Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label TTNguyenNgocBichDu. Show all posts
Showing posts with label TTNguyenNgocBichDu. Show all posts

Wednesday, 16 March 2016

NẾU AI ĐÃ ĐỌC QUA BÀI VIẾT CU VŨ CA TỤNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG GẦN ĐÂY

MỚI NGAO NGÁN CHO CÁI "LỖ MIỆNG" PẮC BÓ CỦA CU VŨ-

*Cu Vũ tự tưởng mình quá thông minh khi ca tụng NNB xác nhận "VIỆT NAM CỘNG HÒA" chỉ là phương tiện, chứ không phải cứu cánh của đồng bọn NNB. Như vậy có nghĩa là khi "được việc" thì NNB sẵng sàng bỏ rơi "VNCH" có đúng không CU VŨ?/-TCL/Mv.


Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích - Người Việt yêu nước không thầm lặng


    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích 1937-2016.
    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích 1937-2016.


    Cho đến mới đây thôi, kể từ khi đặt chân lên đất Mỹ, tôi không biết buồn là gì. Thế mà tôi đã không khỏi lặng người khi được tin Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột từ trần ở tuổi 79 vì trụy tim vào ngày 2/3 vừa qua khi đang cùng hiền thê của ông, Tiến sĩ Đào Thị Hợi, bay đến Manila, Phillipines, để tham dự một hội nghị quốc tế chống Trung Quốc xâm lược ở Biển Đông và một cuộc họp đấu tranh cho Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam.
    Lần đầu tiên tôi xuất hiện trước công chúng tại Hoa Kỳ cũng chính là lần đầu tiên tôi gặp con người ấy.
    Ngày 6/5/2014, tròn một tháng sau khi tôi rời nhà tù Việt Nam sang Mỹ theo lời mời của Chính phủ Mỹ để làm việc cho Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam cũng như cho quan hệ tương lai giữa hai nước, tôi đã cùng vợ tôi là Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đến trụ sở Quốc hội Mỹ để họp báo về việc tôi có mặt ở Mỹ cho dù bản án 7 năm tù về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vẫn còn một nửa. Gần như ngay khi tôi xuất hiện, một người đàn ông có tuổi, thấp người, tóc bạc trắng, tươi cười cùng một phụ nữ tiến đến. Vợ tôi giới thiệu: “Đây là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và chị Hợi, vợ anh Bích. Tháng 7 năm ngoái, khi em đến Mỹ thì được anh chị Bích đón tiếp rất chu đáo”. Thế là người đàn ông ấy rút từ túi xách tay một quyển sách viết về nhà triết học Trần Đức Thảo, ký tặng tôi rồi nói đặc giọng Hà Nội: “Tôi có viết bài giới thiệu cho cuốn sách này, trong đó có thuật lại lời Hà kể về việc Vũ đã chăm sóc Giáo sư Trần Đức Thảo trong quãng cuối đời của Giáo sư tại Paris như thế nào”.
    .
    Chân tình, trí thức, đó chính là những ấn tượng đầu tiên của tôi về Nguyễn Ngọc Bích.
    Thế rồi ông mời vợ chồng tôi lại thăm nhà ông bà tại Springfield, Virginia, kề sát Thủ đô Washington. Trên đường đi, ông bà không ngớt gọi nhau “Bố à”, “Bé ơi” đầy âu yếm, ấn tượng đến mức tôi chẳng đừng đưa ra nhận xét: “Anh chị cứ như đôi chim cu ấy nhỉ. Ríu rít suốt ngày”. Cũng may là nhờ cái sự “vô duyên” ấy của tôi mà chúng tôi mới biết được “love story – chuyện tình” của ông bà khi là sinh viên đồng môn trên đất Mỹ này vào nửa cuối thập niên 50 của thế kỷ trước.
    Bước chân vào nhà thì trời ơi, cơ man là sách, không chỉ trên giá, mà còn cả trên bàn, trên sàn, làm “con mọt sách” trong tôi phát thèm, nhất là từ nhà tù ra đi tôi chỉ có hai bàn tay trắng. Rồi thấy trên tường có treo ảnh một vị đội mũ cánh chuồn, hỏi ra thì được Nguyễn Ngọc Bích cho biết đấy là thân phụ ông, Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Trọng Tấn. Nguyễn Ngọc Linh, anh ruột ông mà sau này tôi gặp, cho biết thêm: “Các cụ quê ở Bắc Ninh, đến khi vào quan trường mới định cư ở Hà Nội, phố Sinh Từ, để các con có trường tốt (Lycée Albert Sarraut cho con trai, Félix Faure cho con gái). Bích sinh ở Hà Nội. Sau khi cụ ông mất vào năm 1947 và VIệt Minh kiểm soát miền Bắc, anh thứ hai là Nguyễn Ngọc Chác vào Sài Gòn làm ăn, mang theo mấy em nhỏ trong đó có Bích để nuôi dạy. Sau này Bích học Lycée (Trường trung học Pháp ngữ) Chasseloup Laubat”. Vậy là Nguyễn Ngọc Bích mới 10 tuổi đầu đã xa đất Thăng Long nhưng kỳ lạ thay, sau 7 thập kỷ giọng của ông vẫn nguyên bản Hà Nội, không một chút pha. Làm sao có thể lý giải được hiện tượng ngôn ngữ này nếu không phải bằng cội nguồn dân tộc! Trong đầu tôi chợt vang lên những vần thơ bất tử trong thi phẩm “Nhớ Bắc”của Huỳnh Văn Nghệ, một người Việt miền Nam chưa một lần đặt chân lên đất Bắc:
    Ai về Bắc, ta theo với,
    Thăm lại non sông giống Lạc Hồng.
    Từ thuở mang gươm đi mở cõi,
    Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
    .
    Nguyễn Ngọc Bích đã sớm đến với tôi như một người bạn vong niên, tận tình giúp tôi trong nhiều công việc hẳn là nhờ điểm chung “Người Hà Nội” ấy.
    Mấy tháng đầu, do “Mỹ ngữ” của tôi có thể nói là “zero” nên Nguyễn Ngọc Bích đã mất khá nhiều thời gian để “thông ngôn” cho tôi trong các cuộc gặp với các tổ chức và chính giới Mỹ. Thế rồi khi các bài báo bằng tiếng Việt của tôi được đăng, ông lại giúp tôi chuyển ngữ sang tiếng Anh. Đến khi tôi đã có thể tự viết đôi chút bằng tiếng Anh thì cũng chính ông là người hiệu đính cho tôi. Đến tháng 12 năm 2014, tức 8 tháng sau khi tôi đặt chân đến đất Mỹ, tôi phải thuyết trình bằng tiếng Anh về dân chủ hóa Việt Nam trong khuôn khổ nghiên cứu tại Viện Quốc Gia Yểm Trợ Dân chủ của Mỹ (National Endownment for Democracy - NED), tôi lại nhờ ông đi với tôi để phòng khi tôi không nói hết được ý của mình thì đã có ông giúp. May mắn là tôi đã thuyết trình trót lọt, rồi trả lời các câu hỏi của cử tọa cũng trót lọt mặc dù ông Carl Gershman, chủ tịch NED giữ vai trò điều phối buổi thuyết trình trước đó đã gợi ý là tôi có thể nói tiếng Việt để Nguyễn Ngọc Bích dịch. Thành thử ông…”thất nghiệp” và ”ngủ” tại chỗ theo đúng nghĩa đen của từ này. 
    Một con người hồn nhiên như vậy ấy thế lại là một con người chính trị, hơn nữa, có đẳng cấp.
    Nguyễn Ngọc Bích từng là Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, Tổng giám đốc Việt Tấn Xã thời Đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa - chức vụ mà người anh trai Nguyễn Ngọc Linh cũng đã đảm nhiệm. Thế rồi gần đây ông là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Việt Nam Cộng Hòa, một tổ chức dân sự tự đặt ra nhiệm vụ vận động thế giới phục hồi Hiệp định Paris 1973... Không những thế, Nguyễn Ngọc Bích còn là người vận động thành lập Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia) có chức năng thúc đẩy chuyển đổi sang dân chủ ở các nước cộng sản và độc tài khác ở châu Á và trở thành Giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài này.

