Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label DS36TRINGU HAINGOAI. Show all posts
Showing posts with label DS36TRINGU HAINGOAI. Show all posts

Sunday, 20 March 2016

ĐUI MÙ THEO CỘNG CHỈ CÓ CHẾT MỚI HẾT CHUYỆN./-TCL/Mv.

Lý Tưởng? - Alain Bảo

Anh họ tôi du học qua Tây Đức, theo diện quốc gia nghĩa tử vào những năm cuối cùng trước khi Miền Nam thất thủ, khi dượng tôi bị ám sát ngay trước vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.

Sau 75, Đại gia đình bên ngoại tôi phần lớn bị kẹt lại và sống một cuộc đời lê lết, ngục tù của những kẻ được mang danh là con cháu Mỹ ngụy bơ thừa sữa cặn.
Ngày anh họ tôi về thăm đại gia đình từ Tây Đức vào những năm rất sớm sau “giải phóng”, anh có một dáng vẻ thật khoa học, thật thà, với nước da trắng hồng và cặp mắt thật sáng của một người sống lâu năm tại xứ lạnh, khác hẳn với tôi, một thằng nhóc con đen đũi ốm nhom lòi xương, được hân  hạnh sống dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa và học tập dưới đỉnh cao trí tuệ trong thời gian tiểu học.

Có lẽ vì ra nước ngoài du học quá lâu hay là vì quá yêu khoa học mà anh họ  tôi thường rất ít biết về 2 từ “Cộng Sản”, một chủ nghĩa được sáng tạo ngay trên trên đất nước Đức, nơi đã đào tạo anh thành một tiến sỹ khoa học gia.

Chỉ vài năm sau, vì quá kinh hoàng trước cách đối xử và sinh sống của chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa, cả đại gia đình từng người một may mắn vượt biên, vượt biển và nhờ trời phật phù hộ, tất cả đều đến định cư rãi rác các xứ sở tự do từ Châu Âu, Châu Úc, Mỹ và Canada.

Cuôc đời lắm chuyện tréo cẳng ngổng, khó ai mà lường được, vào những năm cuối thập niên 90, anh họ tôi lại quyết định về giảng dạy tại trường Đại  Học Bách Khoa Sài Gòn, theo lời mời của nhà cầm quyền Hà Nội.

Ngày đó cũng là ngày dì tôi khóc sướt mướt, và quyết định sẽ không liên lạc với “thằng con trời đánh” nhưng lại là người con hiếu thảo đã tảo tần gửi viện trợ về giúp đỡ gia đình dì tôi vào những năm còn sống tại Việt Nam, đã đi ngược lại ý muốn của dì.
…Rồi thời gian cũng qua đi, vì bận lo mưu sinh, kiếm cơm manh áo tại xứ người, đại gia đình tôi dần dần quên lãng có một người anh em bạn dì hiện là giáo sư từ Tây Đức về giảng dạy tại Việt Nam.

Những năm Las Vegas có Conference về computer và khoa học kỷ thuật, tôi lại gặp được anh họ tôi ngay tại thành phố nóng cháy và không bao giờ ngủ.
Vì học chung nghành nên thường tôi có dịp được anh họ giảng dạy và trao đổi những dự án và phát minh về tin học cũng như toán học, mà anh đại diện cho Việt Nam trình bày tại những Conference này.
Anh họ tôi thuê 1 căn nhà nhỏ tại Sài Gòn, và hàng ngày cắm cúi lái xe đạp lên trường giảng dạy, chiều tối về lại cơm rau cháo muối đạm bạc một mình đơn côi, như một người xa lạ sống ngay trên quê hương.

Có lần trong dịp qua trường đại học ASU (Arizona State University) giảng dạy theo lời mời của Hoa Kỳ, tôi có vài lời khuyên anh hãy cẩn thận với thức ăn bên Việt Nam, vì dạo này tụi Tàu hay làm đồ giả, thức ăn độc hại pha chế và nhập cảng vào Việt Nam.

Anh họ tôi cho biết, nhu cầu ăn uống của anh rất đơn giản, ngoài ra anh có đóng bảo hiểm sức khoẻ cho Trường Đại Học Bách Khoa – nếu có bệnh tình hay chuyện gì xảy ra thì cũng đỡ lo, vì anh hiện sống ở Việt Nam dù là công dân Đức.

Cuối năm 2013-đầu năm 2014, được tin anh bị đau gan nặng, và tất cả tiền bảo hiểm sức khoẻ của anh đóng tại trường Đại Học Bách Khoa đều bị ban giám hiệu của trường này giựt và đem ăn xài nhậu nhẹt.

Vì không về Đức thường xuyên để làm việc, cộng với số tiền khiêm nhường ít ỏi của nhà nước Cộng Sản, và anh đã trút hết tin tưởng vào số tiền bảo hiểm sức khoẻ khá lớn, mà anh họ tôi đã đóng cho trường và bị mái trường xã hội chủ nghĩa cướp một cách trắng trợn. 
Anh họ tôi hoàn toàn không có khả năng chi phí những khoãn tiền khổng lồ  1200 dollars, cho mỗi lần chữa trị bằng phóng xạ. Gia đình dì tôi bên Mỹ phải gom góp và gửi về tất cả chi phí cho bệnh viện.
Nhưng rồi cái gì đến cũng phải đến, vào cuối tháng 6 năm 2014, anh họ tôi trút hơi thở cuối cùng tại Việt Nam, không một người thân, không một họ hàng.

Bệnh Viện đã quăng xác anh họ tôi vào nhà xác chờ gia đình dì tôi từ Mỹ về  nhận, trường Bách Khoa Cộng Sản (trên khu trường đua Phú Thọ cũ) thì im  hơi dấu tiếng về hàng chục ngàn dollars giựt chia chác từ tiền bảo hiểm sức khoẻ do anh tôi đóng hơn mười mấy năm.

