Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label DS36TRINGUHAINGOAI. Show all posts
Showing posts with label DS36TRINGUHAINGOAI. Show all posts

Monday, 11 March 2024

 NGUYÊN VĂN KIẾN NGHỊ CỦA 36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI - LÚC ĐẦU CHÚNG DÙNG CHỮ "KIẾN NGHỊ" SAU ĐÓ SỬA THÀNH "THƯ NGỎ" - NỘI DUNG Y NGUYÊN./-Mt68

_____________________________

THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM

VỀ HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC

Kính gửi:

Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chủ tịch và Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Thủ tướng và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Bí thư và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

Thưa quý vị,

Chúng tôi, một số trí thức sinh sống tại nước ngoài, gửi đến quý vị lá thư ngỏ này để phát biểu những suy nghĩ thẳng thắn và xây dựng trước tình hình nghiêm trọng của Việt Nam hiện nay.

Trước hết, chúng tôi muốn bày tỏ sự ủng hộ bản “Tuyên cáo” ngày 25 tháng 6, 2011 của 95 nhân sĩ, trí thức, tố cáo và lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Chúng tôi đồng thời hưởng ứng bản “Kiến nghị” ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ, trí thức, kêu gọi Quốc hội và Bộ Chính trị công khai hoá thực trạng quan hệ Việt-Trung, nhấn mạnh vào nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của nhân dân để có thể thực hiện thành công nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước.

Cả hai bản Tuyên cáo và Kiến nghị đại diện những tiếng nói can đảm, trung thực của giới trí thức yêu nước mà chúng tôi có cơ hội tiếp xúc, trực tiếp hay gián tiếp, trong nhiều năm qua. Dù xa quê hương đã lâu, dù còn mang quốc tịch Việt Nam hay đã trở thành công dân nước ngoài, chúng tôi vẫn luôn quan tâm đến các khó khăn và thuận lợi của đất nước. Do đó chúng tôi ủng hộ những ý kiến chính đáng của nhân sĩ, trí thức trong nước và chỉ trình bày ngắn gọn một số nhận định bổ túc sau đây.

Hiểm hoạ ngoại bang

Sau chiến tranh biên giới cực Bắc năm 1979, nguồn tư liệu do Nhà nước bạch hoá về quan hệ Việt-Trung cho thấy mối quan hệ giữa hai nước không tốt đẹp như nhiều người lầm tưởng. Do hơn 30% dân số Việt Nam hiện sử dụng internet, thông tin ngày nay không còn là độc quyền của riêng ai. Kết hợp các nguồn tư liệu khác nhau cũng cho thấy rằng đối với Trung Quốc, “Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính” (“Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, nxb Sự thật, 1979, trang 8).

Quan điểm trên được thể hiện rõ nét qua một chiến lược nhất quán của Trung Quốc trong gần 60 năm nay tuy chiến thuật tùy lúc, tùy thời có khác nhau: phản bội Việt Nam ở Hội nghị Geneva năm 1954, ngăn cản Việt Nam thương lượng với Mỹ năm 1968, dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, phát động chiến tranh biên giới năm 1979, dùng vũ lực đánh chiếm một phần Trường Sa năm 1988; và sau khi quan hệ giữa hai nước đã bình thường hoá năm 1991, từng bước lũng đoạn kinh tế, thu vét tài nguyên, thực hiện mưu đồ đồng hoá, xâm phạm chủ quyền và đối xử tàn bạo đối với ngư dân Việt Nam trên Biển Đông.

Sức mạnh dân tộc

Việt Nam có lịch sử chống ngoại xâm, phần lớn là từ phương Bắc, trong nhiều thế kỷ. Việt Nam cũng có nhiều tài nguyên thiên nhiên, với non 20 triệu héc-ta rừng, và hơn 3.200km đường biển. Trong dân số gần 90 triệu, hơn 3 triệu người có trình độ đại học trở lên. Do biến chuyển thời cuộc, hiện có hơn 3 triệu người gốc Việt sinh sống tại nước ngoài, trong đó có hơn 300.000 người có trình độ đại học trở lên và nhiều người là chuyên gia, giáo sư ở những công ty, trường đại học hàng đầu của thế giới.

Vị thế chính quyền

Sau hơn 35 năm lãnh đạo một đất nước thống nhất, các nhà cầm quyền chắc biết rõ hơn ai hết toan tính thâm độc của Trung Quốc và tình thế nguy nan của Việt Nam. Nhưng trong thời gian qua những chính sách và biện pháp đối nội và đối ngoại được thực thi đã tỏ ra lúng túng và mâu thuẫn, trái với sự mong đợi của toàn dân. Tình trạng này hiển nhiên làm suy yếu sức mạnh dân tộc, đòi hỏi chính quyền cần phải có những thay đổi toàn diện về cơ chế và chính sách mới có thể bảo vệ được chủ quyền và phát triển đất nước.

Những việc cần làm

Khác với các cuộc xâm lăng trong quá khứ, Trung Quốc trong thế kỷ XXI có nhiều lý do cần thiết hơn và nhiều điều kiện thuận lợi hơn để “khuất phục và thôn tính” Việt Nam mà không cần sử dụng vũ khí hay tổn thất nhân mạng. Mặc dù yếu kém hơn Trung Quốc về kinh tế và quân sự, Việt Nam có một lợi thế lớn chưa từng có trong lịch sử: không một nước tự do, dân chủ nào muốn thấy một nước độc tài chuyên chế như Trung Quốc xâm phạm quyền lợi hay quyền tự quyết của một nước khác, đe dọa tình trạng ổn định trong khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, cũng sẽ không có quốc gia hay liên minh nào có thể hỗ trợ Việt Nam nếu, trước hết, chính phủ Việt Nam không chứng tỏ là có ý chí và khả năng bảo vệ dân tộc và đất nước của mình.

