Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label DenCuTranDinhVC. Show all posts
Showing posts with label DenCuTranDinhVC. Show all posts

Sunday, 2 November 2014

VIỆT CỘNG CỐ TÌM NHỮNG MÓN LẠ ĐỂ BÁN CHO TỴ NẠN : CÁI ĐÈN CÙ, CÁI ĐIẾU CÀY ... CẢ 2 ĐỀU CHÁY THÀNH TRO ... SẼ CÒN CÁI "ĐỒ ĐỂU" GÌ NỮA ĐÂY??? .../-Mt68

Nhân đọc Đèn Cù, xem xét cách quản lý communism

Tôi có dịp đọc qua Đèn Cù. Cũng như nhiều người hộp thư của tôi nhận được ấn bản điện tử cuốn sách công ty Người Việt xuất bản. Tác giả quả là muốn nó đến với nhiều người đọc.
Tác giả Trần Đĩnh, nếu những ai để ý đến hoặc buộc phải đọc về tiểu sử của các lãnh tụ cộng sản đều phải nghe đến. Ngòi bút của ông Trần Đĩnh đã được chế độ cẩn trọng chọn để viết tiểu sử cho lãnh tụ thứ nhất, Hồ Chí Minh. Tác giả được biết qua Đèn Cù đã là một cộng sự thân cận như hình với bóng với Hồ Chí Minh từ những ngày trên chiến khu Việt Bắc.
Khả năng viết lách của Trần Đĩnh đã được trọng dụng trên mũi nhọn tuyên truyền của đảng cộng sản, từ chiến khu Việt Bắc của những năm 1945 cho đến khi nắm toàn quyền ở miền Bắc. Dưới mắt của các lãnh tụ cộng sản Trần Đĩnh đã không chỉ là một công cụ đắc lực mà còn rất trung thành. Ít nhất những chế tác tuyên truyền của ông đã chứng tỏ điều đó. Đối với cơ quan ngôn luận nòng cốt Nhân Dân, Trần Đĩnh đã đứng vào hàng những cây viết chủ lực trong những năm đầu thập niên 60 ở miền Bắc.
Mãi đến mùa hè 2014 này Trần Đĩnh mới cho ra đời một cuốn sách rất khác, Đèn Cù. Như lời tự bạch sau bao nhiêu năm làm công việc của một “bồi bút” mẫn cán, nay ở tuổi 85, tác giả cảm thấy bổn phận phải có cuốn sách của riêng mình. Nó phải là một nhu cầu nói thật sau cả đời bị buộc nói dối.
Cách viết của Đèn Cù có thể nói là lập dị. Nhiều độc giả đã than phiền vì khó đọc. Đèn Cù không phải là sách lịch sử, cũng không hẳn là hồi ký. Nó chỉ là “truyện tôi” như tác giả nhìn nhận, đúng hơn là những trang bút ký không mốc thời gian. Có những đoạn phải đọc kĩ mới thấy được đại ý. Nhưng cũng chính cái ánh nhập nhòe của “truyện tôi” Đèn Cù đã kích thích sự tò mò của độc giả trước những sự thật dễ bị lẫn khuất.
Điều Đèn Cù phơi bày tự nhiên nhất là nó giúp ta nhận thấy rõ hơn về nguồn cơn của số phận dân tộc trong một giai đoạn lịch sự phức tạp. Hai nhân vật hiện diện đậm nét, cũng là hai tác nhân chính gây nên các cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam là Hồ Chí Minh và Lê Duẩn.
Nếu cần một nhận định thì có thể kết luận ngay cả bốn cuộc chiến tranh đều không đáng có. Cần nhớ lại chiến tranh Thế giới Hai đi đến hồi kết thúc, Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương năm 1945 và không lâu sau đó đầu hàng Đồng Minh đã tạo ra một khoảng trống chính trị ở Việt Nam. Chính phủ quân chủ lập hiến Bảo Đại-Trần Trọng Kim đã chớp cơ hội tuyên bố quốc gia độc lập trước thế giới. Đây đã là chính phủ đại diện có tính chính danh nhất, ít nhất đối với sự liên tục quốc gia. Vào giai đoạn này chính sách thuộc địa của Pháp đứng trước sự thoái trào, đi đến hồi cáo chung trên thế giới, không thể nào cưỡng lại khát vọng độc lập mà nhiều thế hệ người Việt Nam đã đổ cả máu để tranh đấu. Cần nhấn mạnh tính chất quan trọng của sự kiện lịch sử này: độc lập dân tộc-quốc gia được thu hồi qua con đường chính trị - ngoại giao này phải được xem là con đường lý tưởng, vì không hao tốn xương máu quốc dân. Đất nước đã có thể được bắt đầu xây dựng, phát triển từ năm 1945 khi mà nguồn lực quốc gia và cơ sở hạ tầng còn nguyên vẹn trên toàn quốc.
Nhưng lịch sử bị quặt theo một hướng khác. Hồ Chí Minh về nước mang theo chủ nghĩa cộng sản đã chính thức phát động cuộc chiến tranh đầu tiên Việt-Pháp ở miền Bắc. Tại sao phải chủ trương chiến tranh khi nước nhà đã độc lập?
Có phải là để thực hiện nhiệm vụ của Đệ tam Quốc tế cộng sản giao Hồ Chí Minh thi hành. Một giải thích nghe hợp lý, vì trùng hợp với các mốc thời gian hoạt động của tổ chức này. Hồ Chí Minh về nước năm 1941, năm 1943 Đệ Tam Quốc Tế giải tán nhưng năm 1947 được tái sinh và lại giải tán năm 1956 do mâu thuẫn Nga-Trung ngày càng lên cao. Nhưng đó chỉ là một mặt nổi của vấn đề. Qua những chi tiết tưởng chừng vụn vặt trong Đèn Cù, có thể thấy Hồ Chí Minh đúng hơn đã nhận thực hiện cuộc chiến tranh uỷ nhiệm của Mao Trạch Đông.
Hồ Chí Minh sau lần đến Moscow năm 1924 bị đối xử ghẻ lạnh, rồi thất thế trước những nhân vật cộng sản nổi trội khác như Trần Phú, Lê Hồng Phong, đã phải sống những năm tháng sau đó rất bơ vơ, có cả khoảng thời gian dài mất tích bí ẩn sau những năm 1930. Ngay cả Hồ Chí Minh cũng không muốn nhắc đến giai đoạn này khi ủy thác cho Trần Đĩnh viết hồi ký. Con đường thăng tiến của Hồ Chí Minh chỉ được mở ra sau khi gia nhập làm đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc, và từng bước được sự chiếu cố của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông cần một cộng sự phục tùng để phục vụ chiến lược dùng Việt Nam làm phên dậu cho Hoa Lục trước lo ngại đối với phương Tây, và Hồ Chí Minh đã là một ứng cử viên sáng giá. Với cái dù của Mao, Hồ Chí Minh đã qua mặt các đảng viên cộng sản khác để trở thành lãnh tụ cách mạng Việt Nam, và về nước năm 1941 với vị thế mới.
Chi tiết năm 1949 Hồ Chí Minh phải khăn gói vượt biên giới sang gặp Mao Trạch Đông, khi họp thì thông dịch viên tùy tùng bị đẩy ra ngoài, chỉ còn một mình Hồ ngồi nói chuyện với Mao và các cận tướng bằng tiếng Hoa, chứng tỏ chuyến đi đó đơn thuần là để báo cáo công tác với thượng cấp trong đảng. Căn cứ Việt Bắc trong cuộc chiến 1945-1954 với Pháp được Trung Quốc chu cấp mọi mặt từ cây kim sợi chỉ đến các loại vũ khí đạn pháo, cả nhân lực lẫn đường lối chiến tranh. Chiến thắng Điện Biên Phủ của phe cộng sản chỉ khiến đất nước đã độc lập, thống nhất lại bị chia đôi năm 1954. Giềng mối văn hóa xã hội miền Bắc bị tàn phá tận gốc rễ qua cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất” theo chỉ thị trực tiếp từ Mao. Đây cũng là thời gian văn hóa, văn học, ngôn ngữ miền Bắc du nhập nhiều độc tố từ Trung Cộng nhất. Kinh tế miền Bắc hoàn toàn kiệt quệ.
Còn giải thích thế nào về quyết định cuộc chiến tranh tiến đánh miền Nam trong đó Hồ Chí Minh đã có thái độ lưỡng lự? Đây cũng là một trong những chi tiết “khó nuốt” nhất của Đèn Cù đối với nhiều người. Đã có những bài viết đả kích Đèn Cù, oái oăm, cũng bởi những chi tiết Trần Đĩnh viết về nhân vật Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó những bài viết đã dùng những chi tiết trong Đèn Cù để “giải ảo Hồ Chí Minh” thì tỏ ra lúng túng với chi tiết Hồ Chí Minh không biểu quyết trong nghị quyết đánh miền Nam này.
Phải nói nếu đặt tư duy trong nhãn quan bạn thù, thiện ác thì vấn đề cốt lõi dễ bị che lấp, do đó cần phải có sự tỉnh táo như những người làm khoa học khi đứng trước các dữ kiện. Nguyên ủy cuộc chiến đánh miền Nam của phe cộng sản miền Bắc cần được rọi vào những ánh sáng mới.
Cần nhấn mạnh ngay cuộc chiến Bắc-Nam là cuộc chiến của Lê Duẩn. Sau khi thâu tóm toàn bộ quyền lực từ tay Hồ Chí Minh, Lê Duẩn cần một chiến thắng vang dội hơn Điện Biên Phủ để khẳng định vị trí lãnh tụ của mình. Mao Trạch Đông thì chủ trương đẩy chiến tranh càng xa Hoa Lục càng tốt nên không muốn thấy hòa bình ở Việt Nam. Mao Trạch Đông và Lê Duẩn đã gặp nhau ở mục tiêu chiến tranh. Mao Trạch Đông vào lúc đó đã không còn thấy sự hữu hiệu ở dụng cụ Hồ Chí Minh nữa. Đây là điểm quan trọng cần giải thích xuyên suốt.
Không như những người cộng sản thuộc phái chống Lê Duẩn hoặc những học giả nước ngoài dùng dữ kiện Hồ Chí Minh không biểu quyết này để tô điểm tính dân tộc chủ nghĩa trong con người Hồ Chí Minh, sự kiện Hồ Chí Minh không biểu quyết nghị quyết tiến đánh miền Nam thật ra lại nói lên bản chất con người Hồ Chí Minh rõ nhất.