    Có lần Nguyễn Ngọc Bích mời tôi đến nói chuyện về quan hệ Việt - Mỹ với Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt Tại Hoa Kỳ (National Congress of Vietnamese Americans) mà ông là chủ tịch. Quan điểm của ông là cộng sản đã cưỡng chiếm “quốc gia” Việt Nam Cộng Hòa. Tôi thì ngược lại, khẳng định ở Việt Nam chỉ có một quốc gia duy nhất nhưng có hai chính thể đối kháng nhau là Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa theo cộng sản và Việt Nam Cộng hòa chống cộng trong bối cảnh “chiến tranh lạnh” giữa một bên là khối các nước chống cộng do Mỹ lãnh đạo và bên kia là khối các nước cộng sản do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu. Nói cách khác, vẫn theo quan điểm của tôi, chiến tranh Việt Nam diễn ra trong hai thập kỷ, từ 1955 đến 1975, là một cuộc nội chiến giữa những người Việt. Khi tôi kết thúc bài nói chuyện, Nguyễn Ngọc Bích hướng về cử tọa hồ hởi: “Quý vị đến đây là không có uổng tý nào. Một quan điểm mà mọi người ở đây rất ít được nghe với một phân tích chính xác và rõ ràng đến như vậy”.
    Nghĩa là chỉ nếu chỉ nghe những chức danh của ông cả trước lẫn sau 30/4/1975 thì người ta rất dễ hình dung ra một Nguyễn Ngọc Bích “Việt Nam Cộng Hòa đến cùng”. Thế nhưng trên thực tế lại không phải vậy.
    Lý giải thế nào về “cầu thị chính trị” đáng ngạc nhiên này của Nguyễn Ngọc Bích? Là bởi ngự trị nơi ông là một tấm lòng yêu nước nồng nàn. Vả lại cũng chỉ trên có sở ái quốc ấy mới có thể lý giải vì sao là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Việt Nam Cộng Hòa nhưng Nguyễn Ngọc Bích lại không chủ trương khôi phục chính thể “Việt Nam Cộng Hòa” như ông đã hơn một lần khẳng định.
    .
    Thực vậy, với tâm thế “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, Nguyễn Ngọc Bích bươn bả tìm cách để bảo vệ cho được các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam trước xâm lược Trung Quốc. Và cái cách cứu nước của ông là vận động trở lại Việt Nam Cộng Hòa trên danh nghĩa để có cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Ông viết: “Hiệp-định Geneva vào tháng Bảy 1954, một hội nghị với sự đồng chủ-tịch của Anh và Liên-Xô đã chia đôi Việt Nam thành hai miền ở vĩ-tuyến 17. Hoàng Sa và Trường Sa, vì là ở dưới vĩ tuyến 17, nên thuộc về chính quyền miền Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa sau này.  Chính dựa vào căn bản pháp lý đó mà Việt Nam Cộng Hòa đã cai quản hai quần đảo đó, đặc biệt là Quần đảo Hoàng Sa đến tháng Giêng 1974 khi Trung Quốc dùng vũ lực để cưỡng chiếm, và Quần đảo Trường Sa đến tận cuối Chiến tranh Việt Nam (tháng Tư 1975)”.  Ông cũng nói rõ: “Trong hoàn cảnh đất nước bị cưỡng chiếm (Trường Sa, Hoàng Sa), chúng tôi thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Việt Nam Cộng Hòa để làm việc dựa trên những hồ sơ có thể thành công về phương diện pháp lý, để tranh đấu”. Tóm lại với Nguyễn Ngọc Bích, “Việt Nam Cộng Hòa” đơn thuần là phương tiện để bảo vệ lãnh thổ của tiền nhân trên Biển Đông trước bành trướng Đại Hán.
    Lòng yêu nước của Nguyễn Ngọc Bích còn thể hiện qua chính phân tích của ông thế nào là “người yêu nước”. Trong một bài viết có tiểu mục “Người yêu nước là người có viễn kiến”, ông khẳng định: “Người thiếu hiểu biết thường cho những người yêu nước là những người “dại dột,” bỏ cái êm ấm của nhà cao cửa rộng, của vợ đẹp con khôn để đi làm chuyện chưa chắc đã thành công.  Song chính thật, người yêu nước phải là người có viễn-kiến, nhìn được xa, trông được rộng, ít nhất là quá được cái mũi của mình, quá được quyền lợi cá nhân và gia đình làng xã của mình, và xa đôi khi đến cả hàng trăm năm, hàng ngàn năm như cuộc tranh đấu của dân Lạc-Việt (Hai Bà v.v.) để thoát ra khỏi cái định mệnh Hán hóa đã xảy ra với hàng chục nhóm trong loài “Bách Việt” ở miền Nam Trung-quốc”. Và trong một bài viết khácông đã đưa ra ví dụ cụ thể về “người yêu nước - viễn kiến”: “Liệu họ (chính quyền Việt Nam) có đáp-ứng được nhận-định của Cù Huy Hà Vũ cho rằng ‘đi với Mỹ lúc này là mệnh-lệnh của lịch-sử,’ một cái nhìn có viễn-kiến mà anh đưa ra từ năm 2010?”

    “Tiếng Ta Còn, Nước Ta Còn", tuyên ngôn ấy của học giả Phạm Quỳnh khi bàn về  
    Truyện Kiều của Đại Thi hào Nguyễn Du – mà tôi, Cù Huy Hà Vũ, đánh giá mang tầm của một “Tuyên ngôn Độc lập” - cũng đã được Nguyễn Ngọc Bích thấm nhuần và vận dụng triệt để. Thực vậy, ông đã là tác giả của hàng chục tác phẩm ngôn ngữ, văn học, khảo cứu văn hóa - lịch sử Việt Nam có giá trị bên cạnh việc sáng lập Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ để truyền bá các tác phẩm cổ điển Việt Nam kể cả dưới hình thức song ngữ Việt - Anh như Cung Oán Ngâm Khúc, thơ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều…mà sự thành công hẳn nhờ đáng kể vào sự uyên bác tiếng Nôm của chính ông.Cũng chính lòng yêu nước đã đưa Nguyễn Ngọc Bích đến quyết liệt khẳng định tôn giáo phải phục tùng lợi ích Dân tộc và Tổ Quốc Việt Nam. Ông viết: “Ngày nào người Việt còn chưa nhìn được ra là những lợi ích của dân tộc và Tổ quốc phải vượt được lên trên hết, trên cả những tín ngưỡng thiết thân đối với từng cá nhân trong chúng ta thì ngày đó, đất nước còn nguyên nguy cơ chia rẽ và toàn dân, một lần nữa, lại đứng trước hiểm họa bị ngoại bang thao túng để một lần nữa có thể mất đi nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh-thổ của Tổ-quốc chúng ta”.
    Với tư cách là nhà khảo cứu văn hóa Việt Nam, Nguyễn Ngọc Bích đã có những phát hiện thú vị. Chẳng hạn trong bài “Ảnh Hưởng Tam Giáo Trên Tinh Thần Người Việt” ông viết: “Phật-giáo Việt Nam là truyền thống Phật giáo độc nhất mà tôi biết có những chức tương đương với vai vế trong một gia đình, một tộc họ: sư cụ, sư ông, sư bà, sư bác, sư cô, chú tiểu”. Tiếp nối ông, tôi xin bổ sung “Sư Thày” tương đương với “Cha” vào cái “đại gia đình nhà chùa” đó. Thực vậy, ở nhiều địa phương miền Bắc Việt Nam, người ta gọi người đàn ông sinh thành ra mình là “thày”.
    !
    Vẫn với tinh thần tiếng Việt là “Quốc hồn”, “Quốc túy”, Nguyễn Ngọc Bích thậm chí Việt hóa cả địa danh nơi ông sinh sống để đặt dưới tên ông mỗi khi viết báo, viết sách bằng tiếng Việt. Thực vậy trong các tác phẩm ấy, “Khu Đồng Xuân, Bang Trinh Nữ, Hoa-kỳ-quốc” đã thay thế “Springfield, Virginia, United States”. Kỳ lạ hơn, đến Quốc ca Mỹ ông cũng dịch ra tiếng Việt rồi hát ngay trong các buổi lễ cộng đồng người Việt. Chỉ với những việc làm này thôi, Nguyễn Ngọc Bích xứng đáng là một trong những người Việt Nam hải ngoại yêu nước nhất và độc đáo nhất.
    Đấu tranh cho Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam là một hoạt động tất yếu của người Việt yêu nước, dù ở trong hay ngoài nước. Thế nên người ta thấy Nguyễn Ngọc Bích hết đăng đàn trong cộng đồng người Việt để hỗ trợ phong trào dân chủ ở Việt Nam lại xuất hiện trong các cuộc vận động chính giới Hòa Kỳ và quốc tế gây sức ép với chính quyền Việt Nam chấm dứt đàn áp nhân quyền và trả tự do cho mọi tù nhân lương tâm. Và cả những việc không tên như dạy tiếng Anh cho những người trẻ tuổi dấn thân trong nước, ông cũng hào hứng thực hiện.
    Lòng yêu nước nổi trội của Nguyễn Ngọc Bích còn được khắc họa ở chố ông đấu tranh cho cái tốt đẹp hơn ở Việt Nam không chỉ ở thời hiện tại mà còn ở thời tương lai. Xuất phát từ việc chỉ có vài trăm nguời Nhật học ở nước ngoài mà khi về nước đã giúp đưa nước này thành cường quốc, ông tổ chức ra Hội nghị Lãnh Đạo Trẻ Người Việt ở Hoa Kỳ (Vietnamese American Youth Leathership Conference -VAYLC) với mục đích bồi dưỡng thế hệ trẻ lý tưởng phục vụ vô vụ lợi quê hương Việt Nam.
    Nguyễn Ngọc Bích là như vậy nên dễ hiểu vì sao những ngày này trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đâu đâu cũng nhắc đến ông
    !
    Hôm qua, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, cũng là một cựu tù nhân lương tâm, từ California gọi điện cho vợ chồng tôi ôn kỷ niệm về ông, kể: “Trong một lần ngồi với em, nhà văn Chu Linh và chị Trịnh Bình An, chú Bích hỏi em quen anh Vũ như thế nào. Nghe em kể xong, chú Bích tủm tỉm cười rồi nói: “Có một anh chàng rất là lạ. Tôi sang Mỹ từ năm 1954, đã gặp đủ người Việt Nam, cả giáo sư, miền Bắc lẫn miền Nam, nhưng chỉ cậu Vũ là làm tôi rất ấn tượng vì cậu này là người rất tự tin, không ai nghĩ là cậu ấy vừa ở tù ra, mà lại là nhà tù cộng sản. Tính cách ấy chỉ người sống trong xã hội dân chủ mới có được, Trong giọng nói của cậu Vũ có chí khí, có tinh thần, có lửa. Cách diễn đạt của cậu ấy không thuần túy truyền thông “xã hội chủ nghĩa” mà là của người tiếp xúc nhiều, quan hệ rộng, quen nói chuyện trước đám đông từ bé nên cách truyền đạt rất dễ hiểu và sinh động. Nhiều người trong nước sang đây cứ đọc giấy, đọc đến 10 phút mới ngẩng mặt lên, nghe chán lắm. Cậu Vũ thì lại nói vo. Mới sang đây tiếng Anh chưa biết nhiều, ấy vậy nhiều khi cậu ấy cứ nói ào đi, thế mà lại hay!”
    Câu chuyện của Thủy làm tôi nhớ lại cách đây đúng 10 năm, vào năm 2006, khi tôi tự ứng cử vào chức Bộ trưởng Bộ Văn Hóa và Thông Tin để thực thi “quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dân” được Hiến pháp Việt Nam quy định, Thủ tướng khi đó là Phan Văn Khải phát biểu: “Cậu Vũ này ngang ngược từ bé!”. Vậy cũng là nhìn nhận con người nhưng sao khác nhau ”một giời một vực”. Với Giáo sư “Việt Nam Cộng Hòa” Nguyễn Ngọc Bích con người là sản phẩm của Tự do, trước hết của Tự do ngôn luận. Còn với Thủ tướng của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam con người chỉ là mầm nổi loạn!
    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ôi!
    Ai rồi cũng phải “giã từ cõi thực để vào hư” (Xuân Diệu), nhưng ông hẳn trong số những người hạnh phúc nhất vì đã ra đi dẫu có đột ngột vẫn trong vòng tay của người vợ hết mực thương yêu Đào Thị Hợi – “Bé” của ông và hơn thế nữa, trong tư thế của một chiến binh xung trận vì tồn vong của Non Nước và Nhân Bản Việt Nam!
    Trước Ngày tiễn đưa Ông về Cõi Vĩnh Hằng
    Chicago, 10/3/2016