Mãi tới ngày mai 30 tháng 6 chủ nhật thì anh họ tôi mới được người thân cấp tốc bay về từ Mỹ nhận xác, xác anh họ tôi nằm trong bệnh viện cộng sản từ 21 tháng 6 đến chủ nhật 30 tháng 6, liệu có còn nguyên vẹn như lời hứa ướp xác của bệnh viện hay không ?

Tôi viết bài này trong 1 trạng thái hỗn độn, vừa buồn, vừa giận, vừa trầm tư về cái chết quá trẻ của người anh họ khoa học gia hiền lành, thông minh đã đem tài năng giảng dạy cho sinh viên trường Bách Khoa, một ngôi trường đã nhẫn tâm ăn cướp tất cả tiền bảo hiểm sức khoẻ, và sau khi vắt chanh bỏ võ một tài năng lỗi lạc.

Không biết rằng anh họ tôi bên kia thế giới có biết chăng, anh chính là người tha hương ngay trên một xứ sở tham nhũng, hối lộ, văn hoá thối nát dưới sự thống trị của một chế độ ươn hèn ngu dốt, tay sai cho ngoại bang ? hay anh chỉ là một nhà khoa học thuần túy, suốt đời chỉ biết đến những con số, dữ liệu máy tính, thuyết trình ?

Ngay khi bài này viết xong, thì anh họ tôi chỉ mới được nhận xác từ bệnh viện sau 9 ngày vất vưởng trong bệnh viện không người thân, không họ hàng.
Dù sao đi nữa, xin cầu chúc linh hồn anh được an lạc nơi cõi bên kia  !

Kính tưởng niệm hương hồn người anh họ anh em bạn dì Lê Ngọc Minh –Giáo Sư Tiến Sỹ Khoa Học Gia trường Đại Học Stuttgart West Germany – Trường Đại Học Bách Khoa Sài Gòn !

Nam Mô Bồn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

Alain Bảo
29/06/2014
Las Vegas, USA

Tuesday, 14 January 2014

TÁC GIẢ BÀI NẦY CÓ PHẢI BÙI XUÂN CẢNH ? NỀU ĐÚNG THÌ ANH NẦY CŨNG THUỘC LỌAI CÓ HỌC NHƯNG CÁI ĐẦU THÌ ĐẦU TÔM HÙM - CÁCH VIẾT CỦA ANH NẦY CŨNG CHỈ ƯỚC LỆ RẬP KHUÔN :

VÌ TÁC GIẢ KẾT LUẬN: 

"Những trí thức nói trên, nhất là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, vẫn còn lưu lại trong lòng chúng ta sự ngậm ngùi thương tiếc." 

ĐÁNH GIÁ như vậy MANG ĐẦY Ý NGHĨA ĐẦU TÔM VÌ LỌAI TRÍ THỨC NẦY CHẾT THÊ THẢM CHO ĐÁNG ĐỜI - DÂN TỘC VIỆT CHÂN CHÍNH SẼ KHÔNG BAO THƯƠNG TIẾC LỌAI SÂU BỌ NHƯ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG, DƯƠNG QUỲNH HOA, MÃ THỊ CHU, NGUYỄN HỮU THỌ V.V và V.V...
HẬU THẾ SẼ NGUYỀN RỦA CHÚNG NÓ MUÔN ĐỜI CHỨ KHÔNG AI "NGẬM NGÙI" GÌ CẢ TRỪ ĐỒNG BỌN KHỐN NẠN CỦA CHÚNG./- Mt68

Bài Học Để Đời Cho Những Đại Trí Thức VN lầm đường

Nỗi nhục ám ảnh suốt đời

1.  Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

Nói tới tên ông, nhiều người Việt nghĩ ngay tới việc ông đỗ hai bằng tiến sĩ, Văn và Luật tại Montpellier, Pháp trong một năm, lúc mới 23 tuổi. Ngoài ra, người ta không nhớ ông đã làm được công nghiệp gì tương xứng với tài năng và công lao học tập! Điều đó không có chi lạ. Ông đã theo “Hồ tặc” đi kháng chiến, và kể từ lúc ấy, đời ông kể như đã đi vào ngõ cụt. Đã có quá nhiều sách báo nói về ông Nguyễn Mạnh Tường và những tháng ngày thê thảm của ông và gia đình ông, dù bản thân ông chưa phải là trái chanh đã hết nước trong tay Cộng. Nếu không đọc cuốn sách Un Excommunié do chính ông viết, chúng ta khó tưởng tượng ông “lưỡng khoa tiến sĩ” này lại bị đau nhục dưới tay “vượn người” như thế! Nhưng vì đâu nên nỗi?

Hoàn cảnh lịch sử? Lòng yêu nước, hay sự bịp bợm của cộng sản đã đưa ông vào thảm trạng?

Năm 1936, cậu thanh niên 27 tuổi, với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi hương, tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời. Cậu trở thành giáo sư trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi, rồi cậu mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội. Khi cộng sản cướp chính quyền, cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước. Kháng chiến bùng nổ, cậu không ngại gian lao, xách khăn gói vào Khu Tư, tức Thanh Hóa theo “Bác.”

Chiến tranh tạm ngừng năm 1954, nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì những điều tai nghe, mắt thấy về Đảng và “bác”, nhưng cổ đã vướng tròng, khó bề thoát ra. Trở về Hà Nội, ông được cộng sản ấn vào tay một lô chức tước “phó”, vô danh và… vô thực luôn: Phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm, thành viên Hội Hữu Nghị Việt-Xô, v…v..

“ Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi, không hiệu năng mà cũng chằng có thực quyền, đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư thừa .”

Năm 1956, có phong trào Đòi tự do, dân chủ của các báo Nhân Văn, Giai Phẩm. Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông vạch trần tính chất phản dân hại nước của cộng sản:

“Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần dân chủ, xa lìa quần chúng, tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình… ”

Dĩ nhiên, ông cũng còn tin cộng sản có thể sửa đổi được, và ông đề nghị những biện pháp sửa đổi! Ngày nay, dù đã có một tay cộng sản gộc, chính tông, là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố: “Cộng Sản không thể sửa đổi ”, nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị, thư ngỏ… để thay đổi chính sách của Cộng sản. Cộng sản dĩ nhiên không thèm đếm xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường; nhưng lãnh đạo Cộng sản lại dương những con mắt cú vọ quan sát, nhằm “chiếu tướng” ông trí thức. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, ông luật sư, giáo sư, kiêm luôn bao nhiêu chức Phó và Thành viên các hội, đọc một bài diễn văn tại cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc, phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách Ruộng Đất, và đề ra phương hướng để tránh mắc lại! Ông Trí thức lúc ấy chắc vẫn tin là cộng sản mắc “sai lầm”, chứ không phải là chúng chủ tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng. Sau bài diễn văn với những đề nghị này, nọ của ông, dây thừng quanh cổ ông được cộng sản xiết chặt lại. Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông được gỡ sạch. Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông xỉ vả, mắng mỏ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các “đồng chí” của ông đấu đá. Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội, một đảng bù nhìn do cộng sản nặn ra để trang trí cho chế độ, đấu tố ông lần chót. Ông chống trả rất can trường, với lập luận sắc bén của một luật sư có tài. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng:

“Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói”.

Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở.

“Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!” Trong ba mươi năm dài ấy, nhà trí thức sống ra sao?

Ông kể lại:

“Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen sa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tố́i. Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi, và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói.”

Trong cơn khốn cùng như thế, gia đình ông Tiến sĩ “may mắn” có được một con gà mái “mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên ”. Mỗi ngày con gà cho một trái trứng, và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng. Muốn cho gà đẻ trứng, thì phải cho nó ăn. Khốn nỗi người còn sắp chết đói, lấy đâu gạo, bắp cho gà! Nhà trí thức ‘phát huy sáng kiến’: “mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, khi chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để người qua đường nhìn thấy, mang về nuôi nó”

Thê thảm không còn gì để nói! Nhưng con gà, dù mắn đẻ, tất cũng không nuôi sống nổi cả gia đình của ông tiến sĩ. Ông phải đau khổ, năn nỉ những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà: sách vở, quần áo của ông, son phấn , tóc giả của bà, muỗng nĩa trong bếp… Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được cộng “giải phóng.” Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn, chỉ để khỏi chết đói!

Cộng sản đã trả công cho sự nhiệt thành và công lao hạn mã của ông bằng cái đói và nhục. Nhiệt thành, say sưa, vì khi Cộng mới nổi lên, ông đã đem tất cả nhà cửa hiến dâng cho đảng. Công lao hãn mã, vì ông đã lặn lội sang tận thủ đô Bruxelles của Bỉ, năm 1956, đem tài hùng biện, chứng minh với Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ thế giới, là Bắc cộng có “chính nghĩa” khi dùng súng đạn để “giải phóng miền Nam ” Nhưng xem tư cách và sự phản ứng can trường của ông trong suốt 30 năm bị cộng mưu dìm cho chết, chúng ta ngậm ngùi thương ông hơn là oán giận. Ông đã lạc đường vào lịch sử và bị vây bọc trong hoàn cảnh khó khăn. Không khuất phục được ông, bọn cộng vô học ghen, tức, đầy đọa và hạ nhục ông.

So sánh với những anh “trí thức” hải ngọai ngày nay, từng kinh hoàng bỏ chạy khi cộng sản tới, lại được chứng kiến sự tan rã tận gốc của cái chủ thuyết giết người tàn độc, mà vẫn xun xoe đưa đầu cho cộng sai khiến, chúng ta phải kinh ngạc về sự “khả úy” của các “trí thức” hậu sinh. Ông Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã trả được mối thù với bọn việt cộng bằng cách mô tả sự tàn độc của chúng trong hai cuốn Hồi Ký mà ông để lại cho đời.

Ông đã thảnh thơi từ giã cuộc đời ngày 13 tháng 6 năm 1997.

2.  Trí thức DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam. Bà theo học y khoa tại Saigon rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. Ăn phải bả Cộng sản, bà liên lạc với Cộng sản Pháp, gia nhập cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954. Sau 1954, bà về Saigon nằm vùng và do thám cho cộng. Năm 1960, được bọn Bắc cộng giựt dây, bọn theo cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng. Bà Hoa là một sáng lập viên của cái Mặt Trận này. Năm 1968, sau vụ đại bại của cộng quân, mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt cộng, và được cho làm Bộ Trưởng Y Tế. Trong thời gian ở trong bưng, đứa con trai nhỏ của mụ đã chết vì bệnh sưng màng não. Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được cộng dụ dỗ cho nhập Đảng; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng, nên tìm cách khước từ “vinh dự” đó. Năm 1975, sau khi chiếm được Miền Nam, bọn Bắc Cộng ra tay xóa sổ cái Mặt Trận Giải Phóng.

Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận, như các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng… và bọn lủng lẳng đứng giữa như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… đều vỡ mặt, tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo! Chính bà Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị trong đời bà. Ngày 17 tháng 10 năm 1996, khi được tờ báo Far Eastern Economic Review phỏng vấn:

“ Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées?”

