Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label QGHCDoHuuLongSJ. Show all posts
Showing posts with label QGHCDoHuuLongSJ. Show all posts

Monday, 9 September 2024

CÁM ƠN TÁC GIẢ CÓ NHẮC QUA CẦU VĨNH ĐIỆN LÀM CHÚNG TÔI NHỚ ĐẾN NGÔI NHÀ BÀ NHẠC CỦA ĐỒNG MÔN LÊ ĐÌNH KỊP (DS14) Ở BÊN CHÂN CẦU TỪ PHÍA HỘI AN RA ĐÀ NẴNG- TRƯỚC TẾT MẬU THÂN 68 CHẲNG BAO LÂU ... 

ĐỨNG TRÊN CẦU NHÌN DÒNG NƯỚC ĐỤC NGÀU, CUỒN CUỘN, ÂM VANG CHẢY TỪ TRƯỜNG SƠN QUA VÙNG ĐẤT MÕ THAN NÔNG SƠN, XUÔI RA BIỂN ... THẤY NÔN NAO TRONG LÒNG KHÔNG NHƯ NHỮNG DÒNG NƯỚC ÊM ĐỀM, LỜ ĐỜ, LẶNG LẼ CỦA SÔNG TIỀN, SÔNG HẬU TRONG NAM./-Mt68

_______________________


 Hồi ký

QUÊ NGOẠI, NGÀY MỚI ĐI HỌC

Đỗ hữu Long


Mỗi ngươì chúng ta thường dễ dàng hôì tưởng những chuyện xảy ra trong

qúa khứ thật xa xưa, nhưng khi trải ra trên trang giấy đều cần đến sự tập

trung và cô gắng, nếu không sẽ nản chí và bỏ dở . Nhân dịp noí về quê

hương, tôi muốn nhắc đến quang cảnh một đîạ phương xứ Quảng, khi mơí

bắt đàu làm quen vơí trường lớp.

Mặc dù mang giấy khai sanh xã Naị Hiên,Thị xã Đà Nẵng quê nôị, tôi

thật sự sinh ra taị xã Uãt Lủy, Phủ Điện Bàn, lá nhau được thả trôi trên dòng

sông Vĩnh Điện . Ông bà ngoaị tôi chăm sóc,dạy dỗ, nuông chiều tôi ngay từ

khi mơí lọt lòng . Là một viên chức hưu trí của Nam Triều vớí vaì sào ruộng

công điền taị Nhị giáp và thu nhập hàng ngày từ một cửa hàng tạp hóa nhỏ

,ông ngoaị tôi nhất quyết bắt tôi phaỉ đi học khi vừa mơí lớn .

Thoạt tiên, bà ngoaị tôi dắt tôi đến nhà thầy Đỗ Trọng phiá sau chợ Vĩnh

Điện, gần nhà ông Án Hoằng để khai tâm cho tôi hai mươi bốn chữ caí và

tập đánh vần xuôi, ngược. Thầy Đỗ Trọng, ngươì làng La Qua, có học vấn

đủ dể làm thông phán, thừa phaí nhưng vì dính líu vơí một tổ chức chính trị

thơì bấy giờ nên sau khi được thả về nhà mở lớp dạy học. Môĩ khi trả tiền

học, bà ngoaị tôi biếu thêm thầy một goí thuôc lá ‘Melia’ hoặc vaì phong

bánh in. Ngay từ lúc nầy tôi đã nghe ông bà ngoaị tôi thường nhắc đến

câu:’Muốn con hay chữ phaỉ yêu mến thầy’. Ông ngoaị tôi cũng dạy thêm

cho tôi một số từ ngữ tiếng Pháp chỉ những vật dụng xung quanh mà bà

ngoaị tôi đùa cợt goị là tiếng tây ‘ba xí, ba tú’.