Nếu nói Hồ Chí Minh phục vụ cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh làm cộng cụ cho mưu đồ của Mao Trạch Đông, hay thậm chí Hồ Chí Minh đã hợp tác với tình báo Mỹ… đều đúng và đều có chứng cứ, nhưng phải nhìn xuyên suốt mới thấy Hồ Chí Minh có thể làm tất cả và tất cả đối với Hồ Chí Minh chỉ là phương tiện nhằm đạt mục tiêu danh vọng cá nhân. Đây là một loại bệnh lý danh vọng. Cần nhất mạnh ở chữ “tất cả”, Hồ Chí Minh bất chấp mọi giá trị đạo đức căn bản nhất của con người. Đặc tính nổi lên trên hết là sự nhu nhược, khom người trước quyền lực ở con người Hồ Chí Minh. Đây cũng đã điều gây nên thảm kịch cho dân tộc.
Một Nguyễn Sinh Cung lớn lên thất bại trên mọi địa hạt, cả cuộc đời sống vất vưởng nên khát khao một danh vọng, đến khi ngoài tuổi 50 mới gặp được cơ hội tìm kiếm công danh ngàn vàng từ Mao Trạch Đông. Hồ Chí Minh do vậy về nước năm 1941 là để thực hiện kế hoạch của Mao, với phương tiện của Mao, nhưng xương máu là người Việt Nam. Trong mở màn chiến dịch cải cách ruộng đất “long trời lở đất” ở miền Bắc, có thể trong thâm tâm Hồ Chí Minh không muốn giết một người phụ nữ là ân nhân lớn của các lãnh tụ cộng sản như bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, nhưng vẫn răm rắp cúi đầu viết báo vu cáo cực kỳ ác độc bà Năm là “Địa chủ ác ghê”, cải trang bịt râu đến theo dõi đấu tố, và rồi cho giết bà Năm một cách ghê rợn. Thời gian Hồ Chí Minh thực sự nắm quyền ở miền Bắc chỉ rất ngắn, đã trên dưới 70, cũng là độ tuổi mà nhu cầu hiển nhiên ở một con người suốt đời đi tìm kiếm một danh vọng cá nhân cần hưởng thành quả cách mạng. Cần phải hiểu cái tâm lý thỏa mãn ở một con người tầm thường, thiếu tài năng nay bỗng trở nên làm chủ tịch của cả một nửa nước như Hồ Chí Minh.
Đứng trước một Lê Duẩn sắt máu, sắc sảo, thông minh hơn, có tài hùng biện mà chủ yếu là ngụy biện, một lần nữa Hồ Chí Minh lộ rõ bản chất nhu nhược, phục tùng. Lê Duẩn có một thời gian dài hoạt động ở miền Nam, hiểu rõ miền Nam, nhưng điều đó không ngăn cản quyết tâm giải phóng miền Nam của Lê Duẩn. Nhằm phục vụ quyết tâm chiến tranh Lê Duẩn cần biểu tượng và khẩu hiệu. Hồ Chí Minh thì quyết ôm ngôi vị cha già dân tộc, như ôm một lô độc đắc. Cũng như vụ đấu tố giết bà Nguyễn Thị Năm trước đây, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu trắng trong Nghị quyết 7 đánh miền Nam nhưng rồi vẫn hô hào khẩu hiệu đòi đốt cả dãy Trường Sơn đi giải phóng miền Nam là bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh lại một lần nữa cúi đầu phục tùng quyền lực, lần này là quyền lực của Lê Duẩn. Tất cả các khấu hiệu hô hào đánh miền Nam của Hồ Chí Minh đều do Lê Duẩn thao túng. Đó quả là một sự mặc cả đểu cáng, cuộc chiến thứ hai này một thảm kịch khác cho dân tộc. Hậu quả của cuộc chiến thứ hai là gì, có cần phải lập lại đầy những con số thống kê đau xót, bi thảm của dân tộc này.
Còn hai cuộc chiến kế tiếp? Có thể nói Lê Duẩn là tổng bí thư của chiến tranh, hay nói Lê Duẩn cần chiến tranh để duy trì ngôi vị tổng bí thư cũng không sai. Hai cuộc chiến tranh tiếp theo vào năm 1979 với Trung Cộng ở biên giới phía bắc và với Khơ me Đỏ ở biên giới tây nam đều có nguyên nhân phát xuất từ cung cách Lê Duẩn. Cần nhớ lại bối cảnh chính trị của phe xã hội chủ nghĩa trong những năm 1960, Lê Duẩn đã lợi dụng được sự yểm trợ trên mọi phương tiện của cả hai thế lực dù đang hục hặc Trung Quốc và Liên Xô cho cuộc chiến tiến đánh miền Nam. Nhưng sự thiển cận chính trị thường đi đôi với di hại không lường. Trong khi Mao đang ra sức đánh phái hữu ở Trung Quốc, một hình thức củng cố quyền lực ngai vị, Đặng Tiểu Bình được cho thuộc phái hữu bị thanh trừng gần mất mạng, Lê Duẩn cần sự ủng hộ của Mao cũng thực hiện vụ án “Xét lại chống Đảng” như món quà cung tiến từ Việt Nam. Khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền sau khi Mao chết năm 1976 đã cần rửa hận trước một Lê Duẩn trở nên kêu căng đến vĩ cuồng. Đặng Tiểu Bình đã mở hai cuộc chiến tranh 1979 ở hai mặt trận khiến núi xương sông máu của người Việt Nam càng chất lên cao sau hai cuộc chiến 30 năm. Đặng Tiểu Bình rút quân sau khi đạt được mục tiêu chính trị. Thành tích cuộc chiến là Đặng Tiểu Bình được ban lãnh đạo chấp nhận cho tiến hành hiện đại hóa quân đội, và được hòa hoãn với Mỹ để có một thời gian dài dưỡng sức phát triển đất nước. Còn Lê Duẩn tự phụ đã đưa đất nước đi đến đường cùng, bị cô lập hoàn toàn với thế giới. Sự cùng kiệt toàn diện đã đưa đảng cộng sản Việt Nam đến tròng “Hội nghị Thành đô” lệ thuộc, nhục nhã cho đến ngày nay.
Cần quay lại với những chi tiết thật khác trong Đèn Cù. Đây lại là những chi tiết về những lãnh tụ cộng sản mà nhiều người chống cộng không muốn tin đó là cũng sự thật. Họ có lý của họ. Những người chủ trương các cuộc chiến tranh tàn khốc, hơn 4 triệu người Việt Nam thiệt mạng, gia đình ly tán, nền tảng đạo đức dân tộc bị băng hoại, đất nước bị tụt hậu cả trăm năm so với nhiều nước trong khu vực thì chỉ phải là những kẻ xấu xa. Vậy tại sao Đèn Cù lại “cả gan” tả những chi tiết có thể nói là rất con người về những lãnh tụ cộng sản, điển hình như là Hồ Chí Minh và thậm chí là Lê Duẩn. Đây là những chi tiết không thể chấp nhận đối với những người chống cộng, cũng là một tâm lý rất con người trong trường hợp này. Nhưng như đã nói ở trên Trần Đĩnh chỉ có nhu cầu nói thật trong Đèn Cù. Phải cần đối diện với nó, nhưng đối diện như thế nào?
Điều có thể thấy từ những chi tiết thật trong Đèn Cù về những con người như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn đó là họ phải là những người có sức truyền cảm cao. Họ đã luôn có nhiều đồng chí kiên trì bên cạnh trên một chặng đường dài, Nói ra những điều này tôi hoàn toàn không có ý xúc phạm đến những nạn nhân đã nằm xuống vì những chủ trương chiến tranh bạo liệt của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn. Và ngay khi họ là những người có sức truyền cảm cao đi nữa, một đặc tính rất con người, thì điều đó không hề mảy may thay đổi trách nhiệm của họ trước lịch sử dân tộc. Đây cũng là những điểm khiến nhiều người lên án Đèn Cù chỉ làm vấn đề thêm tù mù, Hồ Chí Minh và Lê Duẩn đã là tội đồ dân tộc hiển nhiên rồi, cần Đèn Cù soi gì nữa?! Tôi không biết Trần Đĩnh khi viết Đèn Cù có ý định soi gì không, nhưng theo tôi tác giả đã kể lại những chi tiết một cách thực thà, đã diễn tả những cảm xúc cũng thực thà qua một tâm hồn có tài năng văn học. Còn nó có soi được gì không không phải là trách nhiệm của tác giả nữa.
Đến đây tôi xin đi vào trong một lĩnh vực mới, có vẻ rất xa lạ với môn chính trị truyền thống, và nếu nó có làm độc giả nhức đầu thì tôi phải thành thật xin lỗi trước. Có lẽ một lý do khách quan khiến ít người nghiên cứu lĩnh vực này có lẽ do sự ngăn cản vô hình của hàng rào tín điều họ được nuôi dưỡng, nhưng đây là điều rất cần thiết phải tìm hiểu. Những phân tích này đơn giản nhằm hỗ trợ một ý kiến, một ý kiến mới. Thiết nghĩ mọi nỗ lực xã hội đều sẽ đi đến bế tắc nếu nó không bắt đầu bằng một ý kiến đúng. Đừng sợ ý kiến mới cần là một tâm lý có tính tập quán.