Bà trả lời:

“L’effondement du mur de Berlin qui a mis un term à la “grande illusion”
dịch tạm: Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua?
Bà DQH: Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng lớn ”
Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt nam, bà nói:

“Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã hết ”.[I have been a communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communist, and it is a failure - mismanagement, corruption, repression. My ideals are gone”]

Cuối thập niên 1970, bà nói với Nguyễn Hữu Thọ:

“Tôi và anh chỉ là những kẻ bù nhìn, là những món đồ trang sức rẻ tiền. Chúng ta không thể nào phục vụ một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ.”

Khi được phỏng vấn về bọn lãnh đạo Việt cộng, bà lạnh lùng trả lời:

“Đó là những kẻ ngu si đần độn, bởi vì họ là cộng sản”.

Trong những câu bà Hoa nói trên, chúng ta nên chú ý đến câu

“Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản…”

Đó chính là một lời thú nhận là:

dù học hành nhiều như bà, được sống trong một nước tự do như nước Pháp, có thừa phương tiện tìm hiểu, nghiên cứu, bà đã không biết gì về chủ nghĩa cộng sản!

Ngày 25/2/2006, người nữ cán bộ cộng sản đã góp công không nhỏ cho cộng sản đặt cái ách khốn cùng trên đầu đồng bào của bà, lặng lẽ bị các oan hồn chết vì giặc cộng, đưa về trước Diêm Vương để nghe phán xét tội lỗi. Cái bạo quyền bà đã hy sinh hết tuổi thanh xuân và tài năng để dựng nên nó, không có được một lời nói về bà. Mang “ảo tưởng ”, tự hiến mình làm “bù nhìn, đồ trang sức rẻ tiền ”, “ không biết sự thật về cộng sản mà vẫn theo chúng” thì kết quả đương nhiên chỉ có như thế.

Các vị trí thức tiền bối như Nguyễn Mạnh Tường, Dương Quỳnh Hoa, do hoàn cảnh lịch sử hoặc do sai lầm nhất thời, đã có lúc theo cộng hay thân cộng. Nhưng khi nhận rõ bộ mặt phản dân hại nước của cộng sản, họ đã có phản ứng quyết liệt. Trí thức Nguyễn Manh Tường đã dõng dạc tuyên bố:

“ Tôi không hề tham gia mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía nhân dân, chứ không đứng về phía nhà cầm quyền.”

Ông cũng đã can đảm nhận chịu 30 năm đọa đầy thê thảm chứ không đầu hàng cộng. Khi thoát khỏi sự kiềm chế của Cộng sản, ông đã viết hai cuốn sách:

(1) Un Excommunié – http:// http://www.ethongluan.org/ và

(2) Une Voix Dans La Nuit http://www.viet.rfi.fr/vi%C3%AAtnam/20110918-plan-vii-nguyenmanh-tuong-tieu-thuyet-une-voix-dans-la-nuit-ii-van-de-tri-thuc-v , bày tỏ lập trường của trí thức, và mô tả sự xấu xa tàn độc của Cộng sản. Cuốn Une Voix Dans La Nuit, [chưa xuất bản, được bà Thụy Khuê trích dẫn và bình luận trong Website của RFI] viết về về sự thiết lập chế độ ác ôn cộng sản ở Việt Nam. Ông viết xong vào năm 1993, lúc đã 85 tuổi, chứng tỏ ông trí thức vẫn nặng lòng vì đất nước. Bà Dương Quỳnh Hoa cũng dứt khoát vứt bỏ mọi ưu tiên mà chế độ dành cho bà, để quay về vị trí của người trí thức.

Những trí thức nói trên, nhất là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, vẫn còn lưu lại trong lòng chúng ta sự ngậm ngùi thương tiếc.

BXCanh

Sunday, 26 May 2013

TIẾC CON KHỈ GÌ CHỨ ! NHỮNG ĐỨA NHƯ TS LÊ THIẾN NGỰA, LÊ XUÂN KHU ... CHẾT CÀNG SỚM CÀNG TỐT CHO MONG ƯỚC TỰ DO VIỆT NAM SAU NẦY./- Mt68
SỰ VONG THÂN CỦA NHỮNG KẺ TỰ XƯNG TRÍ THỨC
-Nguyễn thiếu Nhẫn  -    

Dẫn nhập: Sau khi bài viết “Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Nhiệm kỳ 2013-2017: Việc làm của những kẻ treo đầu cừu, bán thịt chuột”được phổ biến thì tôi có nhận được bài viết của ông Lê Thiện Ngọ hạch sách tôi về việc tại sao lại bảo là ông ta tuyên bố trong Đại Hội Bất Thường của Tập Thể Chiến sĩ VNCH/HN tại Houston là “Bây giờ mà còn Quốc, Cộng gì nữa”
 
Tôi đã trả lời cho ông ta là tôi đâu cần phải “hearsay” câu viết trong bài của bà Tôn Nữ Hoàng Hoa; bởi vì trong cái giải pháp cứu nước của ông ta là “yêu cầu Hoà Kỳ và Đồng Minh yểm trợ Việt Nam chống Trung Cộng” thì tức là “yêu cầu Hoa Kỳ và Đồng Minh yểm trợ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chống Trung Cộng?”; bởi vì trong 38 năm qua trên trái đất này đâu có một nước VIỆT NAM NÀO KHÁC?
 
Ông ta đã cãi chầy, cãi cối chả ra làm sao cả.
 
Mới đây, ông Lê Thiện Ngọ lại lôi bài viết "Thưa Đại Tướng: 30 Tháng Tư năm 1975 Đại Tướng Ở Đâu?” của tôi và lôi thêm 2 tác giả là bà Tôn Nữ Hoàng Hoa và Trương Minh Hoà kết tội chúng tôi là những người quay họng súng về… phía Quốc Gia (sic!). 
 