Một lần nữa, chúng tôi khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ các ý kiến chính đáng vừa qua của nhân sĩ, trí thức trong nước. Chúng tôi hi vọng quý vị lãnh đạo tiếp thu đóng góp quan trọng ấy và sớm thiết lập một lộ trình cải cách cụ thể để được nhân dân tin tưởng và ủng hộ. Chúng tôi đề nghị những điểm chính dưới đây cần được chú trọng khi quyết định lộ trình:

1- Đối với Trung Quốc: Cần xác định công khai và rõ ràng lập trường của Việt Nam đối với chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa-Biển Đông: mọi tranh chấp phải được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử. Cần xét lại toàn bộ quan hệ Việt-Trung và chỉnh sửa những quyết định sai lầm trước đây khiến Việt Nam mất cân bằng, lệ thuộc vào mối quan hệ này trên các lãnh vực khác nhau. Cần nhấn mạnh truyền thống hiếu hòa của Việt Nam với nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là trí thức tiến bộ, để tranh thủ sự ủng hộ của họ trong việc cùng tranh đấu cho công bằng và quan hệ bình đẳng giữa hai nước.

2- Đối với ASEAN và các nước khác: Cần tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với thành viên ASEAN cũng như những nước then chốt khác. Cần đồng thuận trong việc bác bỏ đòi hỏi trên 80% chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc và trong lập trường đàm phán đa phương với Trung Quốc về Trường Sa. Cần tranh thủ sự ủng hộ của ASEAN và quốc tế cho một giải pháp về Hoàng Sa trên cơ sở luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử. Cần thúc đẩy sự đồng thuận của ASEAN trong việc đổi tên Biển Đông thành Biển Đông Nam Á để góp phần vô hiệu hóa đòi hỏi chủ quyền phi lý của Trung Quốc, và để tránh ngộ nhận về các tên gọi khác nhau cho một vùng biển chung.

3. Đối với nhân dân trong nước: Cần sửa đổi Hiến pháp để đẩy mạnh quá trình dân chủ hoá với ba cơ chế hoàn toàn độc lập: Quốc hội và cơ chế đại diện ở cấp thấp hơn, cơ chế toà án và cơ chế chính quyền. Cần thực hiện tự do bầu cử và ứng cử. Cần tôn trọng các quyền tự do công dân quy định bởi Hiến pháp Việt Nam và những công ước quốc tế mà Việt Nam cam kết tôn trọng, cụ thể như quyền tự do biểu tình và tự do phát biểu nhằm phản đối hành động hung hãn của Trung Quốc trên Biển Đông. Cần trả lại tự do cho những công dân bị giam giữ vì tranh đấu ôn hòa cho tự do, dân chủ, cho chủ quyền quốc gia, để đoàn kết toàn dân. Cần cải tổ hệ thống luật pháp, kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế, v.v. để đẩy lùi tham nhũng, giảm thiểu bất công, gia tăng năng lực, bảo vệ tài nguyên. Cần tham khảo với những nhóm nghiên cứu độc lập (như Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã phải tự giải thể năm 2009) trong quá trình hình thành các chính sách có tầm vóc quốc gia và quốc tế.

4. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài: Cần tạo bước đột phá để cải thiện sự hợp tác của cộng đồng vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Cần cho tái thiết Nghĩa trang Biên Hoà vô điều kiện, giúp đỡ chương trình tìm kiếm hài cốt những người đã bỏ mình trong trại tù cải tạo, không can thiệp vào việc xây dựng bia tưởng niệm thuyền nhân ở các nước Đông Nam Á. Đây là bước cần thiết bắt đầu một quá trình nghiêm túc thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc.

Mặc dù chính quyền kêu gọi trong nhiều năm, sự đóng góp về trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn quá nhỏ bé: số chuyên gia, trí thức hàng năm về nước “chuyển giao công nghệ” chỉ trong vòng 500 lượt người trên con số hơn 300.000 trí thức.

Có hai nguyên nhân chính: (1) cơ chế chính quyền hiện hữu không những đánh mất niềm tin của người dân trong nước mà còn là cản trở lớn cho trí thức ở nước ngoài muốn đóng góp vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” do chính Nhà nước đề ra;  (2) sự nghi ngờ, thiếu tin tưởng vào thiện chí của trí thức còn phổ biến trong một bộ phận không nhỏ của lãnh đạo.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn có điều kiện nghiên cứu và vận động tìm kiếm những giải pháp thuận lợi cho Việt Nam, như tranh thủ sự ủng hộ của các chính phủ và dư luận quốc tế cho quan điểm của Việt Nam. Thực tế là một số chuyên gia trong và ngoài nước từng hợp tác với nhau trong các hoạt động theo chiều hướng này và công cuộc vận động đã đạt được một số kết quả tích cực về vấn đề Biển Đông và sông Mekong.

Trước chiến lược trước sau như một của Trung Quốc đối với Việt Nam và trước tham vọng bành trướng, bá quyền ngày càng lộ rõ của Trung Quốc, đất nước và nhân dân đòi hỏi quý vị phát huy sức mạnh dân tộc, đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước trong giai đoạn cực kỳ hiểm nguy cho Việt Nam. Chúng tôi mong quý vị dũng cảm nắm lấy thời cơ duy nhất để thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ toàn diện, xây dựng một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân, nhằm đưa Việt Nam lên vị thế xứng đáng với các nước trong khu vực và cộng đồng thế giới.