Ngày khai trường khi tôi đủ sáu tuôỉ, ông ngoaị tôi khăn áo chỉnh tê, cây

dù dươí nách, đơn xin nhập học trong tay, dắt tôi đến xin học lớp năm

trường công. Đây là cơ sở chi nhánh của trường Tiểu Học Tỉnh thường được

goị tắt là trường Tỉnh. Phòng học nầy xây gạch, lợp ngoí bên traí đường rẽ

từ quốc lộ 1 vào đến cưả Hữu.

Cửa Hữu là một trong bốn cưả Tiền, Hậu, Tả, Hữu của Thành Tỉnh

Quảng Nam. Từ năm 1946 trở về trước, những cư dân thuộc các làng Uãt

Lủy, La Qua, Thanh Chiêm đều nhìn thấy va dân chúng trong toàn tỉnh

Qủảng Nam đều biết đến một công trình kiến trúc ‘thành, hào cổ kính’ bên

phaỉ tỉnh lộ Vĩnh Điện - Hôị An nơi cây số 1-2, thơì bấy giờ quen goị là

Thành Tỉnh.


Cưả Tiền chỉ mở khi vua ngự đến. Các cưả còn laị (Hău, Tả, Hữu) được

mở ban ngày để dân chúng qua laị và giao dịch. Các tòa nhà bên trong

Thành là công sở hoặc công ốc cuả các viên chức Nam Triều, từ Tổng Đốc

đến Bố Chánh, Án Sát, Lảnh Binh.Ông Lảnh Binh lúc bấy giờ ngươì Huế,

có hai con trai học cùng lớp vơí tôi: anh Phan lục Lăng và Phan bát Giác.

Sau cuộc đôỉ đơì mùa thu 1945, cũng taị một công đường trong Thành

Tỉnh nầy, chính quyền đương thơì mở một phiên toà nhiều ngày xét xử

những ngươì đã làm việc vơí chính phủ bảo hộ và những quan laị mơí ngày

nào giữ ngôi vị cai trị tỉnh Quảng Nam. Là một đưa trẻ tò mò, tôi theo chân

đám nhi đồng Vĩnh Điện đến xem nơi hôị họp ấy. Lần đàu tiên tôi ngẩn ngơ

nhìn thấy một phụ nữ trẻ, khỏan ngoaì đôi mươi, tóc cắt ngắn, đôị mũ ‘calô’,

vận âu phục ngắn lộ đôi chân daì và tròn trĩnh, mang vũ khí, len loĩ giữa

hàng ngươì và hò hét những khẩu hiệu khơỉ đàu bằng những tiếng hô ‘yêu

cầu xử tử ...’ hoặc ‘đã đão việt gian ...’. Tòa kêu án nhiều ngươì nhưng tôi

nhớ kỹ trường hợp ông Trần ngọc Banh bị án tử hình và ông Nghè Đào tức

Phạm xuân Đào bị án tù nhiều năm.

Sau đó, ông Trần ngọc Banh bị xử bắn công khai trên một baĩ đất tả ngạn

chân cầu Câu Lâu. Khi học lớp nhì taị chùa Bà Mụ, Hôị An tôi là bạn cùng

lớp vơí anh Trần ngọc Hạnh con trai ông Trần ngọc Banh. Anh Trần ngọc

Hạnh cũng có ngươì em gái xinh đẹp nhưng vắn số.

Cụ Nghè Đào không phaỉ là viên chức chính quyền cũng không phaỉ là

ngươì khoa bảng đỗ đạt. Cụ Nghè Đào là một phú hào cuả Phủ Điện Bàn,

khu vực Tây Nam Đà Nẵng thân quen vơí Tổng Đốc Ngô đình Khôi, tước vị

Nghè là phẫm hàm do triều đình ban tặng. Cụ Nghè Đào có nhiều con gaí và

một ái nữ là chị Phạm thị Quế cũng là bạn cùng lớp đệ lục trường Trần quí

Cáp vơí chúng tôi năm 1952. Năm 1953, trong lúc nhiều ngươì hồi cư về

thành phố, chị Quế laị trở ra vùng kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp Định

