CÁM ƠN TÁC GIẢ CÓ NHẮC QUA CẦU VĨNH ĐIỆN LÀM CHÚNG TÔI NHỚ ĐẾN NGÔI NHÀ BÀ NHẠC CỦA ĐỒNG MÔN LÊ ĐÌNH KỊP (DS14) Ở BÊN CHÂN CẦU TỪ PHÍA HỘI AN RA ĐÀ NẴNG- TRƯỚC TẾT MẬU THÂN 68 CHẲNG BAO LÂU ...
ĐỨNG TRÊN CẦU NHÌN DÒNG NƯỚC ĐỤC NGÀU, CUỒN CUỘN, ÂM VANG CHẢY TỪ TRƯỜNG SƠN QUA VÙNG ĐẤT MÕ THAN NÔNG SƠN, XUÔI RA BIỂN ... THẤY NÔN NAO TRONG LÒNG KHÔNG NHƯ NHỮNG DÒNG NƯỚC ÊM ĐỀM, LỜ ĐỜ, LẶNG LẼ CỦA SÔNG TIỀN, SÔNG HẬU TRONG NAM./-Mt68
_______________________
Hồi ký
QUÊ NGOẠI, NGÀY MỚI ĐI HỌC
Đỗ hữu Long
Mỗi ngươì chúng ta thường dễ dàng hôì tưởng những chuyện xảy ra trong
qúa khứ thật xa xưa, nhưng khi trải ra trên trang giấy đều cần đến sự tập
trung và cô gắng, nếu không sẽ nản chí và bỏ dở . Nhân dịp noí về quê
hương, tôi muốn nhắc đến quang cảnh một đîạ phương xứ Quảng, khi mơí
bắt đàu làm quen vơí trường lớp.
Mặc dù mang giấy khai sanh xã Naị Hiên,Thị xã Đà Nẵng quê nôị, tôi
thật sự sinh ra taị xã Uãt Lủy, Phủ Điện Bàn, lá nhau được thả trôi trên dòng
sông Vĩnh Điện . Ông bà ngoaị tôi chăm sóc,dạy dỗ, nuông chiều tôi ngay từ
khi mơí lọt lòng . Là một viên chức hưu trí của Nam Triều vớí vaì sào ruộng
công điền taị Nhị giáp và thu nhập hàng ngày từ một cửa hàng tạp hóa nhỏ
,ông ngoaị tôi nhất quyết bắt tôi phaỉ đi học khi vừa mơí lớn .
Thoạt tiên, bà ngoaị tôi dắt tôi đến nhà thầy Đỗ Trọng phiá sau chợ Vĩnh
Điện, gần nhà ông Án Hoằng để khai tâm cho tôi hai mươi bốn chữ caí và
tập đánh vần xuôi, ngược. Thầy Đỗ Trọng, ngươì làng La Qua, có học vấn
đủ dể làm thông phán, thừa phaí nhưng vì dính líu vơí một tổ chức chính trị
thơì bấy giờ nên sau khi được thả về nhà mở lớp dạy học. Môĩ khi trả tiền
học, bà ngoaị tôi biếu thêm thầy một goí thuôc lá ‘Melia’ hoặc vaì phong
bánh in. Ngay từ lúc nầy tôi đã nghe ông bà ngoaị tôi thường nhắc đến
câu:’Muốn con hay chữ phaỉ yêu mến thầy’. Ông ngoaị tôi cũng dạy thêm
cho tôi một số từ ngữ tiếng Pháp chỉ những vật dụng xung quanh mà bà
ngoaị tôi đùa cợt goị là tiếng tây ‘ba xí, ba tú’.
Ngày khai trường khi tôi đủ sáu tuôỉ, ông ngoaị tôi khăn áo chỉnh tê, cây
dù dươí nách, đơn xin nhập học trong tay, dắt tôi đến xin học lớp năm
trường công. Đây là cơ sở chi nhánh của trường Tiểu Học Tỉnh thường được
goị tắt là trường Tỉnh. Phòng học nầy xây gạch, lợp ngoí bên traí đường rẽ
từ quốc lộ 1 vào đến cưả Hữu.
Cửa Hữu là một trong bốn cưả Tiền, Hậu, Tả, Hữu của Thành Tỉnh
Quảng Nam. Từ năm 1946 trở về trước, những cư dân thuộc các làng Uãt
Lủy, La Qua, Thanh Chiêm đều nhìn thấy va dân chúng trong toàn tỉnh
Qủảng Nam đều biết đến một công trình kiến trúc ‘thành, hào cổ kính’ bên
phaỉ tỉnh lộ Vĩnh Điện - Hôị An nơi cây số 1-2, thơì bấy giờ quen goị là
Thành Tỉnh.