Trân trọng kính chào,

Ngày 21 tháng 8 năm 2011

Đồng ký tên:

 13 NĂM TRƯỚC 36 TRÍ ĐẦN NẦY KIẾN NGHỊ ĐỂ XIN PHÂN CỘNG - NHƯNG CHÚNG CHỦ TRƯƠNG: CHÚNG CHIẾM ĐƯỢC MIỀN NAM LÀ CÔNG LAO CỦA CHÚNG- CHÚNG HƯỞNG KHÔNG CHIA XẺ VỚI ĐỨA NÀO CẢ./-Mt68

_______________

Bàn thêm về “Thư Ngỏ” của 36 trí thức hải ngoại

Lê Xuân Khoa

Mấy ngày trước đây tôi được một người bạn chuyển cho bài viết của ôngTrần Phong Vũ, nhan đề : “Vài suy nghĩ rờivề Thư Ngỏ của Nhóm Trí thức hải ngoại gửi Nhà nước CSVN”. Vì có quen biết tác giả, tôi chú ý đọc hết bài này và tôi thấy cần phải hồi âm vì hai lý do: (1) đây là một bài phản biện của một trí thức có tư cách, đặt vấn đề thảo luận “trong tinh thần tương kính và xây dựng” và (2) ở phần cuối bài, tác giả lưu ý tôi đến một nhận xét “cay đắng” của nhà văn Nguyên Ngọc về lời “đoan hứa” của tướng Nguyễn Chí Vịnh với tướng Mã Hiểu Thiên của Trung Quốc, cho thấy rằng những phản đối, kiến nghị của trí thức là vô ích.

Về nội dung của Thư Ngỏ, ông Trần Phong Vũ cho biết là ông đồng thuận một số quan điểm được trình bày trong Thư Ngỏ, từ việc ủng hộ hai bản Tuyên cáo (25-6-11) và Kiến nghị (10-7-11) của nhân sĩ, trí thức trong nước, đến nhận định về hiểm họa Trung Quốc đang từng bước thôn tính Việt Nam, những phân tích về sức mạnh dân tộc và những lời phê phán nhà cầm quyền về các chính sách đối nội và đối ngoại. Như vậy thì có thể nói là ông đồng ý với toàn thể nội dung của Thư Ngỏ, mà chỉ bất đồng ý, đúng ra là bất bình, về sự lựa chọn đối tượng của Thư Ngỏ. Đây là điểm then chốt mà theo ông là một sai lầm lớn của những người ký Thư Ngỏ. Ông nêu rõ hai căn do của sự bất bình này, dưới hình thức hai câu hỏi:

1. Phải chăng 34 (đúng ra là 36) nhân sĩ trí thức, nếu tất cả đều là người tị nạn chính trị, đã “sớm quên căn cước tị nạn chính trị của mình để công khai nhìn nhận tính chính đáng của một thứ nhà nước đang bị toàn dân coi là bè lũ cướp ngày?”

2. Chẳng lẽ những người viết Thư Ngỏ không biết đến “số phận của những loại Kiến nghị, Thỉnh Nguyện Thư, Thư Ngỏ, kể cả những Góp Ý Xây Dựng trong những kỳ bầu cử Quốc hội, Đại hội Đảng như thế nào?”

Về tính chính đáng của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), trước hết chúng ta cần phân biệt “chính danh” (legality, légalité) với “chính nghĩa” (legitimacy, légitimité) của một chính quyền. CHXHCNVN là một thực thể được quốc tế nhìn nhận là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, được ASEAN nhận làm hội viên, được Hoa Kỳ và tất cả những quốc gia dân chủ khác thiết lập quan hệ hợp tác trên nhiều lãnh vực. Như vậy, về mặt bang giao quốc tế, CHXHCNVN là một thực thể pháp lý có tính chính danh. Tuy nhiên, một chính quyền có chính danh không đương nhiên là một chính quyền có chính nghĩa , vì vậy trong khi hợp tác với Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ, Liên hiệp Châu Âu và các nước dân chủ khác vẫn không ngừng đòi hỏi chính quyền độc tài ở Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản của người dân.

Đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, chính quyền độc tài cộng sản Việt Nam không có chính nghĩa và cũng không có chính dạnh. Nhưng vì chính quyền này đang nắm giữ vận mệnh của dân tộc nên người Việt hải ngoại không thể không đặt vấn đề trách nhiệm lịch sử với thực thể pháp lý này. Họ, và chỉ có họ, mới có quyền tham gia và triệu tập các hội nghị thượng đỉnh. Chỉ có họ mới có quyền thảo luận và ký kết thỏa ước với các chính phủ. Vậy ta phải đặt vấn đề với họ và phải dùng danh xưng chính thức của họ dù mình có nhìn nhận danh xưng ấy hay không. Chẳng hạn, khi viết cho Nguyễn Tấn Dũng thì phải gọi ông ta là Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN, chứ không thể gửi cho “bè lũ cướp ngày”. Văn thư của những người trong hàng ngũ trí thức cần phải phù hợp với ngôn từ và thủ tục quốc tế, nhất là khi những văn thư này được dịch ra ngoại ngữ để thông báo và vận động các chính phủ và dư luận quốc tế.