Geneve cụ Nghè Đào được thả về nhà, chị Quế tiếp tục đi học laị và theo

học Y Khoa Huế. Chị Quế tham gia phong trào tranh đấu miền Trung

chống chính quyền Việt Nam Cộng Hoà giữa thập niên 1960, trong cùng

thơì gian đó cụ Nghè Đào vì cư ngụ trong vùng xôi đậu, bị cộng sản bắt một

lần nưã và vĩnh viễn mất tích!

Cuôí năm 1946, khi cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ, quân Pháp từ Đà

Nẵng đánh tỏa ra khu vực phía Nam quốc lộ 1, chính quyền đuơng thơì sau

khi giật mìn sâp cầu Vĩnh Điện, huy động dân chúng xa gần trong Phủ Điện

Bàn đến đập phá thành Tỉnh theo chính sách tiêu thổ kháng chiến. Năm

1990, trên đường về thăm laị Hôị An, nhìn vào nơi hoang tàn ấy, tôi nhớ laị

Tùy Bút của Nguyẽn Tuân có đoạn than phiền giùm ngươì dân xứ Quảng


phaỉ bỏ ra gần một ngày đi bộ để có hai con dấu trên một tờ Giấy Phép, một

dấu của chính quyền Tỉnh và một dấu cuả Tòa Sứ, đóng taị Hôị An !

Cô trợ Cúc, giáo viên dạy lớp năm còn goị là cours enfantin. Cô Cúc

ngươì Huế, con gaí lớn tên Bích Tiên và con trai tên Viện, nhà ở ngả ba

quốc lộ 1và đường rẽ về Hội An. Học trò lớp năm chúng tôi được cô giáo

dắt qua trường Tỉnh tham dự lễ mưng sinh nhật vua Bảo Đaị. Tất cả học sinh

y phục chỉnh tề, áo daì đen quần trắng, sắp hàng theo từng lớp trong sân

trường, trươc một bàn hương án có lọng che và hai tấm chân dung to lớn:

vua Bảo Đaị và thống chế Petain. Cử hành lễ, các anh lớp trên hát bài

‘Marechal, nous voilà!’, thầy Hoằng, giáo viên dạy lớp Nhất đọc diễn văn và

kết thúc bằng lơì cầu chúc :’Vạn thọ vô cương, Hoàng Đế vạn tuế!’ Học trò

chúng tôị được dặn dò từ trước, vung tay hô tiếp :’Hoàng Đế vạn tuế, vạn

tuế!’

Tôị được kể là học trò trường Tỉnh khi ngôì vào lớp tư còn goị là cours

preparatoire. Ông Hiệu Trưởng lúc bấy giờ là thầy Đốc Kép. Cụ Đốc ngưoì

Quảng Bình, dáng ngươì mảnh khảnh thường mặc áo lương daì màu đen,

nhà ở gần bến xe Vĩnh Điện cạnh Quốc lộ 1. Trường Tỉnh có lôí kiến trúc

như trương Quốc Học (Huế) thu nhỏ. Từ cổng đi vào là một sân cỏ vơí cột

cờ chính giữa, kế tiếp một nhà chơi (preau) maí ngoí, nền xi măng và hai

dãy phong học hai bên. Tôi vẫn còn nhớ quang cảnh cuả lớp Tư, lớp học đầu

đơì nầy :