    Sunday, 13 March 2016

    TRỜI HẠI KẺ 2, 3 MẶT- CẢ ĐỜI TỴ NẠN ĐÓN GIÓ, TRỞ CỜ ... CUỐI CÙNG BỊ TRÚNG GIÓ ĐỘC CHẾT THẢM LƠ LỬNG TRÊN KHÔNG./- TCL/Mv.

    NÊN PHỦ CỜ XANH-MAI TRẮNG HAY CỜ VÀNG CHO DOGTOR MULBERRY SEA?

    Cờ” máu hòe” cho thằng” Cắt Mạng”
    Trái lựu đạn tặng đứa trở cờ.
    Nền xanh-mai trắng lập lời.
    Quan tài nên phủ, chần chờ chi đây?

         Thường những người có tấm lòng yêu nước, luôn nêu cao chính nghĩa quốc gia, dù bất cứ hoàn cảnh nào, trong lòng luôn đặt tổ quốc trên hết, trên cả quyền lợi cá nhân, bè phái và cả mạng sống của chính mình:

    Sống trọn lòng trung cùng tổ quốc.
    Chết tròn đạo nghĩa với non sông.

        Khi chết xứng đáng được phủ lá quốc kỳ lên áo quan, là vinh dự cuối cùng một người trung liệt (không phân biệt quân nhân, công chức, dân thường), tuy nhiên danh dự nầy thường dành cho những người lính trận hy sinh vì tổ quốc. Việc phủ cờ nầy làm cho một số kẻ trở cờ xuyên tạc, trước đây có nhà dzăngSơn Tùng (ở Mỹ) cho lá cờ vàng phủ lên đống thịt thúi và hắn ta bị hầu hết những người kính trọng lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ phản đối mạnh, nếu không muốn NÓI là tên nhà dzăng nầy ngầm” nhất trí” theo ý đồ của lũ NÓN CỐI mà có lối nói y như báo Người Vẹm hạ lá cờ tổ quốc trong chậu rửa chân.

        Không phải bất cứ ai từng phục vụ dưới lá cờ vàng cũng xứng đáng được phủ cờ khi chết, dù thân nhân, thuộc cấp có phủ cờ vàng theo di chúc, lời trăn trối…cũng không thuyết phục thiên hạ tháo bỏ câu:” ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Điển hình như trường hợp phản tướng Cẩu Cao Cầy, tên nằm vùng Dương Văn Minh, tổng thống và kiêm trung tướng” tháo chạy” Nguyễn Văn Thiệu, sau khi làm cho miền nam thất thủ quá nhanh trong 55 ngày, thay vì hơn 2 năm như dự đoán mà còn run của Vẹm tướng Văn Tiến Dũng, lúc mới phát khởi chiến dịch tấn công miền nam với 20 sư đoàn chính qui Bắc Việt, thì ông tổng tư lịnh Nguyễn Văn Thiệu” di tản chiến thuật” phá nát quân khu 1, thất thủ quân khu 2, tức là ông Thiệu giúp cho quân cộng sản hoàn thành sớm chiến dịch mang tên khỉ tặc Hồ Chí Minh quá mức tưởng tượng:” giặc tràn là ta di tản, giặc về là ta dông” khiến miền Nam đi đong trong tức tưởi…khi chết sau khi ăn nhà hàng về, dù có được bè nhóm phủ cờ để phủ che luôn những việc làm hại đất nước, trở cờ đón gió…nhưng dân chúng không thể quên những việc làm khi còn sống, tức là lá cờ vàng không thể cứu được xú danh, dù được phủ lúc chuẩn bị mang chôn hay hỏa táng.

        Trước đây anh chàng nhạc sĩ Việt Dũng, kiện tướng oai hùng MC của trung tâm Ế Sơ và truyền hình” Sinh Bắc Tử Nam” do Nhí Hồ, bổng nhiên bị” Ú TIM” mà giả từ gác trọ, thì cũng có người đòi phủ cờ vàng cho” chiến sĩ sân khấu”, gây nhiều tranh luận và cuối cùng gia đình Việt Dũng nhận ra giá trị và vinh dự cho người được phủ cờ nên đã từ chối thủ tục nầy, là thái độ đúng đắn, tự trọng. Tuy nhiên có vài kẻ ấm ức la ầm lên, chụp mũ cả Ngô Kỷ (dù ông nầy không nói gì mà vẫn bị đổ thừa) và sau đó vận động đặt tên Việt Dũng một con đường (chuyện nầy cũng” nhiêu khê” lắm, miễn bàn).

        Nay cũng chuyện phủ cờ cho” chiến sĩ Dâu Bể” Dogtor Nguyễn Ngọc Bích, cũng bị chết vì” Ú TIM” mà giả từ bao công tác bá láp của Vẹm Tân với ủy ban bảo vệ Biển Đông như kẻ homeless mà nói tới chuyện” mua bảo hiểm” nhà và báo với cảnh sát là bị ăn cướp vô nhà… sao mà người có quan hệ với Vẹm Tân, đài” Sinh Bắc Tử Nam”… lại có một số người bị ” Ú TIM” bật như thế? Chắc có lẽ là do làm những sai trái mà hồi họp hoài mà sinh bịnh tim, hay những lý do nào đó, có thể như trường hợp của Dương Bạch Mai thời Hồ Chí Minh, thứ trưởng ngoại giao Vẹm là Lê Mai sau năm 1975, Nguyễn Nam Trân, người vừa dịch xong cuốn sách chôm chỉa” Trung Thư Ngục Ký”… đang mạnh khỏe mà ngã lăn ra chết vì” Ú TIM”; thời Nhân Văn giai phẩm, nhà thơ Nguyễn Bính né tránh, không làm gì, chỉ làm tờ báo vô thưởng vô phạt là tờ tạp chí Trăm Hoa (số 17 đường Lê Văn Hưu, Hà Nội) , ông có thói quen uống rượu và trà, một hôm sau khi uống ly trà, ngã lăn ra chết vì” ú tim”…thôi, chuyện nầy nằm ngoài khả năng người viết, tuy nhiên nhìn thấy một số người bị” ú tim” là có làm việc với Nhí Hồ, đài” sinh bắc tử nam”, Vẹm Tân hay cũng trong năm nay ở Úc có ông Nguyễn Đình Khánh cũng đột tử vào ngày 9-2-2016 và liền theo đó là khối” Tám Bốn Trông Xạo” trong nước, những cơ sở Vẹm Tân phân ưu… mà có thiện chí nhắc nhở những ai làm cho những nơi ấy cần nên khám bịnh, thử máu định kỳ để tránh bị ú tím mà chết không kịp ngáp. Người viết chỉ nhìn thấy mà nêu lên theo kinh nghiệm, chớ không có ý nghi ngờ ai cả, cái nầy chờ thời gian và các giới chức có thẩm quyền.