Viết đến đây, tôi liên tưởng đến kinh nghiệm bản thân trong thời gian vận động cho người tị nạn vài ba chục năm về trước. Ai cũng biết là chương trình định cư H.O. và R.O.V.R. là kết quả của nhiều năm vận động, đối thoại và điều đình giữa Hoa Kỳ và CHXHCNVN, trước khi Washington thiết lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Và trong tiến trình đối thoại lâu dài đó, một số đại diện tị nạn không chỉ làm việc với chính phủ Mỹ mà đã có đôi ba lần trực tiếp đặt vấn đề với đại diện cao cấp của CHXHCNVN qua trung gian của Bộ Ngoại Giao và một số Nghị sĩ và Dân biểu Hoa Kỳ. Vấn đề này đã được tôi trình bày với dẫn chứng cụ thể trong tài liệu tham khảo “The Voice of Refugees” viết cho Văn khố Thuyền nhân (Boat People Archive) của Thư Viện Quốc Hội trong ngày hội thảo về tị nạn Việt Nam tại Washington, DC ngày 2 tháng Năm, 2009 (độc giả muốn có tài liệu này, xin email về địa chỉ ThuNgo2108@gmail.com).

Về sự vô ích của việc gửi thư hay kiến nghị cho lãnh đạo Việt Nam, chúng ta cũng cần phân biệt “Thư Ngỏ” không phải là “Kiến nghị”. Đúng như tên của nó, Thư ngỏ không gửi riêng cho đối tượng mà được mở cho toàn thể mọi người, trong và ngoài nước. Vẫn biết rằng nhà cầm quyền cộng sản không quan tâm gì đến tiếng nói của trí thức chân chính, dù ở trong hay ngoài nước, nhưng người trí thức có trách nhiệm không thể giữ thái độ im lặng trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Nhà cầm quyền nghe hay không nghe là quyết định của họ, nhưng họ cần được nhắc nhở rằng chính quyền phải dựa vào sức mạnh của dân tộc thì mới bảo vệ được chủ quyền và phát triển đất nước. Muốn dựa vào dân thì phải đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, nếu đi ngược với lòng dân và còn đàn áp dân thì sớm muộn gì cũng sẽ bị dân lật đổ.  Cổ nhân đã ví quan hệ giữa nhân dân và nhà nước như nước với thuyền: nước chở thuyền nhưng nước cũng lật thuyền tùy theo thuyền đi xuôi hay đi ngược dòng nước. Đó là cái thông điệp của Thư Ngỏ gửi đến giới lãnh đạo và đến mọi thành phần dân tộc, dù cho cơ quan nhà nước có ngăn chặn thông tin. Qua các trang blogs và những phương tiện thông tin điện tử khác, Thư Ngỏ đã được phổ biến rộng rãi cả trong và ngoài nước.

Về lời phát biểu “cay đắng” của nhà văn Nguyên Ngọc được ông Trần Phong Vũ trích dẫn, tôi không thể trả lời thay cho ông Nguyên Ngọc về ý nghĩa thật sự trong lởi phát biểu của ông đối với việc Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh hứa với tướng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên là sẽ “kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn.” Ông Nguyên Ngọc viết:

“Có vậy mà các vị nhân sĩ trí thức ta cứ phản đối, kiến nghị này nọ um sùm. Thật là chẳng hiểu biết gì cả!

Thôi nhé, nay thì đã hiểu quá rồi!”

Nếu tôi hiểu đúng thì khi lưu ý tôi rằng “nhà văn Nguyên Ngọc đã phát hiện điều gì khác lạ đánh động ông khi cay đắng kết thúc” như thế, ông Trần Phong Vũ cho rằng ông Nguyên Ngọc đã phát hiện được rằng nhà cầm quyền không thèm đếm xỉa đến những phản đối hay kiến nghị của trí thức.

Vì đã có dịp gặp gỡ trao đổi thân tình với nhà văn Nguyên Ngọc, ở Hoa Kỳ cũng như ở trong nước, đặc biệt về vấn đề giáo dục đào tạo, tôi thấy không nên hiểu lời phát biểu trên đây của ông Nguyên Ngọc  một cách đơn giản như một “phát hiện” về thái độ khinh thường trí thức của giới lãnh đạo. Ông Nguyên Ngọc cũng như các thân hữu của ông đã thừa biết thái độ này của nhà cầm quyền nhưng vẫn phải tiếp tục lên tiếng với họ và với nhân dân như một vấn đề trách nhiệm. Bởi thế, ông đã ký tên trên cả hai bản Tuyên cáo (25.6) và Kiến nghị (10.7). Cho đến khi tướng Vịnh “trịnh trọng hứa với ông tướng Tàu” là sẽ “kiên quyết” không cho tái diễn những cuộc biểu tình yêu nước ở Việt Nam, thì ông Nguyên Ngọc hết chịu nổi thái độ khinh thường trí thức quá mức của chính quyền và ông đã cất tiếng tự trách mình và bạn bè về sự bày tỏ thiện chí với chính quyền. Tôi hiểu đây chính là một biểu lộ tức giận, vạch rõ thái độ phục tùng Bấc kinh của một nhân vật lãnh đạo Việt Nam. Như vậy, không có nghĩa là trí thức phải cam chịu mà sẽ tiếp tục tranh đấu bằng mọi phương cách, có thể ở mức độ cao hơn. Mới đây, sau khi viết Thư Ngỏ cho Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, nhà văn Nguyên Ngọc đã cùng chin nhà trí thức khác đứng đơn khởi kiện Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội về việc vu khống, xuyên tạc, xúc phạm những người biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn, vi phạm luật báo chí và bộ luật hình sự.

Nhà văn Nguyên Ngọc đã sớm nổi tiếng về tác phẩm mang tên “Đất nước đứng lên”. Ngày nay, ở tuổi 80, hình như ông đang hô hào “Trí thức đứng lên!”.