Xin trình bày một cách ngắn gọn nhất có thể. Những nhà khoa học chuyên ngành thần kinh con người hàng đầu thế giới đều đi đến một kết luận rằng bộ óc con người được cấu tạo theo phương cách chúng ta không nhận thấy hiện thực một cách trực tiếp, mà chỉ nhận thấy hiện thực qua những phiên ảnh do hệ thần kinh tạo nên. Trong tác phẩm nổi tiếng “Making up the Mind: How the Brain creates our mental world”, khoa học gia chuyên ngành thần kinh hàng đầu Chris Frith cũng có kết luận rằng não bộ con người tạo nên những phiên ảnh khi tiếp cận với dữ liệu, và diễn giải những dữ liệu đó bằng vốn kinh nghiệm đã được lưu trữ trong não bộ. Tùy theo phẩm lượng của vốn kinh nghiệm được lưu trữ, khả năng diễn giải các dữ liệu sẽ làm phát sinh những hành động tương ứng. Thực tế cho thấy có những người luôn luôn chỉ tiếp nạp những dữ liệu ảo nên những hành động của họ thường không ăn nhập với thực tế, và nếu khi họ có những hành động gần với thực tế thì chỉ đơn thuần là do sự tình cờ. Chúng ta di chuyển trên đường phố gặp đèn giao thông màu đỏ thì quyết định là dừng lại, bởi vì vốn kinh nghiệm được lưu trữ trong não bộ đánh giá đó là hành động tốt nhất, như để tránh rủi ro tai nạn, hay tránh bị cảnh sát phạt chẳng hạn. Nhưng trái lại một người vị thành niên có thể có hành động không dừng lại trước đèn đỏ giao thông, vì não bộ của họ chưa tích đủ những kinh nghiệm để đánh giá đủ khả năng như là xảy ra tai nạn khi vượt đèn đỏ. Tương tự như vậy, đứng trước cùng một vấn đề thì một đứa trẻ thường không có quyết định đúng đắn như người trưởng thành.
Như vậy, không như những tín điều của các tôn giáo, theo ngành khoa học thần kinh con người chỉ là một cỗ máy, dù đó là cỗ máy đã được tiến hoá siêu đẳng nhất. Nếu có Tạo Hoá tạo ra con người thì đây là cách mà Tạo Hoá tạo nên con người. Vì là một cỗ máy, con người không toàn bích, con người không thể trở thành thần thánh có quyền năng siêu nhiên, do vậy nếu có giáo hội hay đoàn thể cho rằng mình đang nắm chân lý tuyệt đối thì đó là điều không đúng. Trên hành trình hướng thiện con người chỉ có thể tiến gần đến chân lý mà thôi. Và chính điều này là sự khuyến cáo nghiêm khắc cho con người cần có sự khiêm tốn. Loài người hiện diện tình cờ và cô đơn trong thế giới tự nhiên, loài người bất kể chủng tộc đáng ra phải cần đến nhau thay vì giết nhau.
Cũng vì cấu tạo của con người là như thế, hành động tốt hay xấu đều được phát sinh bắt đầu qua các dữ liệu được não bộ tiếp nhận, ở đây chúng ta có thể kết luận nguồn dữ liệu (data) đóng vai trò tác động cực kỳ quan trọng đối với sự thành hay bại của xã hội loài người. Nguồn dữ liệu có thể là dữ kiện khoa học (scientific fact), tín điều tôn giáo (religion teaching), hay học thuyết chính trị (political theory), vân vân.
Loài người đi qua quá trình tiến hoá tính được khoảng trên dưới năm triệu năm, nhưng lịch sử loài người ghi chép lại được chỉ mới được khoảng trên dưới năm ngàn năm. Điều này có nghĩa là con người mới chỉ thật sự là con người mới trong một khoảng thời gian rất ngắn so với quá trình tiến hoá, khi mà não bộ con người có khả năng tổng hợp và xử lý các nguồn dữ liệu phức tạp. Cũng trong từng thời gian ấy kho kinh nghiệm của loài người đã phải đối phó với nhiều thử nghiệm, có những thử nghiệm phiêu lưu. Tuy vậy ký ức tập thể loài người vẫn còn lành lặn cho đến đầu thế kỷ 20, khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện. Chủ nghĩa cộng sản đã gây nhiều thiệt hại nhất cho nhân loại. Đã có quá nhiều tổng kết, nhưng cũng cần phải nhấn mạnh một con số đó là chỉ trong vòng 72 năm (1917-1989) số nạn nhân bị giết hại được ước tính là hơn 110 triệu người, bên cạnh đó là sự hủy hoại nhiều mặt đối với xã hội, để lại di hại lâu dài.
Đối với người Việt Nam, trong vòng hai ngàn năm qua cho đến đầu thế kỷ 20 đã tiếp xúc với các tôn giáo như Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, về mặt chính trị xã hội thì có sự hiện diện rộng khắp của chủ nghĩa Khổng Giáo. Đây là những nguồn dữ liệu dù có những mặt hạn chế nhưng đã có đóng góp lớn tạo nên đặc tính của người Việt Nam, xây nền tảng cộng đồng. Các tôn giáo khiêm tốn và lương thiện khi hứa hẹn cứu cánh nằm ở đời sau, và phương tiện đi đến là tính thiện ở con người. Chủ nghĩa Khổng Giáo tuy về mặt chính trị nhằm phục vụ nền quân chủ chuyên chế, nhưng về mặt đạo lý nó cũng đề cao thiện căn trong con người. Nhưng đến nửa đầu thế kỷ 20 dân tộc Việt Nam bị buộc tiếp xúc với nguồn dữ liệu mới, chủ nghĩa cộng sản. Đặc tính của chủ nghĩa cộng sản là sức cám dỗ lớn với những người thừa nhiệt huyết và sự sốc nổi, nhưng cũng lại là dụng cụ cho phép những tay hoạt đầu thực hiện giấc mộng lãnh tụ. Sức cám dỗ là cứu cánh thế giới đại đồng ngay trên mặt đất, nhưng phương tiện bạo lực giết chóc lại được nâng lên như một hàng đạo đức. Con người một khi xem điều ác là đạo đức thì cũng chính là lúc con người đánh mất nhân tính đã được bồi đắp qua hàng triệu năm. Con người trong chế độ cộng sản dễ bị tha hoá là vậy.
Chủ nghĩa cộng sản rõ ràng là một căn bệnh ung thư của nhân loại. Bệnh ung thư một khi được phát hiện thì phản ứng y khoa tương thích là chế ngự, cách ly mầm bệnh, hoặc giải phẫu loại bỏ, tùy theo mức độ của căn bệnh và sức đề kháng của cơ thể. Căn bệnh ung thư chủ nghĩa cộng sản cũng đã được giải quyết hợp lý ở nhiều nơi trên thế giới. Nước Mỹ văn minh, chưa trải qua kinh nghiệm chủ nghĩa cộng sản cũng đã dựng đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản (Victims of Communism Memorial) ngay tại thủ đô, như một cảnh báo nghiêm khắc cho nhân loại về sự nguy hại khôn lường của chủ nghĩa cộng sản. Có thể kể thêm những trường hợp nào. Tiêu biểu Ba Lan. Ba Lan đã lấy quyết định quản lý chủ nghĩa cộng sản bằng pháp lý không phải là tình cờ. Người Ba Lan đã hành động chữa căn bệnh ung thư và để chế ngự mầm bệnh ung thư chủ nghĩa cộng sản trong tương lai. Ba Lan hiện là nước năng động nhất, phát triển nhất so với các nước cộng sản Đông Âu cũ. Ba Lan được thế giới kính trọng.
Đối với Việt Nam, vấn đề chủ nghĩa cộng sản nhức nhối hơn. Mỗi người đều có thể sờ mó được vết thương đau của chính mình. Chủ nghĩa cộng sản đã là một nguồn dữ liệu quái ác thâm nhập vào nhiều người Việt Nam, gây tang tóc cho nhiều người Việt Nam. Những nhân vật như Hồ Chí Minh và Lê Duẩn chỉ là sản phẩm. Nói cách khác, nếu không có chủ nghĩa cộng sản thì Việt Nam không có những Hồ Chí Minh hay Lê Duẩn. Nếu không có chủ nghĩa cộng sản, đất nước độc lập, thống nhất đã có thể cất cánh từ những năm 1945 sau thế chiến thứ hai. Ngày hôm nay đất nước Việt Nam đang được xếp hạng ở đâu trên bản đồ thế giới?
Đó là câu hỏi cho mỗi công dân Việt Nam phải tự chất vấn thường trực khi phải đối diện với thực trạng của đất nước. Tại sao chủ nghĩa cộng sản đã chết ngay trên quê hương đã sinh ra nó, mà lại sinh sôi ở đất nước như Việt Nam? Ngày hôm nay căn bệnh ung thư chủ nghĩa cộng sản vẫn còn đang hiện diện ở Việt Nam. Dù có biến tướng, mầm bệnh vẫn còn trên một cơ thể có sức đề kháng yếu.
Vấn đề không đợi được cho dân tộc này là phải có quyết định hữu hiệu đối với căn bệnh ung thư cộng sản. Nếu cần lấy thái độ, nếu cần có hành động, thì hơn ai hết, những người trong bộ máy quyền lực của đảng cộng sản phải là tiên phong. Họ đang thụ hưởng những tiện nghi vật chất thừa mứa có vấy máu của những người như bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, một người phụ nữ hết lòng với kháng chiến mà thi hài sau khi bị giết còn bị du kích cộng sản nhảy lên dẫm đạp, cho lọt cái quan tài quá nhỏ. Những tiện nghi vật chất xa hoa họ đang thụ hưởng cũng đang vấy máu những bộ đội tuổi thanh xuân phải chết lạnh lẽo dọc đường Trường Sơn, của hơn 4 triệu con người Việt Nam hai miền đã nằm xuống oan uổng trong cuộc chiến tranh vô nghĩa. Lương tâm con người cũng có lúc thức giấc, không thể ngủ trong vô thức mãi được. Họ phải hành động gấp. Một lần cho tất cả, họ cần cởi ách, vĩnh viễn thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản, gột rửa vết chàm mà chính cha anh họ cũng phần nào đã là nạn nhân. Quan tài chủ nghĩa cộng sản phải cần được đóng đinh thật chặt.
Và đối với người dân Việt Nam thì thái độ đã quá hiển nhiên, một khi họ có được quyền tự quyết. Không có dân tộc nào chịu nhiều mất mát, đổ vỡ đối với chủ nghĩa cộng sản như Việt Nam. Một nguồn dữ liệu cực độc hại. Thật khó hình dung người Việt Nam sẽ có một lựa chọn nào khác hơn là lấy quyết định quản lý chủ nghĩa cộng sản như người Ba La đã làm.
Nguyễn Thiện
10-2014