        Chuyện dogtor Nguyễn Ngọc Bích được Mít Tờ Đoàn Hữu Định có nhãn hiệu cầu chứng, từ công ty kíu nước” made in Vẹm Tân” đề nghị phủ cờ, cũng gây bàn tán xôn xao, làm lao đao dư luận. Mặc dù khi còn sống, dogtor Nguyễn Ngọc Bích có phục vụ dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ như là công chức cao cấp, sau năm 1975 di tản, cũng hoạt động chống cộng nhưng lại nằm trong tổ chức” em của Vẹm cộng” theo như Kiêm Ái: Vẹm Tân là em Vẹm cộng, nên những hoạt động của” kẻ ú tim vong thân” chớ không phải” vị quốc vong thân” như bao chiến sĩ oai hùng nơi chiến trường mà có một tên xạo ke cường điệu. Do đó chuyện phủ cờ vàng cho Dogtor Mulberry Sea cũng chưa ổn, như lúc Việt Dũng vĩnh viễn thôi làm” tướng trên sân khấu” vậy.

    Một chuyện khác là Nguyễn Ngọc Bích không mặc quân phục nên các đơn vị” sĩ quan nhà đòn” chưa chắc là dám phá lệ, phủ cờ cho dân sự, ngoại trừ vị tướng” tư lịnh lực lượng Nhà Đòn” chấp nhận và tiến hành theo vận động của băng đảng Vẹm Tân. Các vị danh tướng nhà đòn nầy đúng là” sinh vi tướng, tử nhà đòn” nên mấy ông nầy lên tướng ngang hông mà có giấy tờ, oai hơn mấy ông tướng của chú phỉnh Đào Minh Quân. Tướng Nhà Đòn đúng là” làm tướng oai hùng lắm” như cảnh Ông Nghè Tháng Tám của Nguyễn Khuyến; trong cải lương có tuồng” hoàng đế của thây ma” có tên trong bài ca vọng cổ” tựa tuồng sân khấu” do danh hề Văn Hường ca, thì nay mấy ông lớn nầy là” tướng lãnh của thây ma”…

        Lính thứ thiệt mà chết, dù ở nước ngoài cũng hưởng vinh dự sau cùng, tuy vậy tướng Lê Quang Lưỡng, tư lịnh sư đoàn Dù, từ chối không phủ cờ, vì cảm thấy xấu hổ là chưa làm xong nhiệm vụ, nhưng tập thể quân đội đã” phủ cờ trong trái tim” khi nhớ tới vị tướng trung trực nầy. Còn lính đào ngũ, khi chết, có được phủ cờ vàng không? Xin trung úy Đoàn Hữu Định cho biết ý kiến…nếu vậy thì” lao công đào binh” như nhọt sĩ Nam Lột, sau nầy có giả từ gác trọ, cũng dám được ai đó đề nghị phủ cờ vàng và cũng tranh cãi như vụ Việt Dũng và nay là dogtor Nguyễn Ngọc Bích.

        Không rõ là dogtor Nguyễn Ngọc Bích có để lại di chúc phủ cờ cho gia đình, hay là chuyện nầy do Vẹm Tân muốn qua đề nghị của cựu trung úy” loài chim đi biển” Đoàn Hữu Định? Người Việt có thông lệ là cúng những thứ mà người sống thích, như người uống rượu thì bàn thờ có ly rượu, lon bia…khi sống, dogtor Nguyễn Ngọc Bích khoái trái dâu, nên ông mới tâm đắc ghép vô chữ Bể và dịch qua tiếng Anh là” Mulberry Sea”, lưu lại thế gian một tuyệt tác, như ai đó dịch hai chữ” Canh Gà” là” Chicken soup” trong bài thơ Huế” hồi chuông Thiên Mụ, CANH GÀ thọ sương”…chuyện phủ cờ hạ hồi phân giải và cũng là ý kiến của gia đình, tuy nhiên nên đặt nơi quan tài một khai trái dâu là điều mà người chết thích lúc còn sống.

        Trước năm 1975 nếu Dogtor Nguyễn Ngọc Bích hy sinh vì công vụ thì được chính phủ VNCH phủ cờ vàng, ghi công…nhưng sau năm 1975, ra hải ngoại, dogtor Nguyễn Ngọc Bích đã đổi lá cờ, tức là theo chúa thảo khấu Hoàng Cơ Minh với lá cờ màu xanh dượng đậm, mai trắng ở giữa (hình thái giống như cờ đỏ sao vàng của Vẹm), do đó xin hãy làm theo những gì mà người sống hết lòng, bỏ cả nhiều chục năm phục vụ, hợp lý là nên phủ lá cờ” xanh dương đậm-mai trắng” trên quan tài, là không ai thắc mắc và ý kiến.

        Từ nay, hể bất cứ ai nằm trong băng đảng Vẹm Tân, liên hệ râu ria như đài” sinh bắc tử nam” báo Người Vẹm….dù gốc là quân nhân, sĩ quan, tướng tá, công chức…cũng nên phủ lá cờ” nền xanh dương đậm-mai trắng” là có ý nghĩa, tình lý, để tránh tranh cải, làm mất thời giờ.

    Cờ thảo khấu, gió ù ù thổi.
    Mặt Vẹm Tân, trăng dõi dõi soi.
    Vong linh ứng hiện, gọi mời.
    Cờ xanh, mai trắng, thay lời phân ưu.

       Việt Dũng chết gây nhiều tranh cải và nay dogtor Nguyễn Ngọc Bích cũng” vũ như cẩn”…chuyện phủ cờ xanh-mai trắng là hợp với tâm đắc của người quá cố:

    Sống trọn lòng trung vào thảo khấu.
    Chết cờ xanh phủ nắp áo quan.

       Không biết là những vị” khoa bảng đỉnh cao trí tệ” Vẹm Tân có vận động” hậu trường sân khấu hội đồng thành phố” mà đặt tên đường” Dogtor Nguyễn Ngọc Bích” cũng như dành cho Việt Dũng trước đây?
      

    TRƯƠNG MINH HÒA
    Ngày 12.03.2016

    Saturday, 12 March 2016

    NGUYỄN NGỌC BÍCH ĐÃ RA ĐI NHƯNG CHUYỆN PHẢN BỘI CĂN CƯỚC TỴ NẠN VẪN CÒN LƯU LẠI VỚI THỜI GIAN./- TCL/Mv.

    GS NGUYỄN NGỌC BÍCH BƯNG BÔ CSVN, MUỐN XÂM PHẠM NGÀY QUỐC HẬN 30/4 

    Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
    Geneva, 17.04.2013
    Web: http://VietTUDAN.net


    Tôi đã đọc lá thư bọc bạch cắt nghĩa của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích về việc lấy ngày 30/4 QUỐC HẬN làm ngày MIỀN NAM VN hay NGÀY VNCH.


     
    Giáo sư ca tụng Nghị Quyết của Quốc Hội Virginia và bên dưới bài kể lể bọc bạch, Giáo sư còn nói là nhiều người hỏi xin Nghị Quyết ấy, mà trong những người này có Gs Nguyễn Chính Kết. Gs Nguyễn Chính Kết mà Gs Bích nhắc ra làm tôi nghĩ đến trước đây sự liên hệ với Việt Tân như thế nào và cách đây mấy năm Gs Nguyễn Chính Kết đã đề nghị Gs Nguyễn Ngọc Bích làm Đại diện Hải ngoại cho khối 8406. Sự liên hệ với Việt Tân làm tôi nghĩ đến trước đây chúng tôi đã phải kịch liệt phản đối âm mưu chọn ngày QUỐC HẬN 30/4 làm NGÀY DIỄN HÀNH TỰ DO tại Hoa Thịnh Đốn, nghĩa là cũng trong mục đích xóa ngày 30/4 QUỐC HẬN.
    Nghe những câu trả lời của Gs.Bích
    trong Hội Luận về Ngày QUỐC HẬN 30/4


      

    Hôm nay, tôi đã nghe chính Gs.Nguyễn Ngọc Bích trả lời những câu hỏi của những quý Vị đặt ra cho Giáo sư trong HỘI LUẬN VỀ NGÀY QUỐC HẬN 30/4. Tôi có những nhận định sau đây về cách trả lời của Giáo sư .

