Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VuAnhKhanhThaLaXomDao. Show all posts
Showing posts with label VuAnhKhanhThaLaXomDao. Show all posts

Friday, 24 March 2023

 Bến Hải, Thủy Mộ của Vũ Anh Khanh (Nguyễn Năm- Phan Thiết).

Trong số các nhà văn, nhà thơ miền Nam (sau vĩ tuyến 17), có một thi sĩ nổi tiếng mà sử sách cả hai bên Quốc-Cộng ít nói đến, là Vũ Anh Khanh, tác giả bài thơ khét tiếng ‘Tha La Xóm Ðạo’; kẹt vì ông đang ở miền Nam thì tập kết ra Bắc năm 1954; cái kẹt thứ hai là năm 1957 ông bơi qua sông Bến Hải trở về quê hương miền Nam, và nghe nói bị miền Bắc bắn theo, ông đã nằm sâu trong lòng sông biển. Sử sách miền Bắc chắc chắn không dám nói đến ông, còn sử sách miền Nam quá ngắn ngủi, lại còn bị thiêu hủy sau này, nên nếu người hải ngoại quên ông, là tất cả sẽ lãng quên thêm nhiều năm nữa, trước khi có một Việt Nam hưng phục trong nền Văn hiến cũ và mở mang xây dựng lại từ đầu.









Vũ Anh Khanh (1926-1957). (Hình: Theo tài liệu Nguyễn Văn Sâm)


Nhà thơ Vũ Anh Khanh sinh năm 1926, tên khai sinh là Nguyễn Năm, quê quán thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, sinh sống tại thành phố Sài Gòn, có thơ văn đăng trên các báo ở thủ phủ miền Nam từ mấy năm chót của thập niên 40, nghĩa là trong khoảng thời gian ông trưởng thành, những năm hai mươi tuổi. Ðây là thời gian đất nước xáo trộn giữa các ảnh hưởng thời thế, chính sự, từ cuộc vận động của các tổ chức, đoàn thể, sự thức tỉnh tự thân tự nguyện của giới thanh niên trí thức trẻ, trong có các văn nghệ sĩ, đưa đến cuộc tranh đấu chống Pháp năm 1945 tới cảnh ra bưng, về thành, bên này bên kia một lằn ranh tù ngục hay máu lửa, nhưng được phủ lên bằng một làn sương lãng mạn, thi vị hóa, như con sông nào cũng có thể là Sông Dịch, và những Vũ Anh Khanh, Khổng Dương, Thẩm Thệ Hà… những nhà văn nhà thơ thao thức với chuyện non sông đất nước, bỗng trở thành những Kinh Kha nhập Tần, những Thái tử Yên hay Cao Tiệm Ly. Bản sắc thơ văn của giai đoạn này vừa bi hùng, vừa tràn đầy mỹ cảm được thấy ở khắp ba miền, song nổi bật ở trong Nam, được gọi quen thuộc là thơ văn Tranh đấu Nam bộ, có lẽ một phần là nhờ sinh hoạt báo chí ở Sài Gòn Gia Ðịnh trong giai đoạn đó phồn thịnh hơn sinh hoạt báo chí ở Huế hay Hà Nội. Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt, một người miền Nam, lớn lên và sống tại Sài Gòn, đã có một nhận định chung về thời kỳ này, khá đúng về tổng quát: “Trong thời Nam bộ kháng chiến, cùng với một số nhà văn, lý thuyết gia như Tam Ích, Hồ Hữu Tường, Thiếu Sơn, Dương Tử Giang, với một số nhà thơ như Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Hoàng Tố Nguyên, Chim Xanh, v.v., đã tạo nên một thời văn nghệ chiến đấu thật rực rỡ. Văn nghệ miền Nam được sáng chói và góp công lao xây dựng một cuộc quật khởi chung trên tinh thần độc lập của dân tộc, họ là những người xây cất những nền móng vững chắc buổi đầu. Và cũng là những người đã công khai lên tiếng kêu gọi trực tiếp hoặc gián tiếp tinh thần yêu nước thật sự của người dân bị nô lệ.” (Trần Tuấn Kiệt, Thi ca Việt Nam Hiện Ðại, 1880-1965, Khai Trí, Sg, 1967) Như thế tạm thời ta hãy nhận giai đoạn đó là giai đoạn Thơ văn Tranh đấu lãng mạn miền Nam, hay tranh đấu mà vẫn rất lãng mạn, ra đi vì tự nguyện, vì đất nước đang dưới sự cai trị của người, có khác so với thơ văn kháng chiến của miền Bắc, đa số các thi sĩ cũng là tự vệ thành, hay là bộ đội ngoài mặt trận.

“Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì đất Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than”
(VAK, Hận Tha La)*


Trong bối cảnh chung của văn chương miền Nam thời 1945-1954, Vũ Anh Khanh là nhà thơ nhà văn hàng đầu. Nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Sâm viết: “Nói đến văn nghệ miền Nam thế hệ 45-50, người ta nghĩ ngay đến cặp Lý Văn Sâm-Vũ Anh Khanh, cũng như nói đến nhà văn thế hệ 32 người ta nghĩ ngay đến Khái Hưng và Nhất Linh […]Nếu có thể xếp các nhà văn theo thứ bậc, tùy theo kết quả những tác phẩm của họ ta phải xếp Vũ Anh Khanh rồi mới tới Lý Văn Sâm, Hồ Hữu Tường, Phi Vân, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Sơn Khanh…” (NVS, Văn chương Tranh đấu Miền Nam, Kỷ Nguyên, Sài Gòn, 1969) Trong số các nhà văn nhà thơ từ miền Nam đi tập kết ra Bắc vào năm 1954 có Vũ Anh Khanh và Xuân Vũ. Xuân Vũ sau này, khoảng 1965, đã vượt Trường Sơn thành công về lại quê cũ, làng xưa, – quê hương Nguyễn Ðình Chiểu – và cầm bút trở lại để phơi bày cái giá mà ông và bạn hữu phải trả vì sự lầm lẫn của mình về Việt Minh Cộng Sản, thì nhà thơ Vũ Anh Khanh kém may mắn hơn nhiều. Xuân Vũ tới được bến bờ Tự Do, còn Vũ Anh Khanh, trong khi bơi qua sông Bến Hải, thì một mũi tên tẩm thuốc độc đã bắn theo. Xuân Vũ kể lại lúc Vũ Anh Khanh bơi qua sông Bến Hải để về Nam, là khoảng năm 1956. Nhưng Luật Sư Nhuệ Hồng Nguyễn Hữu Thống nói với người viết bài này, lúc ấy phải là năm 1957, hay có thể chậm hơn nữa, vì Giáng Sinh 1956 ông còn gặp Vũ Anh Khanh ở New Delhi, Ấn Ðộ, trong Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu. Nhà văn Xuân Vũ có kể: Vũ Anh Khanh mà được cử đi dự Ðại hội Tân Ðề Li là vì công an cộng sản không thấy tác giả bài thơ Hận Tha La trong cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền Hà Nội để phản đối sự chỉ huy văn nghệ của đảng nhân phong trào “Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng.” Ðó là cuộc mít-tinh của nhóm miền Nam tập kết ra Bắc phản đối những người Cộng Sản Hà Nội. “Sau khi dự hội nghị về, Vũ Anh Khanh được giấy đi công tác ở Vĩnh Yên. Vĩnh Yên phía trên Hà Nội ấy. Anh ta liền sửa giấy công tác, từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh, chỗ gần sông Bến Hải. Từ Hà Nội, Vũ Anh Khanh đi bộ vào Vĩnh Linh và rồi bơi qua sông Bến Hải.” Chuyện ra sao, những người yêu bài thơ Hận Tha La có thể đã nghe biết. Là Vũ Anh Khanh bơi qua sông, khi tới giữa sông thì công an bộ đội cộng sản phát giác. Chắc rằng họ ra lệnh cho ông phải bơi trở lại, nhưng chuyện ấy không xảy ra. Họ bắn theo, không bằng súng, mà bằng cung tên, mũi tên có tẩm thuốc độc, nên tác giả Sông Máu không bao giờ còn được hít thở không khí tự do mà ông đã bỏ mất từ 1954, khi tập kết ra Bắc. Trong ghi chép hàng ngày của một học giả [Ðoàn Thêm] làm công việc của một sử gia biên niên, lại có cơ hội thuận tiện là làm việc trong Văn phòng Tổng thống phủ VNCH, có một số việc được ghi lại như sau:

-4.10.1956: Ba người liều mạng bơi qua sông Bến Hải vào Nam.