Cuôí phòng, một kệ gổ trưng bày các thành tích thủ công bằng tre cuả

học sinh các năm trước như đủa ăn, đủa bếp,rỗ, sàng, gàu dai, gàu sòng, xe

đạp dẫn nước v. v...hoặc bằng đất sét như traí xoaì, naỉ chuối, chén, dĩa, con

gà, con trâu ...Trước mặt hai dãy bàn học sinh, một bục gỗ (estrade) vơí hai

cấp bước lên, trên đó bàn thầy giáo bên traí và chính giữa một tấm bảng đen

gắn sát vào tường . Bước vào từ cưả chính, moị ngươì dều nhìn thấy rõ trên

bức tường đôí diện hàng chữ ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ dược viết lớn bằng

kiểu chữ in. Trên vách tường nôí liền vơí cưả chinh, ngay tầm mắt học sinh

là những tấm bích chuơng minh họa cuộc khơỉ nghĩa của Hai Bà Trưng,

chiến thắng Bạch Đằng Giang, trận phục kích taị Aỉ Chi Lăng. Lần đàu tiên

đọc quốc sử và nhìn thấy cảnh Hai Bà trên mình voi phất cờ, vung kiếm; các

chiến thuyền của quân Mông Cổ nằm chênh vênh trên những cọc nhọn; Liễu

Thăng trúng tên đang gục ngã từ lưng ngưạ, khơỉ sinh nơi tôi cảm giác xao

xuyến khác thường và sự rung động đó còn đeo đẳng cho đến ngày nay!

Thầy trợ Hoán, ngươì làng Phú Chiêm dạy chúng tôi năm lớp Tư. Thơì

bấy giờ Pháp văn được dạy trong các baì ngữ vựng (vocabulaire), tập

đọc(lecture) và chính tả(dictée). Trong giò chính tả (dictêe), thầy kéo tấm

màn che, goị một học sinh cao lớn lên đứng trước bảng cầm phấn cùng viết

baì vơí tất cả các bạn trong lớp. Cuôí cùng, học trò trao đổi baì lẫn nhau, tấm


màn được kéo qua và thầy chấm baì trên bảng làm mẫu dể cả lớp ghi lôĩ baì

viết của ngươì bạn.

Lớp tư cũng học sử ký, đîa dư, học thuôc lòng, viết chính tả và đặt câu

bằng Việt ngữ. Mỗi tuần vào buôỉ sáng thứ hai, thầy giáo viết trên bảng một

câu cách ngôn khi thì Hán Việt như là :’Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân’(điều gì

mình không muốn thì đừng làm cho ngươì khác) hoặc ‘Ấu bất học lão hà

vi’(nhỏ không học,lớn làm gì); khi thì thuần Việt :’Gần mực thì đen, gần đèn

thì sáng’ hoặc ‘có công maì sắt,có ngày thành kim’. Sau đó thầy dành ra một

khỏảng thơì gian giaĩ thich chu đáo.

Thầy trợ Hoán cũng nôĩ tiếng đánh học trò ! Thầy để nhiều roi dươí bục

gỗ Môĩ khi học trò phạm lôĩ do nghịch ngợm, phá phách,đánh lộn, không

thuộc baì,... thầy bảo nằm sấp trên bục và đánh nhiều roi vào mông . Khi làm

thủ công cây thước một mét bằng thanh tre hoặc bằng nẹp gổ, các bạn lớn

tuôỉ dặn chúng tôi khắc thật sâu các vạch decimet để khi dùng làm roi dễ gãy

ra nhiều đoạn ngắn.Một vaì bạn khác cũng tìm cách đánh cắp và hưy bỏ các

roi gây nhiều đau xót.

Mùa nắng chúng tôi thường đi học sớm, tụ tập trước cổng trường trò

chuyện, bắn bi, đánh tổng (đánh khăn), ăn qùa... trong khi chờ đơị hôì trống

lần thứ nhất (une fois) để uà vào sân và nhà chơi. Hàng qùa thường bày

trong các thúng, mẹt gồm có ôỉ, mía, bánh in, kẹo đậu phộng và vaì thứ kẹo

đặc biệt xứ Quảng : kẹo cau,có phần nâu đậm bên trong giống như miếng

cau bổ tư; kẹo cà, giống như traí cà pháo; kẹo ú, có góc cạnh như bánh ú thu

nhỏ.