Một vần đề khác liên quan đến việc nhìn nhận “bè lũ cướp ngày” như một đối tượng “hợp tác”, “đối thoại”.  Ông Trần Phong Vũ dẫn ra những kinh nghiệm đối thoại và “hợp tác một chiều”, bất cân xứng của một vài vị trong hàng Giáo phẩm ở trong nước. Với tư cách một tín hữu làm công tác truyền thông Công giáo Việt nam hải ngoại, ông cũng chia sẻ rằng “chúng tôi đã có quá nhiều kinh nghiệm đau đớn xuyên qua những thuện chí và nỗ lực để “đối thoại” với đảng và nhà nước CSVN.”

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của ông Trần Phong Vũ về sự “hợp tác một chiều“ và kinh nghiệm “đối thoại với những người điếc” của Giáo hội Công giáo với nhà nước CSVN. Nhưng Thư Ngỏ của 36 trí thức hải ngoại không đề cập đến vấn đề hợp tác và đối thoại với lãnh đạo Việt Nam mà chỉ đưa ra những khuyến cáo và đòi hỏi thay đổi về các chính sách đối nội và đối ngọai. Nếu trong Thư Ngỏ có sáu dòng chữ nói về vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc, một vấn đề được lãnh đạo Việt Nam nêu ra, thì tất cả đều là những điều kiện cụ thể: tái thiết Nghĩa trang Biên hòa, tìm kiếm hài cốt những người đã bỏ mình trong các trại tù cải tạo, và không ngăn cản việc xây dựng bia tưởng niệm thuyền nhân ở Đông Nam Á, như những bước đầu tiên cần thiết để có thể thực hiện những bước hòa giải tiếp theo.

Trở lại vấn đề Thư Ngỏ, tôi đã cố gắng làm sáng tỏ mấy vấn đề mà ông Trần Phong Vũ đã nêu ra, cũng trong tinh thần tương kính và dân chủ. Trước tình hình cấp bách về hiểm họa Trung Quốc, sau khi trí thức trong nước lên tiếng được gần hai tháng, một số chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông và  Đồng bằng Cửu Long thấy cần có sự hưởng ứng của trí thức ở ngoài nước. Chúng tôi trao đổi ý kiến với nhau về nội dung của bản lên tiếng, từ đó lá Thư Ngỏ ra đời. Chúng tôi quyết định những người ký tên sẽ là những trí thức độc lập, không thuộc một tổ chức chính trị nào, để tránh cho trí thức trong nước bị chính quyền chụp mũ “cấu kết với thế lực thù địch.” Chúng tôi cũng không chủ trương kêu gọi lấy chữ ký của mọi người để tránh bị hiểu lầm là có ý đồ lãnh đao cộng đồng. Nhóm ký tên, dự liệu khoảng 25 người, không đại diện cho cộng đồng nhưng điển hình cho những lứa tuổi, giới tính, ngành nghề và khuynh hướng khác nhau. Vì tính chất điển hình này, chúng tôi rất tiếc đã bỏ sót một số thân hữu có thể muốn tham gia. Rốt cuộc con số ký tên lên đến 36 người. Chúng tôi nghĩ rằng quý vị tán thành Thư Ngỏ có thể lên tiếng với tư cách cá nhân hay tổ chức của quý vị, và thông báo cho chúng tôi ở địa chỉ  ThuNgo2108@gmail.comchúng tôi sẽ cám ơn và ghi nhận ý kiến của quý vị.

Ở phần cuối bài viết “Vài suy nghĩ rời . . .” ông Trần Phong Vũ cũng nêu ý kiến là, trước nhu cầu cấp bách của tình thế, cần có một Bản Lên Tiếng của mọi người, mọi giới, với đối tượng và nội dung khác. Tôi nghĩ rằng nếu các đại diện của mọi giới trong cộng đồng có thể đồng thuận về một bản lên tiếng chung thì tốt nhất.  Nếu không thì tiếng nói của những nhóm khác nhau cũng có thể có hiệu quả tích cực, miễn là cùng có chung một mục đích là hỗ trợ cho trí thức và đánh động ý thức của đồng bào trong nước. Riêng cá nhân tôi, nếu có điều gì liên quan đến Thư Ngỏ cần được thảo luận hay làm sáng tỏ thêm, tôi rất sẵn sàng thảo luận và giải đáp trong một buổi họp công khai. Những buổi trao đổi ý kiến công khai như vậy sẽ giúp mọi người hiểu rõ vấn đề hơn, xây dựng tình đoàn kết và gia tăng sức mạnh của cộng đồng. Những hành động chia rẽ, phá hoại cộng đồng của những phần tử xấu sẽ bị đẩy lui và chấm dứt.

10 tháng Chín, 2011

– Bản pdf: GS Lê Xuân Khoa trả lời ông Trần Phong Vũ.

– Xem thêm: Về thư ngỏ của nhóm trí thức hải ngoại gửi nhà nước CSVN (ĐCV); + THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM VỀ HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC; + Tận dụng sức mạnh dân tộc để đối phó hiểm họa ngoại bang; + Trí thức hải ngoại quan ngại về mối đe dọa từ Trung Quốc.

Bổ sung, 9h35′, 12/9/2011: BS đã đăng toàn văn bài viết của ông Trần Phong Vũ theo đề nghị của ông: 350. Vài suy nghĩ rời về “Thư Ngỏ” của nhóm Trí Thức hải ngoại gửi Nhà Nước CSVN.

 ĐÃ 13 NĂM TRÔI QUA- SỐ PHẬN KIẾN NGHỊ 36 KIỂU ẤY ĐÃ NẰM TRONG CẦU XÍ VC- CHÚNG ĐÉO CÓ QUAN TÂM MỘT ĐIỂM NÀO CẢ - GỌI "36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI" LÀ CHÍNH XÁC 101% - KHÔNG SAI 1 CHÚT NÀO CẢ - SÁCH VỞ MỘT ĐỐNG MÀ DỐT ĐẶC VỀ VIỆT CỘNG- BỌN TRÍ NGU 3 MỚ ĐẾN CHẾT VẪN CHƯA HẾT NGU./-Mt68

___________________

Trí thức hải ngoại gửi thư ngỏ cho chính phủ VN.