Saturday, 27 September 2014

BS ĐINH XUÂN DŨNG CŨNG VỘI VÃ RA ĐƯỜNG CẦM ĐÈN CÙ MÚA RỐI./- Mt68

Quảng Thuận Đinh Xuân Dũng: Tiểu Sử


Đinh Xuân Dũng (ĐXD) sinh 1/8/1939 tại Huế.  Bút hiệu Quảng Thuận ( Quảng : Quảng Bình  chánh quán, Thuận : Bình Thuận nơi cống hiến chính thời trai trẻ ). Pháp hiệu Tâm Hảo.

Con Ông Đinh Xuân Thạc ( sĩ quan Đồng Minh, Trường Sĩ Quan Thủ Dầu Một , tốt nghiệp  1940, cùng khoá với qúy Ô. Phan Tử Lăng, Dương Văn Minh, Thái Quang Hoàng, Nguyễn Vỷ, mất tích tại Lạng Sơn Đồn Kỳ Lừa, Bắc Việt Nam trong một trận đánh với quân Nhật )  và bà Nguyễn Thị Thuận.

Cháu nội Cụ Tham Tho Linh Đinh Xuân Trạc còn có tên Đinh Xuân Diệu đổ cử nhân đời Vua Thành Thái
 ( Tri Huyện Hậu Lộc, Vĩnh Lộc Quảng Bình, Án Sát Thanh Hoá, Bố Chánh Bình Thuận).
Cháu ngoại Cụ Thượng Lý Hoà Nguyễn Duy Phiên đổ Hoàng Giáp khoa Đinh Mùi Duy Tân thứ  I
 ( 1907) lúc 25 tuổi.
Bác ruột là Ông Đinh Xuân Quảng Luật gia, Thẩm Phán Toà Phá Án Tối Cao, Cựu Tổng Trưởng thời Quốc Trưởng Bảo Đại, Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến Đệ Nhị VNCH.

ĐXD Tiểu học:  cựu học sinh Trần Quốc Toản . Trung học :  cựu học sinh Khải Đinh/ Quốc Học
 ( 1951-1958).  Hướng Đạo sinh Đoàn Mai An Tiêm Huế 1950s.

 Đổ Tú Tài ban Toán 1958.