    • 1) Gs.Bích tránh né việc trả lời trực tiếp và rõ rệt cho những câu hỏi then chốt về việc chọn ngày QUỐC HẬN 30/4 gọi là ngày NAM VIỆT NAM hay NGÀY VNCH với những câu hỏi xoay quanh vấn đề chính và then chốt như sau :
    Ong Mỹ nào đó có thiện chí ca tụng sự chiến đấu của Miền Nam VN và Giáo sư biết ngày 30/4 là ngày QUỐC HẬN có tầm quan trọng cho Cộng Đồng VN Hải ngoại, thế mà Giáo sư không cản ngăn việc chọn ngày 30/4, đó là vì: (i) Một là Giáo sư có chủ trương như Việt Tân muốn xóa cái tên QUỐC HẬN ; (ii) Hai là Giáo sư khờ khạo, ngốc nghếch, chủ ý hay vô tình, mà không hiểu tầm quan trọng của ngày 30/4 QUỐC HẬN đối với Cộng Đồng VN tại Hoa kỳ mà còn cho các Cộng Đồng VN trên toàn Thế giới, nên không dám lên tiếng cản Ong Mỹ kia chọn ngày 30/4 thành ngày Miền Nam VN hay ngày VNCH ; (iii) Ba là Giáo sư ngu dốt đặc cán mai, không biết gì về sự UẤT HẬN sâu đậm của toàn thể Người Việt, mà câm họng không lên tiếng để Ong Mỹ kia muốn chọn ngày nào thì chọn, bất kể việc đó vùi dập tâm hồn UẤT HẬN của Người Việt Nam.
    • 2) Thay vì trả lời trực tiếp và rõ rệt cho những câu hỏi về vấn đề then chốt trên đây, Giáo sư lại trả lời lòng vòng, mà mục đích mà tôi hiểu là Giáo sư muốn tránh né trách nhiệm làm bậy. Những trả lời lòng vòng của Giáo sư Bích như sau:
    a) Giáo sư ca tụng Ong Mỹ kia có thiện chí muốn nêu cao tinh thần chiến đấu của dân chúng và quân đội Miền Nam Việt Nam.
    b) Giáo sư chỉ được Ong Mỹ tham khảo về những chi tiết như những con số trong nội dung Nghị Quyết, chứ không được hỏi về tổng thể Nghị Quyết. Đây là có ý muốn tránh né về việc Ong Mỹ muốn chọn ngày 30/4.
    c) Giáo sư còn biện minh cho Ong Mỹ là nếu không chọn ngày 30/4 thì chọn ngày nào. Ong Mỹ chỉ còn đường chọn ngày 30/4 để nói rằng ngày đó là do Mỹ quyết định cắt mọi viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.
    d) Giáo sư còn công kích những ai hỏi rằng đây là có « bàn tay lông lá « âm mưu muốn xóa NGÀY 30/4 QUỐC HẬN bằng cách trả lời rằng đây là những vu khống hay nghi kỵ cho người khác.
    e) Để trả lời cho thắc mắc rằng đây là vấn đề quan trọng, thế mà khi Giáo sư được Ong Mỹ yêu cầu góp ý, thì Giáo sư lại dấu lẹm đi, mà không thông báo việc quan trọng này cho Cộng Đồng, Giáo sư đã trả lời rằng thông báo cho Cộng Đồng, thì lại lắm thầy thối mà, lắm cha con khó lấy chồng. Trả lời như vậy làm người nghe có thể nghĩ rằng nếu thông báo cho Cộng Đồng thì Giáo sư khó lòng thực hiện âm mưu « xóa ngày QUỐC HẬN 30/4 ! »
    f) Sau cùng Giáo sư đã nói ra quan điểm của mình là muốn xóa hai chũ QUỐC HẬN và muốn thay vào đó là ngày vui mừng và ngày quật cường !!! Điều này chứng tỏ rằng lòng của Giáo sư muốn xóa hai chữ QUỐC HẬN.

    Chính câu trả lời cuối cùng này cắt nghĩa tại sao Giáo sư đã không trả lời trực tiếp và rõ rệt cho những câu hỏi về vấn đề then chốt là tại sao chọn ngày 30/4 QUỐC HẬN làm ngày MIỀN NAM VIỆT NAM hay NGÀY VNCH, mà Giáo sư chỉ trả lời lòng vòng « LẠC ĐỀ « cốt ý để tránh cái thâm ý là muốn xóa hai chữ QUỐC HẬN mà Giáo sư vì ngu dốt hay vô tình, đã để lòi cái đuôi cáo ra ở câu trả lời chót là muốn ngày đó là ngày vui mừng quật cường. Thường những kẻ không có lòng trung thực, thì hỏi nhiều sẽ để lòi cái gian ra. Tiếng La-tinh có câu « QUIDQUID LATET APPAREBIT « (Sự gì ẩn dấu tiềm tàng, sẽ có lúc lòi ra !)


    Tại Việt Nam, CSVN đã ăn mừng ngày 30/4 là ngày CHIẾN THẮNG, GIẢI PHÓNG. Giáo sư muốn vui mừng ngày 30/4, hãy về ăn mừng với CSVN, thì hết phải trả lời « LẠC ĐỀ « vòng vo tam quốc !
    Ngày QUỐC HẬN 30/4 là ngày phải được tôn trọng
    không phải là chỉ nguyên cho Người Việt Hải ngoại,
    mà cho cả Dân tộc.


    Ở phần trên, trong câu trả lời chót, Gs Bích đã để lòi cái đuôi chồn ra là muốn ngày 30/4 là ngày vui mừng quật khởi chứ không phải là ngày than khóc, nghĩa là Giáo sư muốn xóa hai chữ QUỐC HẬN. Trong lá thư biện bạch trên Diễn Đàn, Giáo sư cũng nói rõ điều đó. Như vậy, Gs Bich coi việc HẬN là xấu phải xóa bỏ đi. Đây là việc lầm lẫn lớn của Gs Bích.
    Trong VIỆT NAM TỰ ĐIỂN của LÊ VĂN ĐỨC được hiệu đính bởi LÊ NGỌC TRỤ, do nhà xuất bản KHAI TRÍ, thì chữ HẬN được định nghĩa là : »Giận, Oán trong lòng : Om hận, Thù hận, Oán hận «. Có thể dịch ra tiếng Pháp là HAIR. Chữ HAIR được PHÁP-VIỆT Tân Tự Điển của THANH NGHỊ dịch ra tiếng Việt như sau : « Oán ghét, Căm thù, Căm hờn (Il hait le mensonge : Hắn ghét nói dối).


    Như vậy chữ HẬN tự nó không có gì là xấu để Gs Bích phải chủ trường xóa bỏ chữ đó đi. Chỉ có CSVN mới ghét chữ đó vì chúng đã làm những điều tàn ác và không muốn dân chúng Việt Nam dùng chữ HẬN để nhắc ra những tội ác của chúng, nhất là ghi cái ngày QUỐC HẬN 30/4 này vào Lịch sử để các Thế hệ con cháu truyền lại cho nhau. Nếu Gs Bích ghét chữ HẬN có lẽ vì đã bị CSVN nhồi sọ cho mà thôi hoặc là muốn chiều theo ý của CSVN.


    Không những chữ HẬN tự nó không có gì đáng ghét, mà nó còn làm nền tảng sức mạnh để con người tăng thêm ý chí đi tới mục đích cuối cùng. Câu nói tiếng Pháp : « Il hait le mensonge : Hắn ghé nói dối « cho thấy rằng ý chí nói sự thật cần phải có lòng ghét cay ghét đắng việc nói dối làm sức mạnh để con người có can đảm nói sự thật. Việc hận thù đối với nói dối là nền tẳng tăng cường cho ý chí nói sự thật. Nếu Gs.Bích muốn quật cường chống Cộng, thì phải cần sự OÁN HẬN trong lòng của mọi người đối với những tội ác của Cộng sản, thì lúc đó ý chí chống Cộng mới tăng sức mạnh đi tới cùng.


    Ngay trong Tôn Giáo, việc oán hận đối với tội lỗi cũng là điều cần thiết để người ta tăng ý chí tránh tội lỗi. Nếu Gs.Bich là người Công Giáo và khi xưng tôi, phải có lòng oán ghét tội lỗi thì mới là thành thực. Còn xưng tội xong, không coi tội lỗi là thù, mà còn coi là bạn, thì sẽ tái phạm rất dễ dàng.