Một bức thư ngỏ gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam do 36 trí thức hải ngoại ký tên đang là đề tài chú ý của nhân sĩ trong và ngoài nước.
Mặc Lâm, BTV RFA
2011.08.30
Share
clip_image0034-(2).jpg
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi (T) chụp cùng TS Phùng Liên Đoàn
Files photo

Mặc Lâm có bài tường trình về sự kiện này qua ý kiến của các tác giả thư ngỏ, mời quý vị theo dõi.

Hiểm họa ngoại bang

Lần đầu tiên trong nhiều năm qua trí thức hải ngoại chính thức nhập cuộc với tình hình chính trị trong nước qua bức thư ngỏ gửi cho các cấp cao nhất của Việt Nam. Bức thư này tập trung 36 chữ ký của trí thức hải ngoại phân tích những lo ngại của họ về các diễn biến hổi gần đây được bức thư xác định là “hiểm họa ngoại bang”.

Bức thư ngỏ khẳng định họ hoàn toàn đồng ý với các kiến nghị của 95 trí thức trước đây vài ngày cũng nêu lên quan ngại của họ trước việc Trung Quốc ngày một dấn sâu hơn vào ý muốn áp đặt những yêu cầu phi lý về đường lưỡi bò cũng như các hoạt động gây hấn, bắt ngư dân Việt Nam tuy ngoài mặt vẫn tỏ ra mong muốn hoà bình với các nước trong đó có Việt Nam.

Tiến sĩ Vật lý nguyên tử Phùng Liên Đoàn chia sẻ lý do ông và những người ký tên vào bức thư ngỏ này, ông nói:

“Cái việc này xảy ra lần đầu cũng nhờ vài yếu tố kích thích giúp chúng tôi có căn bản giúp chúng tôi lên tiếng nói. Những kích thích đó gồm những hành vi ngang ngược của Trung Quốc, nó là chất xúc tác đoàn kết người Việt Nam, bất cứ ở đâu, bất cứ tôn giáo ngay cả bất cứ đảng phái nào đi nữa.

Bức thư này nó nói rõ rằng những người ở hải ngoại có thể đóng góp, hỗ trợ cho những ý kiến của những người trí thức ở trong nước mà họ đã nêu ra trong hai kiến nghị của họ.

GS Tạ Văn Tài

Cái thứ hai chúng tôi thấy trí thức trong nước họ làm được nhiều việc mà phương tiện của họ ít hơn chúng tôi ở bên ngoài này. Họ như cá trong chậu chim trong lồng, thành ra mình thấy anh em trong nứơc làm đựơc như vậy thì đây là cơ hội người Việt Nam nên chung một lòng, một ý tưởng mà tấm lòng đó, ý tưởng đó là phải nghĩ tới mười, hai mươi hay hàng trăm năm sau, làm cách nào để duy trì độc lập tự do hạnh phúc cho nước Việt Nam.”

Trong một đoạn dẫn nhập bức thư ngỏ ghi rõ do chính quyền tỏ ra lúng túng trước các đòn thâm độc của Trung Quốc là nguyên nhân chính xuất hiện bức thư ngỏ này:

“Sau hơn 35 năm lãnh đạo một đất nước thống nhất, các nhà cầm quyền chắc biết rõ hơn ai hết toan tính thâm độc của Trung Quốc và tình thế nguy nan của Việt Nam.

Nhưng trong thời gian qua những chính sách và biện pháp đối nội và đối ngoại được thực thi đã tỏ ra lúng túng và mâu thuẫn, trái với sự mong đợi của toàn dân. Tình trạng này hiển nhiên làm suy yếu sức mạnh dân tộc, đòi hỏi chính quyền cần phải có những thay đổi toàn diện về cơ chế và chính sách mới có thể bảo vệ được chủ quyền và phát triển đất nước.”

Hỗ trợ trí thức trong nước

Từ trước tới nay hầu như chưa khi nào trí thức tập hợp đông đảo trên một bức thư chung góp ý với chính quyền về một vấn đề có liên quan đến chính trị như bức thư này.

Hoi-Nghi-Viet-Kieu-250.jpg
Nhiều trí thức hải ngoại về dự Hội Nghị Người VN ở Nước Ngoài tổ chức tại VN năm 2009. Photo courtesy of dankeu.com
Nhiều trí thức hải ngoại về dự Hội Nghị Người VN ở Nước Ngoài tổ chức tại VN năm 2009. Photo courtesy of dankeu.com
Rất nhiều hàng rào ngăn cách họ với chính quyền Việt Nam. Trong các trở ngại đó điều làm họ e ngại nhất chính là dư luận kiều bào nơi họ định cư. Sự trăn trở cho đất nước chưa thể công khai trên phương tiện truyền thông bởi lẽ những chống đối, chỉ trích chừng như luôn sẵn sàng cho bất cứ những nỗ lực nào nhằm giúp sức cho chính quyền.

Giáo sư Tạ Văn Tài, nguyên luật sư tại tiểu bang Massachussets, nguyên Giảng sư Luật đại học Harvard cho biết lý do tại sao ông ký tên vào bức thư ngỏ mà không sợ cộng đồng chỉ trích, ông nói:

“Đối với dư luận của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại từ xưa đến nay tôi đã có lập trường rất rõ rệt là mình đứng bên ngoài mình không thể làm gì nhiều được. Chỉ có thể hỗ trợ được cho những người có khuynh hướng cải cách bên Việt Nam.