 Đổ Nội Trú Các Bệnh Viện Sài Gòn 1964.

Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia 1965.
Y sĩ giải phẩu BV Chợ Rẩy

 1965 Động viên Khoá 7 Trưng Tập Quân Y với cấp bậc Y Sĩ Trung Úy . 1968 Y Sĩ Đại Úy Trưởng Khoa Ngoại,  1970 Thiếu Tá Quân Y, Chủ tịch Hội đồng Y Khoa, Chỉ Huy Phó QYV Đoàn Mạnh Hoạch Phan Thiết .

 1970 giải ngủ vì đắc cử  Dân Biểu Hạ Nghị Viện đơn vị Bình Thuận ( Nhóm Dân Tộc Xã Hội đối lập nhiệm kỳ 2 Quốc Hội  Đệ Nhị VNCH. ) 1970 - 1975.

Trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 lúc còn là Y Sĩ Trung Úy Trưởng Khoa Ngoại QYV Đoàn Mạnh Hoạch, bất chấp hiểm nguy ông đã tình nguyện xông pha trong vùng lửa đạn tỉnh  Bình Thuận và thị xã Phan Thiết, để tản thương ( trong lúc phái đoàn Y Tế Đài Loan đã di tản lánh nạn về Nha Trang)  và giải phẩu cứu chửa cho quân dân cán chính tại Dân Y Viên Phan Thiết và được ân thưởng hai Anh Dũng Bội Tinh với ngôi Sao Bạc, một từ Cục Quân Y, một từ Sư Đoàn 23 bộ binh và Y Tế Bội Tinh từ Bộ Y Tế VNCH.

1978 Phó Giám Đốc và Trưởng Khoa Ngoại kiêm Trưởng Khoa Tai Muỉ Họng BV Trần Hưng Đạo
( BV Sùng Chính củ Giám Đốc là cố  BS Lê Khắc Quyến, cựu Khoa trưởng Y Khoa Huế ).

 1979 vì bất mản với chính sách cuà CSVN, bằng xe đạp ông chở con gái đầu lòng 12 tuổi Đinh Thúy Quỳnh nay là Bác sĩ  tại LA Cali vượt biên qua Campuchia hướng về Thái Lan qua ngả Kàtum,  Tây Ninh và bị bắt tại Mimot trong nội địa Campuchia, bị còng hai chân 24 tháng tại B4 Tây Ninh, Trại Cải Tạo Bàu Cỏ rồi chuyển về Trại Giam Chí Hoà TP HCM. Sau  khi ra tù ông về làm việc tại khoa Tai Mủi Họng BV Điên Biên Phủ ( Saint Paul cũ) và trở thành Chủ Nhiêm Khoa Tai Mui Họng ít tháng sau đó.

Ông đoàn tụ với các con qua chương trình ODP 1992 và định cư tại tiểu bang Maryland USA.

Sau giaỉ phẩu tim triple bypass vì bị nhồi máu cơ tim 1994,  ông đi học lại và đậu ECFMG
 ( Educational Commission for Foreign Medical Graduates ) 1995.
 Đổ PA-C 1999 và đổ thủ khoa NCCPA Surgery Exam 1999 với số điểm cao nhất nước Mỷ từ trước đến nay ( 100%) lúc ông vừa tròn 61 tuổi trong lúc vừa bị phong thấp, tiểu đường, suy tim,  gout  và cao huyết áp.

Ông hiện săn sóc bệnh nhân ( bán thời gian) tại Thung Lủng Hoa Vàng Cali.


Thú tiêu khiển cuả ông là internet, trồng cây cảnh, làm thơ, viết văn, nấu ăn, đạp xe đạp và săn sóc bệnh nhân : Thơ văn tập tểnh cuả ông gói ghém tâm tình hoài bảo cuả mình cho tình người, tình nhà , tình nước, cho ước vọng hòa bình , hoà hợp, cho một VN tự do, dân chủ và phú cường.



ĐXD có vợ là Luật sư Lê Thị Thúy Hồng, sinh 1945, người làng La chử , Thừa Thiên,  cựu môn sinh ĐK/ QH,  
Cử Nhân Luật Sài Gòn, Chủ sự Nông Tín Cuộc SG, cựu GS Công Dân Phan Bội Châu Phan Thiết, qua đời 1978 vì ung thư máu,  để lại 4 con dại từ 2 đến 12 tuổi:

Đinh Thúy Quỳnh sinh 1966 tại BV Saint Paul SG: Cử Nhân Khoa Học, Bác Sĩ Nôi Khoa ( Internal Medecine MD) 1995 Maryland University.
Quỳnh vượt biên 1985 lúc 17 tuổi từ cửa biển Bình Đại, Bến tre đến Sarawak Brunei bằng thuyền sau 9 lần thất bại: Hai lần bị tù, 1 lần bị hải tặc gở máy tàu ngoài khơi hải phận quốc tế. Có chồng là Nguyễn Ngọc Minh Chánh vượt biên 1986. PhD Electrical engineering ( có 17 bằng sáng chế ) và hai con Nguyễn Minh Nhật, Nguyễn Quỳnh Anh hiện sống ở LA California. Bác sĩ  Qùynh Đinh hiên là staff cuả Kaiser  Nam Cali.

Đinh Tiến Lãng sinh 20/10/1967 chết 8/12/1967 tại Phan Thiết.

Đinh Quỳnh Tiên sinh 1969 tại Phan Thiết: Kỷ sư Điện Toán ( BS Computer Programming, University of Maryland).
Chồng là Lê Anh Vũ Andy Vượt biên 1985,Kỷ sư Điện Toán, BS và 3 con : Lê Huy Đôn, Lê Huy Đạt và Lê Quỳnh Vivian, hiên sinh sống tại Houston, Texas.

Đinh Xuân Hùng sinh 1972 tại Phan Thiết, VN  : Cử nhân Khoa Học, Bác Sĩ Nha Khoa DMD (Dental Medical Doctor) Temple University, PA.
 Sau khi tốt nghiệp Bác sĩ Nha Khoa Đinh Xuân Hùng gia nhập Quân Đội Mỹ với cấp bậc Đại Úy Quân Y Air Forces Hoa Kỳ, phục vụ hai năm tại Nhật và 2 năm tại LA, USA.
Hùng vượt biên tại cửa biển Bình Đại, Bến Tre lúc 12 tuổi cùng chị Quỳnh sau hai lần thất bại, đến Sarawak, Brunei.  Hiện đã giải ngủ và kết duyên 2003 cùng Bác sĩ Nha Khoa Trần Mẩn Tiệp,DDS Boston University. Có 2 con gaí : Đinh Anh Thư Emma và Đinh Emily. Hiện hai vợ chồng hành nghề Nha tại Wesminter nam Cali.

Đinh Xuân Cường Jeff sinh 1976 tại HCM City, BV Trần Hưng Đạo.
 Cừơng vượt biên một mình lúc 12 tuổi tại Vũng Tàu 1988, BA, Criminology ( Cử nhân, Hình sự) University of Maryland.  TEFL ( Teaching of English as Foreign Linguish ) Đại học  Oxford , London  Cường nguyên  là Director cho Aden Services ( Một hảng Âu Châu ) chi nhánh Hà Nội Vietnam., Hiện là COO Phở 24. Kết duyên 2009 Vợ là Đinh Hoàng Giang MBA. London.


Khúc Kim Thái:  Kế Thất người Hà Đông sinh 1947 có 4 con riêng, không con chung , chung sống từ 1980-1985. Người đã đễ lại cho ĐXD nhiều khổ đau hơn là hạnh phúc.


Nguyễn Kim Huê ( Kim Anh ) Kế Thất 1990, sinh 18/5/1953, Bình Lãng,Long An , cựu học sinh Gia Long, Tú Tài 2, sinh viên Luật Sài Gòn, cựu Cán sự Y Tế BV Trưng Vương TP HCM. Người vợ phúc hậu  đã đem hạnh phúc đến cho ĐXD từ 1990 đến nay..





