết. Liên mang về Mỹ, khi ngồi xem lại, Liên gặp bài thơ Dấu Chân Em mà Nghiêm đã làm khi trở lại Hà Nội tìm Liên mà không gặp. Có một đoạn, như một lời tiên tri, thấy mà thật xót xa:

Là dấu chân em từng để lại
Một lần qua đó, giữa tim anh
Em về, theo dấu bàn chân ấy
Sẽ thấy anh nằm dưới cỏ xanh

Cuối cùng, cả ba người – một sĩ quan viễn chinh Pháp, một Quốc Gia, một Cộng sản, ở ba giới tuyến đối nghịch với nhau trên một đất nước tang thương, trong một thời khói lửa – đều đi vào thiên thu, không còn ai nữa. Chỉ còn lại Liên, cuối cùng cũng phải bỏ cái miền đất khốn đốn đầy hận thù ấy mà ra đi…

*****

Ngày cuối cùng của chị, tôi nhận được điện thoại của con gái chị, báo là bác sĩ cho biết chị chỉ còn vài ngày nữa, bây giờ chị chỉ nằm yên. Tôi nói chuyện với chị. Tôi không hiểu chị có nghe được tôi không, nhưng cháu tôi nói, cậu cứ nói đi, mẹ cháu sẽ hiểu. Tôi nói những gì không còn nhớ hết nhưng tôi đã nói là chị bình tâm, chị đã sống một cuộc đời thật trọn vẹn. Tôi cũng nhắc đến quyển kịch thơ Viễn Khách tôi đã làm xong cho chị, còn quyển thứ hai tôi đã soạn xong hơn hai trăm trang và nay mai sẽ hoàn thành… Tôi mong là trong tâm thức cuối cùng, chị hiểu được những lời tôi nói.

Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, cháu tôi gọi lại, báo tin chị vừa ra đi, trước ngày hẹn của bác sĩ. Cô cháu cũng cho tôi biết, sau khi nghe tôi nói, hơi thở của chị dịu xuống và ra đi thanh thản. Chị mất năm 2020, đám tang của chị diễn ra vào thời đại dịch. Buổi sáng tại nghĩa trang, số người giới hạn, đeo khẩu trang và đứng xa nhau. Bình tro của chị được chôn bên cạnh mộ anh An, người chồng chị. Hai anh chị đã sống bên nhau 35 năm. Tôi cùng các con chị đến đặt những bông hồng lên ngôi mộ mới. Cơn gió nhẹ đã đến lật trang cuối cuốn trường thiên, saga của cuộc đời chị.

*****

Ít tháng sau, tôi hoàn tất cuốn thứ hai và đem in cuốn hồi ký của chị. Tôi rút gọn xuống còn khoảng 250 trang, lấy tên là Đi Vào Khói Lửa. Ngày giỗ đầu chị, tôi gọi cô cháu, nếu có đi thăm mộ mẹ, nhớ mang cuốn sách ra mộ đốt để chứng tỏ tôi đã hoàn thành lời hứa của tôi mà chị mong đợi.

Tưởng như chuyện đã xong, chuyện quá khứ đã qua rồi, tôi nghĩ tìm cách thanh toán mấy thùng đựng các trang hồi ký và thư từ của chị cùng những người liên hệ đang choán một chỗ lớn trong nhà mấy tháng qua.Tôi gọi cô cháu gái, cô nói tùy ý cậu, nhưng cô biết ý là tôi tự tay không dám hủy bỏ và nói sẽ đến lấy và xem lại rồi đem đi “recycle”. Nhưng khi cô soát lại mấy thùng giấy và đọc cuốn sách mà tôi soạn, cô biết rõ và hiểu rõ hơn về cuộc đời của mẹ cô. Cô cho tôi biết cô sẽ dịch cuốn này sang Anh ngữ, cốt để chị em, con cháu của cô biết về người mẹ, người bà có một cuộc đời trên mức bình thường.

Suốt mấy tháng trời, cô gọi tôi gần như hàng ngày, hỏi về những từ ngữ, địa danh và những khúc mắc của lịch sử Việt Nam và nhất là những diễn biến bất ngờ trong các cuộc kỳ ngộ của mẹ cô. Cô cũng truy tìm trên Google để biết làng mạc, những trại giam và những cuộc hành trình đi bộ ròng rã trong các chiến khu của mẹ cô thời ly loạn. Cuối cùng cô hoàn thành. Cuốn bằng Anh ngữ được đặt tên là Into the Fire. Tôi đem đi in, trang bìa hai cuốn được con gái của cô minh họa.

Tôi đọc lại cả hai cuốn, tự nhiên cảm thấy mình còn phải làm một cái gì nữa. Nhân có sự quen biết mấy người trong Chương trình Literature & Humanities-Community Engagement Services của Seattle Public Library, tôi gửi thử cuốn Into the Fire để hỏi ý kiến của mấy cô ra sao, không ngờ họ trả lời là họ muốn tổ chức một cuộc phỏng vấn trên Zoom như họ thường làm để giới thiệu các tác giả và sách của họ. Nhưng sau đó, thư viện biết thêm là tác giả đã qua đời, nên ngưng lại.
image.png

Lúc nào trong trí tưởng tượng, tôi cũng mong có một ngày, một nhà sản xuất, đạo diễn phim ảnh nào đó biết đến câu chuyện Liên và dựng thành phim, như những cuốn phim trường thiên mà tôi từng hâm mộ. Tôi hình dung những cảnh như khi Liên rời Hà Nội trở về quê lao vào cuộc kháng chiến; cảnh Liên bị bắt và được người sĩ quan Pháp không hãm hại mà còn cảm mến muốn cưới làm vợ; cảnh Liên được đưa trốn qua sông và bị Việt Minh đưa vào trại giam vì nghi ngờ làm gián điệp của Pháp…

Cảnh gặp người chiến sĩ Việt Quốc bị cùm và mẩu giấy định mệnh khi người này bị đưa khỏi trại và nghĩ là sẽ bị thủ tiêu; cảnh Liên được một đảng viên Cộng sản quyền thế nhưng lãng mạn cứu thoát khỏi trại giam trở thành một mối duyên văn thơ; cảnh người chiến sĩ Việt Quốc giữ mảnh giấy báo trở lại Hà Nội tìm Liên và cả hai cùng nhau theo một triệu người di cư vào Nam khi đất nước chia đôi. Rồi cảnh 20 năm sau, hai người lại đưa được gia đình tìm cách vượt biển tới miền đất hứa… Tất cả lồng trong khung cảnh của một thời nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam.

Và, cảnh cuối cùng sau khi chồng chết, Liên đi tìm hai người xưa để trả ơn; cảnh Liên sang Pháp ngồi bên mộ người sĩ quan viễn chinh, như một cánh hoa thời ly loạn; cảnh Liên về Việt Nam ngồi bên mộ người cán bộ Cộng sản đã bị khai trừ khỏi đảng, như một mối tình thiên thu. Sau nữa là cảnh Liên ngồi một mình viết hồi ký trong một căn phòng cao niên; cảnh đám tang thời đại dịch và nấm mộ mới của Liên bên cạnh người chồng Việt Quốc, như một định mệnh an bài.

Tôi luôn tin rằng ý nghĩa câu chuyện của đời chị mãi sẽ là một tuyệt phẩm./-

Tháng Mười 2021