Ông ta lại hàm hồ bảo rằng tại sao “phe Tôn Nữ Hoàng Hoa - Nguyễn Thiếu Nhẫn phê bình gây chia rẽ Thủ Tướng, Tướng lãnh VNCH mà không phê bình Thủ Tướng, Tướng lãnh VC”.
 
Thực lòng mà nói, tôi không nghĩ một người đã lớn tuổi, tự xưng có bằng Tiến sĩ như ông Lê Thiện Ngọ, tự xưng là đã viết những kế hoạch này nọ để lấy lại đất nước, được một tổ chức to đùng là Tập Thể Chiến Sĩ VNCH/HN mời thuyết trình trong đại hội mà lại có những lập luận hàm hồ, ngốc ngếch tới như vậy! 
 
Chúng tôi sẽ có bài viết trả lời về bài viết “30 THÁNG 4: SAO LẠI NỠ LÒNG QUAY NGƯỢC HỌNG SÚNG VỀ… PHIÁ QUỐC GIA?”, một bài viết ngậm máu phun người một cách ấu trĩ, dốt nát của ông “tiến sĩ đầu ruồi” Lê Thiện Ngọ.
 
Trường hợp ông trí thức mạt hạng Lê Thiện Ngọ vì danh, vì lợi đã tự vong thân vào lúc cuối đời không có gì đáng nói. 
 
Xin mời độc giả đọc lại bài viết của chúng tôi về sự vong thân của một bậc tôn sư là Giáo sư Vũ Quốc Thúc. 
“Giáo sư Vũ Quốc Thúc là một chứng nhân lịch sử lão thành, từng tham chính trong chính quyền Trần Trọng Kim (1945). Rồi tham gia Việt Nam kháng chiến chống Pháp (1946-1947). Sau đó là Công cán Ủy viên cho Thủ tướng Quốc Gia Lâm thời Nguyễn Văn Xuân trong thời gian người Việt Quốc Gia thương thảo (1946-1947) để Việt Nam độc lập, thống nhất. Một hiệp ước lịch sử duy nhất cấp thượng đỉnh được ký kết giữa Quốc TrưởngBảo Đại và Tổng Thống Pháp Vicent Auriol tại dinh thự Élysée ở Paris ngày 8-3-1949. Đến đầu năm 1954, Giáo sư Vũ Quốc Thúc với tư cách Bộ Trưởng Giáo Dục cùng luật sư Nguyễn Đắc Khê, Bộ Trưởng Bộ Dân chủ hoá Đất nước tham gia phái đoàn Quốc Gia do Thủ Tướng Bửu Lộc dẫn đầu đã ký kết văn kiện độc lập cuối cùng với Thủ Tướng Pháp Joseph Laniel. Chức vụ sau cùng của Giáo sư Thúc là Quốc vụ khanh Đặc trách Tái thiết và Phát triển VN thời hậu chiến khi cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh diễn ra ở Paris năm 1969”.
 
-Trong biến cố 30-4 năm 1975, bị kẹt lại ở Việt Nam. Vượt biên vị Công An gạt, mất nhiều tài sản, sau nhờ sự can thiệp của ông Raymond Burre, bạn cùng thi Thạc sĩ và đương kim Thủ Tướng Pháp lúc đó, gia đình được chính thức sang Pháp vào giữa năm 1978, sau khi buộc lòng phải cống nạp hết tài sản cho VC.
 
-Từ năm 1979 đến 1980 cùng bác sĩ Trần Văn Đỗ, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy… sáng lập Liên Minh Dân Chủ VN trong đó gs Thúc là Phó Chủ Tịch/Ban Chấp Hành Trung Ương, sau đó thì rút ra vì bất đồng nội bộ trong việc vận động vãn hồi Hiệp định Paris 1973.
 
-Năm 1986, khởi xướng việc vận động vãn hồi Hiệp định Paris năm 1973, chủ trương dựng dậy cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
 
-Đến năm 2000, tham gia Hiến Chương 2000 do Tiến sĩ Nguyễn Bá Long khởi xướng nhại theo Hiến Chương 77 của Václav Havel, cựu Tổng Thống Tiệp Khắc. Trong hồi ký “Thời Đại Của Tôi” chính giáo sư Vũ QuốcThúc đã giải thích về sự thất bại của Phong trào Hiến Chương 77 như sau:
 
“Chính trong lúc đó, Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đang chính thức thăm VN. Vì thiên hạ đều chú trọng đến biến cố lịch sử này nên việc chúng tôi công bố Hiến Chương 2000 không được dư luận chú ý và đánh giá đúng mức tầm quan trọng phải có”.
 
-Năm 2006, vận động quy chế trung lập cho VN nhân Hội nghị Thượng đỉnh của Diễn đàn Á Châu - Thái Bình Dương (APEC) tổ chức tại Hà Nội.
 
Ngoài những đóng góp tích cực cho đất nước và dân tộc trước tháng 4-1975 cũng như sau tháng 4 năm 1975, giáo sư Vũ Quốc Thúc còn đóng góp cho lịch sử, qua việc xuất bản quyển hồi ký “Thời Đại Của Tôi” vào năm 2010.
 