Cưả Tiền chỉ mở khi vua ngự đến. Các cưả còn laị (Hău, Tả, Hữu) được
mở ban ngày để dân chúng qua laị và giao dịch. Các tòa nhà bên trong
Thành là công sở hoặc công ốc cuả các viên chức Nam Triều, từ Tổng Đốc
đến Bố Chánh, Án Sát, Lảnh Binh.Ông Lảnh Binh lúc bấy giờ ngươì Huế,
có hai con trai học cùng lớp vơí tôi: anh Phan lục Lăng và Phan bát Giác.
Sau cuộc đôỉ đơì mùa thu 1945, cũng taị một công đường trong Thành
Tỉnh nầy, chính quyền đương thơì mở một phiên toà nhiều ngày xét xử
những ngươì đã làm việc vơí chính phủ bảo hộ và những quan laị mơí ngày
nào giữ ngôi vị cai trị tỉnh Quảng Nam. Là một đưa trẻ tò mò, tôi theo chân
đám nhi đồng Vĩnh Điện đến xem nơi hôị họp ấy. Lần đàu tiên tôi ngẩn ngơ
nhìn thấy một phụ nữ trẻ, khỏan ngoaì đôi mươi, tóc cắt ngắn, đôị mũ ‘calô’,
vận âu phục ngắn lộ đôi chân daì và tròn trĩnh, mang vũ khí, len loĩ giữa
hàng ngươì và hò hét những khẩu hiệu khơỉ đàu bằng những tiếng hô ‘yêu
cầu xử tử ...’ hoặc ‘đã đão việt gian ...’. Tòa kêu án nhiều ngươì nhưng tôi
nhớ kỹ trường hợp ông Trần ngọc Banh bị án tử hình và ông Nghè Đào tức
Phạm xuân Đào bị án tù nhiều năm.
Sau đó, ông Trần ngọc Banh bị xử bắn công khai trên một baĩ đất tả ngạn
chân cầu Câu Lâu. Khi học lớp nhì taị chùa Bà Mụ, Hôị An tôi là bạn cùng
lớp vơí anh Trần ngọc Hạnh con trai ông Trần ngọc Banh. Anh Trần ngọc
Hạnh cũng có ngươì em gái xinh đẹp nhưng vắn số.
Cụ Nghè Đào không phaỉ là viên chức chính quyền cũng không phaỉ là
ngươì khoa bảng đỗ đạt. Cụ Nghè Đào là một phú hào cuả Phủ Điện Bàn,
khu vực Tây Nam Đà Nẵng thân quen vơí Tổng Đốc Ngô đình Khôi, tước vị
Nghè là phẫm hàm do triều đình ban tặng. Cụ Nghè Đào có nhiều con gaí và
một ái nữ là chị Phạm thị Quế cũng là bạn cùng lớp đệ lục trường Trần quí
Cáp vơí chúng tôi năm 1952. Năm 1953, trong lúc nhiều ngươì hồi cư về
thành phố, chị Quế laị trở ra vùng kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp Định
Geneve cụ Nghè Đào được thả về nhà, chị Quế tiếp tục đi học laị và theo
học Y Khoa Huế. Chị Quế tham gia phong trào tranh đấu miền Trung
chống chính quyền Việt Nam Cộng Hoà giữa thập niên 1960, trong cùng
thơì gian đó cụ Nghè Đào vì cư ngụ trong vùng xôi đậu, bị cộng sản bắt một
lần nưã và vĩnh viễn mất tích!
Cuôí năm 1946, khi cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ, quân Pháp từ Đà
Nẵng đánh tỏa ra khu vực phía Nam quốc lộ 1, chính quyền đuơng thơì sau
khi giật mìn sâp cầu Vĩnh Điện, huy động dân chúng xa gần trong Phủ Điện
Bàn đến đập phá thành Tỉnh theo chính sách tiêu thổ kháng chiến. Năm
1990, trên đường về thăm laị Hôị An, nhìn vào nơi hoang tàn ấy, tôi nhớ laị
Tùy Bút của Nguyẽn Tuân có đoạn than phiền giùm ngươì dân xứ Quảng
phaỉ bỏ ra gần một ngày đi bộ để có hai con dấu trên một tờ Giấy Phép, một
dấu của chính quyền Tỉnh và một dấu cuả Tòa Sứ, đóng taị Hôị An !