Bức thư này nó nói rõ rằng những người ở hải ngoại có thể đóng góp, hỗ trợ cho những ý kiến của những người trí thức ở trong nước mà họ đã nêu ra trong hai kiến nghị của họ. Chúng tôi dùng chữ “thư ngỏ” chứ không phải kiến nghị, bởi vì muốn giữ tư thế độc lập không phải là “xin cho” cũng như hải ngoại hay mỉa mai những chữ như “kiến nghị”. Chúng tôi cẩn thận dùng chữ thư ngỏ gửi chính quyền Việt Nam, cái tư thế chúng tôi là như vậy nên chúng tôi không sợ bị chỉ trích.”

Sau hơn 35 năm lãnh đạo một đất nước thống nhất, các nhà cầm quyền chắc biết rõ hơn ai hết toan tính thâm độc của Trung Quốc và tình thế nguy nan của Việt Nam.

Trích thư ngỏ

Dư luận từ nhiều năm qua vẫn cho rằng đối với trong nước, trí thức hải ngoại vừa được kính trọng vừa bị dè chừng, với một thái độ khó hoà nhập như với người lạ. Tuy hai bên vẫn nói tiếng Việt nhưng suy nghĩ, làm việc, thái độ không nằm chung một phía. Cách biệt này như thuỷ triều, chỉ có thể kéo một ít rác rưởi của tư duy lỗi thời nhưng không thể là sóng lớn đánh tan những chướng ngại nằm sâu trong tiềm thức của những cỗ xe chỉ thích sử dụng sức kéo của loài vật hơn là nhiên liệu mà thế giới vẫn dùng.

Bức thư ngỏ có đoạn nêu rõ về sự thật này với những chi tiết khá mạnh mẽ như sau:

“Có hai nguyên nhân chính: thứ nhất, cơ chế chính quyền hiện hữu không những đánh mất niềm tin của người dân trong nước mà còn là cản trở lớn cho trí thức ở nước ngoài muốn đóng góp vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” do chính Nhà nước đề ra; thứ hai, sự nghi ngờ, thiếu tin tưởng vào thiện chí của trí thức còn phổ biến trong một bộ phận không nhỏ của lãnh đạo.

Mặc dù chính quyền kêu gọi trong nhiều năm, sự đóng góp về trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn quá nhỏ bé: số chuyên gia, trí thức hàng năm về nước “chuyển giao công nghệ” chỉ trong vòng 500 lượt người trên con số hơn 300.000 trí thức.” 

Mong được lắng nghe

Viet-kieu-baodat-viet-250.jpg
Việt kiều về ăn Tết qua cửa khẩu TSN. Photo courtesy of baodatviet
Việt kiều về ăn Tết qua cửa khẩu TSN. Photo courtesy of baodatviet
Bức thư trực tiếp đề nghị lãnh đạo đất nước phải thực hiện 4 việc cốt yếu ngay từ bây giờ để kéo lại niềm tin của dân chúng. Đó là vận dụng sức mạnh quốc tế qua tổ chức ASEAN mà Việt Nam là một thành viên và nhất là tập trung sức mạnh của toàn dân cả trong lẫn ngoài nứơc để chống lại những đòn phép từ Trung Quốc.

Với Tiến sĩ Phùng Liên Đoàn thì việc ký tên vào bức thư ngỏ không phải là việc làm hình thức vì theo ông trong thời gian gần đây nhà nước đã có những động thái hợp tác với trí thức tuy còn khá khiêm tốn. Bức thư ngỏ theo ông sẽ là một nhịp cầu nối liền trí thức với những người lãnh đạo chịu lắng nghe, ông nói:

“Chúng tôi cũng có hy vọng đôi chút bởi vì tình thế đã thay đổi đi rồi. Mười năm về trước thì hoàn toàn không hy vọng gì nhưng càng ngày chúng tôi thấy tự do trong nước nó có vẻ nới rộng ra. Những người trong chính quyền, những người chủ chốt ở cấp nhà nước, cũng như những người trước kia ở địa vị rất lớn như chủ tịch quốc hội họ cũng đều đồng lòng suy nghĩ như vậy cả.

Chúng tôi hy vọng tiếng nói của chúng tôi, đồng ý và ủng hộ những người trong nước cũng là những tiếng vọng lên cho người lãnh đạo hiểu.

TS Phùng Liên Đoàn

Chúng tôi thấy chính phủ có những khó khăn riêng của họ nhưng chúng tôi không bao giờ coi thường những khó khăn đó. Chúng tôi hy vọng tiếng nói của chúng tôi, đồng ý và ủng hộ những người trong nước cũng là những tiếng vọng lên cho người lãnh đạo hiểu.

Vừa rồi họ cũng gặp một vài người ký tên trong nước, ông Nguyễn Phú Trọng đã làm như vậy nên chúng tôi thấy rằng đã có ảnh hưởng tới nhà lãnh đạo đó.”

Qua hàng chục thư kiến nghị của trí thức trong nước đối với nhiều vấn đề thời sự, hình như sự phản hồi của nhà nước rất ít và nếu có chỉ là hình thức. Hành động lừng khừng này chưa cho phép trí thức tin tưởng vào nỗ lực của họ được chú ý và lắng nghe. Bức thư ngỏ lần này của trí thức hải ngoại như một chiều kích khác, góp sức với trí thức trong nước đẩy cỗ xe điều hành chính sách tăng lực trước những vấn nạn mà dân tộc đang đối đầu, đặc biệt là phải trực diện một lần nữa mối họa ngoại xâm tràn về từ phương Bắc.