-19.11.1956: Mười chín người từ Nghệ An đi ghe vượt tuyến tới Ðà Nẵng.

-8.4.1957: Bốn mươi mốt người dùng thuyền vượt tuyến vô Nam.

-28.10.1957: Hai sinh viên vượt tuyến vào Nam.

-11.2.1958: Mười bốn người vượt tuyến vô Nam xuyên qua Lào.
-2.7.1958: Hai mươi sáu người vượt tuyến qua Lào tới Sài Gòn.

…
Ta nhận thấy từ năm 1958, người ta vượt tuyến bằng đường bộ, xuyên qua Lào, không thấy ai bơi qua sông Bến Hải nữa. Nếu có, người ta đi đông, và dùng thuyền. Có thể đoán, người tìm tự do sau cùng bằng cách bơi qua sông là Vũ Anh Khanh. Cái chết của ông trên Sông Máu, bằng mũi tên tẩm thuốc độc bắn theo từ bờ phía Bắc, hẳn đã khiến vang dội cả hai bên bờ. Có thể yên tâm viết:

Vũ Anh Khanh (1926-1957). [Viên Linh bổ sung, 7.2013]

* Bài thơ Tha La được nhắc lại với vài tên khác nhau: Hận Tha La, Tha La Xóm Ðạo, hay Tha La. Vì người viết không có bản in lần đầu, nên cũng thể ghi là chép theo văn bản nào. Còn nhớ, hy vọng không lầm, khi chúng tôi mua được cuốn Thơ Mùa Giải Phóng trên lề đường Lê Văn Duyệt vào năm 1955, thì bài này có nhan đề Hận Tha La.

Tuesday, 10 December 2013

VŨ ANH KHANH TÁC GIẢ THƠ THA LA XÓM ĐẠO - TẬP KẾT RA BẮC RỒI ĐÀO THÓAT VỀ MIỀN NAM NHƯNG BỊ VIỆT CỘNG BẮN CHẾT KHI LỘI QUA SÔNG BẾN HẢI./- Mt68