Cô trợ Cúc, giáo viên dạy lớp năm còn goị là cours enfantin. Cô Cúc
ngươì Huế, con gaí lớn tên Bích Tiên và con trai tên Viện, nhà ở ngả ba
quốc lộ 1và đường rẽ về Hội An. Học trò lớp năm chúng tôi được cô giáo
dắt qua trường Tỉnh tham dự lễ mưng sinh nhật vua Bảo Đaị. Tất cả học sinh
y phục chỉnh tề, áo daì đen quần trắng, sắp hàng theo từng lớp trong sân
trường, trươc một bàn hương án có lọng che và hai tấm chân dung to lớn:
vua Bảo Đaị và thống chế Petain. Cử hành lễ, các anh lớp trên hát bài
‘Marechal, nous voilà!’, thầy Hoằng, giáo viên dạy lớp Nhất đọc diễn văn và
kết thúc bằng lơì cầu chúc :’Vạn thọ vô cương, Hoàng Đế vạn tuế!’ Học trò
chúng tôị được dặn dò từ trước, vung tay hô tiếp :’Hoàng Đế vạn tuế, vạn
tuế!’
Tôị được kể là học trò trường Tỉnh khi ngôì vào lớp tư còn goị là cours
preparatoire. Ông Hiệu Trưởng lúc bấy giờ là thầy Đốc Kép. Cụ Đốc ngưoì
Quảng Bình, dáng ngươì mảnh khảnh thường mặc áo lương daì màu đen,
nhà ở gần bến xe Vĩnh Điện cạnh Quốc lộ 1. Trường Tỉnh có lôí kiến trúc
như trương Quốc Học (Huế) thu nhỏ. Từ cổng đi vào là một sân cỏ vơí cột
cờ chính giữa, kế tiếp một nhà chơi (preau) maí ngoí, nền xi măng và hai
dãy phong học hai bên. Tôi vẫn còn nhớ quang cảnh cuả lớp Tư, lớp học đầu
đơì nầy :
Cuôí phòng, một kệ gổ trưng bày các thành tích thủ công bằng tre cuả
học sinh các năm trước như đủa ăn, đủa bếp,rỗ, sàng, gàu dai, gàu sòng, xe
đạp dẫn nước v. v...hoặc bằng đất sét như traí xoaì, naỉ chuối, chén, dĩa, con
gà, con trâu ...Trước mặt hai dãy bàn học sinh, một bục gỗ (estrade) vơí hai
cấp bước lên, trên đó bàn thầy giáo bên traí và chính giữa một tấm bảng đen
gắn sát vào tường . Bước vào từ cưả chính, moị ngươì dều nhìn thấy rõ trên
bức tường đôí diện hàng chữ ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ dược viết lớn bằng
kiểu chữ in. Trên vách tường nôí liền vơí cưả chinh, ngay tầm mắt học sinh
là những tấm bích chuơng minh họa cuộc khơỉ nghĩa của Hai Bà Trưng,
chiến thắng Bạch Đằng Giang, trận phục kích taị Aỉ Chi Lăng. Lần đàu tiên
đọc quốc sử và nhìn thấy cảnh Hai Bà trên mình voi phất cờ, vung kiếm; các
chiến thuyền của quân Mông Cổ nằm chênh vênh trên những cọc nhọn; Liễu
Thăng trúng tên đang gục ngã từ lưng ngưạ, khơỉ sinh nơi tôi cảm giác xao
xuyến khác thường và sự rung động đó còn đeo đẳng cho đến ngày nay!
Thầy trợ Hoán, ngươì làng Phú Chiêm dạy chúng tôi năm lớp Tư. Thơì
bấy giờ Pháp văn được dạy trong các baì ngữ vựng (vocabulaire), tập
đọc(lecture) và chính tả(dictée). Trong giò chính tả (dictêe), thầy kéo tấm
màn che, goị một học sinh cao lớn lên đứng trước bảng cầm phấn cùng viết
baì vơí tất cả các bạn trong lớp. Cuôí cùng, học trò trao đổi baì lẫn nhau, tấm
màn được kéo qua và thầy chấm baì trên bảng làm mẫu dể cả lớp ghi lôĩ baì
viết của ngươì bạn.