Lớp tư có khoảng bốn muơi học sinh vơí bốn hoặc năm nữ sinh. Các

ngươì bạn cùng lớp nhà ở thị trấn Vĩnh Điện gồm các anh Trần văn Đào con

bác Phó Nghi hiện cư ngụ taị San Jose, anh Quảng con bác Xã Liệu và anh

Lê lộc Thơ - dòng doĩ nhà Lê - con bác Mục Chỉnh, anh Võ Thành, cựu

Thiếu Tá, con bác Chánh Tị đã chết khi định cư taị Mỹ. Vaì ngươì bạn đặc

biệt nay không biết lưu lạc nơi đâu: Anh Mẫn dân đồng ruộng La Qua

chuyên nuôi chim sẻ và dế đá, anh Chất con ông Phó Ngôn nhà ở gần cầu

Giáp Ba, bị tật hay nháy mắt, ngươì nhiều tuôỉ và cao lớn nhất lớp thường

chỉ huy chúng tôi đánh lộn vơí các lớp trên.

Buôỉ chièu vào giờ tập thể dục, thầy Hoán đưa cả lớp ra sân vận động bên

phaỉ của trường. Thầy dạy chúng tôi những cử động tay, chân, đầu gôí, lưng,

cổ ...Thầy cũng dạy chúng tôi baì vè tập thể dục mang sắc thaí đặc biệt ‘vang

bóng một thơì’, tôi xin chép ra đây để độc giả có thể thấy được một phần tư

tưởng ngày xưa.

‘Ngày xưa ai đỗ ông nghè,

Trở về làng cũ, ngưạ xe rộn ràng,

Võng điều, áo gấm xênh xang,


Theo sau lũ lượt dân làng đón quan.

Bên đường lính xếp từng hàng (học sinh xếp hàng).

Dơ tay theo dọc chiều ngang cảng ngươì (dơ tay ngang vai).

Nhìn kia, cao vut trên trơ (ngẩng cổ).

Tầng mây ngủ sắc, rước ngươì hiễn vinh.

Chiêng khua, trống đánh thình thình (nắm tay đưa lên, đập xuống) .

Cò co chân ngủ, giật mình vôị bay (hai tay ôm đàu gôí xếp trước

ngực, vung tay nhảy dựng lên).

Dân quê nghỉ việc cấy cày,

Vaí chào quan lớn, mặt mày vui tươi (chuyển động tay và lưng cuí

xuống, ngẩng lên)

Trẻ con nhảy múa reo cươì (nhảy taị chỗ),

Chân sau, chân trước vang lơì hát ca (chạy taị chỗ)

Rước quan về đến cưả nhà,

Phu khiêng mệt nhọc thở ra, hít vào (động tác hít thở)

Học trò lớp nhất và lớp nhì thương được thầy Quýnh, huấn luyện viên

(moniteur) hướng dẫn tập thể dục. Các anh ấy tập nhảy cao, nhảy xa, chạy

nhanh và các động tác cơ bản thao diễn. Tôi thán phục và nhớ maĩ cử chỉ uy

nghiêm của thầy Quýnh và đòan học sinh vừa đi đúng nhịp, vưa ca hát

những baì hành khúc phổ biến lúc bấy giờ. Cách đây mấy năm, trong một

buôỉ họp măt cựu học sinh trung học tư thục Hôị An, tôi miên man kể

chuyện Vĩnh Điện ngày xưa và băt nhịp baì ca ‘Thiếu niên hành khúc ‘ của

Lưu hữu Phước .Tất cả thầy và bạn hiện diện cùng hòa điệu hát theo một

cách thích thú. Tôi nghĩ rằng có lẽ họ cũng như tôi đang hôì tưởng những

xúc động trong sáng thơì niên thiếu trong những đọan ca:’Hồn trong trắng

cùng gắng noi gương hiếu trung, thiếu niên Lạc Hồng mau tìm vết anh hùng

...’