Với lòng yêu nước vô bờ, với tính kiên trì hiếm có, với niềm tin sắt đá, giáo sư Vũ Quốc Thúc đã không bỏ lỡ cơ hội nào.Giáo sư Vũ Quốc Thúc quả xứng đáng là “một bậc tôn sư” - như những lời xưng tụng của nhà nghiên cứu Lê Quế Lâm, tác giả quyển “Việt Nam Thắng Và Bại” xuất bản vào năm 1993.
*
Nhiều bậc thức giả đã lên tiếng về cái gọi là “Thư ngỏ của 36 trí thức”.
Số người khen coi như đếm chưa đủ đầu ngón tay, kể cả 2 vị giáo sư ký tên trong “Thư ngỏ” là 2 giáo sư Lê Xuân Khoa và Vũ Quốc Thúc ; nhưng, số người chê thì đếm không xuể! Đa số đều chỉa mũi dùi vào giáo sư Lê Xuân Khoa.
Theo chúng tôi, chính những email qua lại giữa 2 ông Lê Xuân Khoa và Vũ Quốc Thúc về “Thư ngỏ” đã khiến dư luận trở nên sôi động; nhất là “Thư ngỏ” với nội dung và hình thức chỉ là sự theo đuôi các kiến nghị của 95 “nhân sĩ” và sau đó là 20 “trí thức” trong nước lên tiếng đề nghị với những người lãnh đạo Đảng CSVN về những biện pháp đối phó với sự lấn chiếm đất đai và lãnh hải VN của Trung Cộng (TC) và kêu gọi người Việt tỵ nạn cộng sản hãy hòa hợp hòa giải với đảng CSVN. 
 
Đa số những phê bình đều nhắm vào giáo sư Lê Xuân Khoa. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì từ nhiều năm trước, giáo sư Lê Xuân Khoa vốn nổi tiếng là kẻ “hôn đít bạo quyền” (kiss ass) CSVN qua Chương trình Cưỡng bách Hồi hương vì ông ta là Giám đốc Chương trình Tác vụ Đông Dương của chính phủ Hoa Kỳ. Và ông ta đã xuất bản quyển “Việt Nam 1945-1975 - Tập I” công khai kêu gọi hòa hợp, hoà giải. 
 
Theo thiển ý của chúng tôi, thì giáo sư Vũ Quốc Thúc mới chính là người đáng chê trách khi nhẹ dạ, cả tin, ảo tưởng khi “a dua” việc làm theo đuôi các trí thức trong nước do giáo sư Lê Xuân Khoa khởi xướng vì mục đích hôn đít bạo quyền CSVN!
*
Vì là một “trí thức tháp ngà” nên đa số những việc làm của giáo sư Vũ Quốc Thúc đều rất “sách vở “,“lý tưởng”, nếu không muốn nói là… ảo tưởng! Như trường hợp chính ông đã nói về việc “vực dậy” cái thây ma Hiệp định Paris 1973, như sau:   
  
“… Sau khi chế độ Cộng Hoà sụp đổ, tôi bị kẹt ở Sàigòn cho tới cuối tháng 6 năm 1978 mới được phép di cư sang Pháp nhờ sự can thiệp của chính phủ Pháp.

Một điều khiến tôi vô cùng thắc mắc trong những ngày đó, là không thấy có vị lãnh đạo cũ nào của Việt Nam Cộng Hoà lên tiếng đòi thi hành Hiệp định Paris 1973. Ai cũng biết rằng Hiệp định này được ký kết rất long trọng trước sự hiện diện của ông Kurt Waldheim, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Có 9 quốc gia minh thị cam kết bảo đảm sự thi hành Hiệp định. Trong số này, ta thấy đủ mặt 5 cường quốc hội viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Đó là: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô và Trung Hoa (Trung Cộng). Họ có quyền phủ quyết nghĩa là có ưu thế so với mọi quốc gia hội viên khác.

Đúng lý, trong năm 1975, ngay sau khi thoát ra được nước ngoài, những nhân vật quốc gia, tương đối có danh ngĩa hơn mọi người khác như: cựu Tổng Thống, cựu Phó Tổng Thống, cựu Thủ tướng, cựu Chủ tịch Thượng viện, cựu Chủ tịch Hạ Viện… có thể lên tiếng đòi các cường quốc đồng minh cũ của VNCH, “trở lại Hiệp định Paris”. Trong thực tế, điều này có nghĩa là các nhân vật kể trên lập ngay một Chính phủ Quốc gia lưu vong để tiếp tục đấu tranh với chính quyền Hà Nội.
Tiếc thay việc này không xảy ra.

Tới năm 1977, khi chính quyền Hà Nội chính thức được chấp nhận làm hội viên của Liên Hiệp Quốc, việc đòi trở lại Hiệp định Paris 1973 trở nên khó khăn vô cùng. Theo lời ông Georges Mesmin, một vị dân biểu có thế lực từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại tại Hạ Viện Pháp, khi chính phủ Pháp chính thức yểm trợ Việt Nam (cộng sản) gia nhập Liên Hiệp Quốc, thì mặc nhiên Pháp đã xí xóa việc Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973. Còn Hoa Kỳ, ngay sau khi Tổng Thống Geoerges Bush nhận chức (tháng Giêng năm 1989) Bộ Ngoại giao đã chính thức trả lời cho hai luật gia Nguyễn Hữu Thống, Phạm Nam Sách, là vì lý do chính trị không thể trở lại Hiệp định Paris được nữa. 
Dù biết trước những sự khó khăn này, ngay từ năm 1986, chúng tôi đã tìm cách nêu vấn đề trở lại Hiệp định Paris. Mục đích của chúng tôi , lúc bấy giờ, là kích thích tinh thần đấu tranh của Cộng đồng Việt Nam tại Pháp, phần nào đã suy giảm sau khi thấy CSVN rầm rộ ăn mừng “10 năm tái thống nhất đất nước”. Nhắc lại các cường quốc đã từng cam kết bảo đảm sự thi hành Hiệp định Paris – nghĩa là gián tiếp bảo đảm sự trường tồn của VNCH ở miền nam vĩ tuyến 17 – chúng tôi nhằm đem lại cho đồng bào một mục tiêu tranh đấu cụ thể. Vả chăng, làm như vậy, chúng ta gián tiếp bảo vệ danh nghĩa của toàn thể các nạn dân của Bắc Việt thôn tính miền Nam. Ai cũng biết rằng các nước Âu, Mỹ, Á ngày càng trở nên lãnh đạm, nếu chưa phải là “hằn học” đối với các nạn dân Việt Nam. Họ cho rằng đám người này kéo nhau di cư, không phải vì lý do chính trị mà chỉ vì lý do kinh tế. Nêu vấn đề Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris, chúng tôi muốn nhắc lại trách nhiệm của các cường quốc đã long trọng bảo đảm sự thi hành Hiệp định này. Chính vì họ “bội ước”, cho nên hàng triệu người đã phải bỏ Việt Nam ra đi. Họ không có quyền mạt sát dân VN là những kẻ tị nạn chính trị giả hiệu!