ĐXD có 4 chị em:

Đinh Lệ Minh sinh 1937; Cựu nhân viên Bưu Điện Maryland, cựu Hiệu Trưởng Trường nử trung học Bùi Thị Xuân Đà Lạt, hiên gia đình sống ở Maryland.
Đinh thị Loan : sinh 1940 tại Huế. mất 1948 tại Đồng Hới, Quảng Bình.
Đinh Cẩm Hà  sinh 1942  BS Maryland University, Phụ Tá văn phòng luật sư chính phủ, cựu GS Bùi thị Xuân Đà Lạt, GS trường Nguyễn Thái Bình HCM city. Hiện sống ở Maryland.
Đinh Cẩm Trang sinh 1945 BA, Social Worker, cựu GS Bùi thị Xuân Đà Lạt, hiện sống ở Sedney, Úc.



Địa chỉ:

Dung Đinh, PA-C
2600 Senter Rd. SPC#225
San Jose, CA 95111
Phone (408) 275-8886

Email : dungdinh3575@sbcglobal.net.

CÓ PHẢI DŨNG ĐINH LÀ BS ĐINH XUÂN DŨNG KHÔNG ?


Thursday, 25 September 2014

ĐÈN KÙ CHỈ LÀ PHƯƠNG TIỆN KIẾM CHÁC CHÚT ĐỈNH CỦA TRẦN ĐĨNH VÀ NHÓM NGƯỜI VẸM

NHỮNG AI MƯU TOAN ĐEM TÊN TUỔI MÌNH GẮN VÀO ĐÈN KÙ ĐỀU SẼ BỊ HỐ LÂY - CỨ CHỜ ĐI TRẦN ĐĨNH SẼ LÀM GÌ SAU KHI VIẾT LẠI MỘT SỐ TÀI LIỆU MỤC NÁT Ở NHÀ THỔ KHÂM THIÊN- 

TNHH VIẾT BÀI NẦY ĐỂ "ỦNG HỘ TRẦN ĐĨNH 1 TÍ" CÓ ĐÚNG KHÔNG ? QUA NHỮNG CÂU TRÍCH DẪN TRONG NỘI BỘ VC NHƯ VẬY LÀ TNHH "TIN CHẮC" LÀ MÌNH ĐÃ Ở TRONG BỤNG TRẦN ĐĨNH RỒI SAO ? 

NHƯ VẬY LÀ TNHH ĐÃ CHỌN ĐỨNG CHUNG VỚI NHỮNG ĐỨA CHUẨN BỊ "XÁCH QUẦN" CHO TRẦN ĐĨNH ? 
HAY LÀ TNHH VIẾT NHƯ BÀI NẦY LÀ ĐỂ ĐỨNG CHUNG VỚI NHỮNG NGƯỜI VẠCH MẶT ĐÈN KÙ ? HOẶC LÀ TNHH CHO RẰNG MÌNH CHỈ ĐỨNG "KẼ GIỮA" CỦA 2 LUỒNG DƯ LUẬN ???./- Mt68

TÔI ĐỌC ĐÈN CÙ

Tôn Nữ Hoàng Hoa


Mấy lâu nay trên diễn đàn lại huyên náo chuyện Đèn Cù. Chuyện Đèn Cù cũng lại đi vào hai phía Đồng và Dị như sự việc cố hữu thường xảy ra trên các diễn đàn.

Không phải vì sự huyên náo giữa Đồng và Dị mà tôi lại đọc Đèn Cù. Thật ra tôi không hiểu cuốn sách mang tựa là Đèn Cù nói cái gì trong đó và ý nghĩa của hai chữ Đèn Cù có được sáng tác dứơi hình ảnh của một mảnh trăng miền Bắc trong đêm Trung Thu có được trăng sáng tỏa hay lại bị mây mù che mất ánh trăng ?

Trước hết tôi đọc được những vần thơ của Thi sĩ Hồ Công Tâm như sau (Xin trích 4 câu)

ĐỌC “ĐÈN CÙ”  CẢM TÁC

Khen thay cho cái Đèn Cù

Cù vùng “nhậy cảm”… bỏ bu Đảng rồi!

Lại nhè chỗ kín săm soi

Lột trần thần tượng… hở bòi tô hô (HCT)


Như vậy theo Thi sĩ Hồ Công Tâm thì Đèn Cù đã vạch mặt HCM , hạ bệ thần tượng

Đến khi đọc bài của nhà văn Duyên Lãng Hà Tiến Nhất thì nhà văn DLHTN thắc mắc là cái "Tác phẩm Đèn Cù từ trong nước không biết đi theo con đường mòn nào ra hải ngoại, người ta chưa biết được" nhưng rồi ông cũng biết ra cái điễm dừng chân của Đèn Cù là (trích) : nhưng điểm dừng chân cuối cùng của nó là tờ báo Người Việt tại Nam California. Người ta không mấy ngạcnhiên khi thấy điểm hẹn của cuốn Đèn Cù cũng giống như các cuốn Thằng Hèn của Tô Hải, haycuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Đức. Từ đó người ta có thể suy ra - mà chắc là trúng- điểm xuất phát của Đèn Cù là ở đường YếtKiêu, Hànội, và như thế là nó cũng xâm nhập vào cộng đồng tỵ nạn tại hải ngoại qua conđường mòn mang tên lão giặc già (Hết trích)

Tôi bỗng hiếu kỳ bèn gọi một vài ngừơi quen xem họ có "Đèn Cù online" không . Cuối cùng tôi gọi Xuân Dân. may thay Xuân Dân gởi cho tôi nguyên cả cuốn sách online và có phân mở đầu có "Hiệu đính và Biên tập: - Ngô Nhân Dụng, Ðinh Quang Anh Thái và Võ Ngàn Sông.Bìa và trình bày: - Uyên Nguyên

Đọc qua lời giới thiệu ÐÈN CÙ CỦA TRẦN ÐĨNH qua ngòi bút của Ngô Nhân Dụng, tôi nghĩ Ngô Nhân Dụng nên đổi qua ngành viết quảng cáo cho những mầm non ca sĩ đang lên. Bởi cái bốc thơm của Ngô Nhân Dụng chắc tác giả có đọc cũng cảm thấy ngượng ngùng. Mở đầu Ngô Nhân Dụng ca :( trích) Quý vị phải lắng yên nghe bài Đèn Cù." Nghe cái gì trong Đèn Cù ?

Tôi đọc từng trang từ khi Trần Đĩnh vào An Toàn Khu(ATK) là phòng viên. Vì còn quá trẻ lúc đó mới 19 tuổi lại được ân sủng của Trường Chinh nên Trần Đĩnh tuy nhỏ tuổi đời nhưng xem ra "ảnh hưởng tuổi đảng" đã vượt trội hơn đàn anh.

Trần Đĩnh cho biết tháng 10/1949 Trung Cộng cho ra đời chính quyền Cộng Hòa Nhân DânTrung Hoa thì hai tháng sau Hồ Chí Minh bí mật xuất ngoại và các đảng viên của Việt Minh lúc bấy giờ rất vui mừng. trích:” Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết." (trang 45)

Theo đó thì Trần Đĩnh cho biết  đầu năm 1945 Đảng CS Đông Dương giãi tán nhưng Trần Đĩnh không nói HCM giãi tán đảng cs đông dương và kêu gọi Liên Hiệp với các đảng phái Quốc Gia để được Pháp thừa nhận nhưng rồi mãi đến tháng 10/49 mới bò qua Trung Hoa để đựoc Mao Trạch Đông kiễm diễm trước khi chấp nhận thành phần phụ thuộc của Trung Cộng

Vì lẽ đó mà Trần Đĩnh cho biết Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Nhưng chưa hết sau đó Tran Đĩnh cho biết cả Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Châu Ân Lai xem cái Đảng Lao Động của Hồ Chí Minh như là một đảng Thổ Phỉ và chả xem quân tướng của đảng Thổ phỉ ra cái quái gì (trang 46)

Sau đó Trần Đĩnh cho biết Hồ Chí Minh đã cam tâm tình nguyện lệ thuộc vào Trung Cộng để cho Trung Cộng  dẫn dắt Hồ Chi Minh đi thần phục Nga Sô. Ngay khi gặp Hồ Chí Minh theo Trần Đĩnh thì Staline đã không muốn chấp nhận Hồ Chí Minh nhưng đã biết Hồ Chí Minh đã qua Trung Cộng ăn dầm ở dề bên đó nên Staline giao Việt Nam cho Trung Cộng "phụ trách"