Sân vận động nầy cũng là nơi dân chúng Điện Bàn tổ chức cuộc mit ting

lịch sử năm 1945, chứng kiến cụ Phan Khôi trên diễn đàn trình bày vơí đồng

bào tinh nhà về sự tranh chấp quốc cộng không những trên bình diện tòan

quốc mà ngay chính trong gia đình cụ. Cụ Phan cũng chỉ trích sự sai traí của

chủ nghĩa cộng sản, xác định lập trường chống ngoaị xâm dành độc lâp của

minh và của cac dảng phaí quốc gia. Cụ Phan đã đi vào lịch sử vơí biến cố

Nhân văn giai phãm, biểu lộ khí tiết của một nhân sĩ Quảng Nam.

Vào khoảng cuôí năm học, một nhóm thanh thiếu niên có danh xưng

‘Quốc Anh Đoàn’ từ xa đến tổ chức đêm lửa traị taị sân trường. Tôi vẫn còn

nhớ một vaì tiết mục, đó là màn kịch vui phỏng theo baì tập đọc kể chuyện

nhiều ngươì họp sức đảy một tảng đá lớn qua một bên để lấy lôí đi, hoạt

cảnh ‘Đêm Trong Rừng’ và vở kịch thơ ‘Hiệp Sĩ Hạ Sơn’.


Hoạt cảnh ‘đêm trong rừng’ biểu diễn những động tác của một nhóm trai

trẻ thao thức giưã rừng khuya, đang bày tỏ quyết tâm và ý chi dựa theo lơì ca

của bản nhạc ‘Đêm trong rừng’ của nhạc sĩ Hoàng Quí. Phần điệp khúc,

ngươì huynh trưởng đứng giữa khơỉ xướng và các bạn trẻ ngôì vòng quanh

lập laị như là tiếng vọng từ rừng sâu, đỉnh nuí: A! ngôì trong lớp sương đêm,

ta cùng cất cao lơì nguyền. Thề đồng tâm ta quyết thờ sông nuí (lặp laị), đem

tâm can xây đắp ngày tươi sáng(lặp laị). Một lòng son (lặp laị), bền tâm chí

(lặp laị), vì non nước (lặp laị), có sá chi lao lung, anh em ơi im nghe vang

âm trong rừng (lặp laị) .

Riêng vở kịch thơ ‘Hiệp sĩ hạ sơn’, tôi được xem một lần nưã do đoàn

thanh niên taị Vĩnh Điện trình diễn trước khi chiến tranh bùng nổ, anh

Tuyển, thầy dạy tôi lớp hè đóng vai sư phụ. Khi tôi học lớp nhất trường tiểu

học Hôị An tại chùa Bà Mụ, năm 1950, anh Tiếu, công chức Ty Tiểu học,

tức cố Đaị Tá Trịnh Tiếu, hướng dẩn chúng tôi trình diễn cũng vở kịch đó

nhân lễ phát phần thưởng cuôí năm. Tìm hiểu, tôi đuọc biết rằng đây là vở

kịch truyền thống của hướng đạo Viêt Nam khi họp traị Bạch Mã do tráng

sinh Nguyễn xuân Tâm, Đạo trưởng Đạo An Haỉ, giáo viên taị Đà Nẳng

sáng tác khoảng 1940. Tôi cãm thấy ân hận nếu vở kịch nầy bị mai một, tâm

sự của một thế hệ đàn anh bị đi vào quên lãng, vì vậy tôi xin ghi laị dươí đây

những đoạn chưa quên để độc giả xa gân tiêp tay bổ túc những phần thiếu

sót, hầu có thể cống hiến cho các đoàn thể sinh viên, học sinh, hướng đạo,

phật tử,... một tiêt mục văn nghệ thích hợp đôí vơí lớp tuôỉ mơí vào đơì .