Bến Hải, dòng sông vĩnh biệt 
của nhà thơ Vũ Anh Khanh 
Viên Linh 

Người yêu thơ văn kháng chiến khi nghe nhắc 
đến Vũ Anh Khanh, thường nhớ đến hoặc là 
truyện Nửa Bồ Xương Khô, hoặc là bài thơ Tha 
La Xóm Ðạo. Sau 20 tháng 7, 1954, ông tập kết 
ra Bắc, nhưng rồi chỉ ba năm sau ông quyết 
định bơi qua sông Bến Hải trở lại quê hương 
bản quán, thì một mũi tên tẩm thuốc độc từ bờ 
Bắc bắn theo ông. Thi sĩ đã không tới được bến 
bờ tự do, Bến Hải đã trở thành một dòng sông 
vĩnh biệt. 
Chân dung Vũ Anh Khanh - Ảnh mượn trong 
sách “Văn chương Nam bộ và cuộc kháng 
Pháp 1945-1950” của Nguyễn Văn Sâm. 
Nhà thơ Vũ Anh Khanh (1926-1957) tên khai 
sinh là Nguyễn Năm, quê quán thị xã Phan 
Thiết, tỉnh Bình Thuận, sinh sống tại thành phố 
Sài Gòn, có thơ văn đăng trên các báo ở thủ 
phủ miền Nam từ mấy năm chót của thập niên 
'40, nghĩa là trong khoảng thời gian ông trưởng 
thành, những năm hai mươi tuổi. (1) 
Ðây là thời gian đất nước xáo trộn giữa các 
ảnh hưởng thời thế, chính sự, từ cuộc vận 
động của các tổ chức, đoàn thể, sự thức tỉnh tự 
thân tự nguyện của giới thanh niên trí thức trẻ, 
trong có các văn nghệ sĩ, đưa đến cuộc tranh 
đấu chống Pháp năm 1945 tới cảnh ra bưng, 
về thành, bên này bên kia một lằn ranh tù ngục 
hay máu lửa, nhưng được phủ lên bằng một 
làn sương lãng mạn, thi vị hóa, như con sông 
nào cũng có thể là Sông Dịch, và những Vũ 
Anh Khanh, Khổng Dương, Thẩm Thệ Hà,... 
những nhà văn, nhà thơ thao thức với chuyện 
non sông đất nước, bỗng trở thành những Kinh 
Kha, những Thái Tử Yên hay Cao Tiệm Ly, 
những trang anh tuấn mưu sự lật Tần. 
Ta được tin, một chiều thu u ám 
Giữa mưa gào, gió thét, giữa âm ba 
Em đã chết trên bước đường ly loạn 
Hồn trinh nguyên hòa hợp ánh sao sa. 
(Thẩm Thệ Hà, Khóe Mắt U Hoài) 
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn, 
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít. 
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch: 
-Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La! 
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà. 
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn! 
Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La! 
(Vũ Anh Khanh, Hận Tha La) 
Bản sắc thơ văn của giai đoạn này vừa bi hùng, 
vừa tràn đầy mỹ cảm được thấy ở khắp ba 
miền, song nổi bật ở trong Nam, được gọi quen 
thuộc là Thơ văn Tranh đấu Nam bộ, có lẽ một 
phần là nhờ sinh hoạt báo chí ở Sài Gòn Gia 
Ðịnh trong giai đoạn đó phồn thịnh hơn sinh 
hoạt báo chí ở Huế hay Hà Nội. Một điểm rất 
hiển nhiên: Thơ văn Tranh đấu miền Nam thời 
gọi là Nam bộ (khoảng những năm '40) là miền 
đất lúc ấy thuộc Pháp, lại đầy rẫy những hình 
ảnh quan san, vó ngựa, áo bào, kiếm cung, và 
những chia ly làm thổn thức tuổi yêu đương, là 
những hình ảnh chinh chiến của thời xa xưa 
trong tiềm thức, không phải những hình ảnh 
của chiến tranh trong hiện thực cuộc sống lúc 
ấy: 
Ngựa anh say bước đường dài 
Tình em chan chứa ra ngoài thành Nam 
Mịt mù cách dậm quan san 
(Khổng Dương, Quan San) 
 ‐2‐ 