    HẬN ai ?

    Có thể là hận chính mình vì mình đã làm những điều ác trong quá khứ mà bây giời mình phải thù oán những điều ác do mình làm ra để lấy sức mạnh và can đảm cho ý chí quyết tâm làm điều thiện.

    Có thể là hận những người đã gây tội ác cho mình và cho những người chung quanh. Từ cái lòng hận của mình, còn phải phổ biến sự oán hận ấy cho những người chung quanh để mọi người cùng một ý chí bài trừ thủ phạm mang tội ác đến cho mọi người.


    Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa đã đã đặt mối oán thù giữa người Nữ và con rắn. Bà Eva đã nghe lời con rắn để Nhân loại phạm tội bất trung. Con rắn tượng trưng cho quỷ làm điều ác. Người Nữ là cội nguồn Nhân loại. Như vậy Nhân loại phải mang trong lòng mối HẬN đối với quỷ (con rắn) là tội lỗi. Cái mối HẬN này là cần thiết để Nhân loại có sức mạnh mang ý chí xua đuổi trước tiên những điều ác để sau đó thực hiện ý chí làm điều lành.


    NGÀY QUỐC HẬN 30/4
    Ngày Quốc Hận 30/4 là ngày của TÂM HỒN không phải chỉ riêng cho những Người Việt buộc lòng phải bỏ nước ra đi để tỵ nạn nơi xứ người, mà còn là ngày của TÂM HỒN của cả DÂN TỘC VIỆT NAM đã và đang phải cúi đầu chịu đựng những hậu quả tàn ác của Chế độ Cộng sản do Hồ Chí Minh và đảng CSVN dùng bạo lực áp đặt lên Lãnh thổ Việt Nam. Ngày 30/4 chi là một ngày tượng trưng cho muôn ngày thù oán Cộng sản đã trải qua bao chục năm trường từ khi ác tặc Hồ Chí Minh phục vụ cho Cộng sản quốc tế mang Chế độ Cộng sản ngoại lại về bắt Dân Tộc phải chịu đựng.


    * Cái ngày Hồ Chí Minh áp đặt chủ thuyết Cộng sản ngoại lai lên Miền Bắc là ngày QUỐC HẬN
    * Cái ngày bắt đầu Cải Cách Điền Địa giết bao trăm ngàn người là ngày QUỐC HẬN.
    * Cái ngày CSVN âm mưu với Pháp chia đôi đất nước Việt Nam năm 1954 là ngày QUỐC HẬN.
    * Ngày Tết Mậu Thân giết bao ngàn người ở Huế là ngày QUỐC HÂN
    * Ngày xua quân Miền Bắc vào Miền Nam, lấy chiêu bài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đặt mìn phá cầu cống, bỏ lựu đạn nổ giết những trẻ em ở trường học, ở chợ búa làm chết dân lành… là ngày QUỐC HẬN
    * Ngày Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ký dâng Biển, Đảo cho Tầu là ngày QUỐC HẬN.
    * Ngày Quốc Hội Hoa kỳ chấm dứt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa để làm mồi cho ngày 30/4 là ngày QUỐC HẬN
    * Ngày 30/4, Cộng sản Miền Bắc chiếm trọn Miền Nam là ngày QUỐC HẬN. Ngày này trượng trưng cho tất cả những ngày trên đây, không phải chỉ riêng cho những người buộc phải bỏ nước ra đi, chết chìm trên biển cả, hay chết đói lả người trong rừng núi, mà còn chung cho cả DÂN TỘC VIỆT NAM.

    DÂN TỘC VIỆT NAM phải mang TÂM HỒN OÁN HẬN những tội ác CSVN để làm NỀN TẢNG cho ý chí quyết đi tới cùng việc loại trừ cái Cơ chế Cộng sản ngoại lai nhằm giải thoát DÂN TỘC.


    Tại sao không chọn ngày Quốc Hội Mỹ quyết định
    ngưng viện trợ để làm NGÀY NAM VN hay ngày VNCH ?
    Trở lại những câu trả lời lòng vòng « LẠC ĐỀ « của Thầy Bích. Thầy cứ than là khó khăn không biết chọn ngày nào cho cái Oâng Mỹ nào đó. Việc Oâng Mỹ, với góp ý của Thầy Bích, chọn ngày 30/4 QUỐC HẬN là một xúc phạm đến TÂM HỒN của cả DÂN TỘC VIỆT NAM đang oán hận những tội ác của CSVN từ Hồ Chí Minh cho đến nay. Mối hận này làm NỀN TẢNG cho DÂN TỘC cùng đứng lên quyết loại trừ tội ác. Chính Tôn Giáo cũng khuyên phải oán hận những điều ác để mới thành tâm thực hiện điều lành.


    Thầy Bích nói rằng Ong Mỹ bí lối không biết chọn ngày nào, nên đành phải chọn ngày 30/4 xúc phạm cả TÂM HỒN của một DÂN TỘC.


    Tôi xin chỉ cho Thầy Bích và Ong Mỹ một ngày rất tượng trưng để mà chọn. Đó là chọn ngày mà QUỐC HỘI MỸ QUYẾT ĐỊNH CẮT VIỆN TRỢ CHO VNCH làm ngày Nam Việt Nam hay ngày VNCH. Cái ngày này không những không xúc phạm đến TÂM HỒN HẬN của Dân Tộc Việt Nam, mà còn tăng cuờng cho MỐI HẬN mà Dân Tộc đang mang trong TÂM HỒN vậy.


    Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
    Geneva, 17.04.2013Web: 

    http://VietTUDAN.net

    Thursday, 3 March 2016

    NHƯNG LẠI LÀ TIN VUI CHO CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN CHỐNG CỘNG HẢI NGỌAI

    LẠI 1 TÊN TRỞ CỜ CHẾT THẢM VÌ LỜI NGUYỀN CỦA LS SAN JOSE- XUỐNG ĐỊA NGỤC MÀ NHẬP BỌN VỚI HỒ CHÍ MÈO NHÉ./- TCL/Mv.


    Thông báo Tin buồn

    Chúng tôi vừa nhận tin:



    NNB.jpg
    Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, 

    cựu Giám Đốc Chương trình Việt ngữ Đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA),

    một nhân sĩ trong vùng Thủ đô HTĐ, 

    một khuôn mặt quen thuộc trong những sinh hoạt của 

    Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại Hải ngoại, 

    đã đột ngột từ trần vào lúc 9 giờ đêm ngày 2 tháng 3, 2016,

    trên chuyến bay từ Thủ đô HTĐ đi Manila.. 

    Tin do hiền thê của Giáo Sư là Bà Tiến sĩ Đào Thị Hợi cho biết.

    Trân trọng..


    BMHWashington, D.C 

    ***NGUYỄN NGỌC BÍCH CÓ VÔ SỐ CÁI XẤU NHƯNG TỆ HẠI NHỨT LÀ CHUYỆN MÚA MỒM THEO VIỆT CỘNG ĐỂ XIN PHÂN CỘNG./- TCL/Mv.


    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời 



    Wednesday, March 2, 2016 11:23:07 PM



    WESTMINSTER (NV) - Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, cựu giám đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) vừa đột ngột qua đời ngay trên chuyến bay từ thủ đô Washington DC đi Manila, Philippines tối 2 Tháng Ba, 2016.

    Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, bào huynh của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, cho báo Người Việt biết tin này.
    alt
    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. (Hình: Triết Trần/Người Việt)  

    Giáo sư Linh nói với Người Việt rằng, hiền thê của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là Tiến sĩ Đào Thị Hợi dùng điện thoại trên máy bay gọi về báo tin buồn vào lúc 9 giờ tối 2 Tháng Ba (giờ miền đông Hoa Kỳ). Bà cho biết, Giáo sư Bích vào phòng vệ sinh trên máy bay, khi về lại chỗ ngồi thì lên cơn mệt và mất ngay tại ghế ngồi.
    Luật sư Trịnh Hội, Giám đốc Tổ chức VOICE trụ sở tại Manila cũng đã biết tin này và đang có mặt tại phi trường Manila để đón thi hài Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh 1937 tại Hà Nội. Lúc còn nhỏ, ông học  tiểu học ở Vĩnh Yên, sau đó vào trung học ở Chasseloup Laubat, Saigon.
    Theo lời Giáo sư  Nguyễn Ngọc Linh, Giáo sư Bích du học Hoa Kỳ năm 1954 theo chương trình học-bổng Fulbright, học Đại học Princeton và và tốt nghiệp ngành Chính trị học năm 1958. Sau đó, ông tiếp tục theo học môn Á Đông học, Văn học cổ điển Nhật tại Columbia University, New York và có thời gian sang Nhật bằng học bổng President's Fellowship để thu thập tài liệu cho luận án cao học. Ngoài ra, ông theo đuổi  một số khóa học ngắn ở Đại học Vienna và Munich (tiếng Đức), Madrid (tiếng Y-pha-nho), USDA Graduate School (tiếng Trung và tiếng Nga). 