Để chuẩn bị cuộc vận động, chúng tôi đã trực tiếp thảo luận với hai vị có liên hệ chặt chẽ với cuộc Hòa đàm Paris: Đó là cựu Tổng thốngNguyễn Văn Thiệu và cựu Ngoại trưởng Trần Văn Lắm. Cả hai vị đều tán thành ý kiến của chúng tôi.
Chúng tôi lập tức soạn thảo một cuốn Bạch thư bằng tiếng Pháp, nhan đề “Guèrre et paix en Indochine” (Chiến tranh và hòa bình ở Đông Dương).

Chúng tôi lập luận như sau:
Mục đích của đảng Cộng sản Đông Dương - tiền thân của Đảng CSVN - do Hồ Chí Minh (một ủy viên Ban Chấp hành Đệ Tam Quốctế Cộng Sản) lãnh đạo, ngay từ ngày thành lập, vẫn là thực hiện cuộc cách mạng vô sản trên toàn cõi Đông Dương. Chính vì vậy mà Hà Nội đã không ngần ngại xé bỏ Hiệp định Paris 1973: Đối với Hà Nội, Hiệp định chỉ là một thủ đoạn để đuổi quân đội Mỹ khỏi miền Nam VN, khiến cho chế độ Sàigòn suy yếu. Lúc đó với sư giúp đỡ của Liên Xô, Hà Nội sẽ tổ chức cuộc tổng tấn công và nắm chắc phần thắng. Lấy được miền Nam, Hà Nội sẽ “thừa thắng xông lên” chiếm luôn Lào và Campuchea, biến hai nước láng giềng này thành những nước cộng sản dưới sự chi phối trực tiếp của Đảng CSVN.

Từ nhận định này, chúng tôi suy diễn: các cường quốc đừng nên lầm tưởng có thể giải quyết riêng biệt vấn đế hoà bình ở Campuchea. Hoà bình dù tái lập tạm thời ở Campuchea, vẫn sẽ tiếp tục bị đe dọa, ngày nào chế độ Cộng sản còn tồn tại ở Việt Nam. Muốn tiến tới một nền hoà bình thực sự trên toàn cõi Đông Dương, cần phải để cho những người Quốc Gia chia sẻ quyền hành với Đảng CSVN. Giải pháp thích hợp nhất là trở lại Hiệp định Paris: không phải để mãi mãi chia đôi dân tộc VN mà là để hoàn thành sự tái thống nhất trong tinh thần hoà hợp, hoà giải, bằng sự thương thuyết giữa hai phe đối nghịch.

Chúng tôi chính thức kêu gọi chính phủ Pháp đứng ra hòa giải vì Pháp đã tổ chức cuộc hòa đàm đưa tới Hiệp định Paris ngày 23-1-1973.

Sau khi soạn xong cuốn Bạch thư, chúng tôi liên lạc với Ủy ban Pháp Quốc Yểm trợ Việt Nam Tự do (Comité Francaise de soutien pour un Vietnam libre) do dân biểu Pierre Bas, đương kim Thị trưởng Quận VI thành phố Paris, làm chủ tịch. Với sự giúp đỡ của Ủy ban này, ngày 23-5-1987, chúng tôi cùng một số thân hữu như: cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thạch Vân, cựu Ngoại TrưởngVương Văn Bắc, cựu Nghị sĩ Nguyễn Duy Tài, cựu Đại tá Mai Viết Triết v.v… tổ chức ở phòng Khánh Tiết Tòa Thị Sảnh Quận VI Paris. Cuốn Bạch thư của chúng tôi  được chính thức đưa ra nhân dịp này và sau đó được chính thức gửi tới các Chính phủ Pháp, Hoa Kỳ, Anh và các nước đã cam kết bảo đảm sự thi hành Hiệp định Paris. Bạch thư còn được gửi tới ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc. Tham dư cuộc hội thảo ở Quận VI Paris, có tới 150 nhân vật cả Việt Nam lẫn ngoại quốc, trong số đó, có một vị luật sư Hoa Kỳ, phái viên kín của cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, tác giả của Hiệp định 27-1-1973.

Cuộc hội thảo ở Paris đã khiến cho ông Georges Mesmin phải chính thức đưa ra quan điểm đã trình bầy ở trên. Còn về phần Hoa Kỳ, tuy không chính thức trả lời chúng tôi những đã gián tiếp nói lên quan điểm qua bức thư Bộ Ngoại giao gửi hai luật gia Nguyễn Hữu Thống vàPhạm Nam Sách.  
Tóm lại, vấn đề trở lại Hiệp định Paris, coi như đã bị các đồng minh cũ của Việt Nam Cộng Hoà gạt bỏ hẳn”. 
 