-“Em chẳng biết gì ư? 
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù! 
Người nước Việt ra đi vì đất Việt. 
Tha La vắng vì Tha La đã biết, 
Thương giống nòi đau đất nước lầm than” 
(Vũ Anh Khanh, Hận Tha La) 
Trong bối cảnh chung của văn chương miền 
Nam thời 1945-1954, Vũ Anh Khanh là nhà thơ 
nhà văn hàng đầu. Ông nổi tiếng ở cả hai địa 
hạt, văn và thơ. Nhà phê bình văn học Nguyễn 
Văn Sâm viết: “Nói đến văn nghệ miền Nam thế 
hệ 45-50, người ta nghĩ ngay đến cặp Lý Văn 
Sâm-Vũ Anh Khanh, cũng như nói đến nhà văn 
thế hệ '32 người ta nghĩ ngay đến Khái Hưng 
và Nhất Linh. [...] Ở đây, miền Nam, giai đoạn 
tranh đấu, ta phải nhận rằng Vũ Anh Khanh 
vượt Lý Văn Sâm nhiều. Nếu có thể xếp các 
nhà văn theo thứ bậc, tùy theo kết quả những 
tác phẩm của họ ta phải xếp Vũ Anh Khanh rồi 
mới tới Lý Văn Sâm, Hồ Hữu Tường, Phi Vân, 
Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Sơn Khanh...” 
(NVS, Văn chương Tranh đấu Miền Nam, Kỷ 
Nguyên, Sài Gòn, 1969). Là một người được 
đa số nhận định là đứng ở hàng đầu của miền 
Nam trong giai đoạn văn chương tranh đấu, 
1945-1954, song mọi sách báo văn nghệ cộng 
sản Việt Nam sau này viết về giai đoạn đó đều 
loại bỏ tên Vũ Anh Khanh. Họ có lý do không 
thể nói ra. 
Năm 1954, áp dụng Hiệp Ðịnh Genève về 
ngưng bắn giữa hai bên, trong khi khoảng hơn 
tám trăm ngàn người từ phía Bắc vĩ tuyến 17 
ào ạt vào Nam, thì phía cộng sản ở trong Nam 
đã chuyển một số cán bộ ra Bắc, gọi là đi tập 
kết. Trong số các nhà văn nhà thơ từ miền 
Nam đi tập kết ra Bắc vào năm 1954 có Vũ Anh 
Khanh và Xuân Vũ. Xuân Vũ sau này, khoảng 
1965, đã vượt Trường Sơn thành công về lại 
quê cũ, làng xưa - quê hương Nguyễn Ðình 
Chiểu - và cầm bút trở lại để phơi bày cái giá 
mà ông và bạn hữu phải trả vì sự lầm lẫn của 
mình về cộng sản, thì nhà thơ Vũ Anh Khanh 
kém may mắn hơn nhiều. Xuân Vũ tới được 
bến bờ Tự Do, còn Vũ Anh Khanh, trong khi bơi 
qua sông Bến Hải, thì một mũi tên tẩm thuốc 
độc đã bắn theo. 
Xuân Vũ kể lại lúc Vũ Anh Khanh bơi qua sông 