Theo đó thì chúng ta có thể suy diễn ra Hồ Chí Minh chỉ là một tên thổ phí và đã bán nước từ thập niên 50 để được cả Nga Sô và Trung Cộng nhìn nhận

Một chi tiết khác Trần Đĩnh đã kể là tháng 8/năm 1950 Trần Đĩnh lên Cao bằng để làm phóng sự Điện Biên Phủ thì thấy cuộc chiến tại Điện Biên Phủ do Trung Cộng và Nga sô chỉ huy và hống hách dạy dổ lính của Hồ Chí Minh cách thức đánh giặc để cuối cùng thắng trận Điện Biên Phủ Hồ Chí Minh đã gởi thư cho Mao Trạch Đông vào ngày 14/10/1950 như sau

( Trích ) :" Tóm lại, tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối Mao Trạch Đông cách mạng, quốc tế chủ nghĩa. Tôi không nói lời khách sáo: “Cảm ơn các đồng chí,” mà nói các đồng chí Việt Nam và nhân dân chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa giành lấy thắng lợi cuối cùng lớn hơn, lấy thành công để đền đáp sự kỳ vọng tha thiết và giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Liên Xô anh em."(hết trích)

Như vậy tức là Trần Đĩnh đã tố cáo sự việc chiến thắng Điện Biên Phủ không phải của "người hùng" Võ Nguyên Giáp mà chính đó là công trạng của Trung Cộng và Nga Sô.

Cũng chính vì cam tâm đền đáp vào sự kỳ vọng thiết tha và sự giúp đở to lớn của Trung Cộng mà đại hội 2 của Việt Cộng tổ chức vào năm 1951 đã đưa đến điều lệ của Đảng ghi là " Tư Tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam"

Cũng trong Chương 3 Trần Đĩnh cho biết Trần Đĩnh thuộc vào loại cán bộ cao cấp chỉ đạo và đã đi "dự lớp chỉnh huấn đầu tiên tại Tân Hoa Nam và lớp này chủ yếu dạy cho đảng viên văn nghệ báo chí vế cách thức chỉ đạo"

Trong phần Cải Cách Ruộng Đất ở chương 5 , Trần Đĩnh cho biết đã "nổ pháo" ở xã Dân Chủ và  Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ cũng như Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. (trang 81)

Trong đoạn này Trần Đĩnh đã tố cáo bộ mặt gian xảo của Hồ Chí Minh khi Hồ Chí Minh qua bút hiệu CB gởi bài " Địa chủ Ác Ghê" cho báo của Trần Đĩnh:(trích) : Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê.” Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân.” Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa - thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:
Mụ địa chủ Cát - Hanh - Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể.

Nhưng trích: (Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết Bác không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm nhưng phải nghe cố vấn Trung Quốc, Hoàng Tùng vô tình hay cố tình quên bài báo Bác gây căm thù cao độ này. Đâm ra lại đổ cho Bác cái lỗi không kiên định - nghe cả điều sai vốn trái với ý mình.)(trang 84)

Chúng tôi lượt sơ qua mấy cái gọi là tiêu biểu của Trần Đĩnh đã "nín thở qua sông " trên cái văn phong tố cáo mặt thật của tên bán nước Hồ Chí Minh qua cung cách "yêu thương Bác, gần gũi Cụ"

Cái mà tôi thích nhất là khi Trần Đĩnh diễn tả sự đau đớn của Hồ Chí Minh qua cái chết của Staline để thấy một tên quái vật trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.

(***Mt68 nếu có đọc thấy câu TNHH thích nhứt nầy thì cũng để biết nó thế thôi. Chứ TIN thì Mt68 không có lấy gì để chứng minh cả. Hồ Chí Minh nó có thể thủ vai ấu dâm, thủ vai khóc, cười cái nào cũng ngọan mục cả. Staline chết Hồ Chí Phèo đóng kịch hay đau đớn thật vì mục đích gì đó làm sao ai biết ? Trần Đĩnh cho rằng hắn đã biết từng sợi lông của hồ chí phèo sao chứ ? Sao biết hồ chí phèo đang trầm ngâm vì chuyện gì hay vì GÁI ??? TNHH khóai câu nầy của Trần Đĩnh là cảm giác của lúc nào, tỉnh táo, nằm mơ hay ảo giác? Bài nầy cho thấy TNHH hơi mất thăng bằng rồi đấy... Rồi đây sóng gió tha hồ sẽ đưa bà ra khơi , trôi ngược về Người Vẹm không chừng ???!./- Mt68)

Từ một tên mang mặt người nhưng lòng dạ thú của một tên Sơn Lâm Đảng Trưởng vì muốn có quyền lực đã phải đưa cả dân tộc vào cảnh tố cha đáu mẹ nhưng lại sụt sùi dứơi cái chết của một tên cộng sản ngoại bang.

Nhất là mấy ông Việt gian tay sai của VC ở hải ngoại phải hiểu là từ khi đảng csVN nắm quyền lãnh đạo, Việt Nam chưa bao giờ có độc lập. Ngay cả tên đảng Lao Động hay Cộng Hòa Dân Chủ cũng lại do Staline đặt cho. Vậy thì cái gọi là "Đỉnh cao Trí Tuệ" lại là một tuồng hát cải lương có vua có lọng có người hầu có lính lệ nhưng tàn buổi hát thì hóa ra là một lũ lâu la.

Tôi đồng ý với ông Hồ Công Tâm ở điễm "lột trần thần tượng" Hồ Chí Minh

Tuy nhiên có một vài dữ kiện tôi không đồng ý với Trần Đĩnh tức nhiên ở đó sẽ có sự suy diễn của một ngừơi dân VN không bao giờ tin tưởng những gì VC nói mà chỉ nhìn vào việc VC làm.

Thứ nhất : Trong trang 105 Trần Đĩnh hỏi Thép Mới :

-“Tại sao ta và Diệm đang tranh nhau Hoàng Sa cả ở trên báo mà đùng một cái ta lại công nhận và hoan nghênh Trung Quốc thu hồi Hoàng Sa? “

Trần Đĩnh trả lời:

- Mày ấu trĩ bỏ mẹ! Theo hiệp định Genève thì chỗ ấy dưới vĩ tuyến 17 phải là của Diệm. Để cho ông anh Trung Quốc chứ không để Mỹ nó vào nó xây căn cứ hải quân sát nách à?

Thế là tôi nghĩ ngay - y như Ðảng lúc bấy giờ -- mai kia ta cần, bạn lại trả cho ta, đi đâu mà mất, miễn là về phe ta.( trang 105)

Đọc ngang đây tôi có cảm nghĩ như Trần Đĩnh đã không dám nói sự thật. Sự chuyễn biến này của csVN là đi từ sự thần phục và tình nguyện đem đất nứơc Việt Nam trở thành phần phụ thuộc với Mao như Trần Đĩnh đã thuật lúc ban đầu

Nhưng tại sao Trần Đĩnh lại có câu giãi thích "-- mai kia ta cần, bạn lại trả cho ta, đi đâu mà mất, miễn là về phe ta." như tự trấn an mình hay trấn an ai  khi mà điễn hình thực tế là Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng đã dâng Hoàng sa cho Tầu Cộng.

Không lẽ Trần Đĩnh trấn an toàn dân VN đừng lo mai mốt Tầu Cộng sẽ trả lại Hoàng sa cho chúng ta?

Thứ hai: Trong trang 126 (trích) :

Một chuyện xảy ra với tôi trong lúc báo chữ to đang rầm rộ. Câu chuyện tôi giấu mãi.
Bữa ấy tôi đang đọc báo chữ to gần Da Xan Ting, - đại thiện đình (Nhà ăn lớn). Một sinh viên Trung Quốc đến bên tôi. Trắng, đẹp, kính trắng, mắt hiền.
- Xin lỗi, anh là lưu học sinh Việt Nam?
- Vâng, còn anh ala Thượng Hải? (ala tiếng Thượng Hải là chúng ta, chúng tôi.)
- Tôi là... (anh nói tên nhưng tôi không nhớ), muốn nói chuyện một ít với anh, có được không?
Anh nhờ tôi chuyển cho sứ quán Việt Nam một thư đề nghị Bắc Việt Nam hãy tôn trọng hiệp định Genève, đình chỉ đưa quân và vũ khí vào trong Nam cũng như rút lực lượng đã phi pháp cài lại từ 1954.
- Làm gì có chuyện ấy nhỉ?
Hoàn toàn bị xúc phạm, tôi vừa ngớ ra ngạc nhiên vừa khó chịu. Anh đốt đảng anh thôi chứ lại định đốt cả đảng tôi nữa ư?