Lớp tư cũng học sử ký, đîa dư, học thuôc lòng, viết chính tả và đặt câu
bằng Việt ngữ. Mỗi tuần vào buôỉ sáng thứ hai, thầy giáo viết trên bảng một
câu cách ngôn khi thì Hán Việt như là :’Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân’(điều gì
mình không muốn thì đừng làm cho ngươì khác) hoặc ‘Ấu bất học lão hà
vi’(nhỏ không học,lớn làm gì); khi thì thuần Việt :’Gần mực thì đen, gần đèn
thì sáng’ hoặc ‘có công maì sắt,có ngày thành kim’. Sau đó thầy dành ra một
khỏảng thơì gian giaĩ thich chu đáo.
Thầy trợ Hoán cũng nôĩ tiếng đánh học trò ! Thầy để nhiều roi dươí bục
gỗ Môĩ khi học trò phạm lôĩ do nghịch ngợm, phá phách,đánh lộn, không
thuộc baì,... thầy bảo nằm sấp trên bục và đánh nhiều roi vào mông . Khi làm
thủ công cây thước một mét bằng thanh tre hoặc bằng nẹp gổ, các bạn lớn
tuôỉ dặn chúng tôi khắc thật sâu các vạch decimet để khi dùng làm roi dễ gãy
ra nhiều đoạn ngắn.Một vaì bạn khác cũng tìm cách đánh cắp và hưy bỏ các
roi gây nhiều đau xót.
Mùa nắng chúng tôi thường đi học sớm, tụ tập trước cổng trường trò
chuyện, bắn bi, đánh tổng (đánh khăn), ăn qùa... trong khi chờ đơị hôì trống
lần thứ nhất (une fois) để uà vào sân và nhà chơi. Hàng qùa thường bày
trong các thúng, mẹt gồm có ôỉ, mía, bánh in, kẹo đậu phộng và vaì thứ kẹo
đặc biệt xứ Quảng : kẹo cau,có phần nâu đậm bên trong giống như miếng
cau bổ tư; kẹo cà, giống như traí cà pháo; kẹo ú, có góc cạnh như bánh ú thu
nhỏ.
Lớp tư có khoảng bốn muơi học sinh vơí bốn hoặc năm nữ sinh. Các
ngươì bạn cùng lớp nhà ở thị trấn Vĩnh Điện gồm các anh Trần văn Đào con
bác Phó Nghi hiện cư ngụ taị San Jose, anh Quảng con bác Xã Liệu và anh
Lê lộc Thơ - dòng doĩ nhà Lê - con bác Mục Chỉnh, anh Võ Thành, cựu
Thiếu Tá, con bác Chánh Tị đã chết khi định cư taị Mỹ. Vaì ngươì bạn đặc
biệt nay không biết lưu lạc nơi đâu: Anh Mẫn dân đồng ruộng La Qua
chuyên nuôi chim sẻ và dế đá, anh Chất con ông Phó Ngôn nhà ở gần cầu
Giáp Ba, bị tật hay nháy mắt, ngươì nhiều tuôỉ và cao lớn nhất lớp thường
chỉ huy chúng tôi đánh lộn vơí các lớp trên.
Buôỉ chièu vào giờ tập thể dục, thầy Hoán đưa cả lớp ra sân vận động bên
phaỉ của trường. Thầy dạy chúng tôi những cử động tay, chân, đầu gôí, lưng,
cổ ...Thầy cũng dạy chúng tôi baì vè tập thể dục mang sắc thaí đặc biệt ‘vang
bóng một thơì’, tôi xin chép ra đây để độc giả có thể thấy được một phần tư
tưởng ngày xưa.
‘Ngày xưa ai đỗ ông nghè,
Trở về làng cũ, ngưạ xe rộn ràng,
Võng điều, áo gấm xênh xang,
Theo sau lũ lượt dân làng đón quan.
Bên đường lính xếp từng hàng (học sinh xếp hàng).
Dơ tay theo dọc chiều ngang cảng ngươì (dơ tay ngang vai).
Nhìn kia, cao vut trên trơ (ngẩng cổ).
Tầng mây ngủ sắc, rước ngươì hiễn vinh.
Chiêng khua, trống đánh thình thình (nắm tay đưa lên, đập xuống) .
Cò co chân ngủ, giật mình vôị bay (hai tay ôm đàu gôí xếp trước
ngực, vung tay nhảy dựng lên).