Bến Hải để về Nam, là khoảng năm 1956. 
Nhưng Luật Sư Nhuệ Hồng Nguyễn Hữu 
Thống nói với chủ bút báo Khởi Hành: lúc ấy 
phải là năm 1957, hay có thể chậm hơn nữa, vì 
Giáng Sinh 1956 ông còn gặp Vũ Anh Khanh ở 
New Delhi, Ấn Ðộ, trong Hội Nghị Các Nhà Văn 
Á Châu. Nhà văn Nhuệ Hồng kể trong điện 
thoại, được ghi lại theo trí nhớ của Viên Linh 
như sau: 
“Ðó là Giáng Sinh 1956, trong không khí trăm 
hoa đua nở, Trung Cộng muốn dùng Hội Nghị 
Các Nhà Văn Á Châu, phần lớn là đến từ các 
nước xã hội, họp ở Tân Ðề Li, để thành lập một 
tổ chức theo chủ trương của họ. Trong mười 
sáu phái đoàn, thì mười bốn đến từ các nước 
cộng sản, chỉ có hai phái đoàn không cộng sản 
là phái đoàn Ấn Ðộ và phái đoàn Việt Nam 
Cộng Hòa. Ấn Ðộ được mời là do Anh Quốc 
giới thiệu; VNCH được mời là do Pháp giới 
thiệu. 
“Bộ mặt nổi bật nhất trong hội nghị là nhà văn 
Mao Thuẫn, một trong tứ trụ triều đình về Văn 
hóa Văn học của Trung Cộng; trưởng phái 
đoàn CSVN là Nguyễn Công Hoan, rồi Tú Mỡ 
Hồ Trọng Hiếu, và một nhà văn gốc miền Nam 
là Vũ Anh Khanh. Vũ Anh Khanh rất đẹp trai, 
nhưng lúc nào cũng buồn bã, nhìn xuống. 
Trưởng phái đoàn VNCH lẽ ra là nhà văn hóa 
Nguyễn Ðăng Thục, nhưng vì ông Ngô Ðình 
Nhu nhận định đây là một hội nghị chính trị 
mang danh các nhà văn, nên để Nhuệ Hồng 
Nguyễn Hữu Thống, một luật sư nhà văn làm 
trưởng phái đoàn, dù mới 24 tuổi, còn cụ Thục 
làm cố vấn. 
“Phát biểu của các phái đoàn Cộng Sản là 
chuyện khôi hài. Bốn phái đoàn bốn nước cộng 
sản trong có Mông Cổ, Việt Nam, đọc một bản 
Anh văn dịch sẵn, giống nhau, tán đồng mọi 
điều Mao Thuẫn đề nghị, trong có sự thành lập 
một Văn phòng Thường trực Các nhà văn theo 
khối xã hội ở Bắc Kinh. Phái đoàn ta chống lại 
những đề nghị do Trung Cộng chủ trương. Mà 
nguyên tắc đưa ra là sự đồng thuận của hội 
nghị phải là đa số tuyệt đối, 16/16; chứ không 
phải đa số tương đối. Do đó Bắc Kinh thất bại 
trong Hội nghị này“ 
(Viên Linh, Con Sông Máu của Vũ Anh Khanh, 
Khởi Hành, số 116) ‐3‐ 