 THƯA QUÝ HUYNH TRƯỞNG QGHC - DANH SÁCH "TRÍ NGU" HẢI NGOẠI DÂNG KIẾN NGHỊ VỚI VIỆT CỘNG LÀ CÓ THẬT 1000%- Mt68 KHÔNG HỀ BỊA ĐẶT DANH SÁCH NẦY - AI THẤY KHÔNG ĐÚNG HAY HÀM OAN CỨ LÊN TIẾNG ./-Mt68

______________________

Tue Ton

Tên hai ông bà Châu Trai hiện còn trên side bar nằm trong danh sách 36 trí ngủ ký kiến nghị gời Hà Nội. Đứng đầu nhóm là Lê Xuân Khoa.

Một trong những người khác thường được bêu xấu là Doãn Quốc Sĩ.
DANH SÁCH 36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI
Tái lập Danh Sách
36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI
KIẾN NGHỊ XIN PHÂN VIỆT CỘNG
(Do Lê Xuân Khoa cầm đầu , phổ biến vào 21/8/2011)

1-DOÃN QUỐC SĨ-Chuyên gia CHO MƯỢN TÊN-USA
2-ĐINH XUÂN QUẾ-USA
3-ĐOÀN THANH LIÊM-USA
4-HỒ BẠCH THẢO-USA
5-LÊ THANH MINH CHÂU-USA
6-LÊ XUÂN KHOA-Anh của Tài Tử LÊ QUỲNH-USA
7-LÊ TRỌNG QUÁT-PHÁP
8-NGHIÊM PHƯƠNG MAI-CANADA
9-NGÔ ĐÌNH LONG-USA
10-NGUYỄN THẾ ANH-PHÁP
11-NGÔ QUỐC DŨNG-USA
12-NGUYỄN PHẠM ĐIỀN-ÚC CHÂU
13-NGUYỄN THỊ NGỌC GIAO-USA
14-NGUYỄN ĐỨC HIỆP-ÚC CHÂU
15-NGUYỄN NGỌC LINH-Cựu VIỆT TẤN XẢ VNCH-USA
16-NGUYỄN PHÚC QUẾ- Cựu Phủ Đặc Ủy Trưởng TỴ NẠN CỘNG SẢN VNCH- PHÁP
17-NGUYỄN THÁI SƠN-PHÁP
18-NGUYỄN HỮU XƯƠNG-PHÁP
19-PHẠM HỒNG CÔNG-CANADA
20-PHẠM PHAN LONG-USA
21-PHẠM XUÂN YÊM-Vật lý Paris-PHÁP-DSVC Nằm vùng
22-PHAN TẤN HẢI-USA-DS TRÍ VẬN của VĨNH HẢO
23-PHÙNG LIÊN ĐOÀN-USA
24-TẠ VĂN TÀI –USA-QGHC
25-TĂNG THỊ THÀNH TRAI-USA-(Đỡ đầu LS Tập sự cho Tạ Văn Tài)
26-THÁI VĂN CẦU-USA
27-THÁI CÔNG TỤNG-CANADA
28-TRẦN ĐÌNH DŨNG-USA
29-TRIỀU GIANG (NANCY BÙI-Giao lưu kinh tài VC-Xuất cảng cà phê)
30-TRỊNH HỘI –USA (Giao lưu VC-Chồng hôi sữa của Kỳ Duyên)
31-TRƯƠNG HỮU LƯƠNG-PHÁP
32-TRƯƠNG HỒNG SƠN (TRƯƠNG VŨ)-USA
33-TRƯƠNG BỔN TÀI –USA- VC Nằm vùng trong tổ đặc công Hải Ngoại của BÙI TÍN)
34-VŨ GIẢN-THỤY SĨ- VC Nằm vùng lãnh Bằng khen Hà Nội.
35-VŨ KHÁNH THÀNH-ANH QUỐC
36-VŨ QUỐC THÚC –PHÁP- GS Vô liêm sỉ, già sắp chết mà còn háo danh

DANH SÁCH PHỤ
PHỔ BIẾN VÀO CUỐI THÁNG 10/2011.

1-HỒ TÚ BẢO-Computer –JAPAN-DSVC Nằm vùng
2-NGUYỄN TIẾN DŨNG-Dạy Toán-Toulouse-PHÁP-DSVC Nằm vùng.
3-TRẦN HỮU DŨNG-OHIO-Kinh tế Wright-USA-DSVC Nằm vùng
4-GIÁP VĂN DƯƠNG-Vật lý –SINGAPORE-DSVC Nằm vùng
5-NGUYỄN NGỌC GIAO-Toán-Paris-PHÁP-DSVC Nằm vùng
6-NGÔ VĨNH LONG-Sử học Maine-USA-DSVC Nằm vùng
7-VĨNH SINH-Sử học Alberta-CANADA-DSVC Nằm vùng
8-NGUYỄN MINH THỌ-Hóa học Leuven- BELGIUM-DSVC Nằm vùng
9-TRẦN VĂN THỌ-Kinh tế Waseda-JAPAN-DSVC Nằm vùng
10-CAO HUY THUẦN-Chính trị Picardie-PHÁP-DSVC Nằm vùng
11-NGUYỄN VĂN TUẤN-Dụng cụ Y Khoa Sydney-ÚC CHÂU- DSVC Nằm vùng
12-HÀ DƯƠNG TƯỜNG-Toán Compiègne-PHÁP- DSVC Nằm vùng
13-VŨ QUANG VIỆT-Thống kê LHQ-USA-DSVC Nằm vùng