Dân quê nghỉ việc cấy cày,
Vaí chào quan lớn, mặt mày vui tươi (chuyển động tay và lưng cuí
xuống, ngẩng lên)
Trẻ con nhảy múa reo cươì (nhảy taị chỗ),
Chân sau, chân trước vang lơì hát ca (chạy taị chỗ)
Rước quan về đến cưả nhà,
Phu khiêng mệt nhọc thở ra, hít vào (động tác hít thở)
Học trò lớp nhất và lớp nhì thương được thầy Quýnh, huấn luyện viên
(moniteur) hướng dẫn tập thể dục. Các anh ấy tập nhảy cao, nhảy xa, chạy
nhanh và các động tác cơ bản thao diễn. Tôi thán phục và nhớ maĩ cử chỉ uy
nghiêm của thầy Quýnh và đòan học sinh vừa đi đúng nhịp, vưa ca hát
những baì hành khúc phổ biến lúc bấy giờ. Cách đây mấy năm, trong một
buôỉ họp măt cựu học sinh trung học tư thục Hôị An, tôi miên man kể
chuyện Vĩnh Điện ngày xưa và băt nhịp baì ca ‘Thiếu niên hành khúc ‘ của
Lưu hữu Phước .Tất cả thầy và bạn hiện diện cùng hòa điệu hát theo một
cách thích thú. Tôi nghĩ rằng có lẽ họ cũng như tôi đang hôì tưởng những
xúc động trong sáng thơì niên thiếu trong những đọan ca:’Hồn trong trắng
cùng gắng noi gương hiếu trung, thiếu niên Lạc Hồng mau tìm vết anh hùng
...’
Sân vận động nầy cũng là nơi dân chúng Điện Bàn tổ chức cuộc mit ting
lịch sử năm 1945, chứng kiến cụ Phan Khôi trên diễn đàn trình bày vơí đồng
bào tinh nhà về sự tranh chấp quốc cộng không những trên bình diện tòan
quốc mà ngay chính trong gia đình cụ. Cụ Phan cũng chỉ trích sự sai traí của
chủ nghĩa cộng sản, xác định lập trường chống ngoaị xâm dành độc lâp của
minh và của cac dảng phaí quốc gia. Cụ Phan đã đi vào lịch sử vơí biến cố
Nhân văn giai phãm, biểu lộ khí tiết của một nhân sĩ Quảng Nam.
Vào khoảng cuôí năm học, một nhóm thanh thiếu niên có danh xưng
‘Quốc Anh Đoàn’ từ xa đến tổ chức đêm lửa traị taị sân trường. Tôi vẫn còn
nhớ một vaì tiết mục, đó là màn kịch vui phỏng theo baì tập đọc kể chuyện
nhiều ngươì họp sức đảy một tảng đá lớn qua một bên để lấy lôí đi, hoạt
cảnh ‘Đêm Trong Rừng’ và vở kịch thơ ‘Hiệp Sĩ Hạ Sơn’.
Hoạt cảnh ‘đêm trong rừng’ biểu diễn những động tác của một nhóm trai
trẻ thao thức giưã rừng khuya, đang bày tỏ quyết tâm và ý chi dựa theo lơì ca
của bản nhạc ‘Đêm trong rừng’ của nhạc sĩ Hoàng Quí. Phần điệp khúc,
ngươì huynh trưởng đứng giữa khơỉ xướng và các bạn trẻ ngôì vòng quanh
lập laị như là tiếng vọng từ rừng sâu, đỉnh nuí: A! ngôì trong lớp sương đêm,
ta cùng cất cao lơì nguyền. Thề đồng tâm ta quyết thờ sông nuí (lặp laị), đem
tâm can xây đắp ngày tươi sáng(lặp laị). Một lòng son (lặp laị), bền tâm chí
(lặp laị), vì non nước (lặp laị), có sá chi lao lung, anh em ơi im nghe vang
âm trong rừng (lặp laị) .
Riêng vở kịch thơ ‘Hiệp sĩ hạ sơn’, tôi được xem một lần nưã do đoàn
thanh niên taị Vĩnh Điện trình diễn trước khi chiến tranh bùng nổ, anh
Tuyển, thầy dạy tôi lớp hè đóng vai sư phụ. Khi tôi học lớp nhất trường tiểu
học Hôị An tại chùa Bà Mụ, năm 1950, anh Tiếu, công chức Ty Tiểu học,
tức cố Đaị Tá Trịnh Tiếu, hướng dẩn chúng tôi trình diễn cũng vở kịch đó
nhân lễ phát phần thưởng cuôí năm. Tìm hiểu, tôi đuọc biết rằng đây là vở
kịch truyền thống của hướng đạo Viêt Nam khi họp traị Bạch Mã do tráng
sinh Nguyễn xuân Tâm, Đạo trưởng Đạo An Haỉ, giáo viên taị Đà Nẳng
sáng tác khoảng 1940. Tôi cãm thấy ân hận nếu vở kịch nầy bị mai một, tâm
sự của một thế hệ đàn anh bị đi vào quên lãng, vì vậy tôi xin ghi laị dươí đây
những đoạn chưa quên để độc giả xa gân tiêp tay bổ túc những phần thiếu
sót, hầu có thể cống hiến cho các đoàn thể sinh viên, học sinh, hướng đạo,
phật tử,... một tiêt mục văn nghệ thích hợp đôí vơí lớp tuôỉ mơí vào đơì .