Một vaì đọan kịch còn nhớ như sau :

( Mở màn )

Sư phụ : Thầy sung sướng nhìn các con đông đủ .

Từ bốn phương về dự lễ hạ sơn.

Trông áo khăn còn phủ buị đường trường,

Thầy chắc kẻ theo chân càng phấn chấn.

Hiệp sĩ : Thưa sư phụ, một đêm trường tự vấn,

Ánh muôn sao soi sáng cả lòng con.

Chân lý cao siêu, hạnh phúc vô cùng,

Con đã rõ và lòng con đã quyết.

Sư phụ : Con đã quyết bằng ngàn lơì tâm huyết ,

Cũng không bằng một đêm trọn tĩnh tâm.

Văy thầy khuyên con, trước khoí hương trầm,

Hãy chích huyết và đọc lơì tuên thệ.

Hiệp sĩ : ( dùng dao nhỏ chich huyết, giọt vào chén nhỏ, quì xuống và

nâng chén lên )

Tôi là kẻ lên non từ thuở bé,

Tìm tôn sư để học phép kiếm cung.


Tập sống thanh cao, thử dạ anh hùng,

Nay tôi nguyện bước lên đường hiệp sĩ.

Lãy danh dự, xin thề cao chí khí ,

Sẽ luôn luôn vì tổ quốc hết lòng

Giữ đạo làm ngươì: hiếu, nghĩa, tín, trung,

Và dẫu chết, tôi thề không đê hạ.

Vì dân tộc, tôi hy sinh tất cả.

Đường thênh thang tôi rong ruôĩ vó câu.

Vũ trụ bao la, thượng đế nhiệm mầu,

Xin chứng gíam lơì thề tôi đã hưá.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Sư phụ : ( trao khăn quàng )

Đây là khăn toàn phaí của chúng ta.

Màu thanh thiên, biểu hiệu ý vô tà,

Con mang lấy vơí một lòng chính đaị.

(trao kiếm)

Đây kiếm báu cuả ngưoì xưa để laị,

Đã truyền tay bao thế hệ anh hùng,

Nay trao laị cho một trang hiệp sĩ.

Hiệp sĩ : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Sư phụ : Này đệ tử, hãy tiến dâng ngọn lưả,

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tình đồng đạo sẽ theo con ngoaì vạn lý.

Hiệp sĩ : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Sư phụ : Thôi ! con đi, chiêng đã gióng lên đường,

Trơì phù hộ cho con nhiều hạnh phúc.

(Hạ màn )

Sau đêm lửa traị, thầy giáo hướng dẫn chúng tôi may quần ‘sọt’ nâu, áo

‘sơ mi’ trắng và một vuông khăn vàng vấn trên đàu buộc môí sau gáy, chuẩn

bị gia nhập Quôc Anh Đoàn. Đồng phục đã sẵn sàng, tôi tung tăng ngắm

nghía nhưng thơì cuộc biến chuyển qúa nhanh nên không còn ai nhắc đến

nưã. Sau nầy, thỉnh thoảng tôi hoỉ thăm vaì vị cao niên có kiến thức và kinh

nghiệm chính trị nhưng không ai biết đoàn thể nầy và không một vết tích gì

lưu laị trong sử sách.

Ngày bắt đàu muà nghỉ hè năm đó, mẹ tôi dắt tôi đến bến xe Vĩnh Điện

thuê một xe kéo đi vào Phú Chiêm. Mẹ tôi và tôi đến thăm thầy trợ Hoán.


Mẹ tôi noí lên lơì tạ ơn Thầy dạy dỗ con trẻ, cầu chúc thầy và gia quyến sưc

khoẻ và biếu qùa. Tôi theo mẹ tôi ra xe đang đơị trở về nhà vơí cãm xúc lâng

lâng khó tả và cũng khó quên.


San Jose. 2/08