Tôi hỏi LS Thống nếu hội nghị qui tụ đại biểu 
các nước xã hội, thì nguyên do nào anh được 
cử vào phái đoàn Việt Nam, tác giả Thư Miền 
Nam (2) nói: “Tôi ở trong Ðảng Xã Hội Việt 
Nam với Hoàng Văn Chí.” (3) 
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống kể hai chuyện bên 
lề trong thời gian hội nghị ở Tân Ðề Li. Một là 
khi ta thấy nhóm Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, 
Vũ Anh Khanh đi bộ, và đi xe buýt, ta dừng xe 
hơi lại mời họ lên cho quá giang, nhưng họ 
không lên. Hai là chuyện tính rủ Vũ Anh Khanh 
về Nam. Nếu Vũ Anh Khanh chịu, anh có thể lo 
được. 
“Tôi đã bàn chuyện này với anh em, và giao 
việc cho L.C.Ð. [?]đi tiếp xúc với Vũ Anh 
Khanh. Lúc nào cũng thấy anh ta buồn bã, hai 
mắt nhìn xuống đất. Trong hội nghị khi tôi đứng 
lên phản đối đề nghị của Trung Cộng, tôi nói 
Anh ngữ, thì có hai người mà nhìn mặt, tôi thấy 
họ tán đồng ý kiến của mình, đó là trưởng phái 
đoàn nhà văn Nga, và Vũ Anh Khanh. Nhà văn 
Nga tới bắt tay tôi, còn Vũ Anh Khanh nhìn tôi 
với cặp mắt thân thiện. Từ đó mà tôi có ý nghĩ 
tiếp xúc, đưa Vũ Anh Khanh về Sài Gòn. 
“Nhưng đến đêm, trong khi nằm suy nghĩ, tôi lại 
thay đổi ý kiến, lỡ chuyện không thành và vỡ 
ra, thì trên phương diện quốc gia, mình gây ra 
rắc rối, nên tôi bảo anh L.C.Ð hủy bỏ việc đã 
bàn. Sau này kể lại chuyện ấy với Xuân Vũ, 
Xuân Vũ tiếc, và nói rằng nếu chủ trương của 
tôi được xúc tiến, nhiều phần đã khác. Nghĩa là 
có khi Vũ Anh Khanh đã không chết vì mũi tên 
độc bắn theo...” 
“Tôi không rõ Vũ Anh Khanh chết như thế 
nào?” 
“Xuân Vũ có kể. Vũ Anh Khanh mà được cử đi 
dự Ðại Hội Tân Ðề Li là vì công an cộng sản 
không thấy tác giả bài thơ Hận Tha La trong 
cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền Hà Nội để phản 
đối sự chỉ huy văn nghệ của Ðảng nhân phong 
trào ‘trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.’ Ðó 
là cuộc mít-tinh của nhóm miền Nam tập kết ra 
Bắc phản đối những người cộng sản Hà Nội. 
“Sau khi dự hội nghị về, Vũ Anh Khanh được 
giấy đi công tác ở Vĩnh Yên. Vĩnh Yên phía trên 
Hà Nội ấy. Anh ta liền sửa giấy công tác, từ 
Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh, chỗ gần sông Bến 
Hải. Từ Hà Nội, Vũ Anh Khanh đi bộ vào Vĩnh 
Linh và rồi bơi qua sông Bến Hải.” 
Chuyện ra sao, những người yêu bài thơ Hận 
Tha La có thể đã nghe biết. Là Vũ Anh Khanh 
bơi qua sông, khi tới giữa sông thì công an bộ 
đội cộng sản phát giác. Chắc rằng họ ra lệnh 
cho ông phải bơi trở lại, nhưng chuyện ấy 
không xảy ra. Họ bắn theo, không bằng súng, 
mà bằng cung tên, mũi tên có tẩm thuốc độc, 
nên tác giả Sông Máu không bao giờ còn được 
hít thở không khí tự do mà ông đã bỏ mất từ 
1954, khi tập kết ra Bắc. 
Ðã biết bao người ở phút cuối đời mới biết rằng 
con sông Bến Hải là con sông máu. Nhưng tác 
giả Sông Máu có thể đã biết trước, và không 
thể nào làm khác. Ông trầm mình vào dòng 
sông, nếu không tới được bờ bên kia, miền 
Nam yêu dấu, thì cũng tới được bờ vĩnh cửu, 
tuy xa xăm vô định nhưng cũng còn hơn là địa 
ngục phía sau lưng. 
Trong ghi chép hàng ngày của một học giả làm 
công việc của một sử gia biên niên, ông Ðoàn 
Thêm có cơ hội thuận tiện là làm việc trong Văn 
phòng Tổng thống phủ VNCH, có một số việc 
được ghi lại như sau: 
- 30 tháng 4, 1956: Tổng số người di cư tị nạn 
(từ Bắc vô Nam, chấm dứt ngày 30 tháng 10, 
1955, nhưng nay mới con con số công bố): 
887,890 người. 
- 4 tháng 10, 1956: Ba người liều mạng bơi qua 
sông Bến Hải vào Nam. 
- 19 tháng 11, 1956: Mười chín người từ Nghệ 
An đi ghe vượt tuyến tới Ðà Nẵng. 
- 8 tháng 4, 1957: Bốn mươi mốt người dùng 
thuyền vượt tuyến vô Nam. 
- 28 tháng 10, 1957: Hai sinh viên vượt tuyến 
vào Nam. 
- 11 tháng 2, 1958: Mười bốn người vượt tuyến 
vô Nam xuyên qua Lào. 
- 2 tháng 7, 1958: Hai mươi sáu người vượt 
tuyến qua Lào tới Sài Gòn. (4) 
Ta nhận thấy từ cuối năm 1956, ba người bơi 
qua sông Bến Hải vào Nam. Ðầu năm 1957, 
năm 1958, người ta vượt tuyến bằng đường ‐4‐ 