    Sau nhiều năm sống, học và làm việc ở ngoại quốc, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích về nước năm 1972, cùng với hiền thê là Tiến sĩ Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, đồng thời giữ chức Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ dân Vận Chiêu Hồi do ông Hoàng Đức Nhã làm Tổng trưởng.

    Khi cộng sản chiếm miền Nam Tháng Tư năm 1975, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích rời quê nhà sang Hoa Kỳ sống tại Virginia cho tới khi ông vĩnh viễn ra đi.

    Trong suốt thời gian hơn 40 năm qua, ông kiên trì đóng góp trong nhiều lãnh vực văn hóa, giáo dục, đấu tranh của người Việt Quốc Gia hải ngoại.

    Thời Tổng thống George W.H Bush lãnh đạo Tòa Bạch Ốc, Giáo sư Bích được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Song Ngữ của Bộ Giáo Dục Liên Bang. Ông cũng từng là giám đốc của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày đài phát thanh chương trình đầu tiên về Việt Nam vào tháng hai năm 1997. Kể từ ngày về hưu rời khỏi RFA, ông vẫn giữ chức Chủ tịch ‘Nghị Hội Toàn Quốc Của Người Việt tại Hoa Kỳ’ và tiếp tục các trước tác văn học, dịch thuật.

    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần, để lại một di sản đồ sộ những đóng góp của ông trong rất nhiều lãnh vực. Và ông cũng để lại tình cảm yêu mến trong lòng nhiều người Việt trong và ngoài nước.

    Nói về sự ra đi đột ngột của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Nhà văn nữ Trương Anh Thụy, người cùng với Giáo sư Bích khởi xướng Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ và đã phát hành rất nhiều tác phẩm văn học, nghiên cứu trong hơn 20 năm qua, lặng đi, đứt quãng: "Sửng sốt! Đau buồn! Cùng học với Bích thời thập niên 50 bên Mỹ và làm việc chung với nhau không biết bao nhiêu công tác, không ngờ ông lại mất đột ngột không một lời giã biệt."

    Một bạn học khác của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích thời du học Mỹ là ông Nguyễn Thái Sơn nói: "Buồn đau quá các bạn ơi! Bích hiền và thủy chung với tất cả mọi người. Tấm lòng như thế mà sao lại đột tử! Buồn quá các bạn ơi." (Đ.Q.A.T)



    alt

    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. (Hình: Youtube VanHoaNBLV1)

    Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích
    Sự nghiệp

    Dịch-thuật: A Thousand Years of Vietnamese Poetry (Một nghìn năm thi ca VN, Alfred A. Knopf, 1975), War & Exile: A Vietnamese Anthology (chủ biên, Chiến tranh và Lưu đày: Tuyển tập văn thơ VN hiện đại, Trung tâm Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ, 1989, để đi dự Đại hội Văn-bút Thế-giới ở Montreal, Canada, tháng 9-1989), Trường Ca Lời Mẹ Ru / A Mother's Lullaby của Trương Anh Thụy (dịch sang tiếng Anh, Cành Nam, 1989), Hoa Địa Ngục / Flowers of Hell và Hạt Máu Thơ / Blood Seeds Become Poetry (dịch thơ Nguyễn Chí Thiện, Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 1996), From Enemy to Friend (dịch "Mây Mù Thế Kỷ" của Bùi Tín, Naval Institute Press, Annapolis, MD, 2004), Cung Oán Ngâm Khúc / Complaints of an Odalisque (dịch và giới-thiệu thơ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều, East Coast Vietnamese Publishers Consortium, 2006), Hỏa Lò / Hanoi Hilton Stories (dịch với người khác 3/7 truyện của Nguyễn Chí Thiện, Yale Southeast Asian Studies, 2007), Zenith (dịch chung với Hòa và Stephen B. Young "Đỉnh Cao Chói Lọi" của Dương Thu Hương, Viking, 2012).

    Biên khảo
     
    North Vietnam: Backtracking on Socialism (Vietnam Council on Foreign Relations, Saigon, 1971), giới-thiệu về thơ VN trong Nguyễn Đình Hòa, chủ-biên, Some Aspects of Vietnamese Culture (Southern Illinois University, Carbondale, IL, 1972), An Annotated Atlas of the Republic of Vietnam (Embassy of Vietnam, Washington DC, 1973), Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2000), Omar Khayyam - Rubaiyat: Thơ và Đời (dịch và giới-thiệu thơ Ba-tư, Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2002), Tet, the Vietnamese New Year (East Coast Vietnamese Publishers Consortium, 2004), Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn (1 trong 7 soạn-giả, Viện Việt Học, 2009), Lưu Hương Ký (thơ chữ Nôm và chữ Hán của Hồ Xuân Hương, Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2011).

    Mỹ thuật – Âm nhạc

    Vietnamese Architecture (dịch từ tiếng Pháp của Nguyễn Năng Đắc và Nguyễn Quang Nhạc, Embassy of Vietnam, Washington DC, 1970), 15 Ca-khúc mừng Giáng Sinh (National Center for Vietnamese Resettlement, 1975), Ngục Ca / Prison Songs (thơ Nguyễn Chí Thiện do Phạm Duy phổ nhạc, NNB làm lời tiếng Anh hát được, VICANA, 1982), dịch một số bài trong Trần Cao Lĩnh, Vietnam, My Country Forever (nhiếp ảnh nghệ-thuật, Aide à l'Enfance du Viet Nam, Paris, 1984), tác-giả hai bài về huyền-thoại VN và thơ VN trong Vietnam: Essays on History, Culture and Society (New York: The Asia Society, 1985), dịch danh-mục hội-họa VN trong An Ocean Apart: Contemporary Vietnamese Art from the United States and Vietnam (“Nghìn Trùng Xa Cách,” Washington, DC: Smithsonian Institution Traveling Exhibit Service, 1995), dịch các tiểu-luận về mỹ-thuật trong Thái Tuấn: Selected Paintings and Essays (Garden Grove, CA: VAALA, 1996).

    Góp mục từ điển
     "Southeast Asian Literature," trong Funk and Wagnalls New International Yearbook 1965, "Southeast Asia," trong The Oxford Companion to Women's Writings in the United States, "Nguyen Chi Thien" trong Mark Wilhardt, Who's Who in Twentieth-century World Poetry (Routledge, London, 2002).

    Góp mặt trong các tuyển tập

    Dịch thơ VN trong Dorothy B. Shimers (chủ-biên, Voices of Modern Asia, New York: New American Library, 1973), có gần 40 bài thơ Việt trong Katharine Washburn và John S. Major, World Poetry, An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (Thơ Thế-giới, một tuyển-tập từ thượng-cổ đến ngày nay, New York: Norton, 1998), và có thơ VN dịch trong khoảng 40 sách giáo-khoa Mỹ.

    Friday, 5 September 2014

     Từ Trịnh Công Sơn, Tố Hữu Đến G/S Nguyễn Ngọc Bích
    Click image for larger version Name: 198.jpg Views: 0 Size: 7.8 KB ID: 656756  
    Tôn Nữ Hoàng Hoa

    Cho đến nay vẫn có nhiều bài viết về Trịnh Công Sơn như một nỗi niềm. Ngay cả những đài phát thanh cũng vẫn cho truyền bá nhạc TCS. Hồi còn ở Houston. Mỗi buổi sáng trên đường đi làm tôi thường vặn đài Saigon-Houston 900AM để nghe nhạc. Đài này cho đến nay vẫn tiếp tục cho phát thanh nhạc TCS như một thách thức trong lòng ngừơi chống Cộng. Cứ mỗi lần nghe cô xướng viên rêu rao nhạc phẩm TCS thì tôi vội vả tắt máy. Có lần đang đi trên một đường cong ra xa lộ nghe cái tên TCS là thấy ứa gan vội vả tắt đài suýt một chút tông vào xe bên cạnh .

    Đôi với tôi khi viết về TCS không phải là một nỗi niềm mà là một nỗi chết.
    Trở lại thời gian chiến tranh ở VN khi cuộc chiến ở vào cao điễm. Ngừơi dân miền Nam vẫn ca hát nhạc TCS nhưng không ngờ những gắn bó, quen thuộc, hòa nhập đó cho đến nay họ mới nhận ra những tương giao ấy đã một lần như không khí tiếp sức cho vạn vật xanh tươi. bây giờ mỗi lần nghe đến tên TCS thì mọi tương giao đã cắt đứt như không khí đã bỏ thiên nhiên và cỏ cây đã tàn rụi. Vì lẽ đó khi nói đến TCS thì không còn là nỗi niềm mà là NỖI CHẾT .