Một vaì đọan kịch còn nhớ như sau :
( Mở màn )
Sư phụ : Thầy sung sướng nhìn các con đông đủ .
Từ bốn phương về dự lễ hạ sơn.
Trông áo khăn còn phủ buị đường trường,
Thầy chắc kẻ theo chân càng phấn chấn.
Hiệp sĩ : Thưa sư phụ, một đêm trường tự vấn,
Ánh muôn sao soi sáng cả lòng con.
Chân lý cao siêu, hạnh phúc vô cùng,
Con đã rõ và lòng con đã quyết.
Sư phụ : Con đã quyết bằng ngàn lơì tâm huyết ,
Cũng không bằng một đêm trọn tĩnh tâm.
Văy thầy khuyên con, trước khoí hương trầm,
Hãy chích huyết và đọc lơì tuên thệ.
Hiệp sĩ : ( dùng dao nhỏ chich huyết, giọt vào chén nhỏ, quì xuống và
nâng chén lên )
Tôi là kẻ lên non từ thuở bé,
Tìm tôn sư để học phép kiếm cung.
Tập sống thanh cao, thử dạ anh hùng,
Nay tôi nguyện bước lên đường hiệp sĩ.
Lãy danh dự, xin thề cao chí khí ,
Sẽ luôn luôn vì tổ quốc hết lòng
Giữ đạo làm ngươì: hiếu, nghĩa, tín, trung,
Và dẫu chết, tôi thề không đê hạ.
Vì dân tộc, tôi hy sinh tất cả.
Đường thênh thang tôi rong ruôĩ vó câu.
Vũ trụ bao la, thượng đế nhiệm mầu,
Xin chứng gíam lơì thề tôi đã hưá.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Sư phụ : ( trao khăn quàng )
Đây là khăn toàn phaí của chúng ta.
Màu thanh thiên, biểu hiệu ý vô tà,
Con mang lấy vơí một lòng chính đaị.
(trao kiếm)
Đây kiếm báu cuả ngưoì xưa để laị,
Đã truyền tay bao thế hệ anh hùng,
Nay trao laị cho một trang hiệp sĩ.
Hiệp sĩ : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Sư phụ : Này đệ tử, hãy tiến dâng ngọn lưả,
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tình đồng đạo sẽ theo con ngoaì vạn lý.
Hiệp sĩ : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Sư phụ : Thôi ! con đi, chiêng đã gióng lên đường,
Trơì phù hộ cho con nhiều hạnh phúc.
(Hạ màn )
Sau đêm lửa traị, thầy giáo hướng dẫn chúng tôi may quần ‘sọt’ nâu, áo
‘sơ mi’ trắng và một vuông khăn vàng vấn trên đàu buộc môí sau gáy, chuẩn
bị gia nhập Quôc Anh Đoàn. Đồng phục đã sẵn sàng, tôi tung tăng ngắm
nghía nhưng thơì cuộc biến chuyển qúa nhanh nên không còn ai nhắc đến
nưã. Sau nầy, thỉnh thoảng tôi hoỉ thăm vaì vị cao niên có kiến thức và kinh
nghiệm chính trị nhưng không ai biết đoàn thể nầy và không một vết tích gì
lưu laị trong sử sách.
Ngày bắt đàu muà nghỉ hè năm đó, mẹ tôi dắt tôi đến bến xe Vĩnh Điện
thuê một xe kéo đi vào Phú Chiêm. Mẹ tôi và tôi đến thăm thầy trợ Hoán.
Mẹ tôi noí lên lơì tạ ơn Thầy dạy dỗ con trẻ, cầu chúc thầy và gia quyến sưc
khoẻ và biếu qùa. Tôi theo mẹ tôi ra xe đang đơị trở về nhà vơí cãm xúc lâng
lâng khó tả và cũng khó quên.
San Jose. 2/08