bộ, xuyên qua Lào, không thấy ai bơi qua sông 
Bến Hải nữa. Nếu có, người ta đi đông, và 
dùng thuyền. Có thể đoán, người tìm tự do sau 
cùng bằng cách bơi qua sông là Vũ Anh Khanh. 
Cái chết của ông trên Sông Máu, bằng mũi tên 
tẩm thuốc độc bắn theo từ bờ phía Bắc, hẳn đã 
khiến vang dội cả hai bên bờ. Có thể định được 
khoảng thời gian ông lìa đời: từ đầu tháng 1, 
1957 tới hết tháng 3, 1957. Vì từ mồng 8 tháng 
4, hầu hết những người vượt Bến Hải thành 
công là dùng thuyền, và đi từng nhóm khá 
đông: mười bốn người hay bốn mươi mốt 
người. 
Ba người đầu tiên bơi qua sông Bến Hải thành 
công là hôm 4 tháng 10 năm 1956, mà Noel 
năm 1956 Vũ Anh Khanh còn ở Tân Ðề Li, 
nghĩa là ông chỉ có thời gian ba tháng để vượt 
sông, là từ tháng 1 tới tháng 3, 1957, vì sau đó, 
từ tháng 4, 1957, không còn ai bơi qua sông 
Bến Hải nữa. Có thể yên tâm viết: Vũ Anh 
Khanh (1926-1957). 
Thơ Nam bộ thời Vũ Anh Khanh, có thể nói, 
mang rất nhiều ảnh hưởng truyện Tầu, và các 
gương anh hùng nghĩa sĩ trong huyền thoại 
Trung Hoa. Trai tứ chiếng, gái giang hồ, người 
đẹp phòng khuê cũng là những hình ảnh đậm 
nét trong cuộc sống Sài Gòn. 
Về thơ thì ảnh hưởng Nguyễn Bính vô cùng 
đậm nét trên nhiều người, có thể ngay cả trong 
nếp sống. Trong cái lãng mạn thành phố - ở 
đây là kinh thành - có hình tượng của chợ đời, 
của khinh bạc, của chí trai phong trần hồ thỉ, 
của chàng tư mã áo xanh và của người con gái 
ở lầu son. 
Về thể thơ, bài Phấn Son của Vũ Anh Khanh, 
hay nhiều bài thơ của Kiên Giang, có hơi 
hướng của thể hành, những bài “trăm câu một 
vần” mà Nguyễn Bính rất sở trường. Ðương 
nhiên là Vũ Anh Khanh có nét riêng của một thi 
sĩ có bản sắc: ông hiền và chân phương trong 
thơ, chữ nghĩa có tâm tư và có lòng thương 
xót, do đó chữ nghĩa của ông, ở đây là ngữ-thi, 
đã đứng riêng ra trong số những nhà thơ 
đương thời. 
Nhắc tới 20 tháng 7 chia cắt đất nước là nhắc 
tới Bến Hải. Mà nhắc tới Bến Hải thì không thể 
nào không nhắc tới người thi sĩ yêu nước đã 
chết vì sự lầm lẫn của mình, chỉ tiếc rằng khi 
anh vỡ mộng quay về với quê hương bản quán, 
cố vượt qua biên giới của quỉ, thì con sông hiền 
lành bên này, lại là con sông máu của anh ở 
bên kia. (Viên Linh, Con Sông Máu của Vũ Anh 
Khanh) 
Chú thích: 
1. Theo Nguyễn Văn Sâm, trong Văn chương 
Tranh đấu Miền Nam, Kỷ Nguyên, Sài Gòn, 
xuất bản 1969, VAK sinh năm 1923 tại Nha 
Trang. Theo Trần Tuấn Kiệt, trong Thi ca Việt 
Nam Hiện Ðại (1880-1965), Khai Trí Sài Gòn 
xuất bản 1967, VAK sinh ở Tây Ninh, nhưng 
không ghi ngày tháng sinh. Trong Từ điển Tác 
gia Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng, Văn Hóa, 
1999, Tp HCM, lại ghi (1926-1956), và viết: 
“Năm 1954 ông [VAK] tập kết ra Bắc và mất 
ngoài đó năm 1956.” là hoàn toàn sai. [Các 
sách in tại Tp HCM cần phải xét lại hết, bằng 
cách so sánh với các văn bản in trước đó hay 
sau đó ở Sài Gòn hay ở Hải ngoại, nếu có.] LS 
Nguyễn Hữu Thống nói với người viết bài này: 
VAK và ông chỉ cách nhau vài tuổi, nên ông 
nghĩ VAK sinh vào năm 1926 thì hợp lý hơn. Và 
từ trần đầu năm 1957 cũng có vẻ thuận lý. 
2. “Thư Miền Nam” là loạt bài Nhuệ Hồng 
Nguyễn Hữu Thống viết trên Tạp chí Phổ 
Thông cơ quan văn hóa của Hội Ái Hữu Cựu 
Sinh Viên Trường Luật Hà Nội, số chót là số 
28, 15 tháng 8, 1954. Vào Sài Gòn nhóm này 
xuất bản Tuần báo Quan Ðiểm, và Nhật báo 
Tiếng Miền Nam. LS Nguyễn Hữu Thống hiện 
cư ngụ cùng gia đình tại San Jose. 
3. Mạc Ðịnh Hoàng Văn Chí (1913-1988), tác 
giả The New Class in North Vietnam, The Nhan 
Van Affair, From Colonialism to Communism, 
Duy Văn Sử Quan. 
4. Ðoàn Thêm, Việc Từng Ngày, 1945-1964, 
bản in lại ở hải ngoại. 
Bài này cũng kiểm lại tài liệu trong một số sách 
khác nhưng không trích dẫn văn bản những 
sách ấy nên không ghi ra đây. 
7/2010 
Nguồn: http://www.nguoi-viet.com