    Tôi gọi TCS là nỗi chết bởi từ dòng âm nhạc của ông ta như trong bài "Cho Quê Hương Mĩm Cười có câu (trích):

    Trên thân em đã có vết bầm
    Trên da anh thịt xương tra tấn
    Trên thân chị nhục nhằn đau thương
    Xin nuôi thêm dòng máu quật cường
    ........
    Ta nung sôi ý chí mặt trời
    Chặt gùm xích cho quê hương mĩm cười

    Cho Quê Hương Mĩm Cười (Kinh Việt nam và Ta phải Thấy mặt Trời)

    (Hết trích)

    Chúng ta thấy gì qua 6 câu thơ trên. TCS đã diễn tả nỗi đau đớn thân xác của các du kích VC từ em bé đến chị đến anh cho dù da có nát xương có bâm nhưng phải quật cường sôi ý chí mặt trời

    Thật không còn một hình ảnh tán tận lương tâm, bất nhẫn nào hơn khi những tên du kích VC bị thịt nát xương tan mà vẫn bảo hãy đứng dậy trường kỳ kháng chiến trong sôi sục của màu máu mặt trời

    Nỗi chết thứ hai là khi TCS tiếp tục "cổ xúy" cho mọi người trường kỳ kháng chiến đánh cho Mỹ cút-Ngụy nhào trong câu thề máu xương ở bài nhạc "Chưa Mòn Giấc Mơ Trích)

    Ta bước đi bước đi hoài
    Trên quê hương dấu yêu này
    Dù trăm năm dài, ngày đêm dân ta cứ chiến đấu mãi
    Đánh trăm quân thù
    Mặt đất âm u đang dọn ngày về
    trong câu thề máu xương

    ( bài hát này cũng trong tập nhạc "Ta phải thấy Mặt Trời" )

    Rõ nét hơn để quí vị thầy rõ bản chất của TCS là một tên phản chiến hay là một con ngừơi sôi sục ý thức cộng sản đã nằm vùng tại nam Việt Nam

    Chúng ta hãy đọc lời của bản nhạc mang tên "Còn Thấy Mặt Người" trong đó TCS đã diễn tả Trích) :

    Từng ngày thấy mặt trời
    Thấy mặt ngừơi lòng đã thấy vui
    Từng đêm tôi ngồi chờ đợi
    Từng đêm tôi ngồi chờ đợi
    Chờ từng sớm mai thấy lại mặt người

    Mặt người trong bài ca này chính là Mặt Trời.

    Nhưng Mặt Trời là cái gì? Chúng ta hãy nghe tên VC thi sĩ Tố Hữu ngừơi miền Trung đã khẳng định Mặt Trời Trong bài thơ "Việt Nam Máu và Hoa" là một chân lý , một chủ nghĩa cộng sản đã chói trong tim(trích)

    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lý chói qua tim
    (hết trích)

    Trong bài thơ "Bài Ca Mùa Xuân" năm 1961, Tố Hữu viếttrích)

    Nào đi tới! Bác Hồ ta nói
    Phút giao thừa, tiếng hát đêm xuân
    Kế hoạch năm năm. Mời những đoàn quân
    Mời những bàn chân, tiến lên phía trước.
    Tất cả dưới cờ, hát lên và bước!

    (Hết trích)

    Xin quí vị đọc lại lời nhạc của Trịnh Công Sơn trong bài "Chưa Mòn Giấc Mơ" trên công tác xách động du kích chống ngừơi Quốc Gia và chính phủ VNCH có giống bài thơ Bài Ca Mùa Xuân mà Tố Hữu đã viết như trên:

    Nào đi tới! Bác Hồ ta noi....
    Kế hoạch năm năm. Mời những đoàn quân

    Trịnh Công Sơn nằm vùng không dám lộ liểu nên chỉ lấp lửng qua lời nhạc :
    Trên quê hương dấu yêu này
    Dù trăm năm dài, ngày đêm dân ta cứ chiến đấu mãi

    Tuy không nằm cùng địa lý nhưng cả hai tên thi nô và nhạc nô này đều ca tụng kế hoạch 100 năm của Hồ Chí Minh

    Tố Hữu là một tên hung tàn sát nhân không gớm tay đã nói lên bản chất sắt máu của mình khi lấy máu ngừơi dân để thay nước tưới ruộng đồng cho lúa mau lên cho dân đóng thuế để đảng trường kỳ qua những câu thơ sau đây:

    "Giết! Giết! nữa bàn tay không ngừng nghỉ
    Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
    Cho Đảng bền lâu cùng rắp bước chung lòng
    Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt

    Ngoài một thi nô của Hồ Tặc Tố Hữu nguyên là Ủy Viên Bộ Trưởng kiêm Bí Thư ban Chấp hành Trung Ương đảng csVN Tố Hữu lại nỗi tiếng gian ác trong việc đàn áp phong trào Nhân văn Giai Phẫm. Ấy thế mà Thi nô của Hồ tặc lại được giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trân trọng dịch thơ Tố Hữu để truyền bá trong các thư viện Hoa Kỳ

    Ông Nguyễn Ngọc Bích vừa muốn làm đại diện VNCH trong bối cảnh chính trị hải ngoại hiện nay , vừa lại là một dịch giả thơ của một tên VC Tố Hữu đã từng là Bí Thư của Ban Chấp hành đảng csVN? Không biết những cái lấp lửng này có lợi cho ai? Cho VNCH hay cho VC??
    Đại diện cho VNCH là hành động của ngừơi Quân tử nhưng dịch thơ của tên Tố Hữu Bí Thư Trung Ương Dảng csVN thí lại là kẽ tiểu nhân. Ông Nguyễn Ngọc Bích đang đứng Ở giữa con đường quân tử và tiểu nhân thì đây chính là con đường NGỤY QUÂN TỬ.

    Không biết quí vị trong Tập Thể Ngừơi Việt Tỵ Nạn công sản tại hải ngoại có ai đồng ý với sự việc này không? Nhưng chúng tôi xin mượn bài thơ KHÓC TỐ HỮU của tác giả Nguyễn Thạch để kết thúc bài viết hôm nay và để kính tặng giáo sư Nguyễn Ngọc Bích:

    KHÓC TỐ HỪU, KHÓC ĐẢNG
    Tác giả: Nguyên Thạch

    "Yêu biết mấy khi nghe con tập nói
    Tiếng đầu lòng con gọi Xít-Ta-Lin" *
    Nghe Tố Hữu nâng bi mà hãi quá
    Miệng của ông, xì hơi thối...như mìn!

    Ông ngồi khóc Xít Ta Lin hơn cha chết
    Kêu gào đất trời cũng phải lết theo ông!
    Ông nâng bi và hôn cả chùm lông
    Cái tên đồ tể mà ông nịnh bợ.

    Đó có phải là chủ trương tôi tớ
    Mà đảng ông làm sách vở noi theo
    Nếu ví ông như một gã phường chèo
    Thì mấy thằng lãnh đạo tiếp theo là những cu tèo diễn kịch.

    Lời truyền của ông, nay đà đến đích
    Thơ của ông đã thành hịch tiến quân
    Họ ca ngợi 16 chữ vàng và 4 tốt rất ân cần
    Và cũng học theo ông để nâng thằng Chệt.

    Tôi sẽ khóc vì ông, khóc cho đến chết
    Khóc hết ga, khóc la lết, khóc thảm thương
    Khóc vì mấy câu thơ ông diễn tả Quê Hương
    Xin dẫn trích, cho rộng đường dư luận.

    "Bên kia biên giới là nhà
    Bên nay biên giới cũng là quê hương"
    Hoặc
    "Bên ni biên giới là mình
    Bên kia biên giới cũng tình quê hương…" **

    Đảng đã chọn con đường nô lệ
    Quyết học theo đồ tể hung hăng
    Đạo lý...nhân cách...biến đi để thay vào đó là sự thiển cận...tục tằng...
    Hèn hạ, quì mọp...lai căng Thái thú.

    Một cái đảng mà đã quen rừng rú
    Nên hở ra là xài luật loài thú trong rừng
    Dùng bắp thịt húc đầu chọi dân vì đã quen lối sống ở bưng
    Té hầm sụp giếng nên khừng khừng dại dại!

    Đã hơn 70 năm rùi mà miệng vẫn còn lãi nhãi
    Không biết mấy ngàn năm mới tiến lên thế giái đại đồng
    Bất luận là mấy trăm năm thực hiện XHCN, cứ thư thả chỏng mông
    Cứ tà tà mãi, miễn còn có cơ hội để ăn cắp của công là được!.

    Thật đau đớn cho dân tôi!
    Một thứ dân vô phần bạc phước...
    Đội trên đầu một nhà nước vô lương
    Đêm nay, tôi nằm khóc ông, khóc thê thảm, khóc chán chường
    Tiên sư cha các ông đã làm cho dân tộc tôi phải đau thương trong đày đọa...

    Tôi không muốn xúc phạm đến loài khuyển để gọi các ông là...(tự hiểu).
    Nguyên Thạch.


    Tháng 6/24/2014
    Tôn Nữ Hoàng Hoa