Quí vị nghĩ sao một khi Trần Đĩnh là một cán bộ cao cấp của Đảng sống gần Hồ Chí Minh và ngay cả việc vào phòng riêng của Hồ Chí Minh không cần gõ cửa khi Hồ Chí Minh khóc Stalin như cha của hắn chết. Ấy vậy mả Trần Đĩnh lại không biết việc Hồ Chí Minh chuyễn dân vào lính vượt đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập vào Nam?

Ngừơi đọc ở đây sẽ suy diễn chính Trần Đĩnh không có sự suy nghĩ là Hồ Chí Minh vi phạm hiệp định Geneve chuyễn quân vào miền Nam VN để gây chiến tranh hầu thực hiện mộng bá chủ hoàn cầu của Nga Sô

Cái gì đã làm cho Trần Đĩnh ngại ngùng khi không dám nói sự thật chính Hồ Chí Minh mở cuộc chiến tranh tại Nam Việt Nam trong khi một sinh viên người Bắc Kinh có tinh thần tôn trọng lẽ phải đã phải lên tiếng yêu cầu Trần Đĩnh nói với Bắc Bộ Phủ Stop vi phạm hiệp định Geneve.

Thứ ba: ở trang 181 chương 5 Trần Đĩnh nói về cái chết của Nồng Thị Xuân như sau:( Trích)

" Chiều ấy, khoảng bốn giờ về tới Chủ tịch phủ, tha thẩn ở sân chờ lấy xe đạp gửi các chú lính gác, tôi bất thần nhớ tới Xuân, cô “con gái nuôi của Bác.”
Hỏi mấy người đứng tuổi nom có vẻ quen từ trên rừng. A, cô Xuân ấy hả? - Lấy chồng rồi. Chồng lái xe. Nhưng chết rồi! - Ố, sao trẻ thế mà chết? - Về quê Cao Bằng bị ô tô đè... - Khổ, sao lại thế! tôi bàng hoàng kêu lên. Lúc ấy chưa biết các tình tiết đồn quanh cái chết tang thương này ( hết trích)

Theo Trần Đĩnh lúc đó chưa biết  các tình tiết đồn quanh cái chết tang thương này . Đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh chúng ta thấy Trần Đĩnh quá thân cận với Hồ Chí Minh. Còn hơn cà Vũ Đình Huỳnh. Ấy thế mà Vũ Đình Huỳnh biết rõ ràng cái chết tang thương của Nồng Thị Xuân và cả cô em gái của Nồng Thị Xuân Trong khi đó Trần Đĩnh lại bảo chưa nghe đến tin đồn này. Chỉ là tin đồn thôi nhé!


Sau cùng là một chi tiết khác trong Đèn Củ đã làm tôi thật sự không hiểu nỗi Trần Đĩnh . Tôi không hiểu nỗi tại sao Trần Đĩnh lại có thể có một thái độ bình an trước muôn ngàn xác chết của những đảng viên thuộc hai chính đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Cách Mạnh Đảng

Ở chương 2 Trần Đĩnh viết :"Hay là vì đảng phải dẹp các đảng phái quốc gia để giành lấy độc quyền lãnh đạo? Trước khi hợp nhất, ba tổ chức cộng sản chẳng chửi nhau là phản động và đều muốn xơi tái nhau cả đấy thôi.
Nghe có lý nhưng tôi vẫn không thông lắm. Vẫn thấy để độc quyền lãnh đạo thì đảng cần phải làm suy yếu tất cả các đảng phái khác. Y như trong cuộc đua xe đạp vậy. Đối thủ ngã, anh có xuống đỡ dậy không? " (trang 38)

Quí vị đọc ba chữ : "Làm Suy Yếu" của tác giả Trần Đĩnh quí vị thấy gì ở vụ án Ôn Như Hầu qua hình ảnh thảm thương nhất của hằng ngàn đảng viên Quốc Dân Đảng đã bị Hồ Chí Minh tàn sát sau khi giãi tán chính phủ Liên Hiệp

Giết ngứơi một cách dã man mọi rợ của Hồ Chí Minh mà theo Trần Đĩnh biện hộ là vì Đảng cần phải làm suy yếu các đảng phái khác. Vậy theo Trần Đĩnh ngoài hành vi giết chóc hủy diệt đảng CSVN không còn cách nào khác để làm suy yếu các đảng phái Quốc Gia?

Không biết ông Ngô Nhân Dụng nghĩ thế nào về những dòng viết của ông Trần Đĩnh khi cho rằng phải tàn sát các đảng phái Quốc Gia mới làm suy yếu họ Đây có phải là máu thịt còn tười như ông Ngô Nhân Dụng đã khen ngợi tác giả Đèn Cù :(trích) " Đây là những chuyện thật, sự thật được bày ra, sự thật ròng, như thịt xương còn sống, tàu lá còn xanh, như gỗ mộc không sơn phết." (hết trích)

Nói tóm lại, theo tôi chiều hướng sáng tác của các nhà văn nhà báo trong nước đều mang tình đảng có chỉ thị. Những sáng tác trong nước có tính cách anh hùng cá nhân chủ ý ca tụng những anh hùng và lòng đấu tranh thù hận

Mục đích của chiều hướng sáng tác đó của VC là kích thích người lính bộ đội nhào vào chỗ chết, động viên người dân hy sinh chịu đựng để đào sâu thù hận giữa người Việt Nam.

Tính cách văn chương có tính đảng đó sau khi đối chứng những gì trong tuyên truyền với những gì thực tế trong miền Nam sau 1975 thì những ngừơi cầm bút tại miền Bắc đã cảm thấy hụt hẫng trước niềm tin vốn đã sắt đá khi nghe tuyên truyền "giãi phóng Miền Nam"

Chính những hụt hẫng đó đã khiến một số ngừơi cầm bút tại miền Bắc phải nhận định lại những tác phẫm của mình để tự mình đánh giá lại niềm tin và nỗi tự hào của họ trong quá khứ để cảm thấy đã bị lừa và từ đó đã đưa họ vào tư tưởng phản tĩnh

Trần Đĩnh cũng vậy. Đèn Cù quả là một tư tưởng phản tĩnh cho dù Trần Đĩnh đã chấp nhận lý tưởng Cộng Sản và vẫn tin vào chủ nghĩa như một ước mơ

Đèn Cù của Trần Đĩnh là sự đôi co giữa tinh thần nhân bản vẫn tiềm tàng trong lòng dân tộc Việt Nam cho dù đã hơn một lần bị chủ nghĩa Mác Lê Nine thui chột

Ngoài ra Đèn Cù đã nói lên sự khai chiến giữa chính tác giả với lý tưởng Cộng Sản mà tác giả đã theo, đã tin tưởng mà nay chỉ còn là một ảo tưởng không phù hợp trong thực tại mà tác giả đang sống

Vì thế trong Đèn Cù, Trần Đĩnh đã vạch trần một sự thật của ngừơi dân sống dứơi xã hội chủ nghĩa cộng sản. Người dân phải biết thích nghi để sinh tồn. Từ đảng viên cộng sản cho đến ngừơi cầm bút hay ngừơi dân phải có hai bộ mặt. Một bộ mặt ngoan ngoãn thi hành mọi chỉ thị của đảng , đi đúng con đường Đảng dạy thì mới được yên than. Còn một bộ mặt khác thì chỉ thầm thì độc thoại trong ước mơ trong tư tưởng vì chính những thầm kín những ứơc mơ đó Đảng không bao giờ biết được

Cho dù ở Đèn Cù có những thứ tôi đã không đồng ý như đã nêu ra ở trên nhưng tôi hiểu cho dù là Trần Đĩnh đi nữa nếu có tư tưởng phản tĩnh thì cũng phải sống thật ngoan ngoãn trong cái yên thân của sự khiếp nhược và cam chịu mà thôi.

Tôn Nữ Hoàng Hoa
ngày23/9/2014