-Về chuyện tham gia Hiến Chương 2000 do ông Nguyễn Bá Long ở Canada khởi xướng. Đây là một chuyện rập khuôn theo Hiến chương 77 của kịch tác gia Václav Havel của Tiệp Khắc chứ không phải mới mẽ gì theo như “quảng cáo” của ông Tiến sĩ Nguyễn Bá Long. Ông giáo sư Nguyễn Bá Long, 4 năm trước đó đã hợp tác với ông Nguyễn Gia Kiểng của nhóm Thông Luận ở Pháp thành lập “Mặt Trận Dân Chủ” suy tôn “hung thần”Nguyễn Hộ ở trong nước lên làm Minh chủ để làm Tổng thư ký của tổ chức này; nhưng đã bị ông này “ị” từ trên đầu “ị” xuống; do đó, Nguyễn Bá Long để gỡ gạt uy tín đã xoay qua vụ “Hiến chương 2000” nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu, theo như nhận xét của giáo sư Vũ Quốc Thúc.
 
-Và ngay cả “sáng kiến” vận động quy chế trung lập cho VN nhân Hội nghị Thượng Đỉnh họp tại Hà Nội của giáo sư Vũ Quốc Thúc cho đến nay cũng chỉ là một “sáng kiến”.
 
Nói chung, tất cả những việc làm của giáo sư Vũ Quốc Thúc từ khi đến Pháp đến nay chẳng có việc làm nào cho ra đầu, ra đũa, nếu không muốn nói là chỉ có thất bại này tới thất bại khác; nhưng không ai đem chuyện thành bại mà luận anh hùng!  
 
Nhưng tại sao “Thư ngỏ của 36 trí thức hải ngoại” mà ông có ký tên trong đó vừa mới đưa ra là lập tức “những âm thanh cuồng nộ” của dư luận bắt đầu nổi lên? Theo tôi, chính là vì những email qua lại giữa giáo sư Lê Xuân Khoa và giáo sư Vũ Quốc Thúc.
  
“Tôi rất mừng là bức thư ngỏ đã được hoan nghinh ở quốc nội và nhất là đã tạo thành một biến cố truyền thông: như vậy chúng ta đã đạt được mục tiêu. Rồi đây biến cố này sẽ thành một sự kiện lịch sử, dù nhóm đương quyền phản ứng tích cực hay vô cảm cũng vậy.
Họ đã thất bại vì không ngờ là 36 người ở 6 nơi cách xa nhau hàng vạn kilomet đã có thể thỏa hiệp trong một thời gian thật ngắn ngủi để chung tên ký một văn kiện phức tạp. Âu cũng là vận nước đã tới lúc hưng thịnh!
Chính vì nhận định như vậy nên tôi không để ý tới những chỉ trích - đôi khi rất hạ cấp - của một số phần tử “chống cộng cực đoan”. Vô tình họ đã góp phần làm tăng thêm giá trị hành động của ta! Nếu chỉ muốn cầu an thì dại gì viết thư ngỏ như vậy!”    
 
Theo thiển ý của chúng tôi thì giáo sư Vũ Quốc Thúc đã tự vong thân vì những dòng chữ trong cái email bày tỏ sự “hồ hỡi, phấn khởi” về sự ra đời của “Thư ngỏ” là “vận nước đã đến hồi hưng thịnh” và những lời phê bình chỉ trích “Thư ngỏ” là của một số phần tử “chống Cộng cực đoan”.
*
Trong bài viết bênh vực giáo sư Vũ Quốc Thúc về “Thư ngỏ”, ông Lê Quế Lâm có viết lại ý kiến của giáo sư Vũ Quốc Thúc về bài viết “Đọc hồi ký Thời Đại Của Tôi của giáo sư Vũ QuốcThúc  để tìm hiểu đất nước, con người và lịch sử” của ông như sau:
  
“Tôi vô cùng cảm động khi đọc bài bình luận của ông Lê Quế Lâm. Ông đã nói lên những điều mà tôi không có khả năng diễn đạt một cách vừa chính xác, vừa cô đọng lại vẫn xúc tích. Từ trước tôi vẫn khâm phục ông Lê Quế Lâm là một nhà nghiên cứu lịch sử của VN có thể sánh với nhiều sử gia danh tiếng trên thế giới. Một lần nữa, ông Lâm đã xác nhận sự thẩm định của tôi”.  
 
Và ông Lê Quế Lâm viết tiếp:
  
“Đối với bài viết của một người tầm thường như vậy, vị thầy của rất nhiều ông Tiến Sĩ lại hạ bút tự nhận “có những điều mà mình không có khả năng diễn đạt”. Điều đó nói lên “Tư cách lớn” của một vị tôn sư, đã đào tạo biết bao nhân tài cho đất nước qua nhiều thế hệ. Ông quả là một bậc chính nhân quân tử”. 
 
Chuyện mặc áo thụng vái người đáng vái là chuyện thường tình. Chúng tôi không dám nghĩ giáo sư Vũ Quốc Thúc tự hạ mình xuống để được đưa lên cao một lần nữa!

Tôi tin nhận định của ông Lê Quế Lâm: giáo sư Vũ Quốc Thúc “quả là một bậc chính nhân quân tử!”. Do đó, tôi rất ngạc nhiên khi biết qua email giáo sư Vũ Quốc Thúc đã viết: "… tôi không để ý tới những chỉ trích - đôi khi rất hạ cấp - của một số phần tử ‘chống Cộng cực đoan’”.
 
Tôi không ngạc nhiên gì khi ông giáo sư Lê Xuân Khoa viết: “Tôi không bao giờ trả lời những luận điệu xuyên tạc và lời lẽ hạ cấp của những kẻ “hành nghề” chống Cộng như Ngô Kỷ ở Orange County, đã được đặt tên là “Chí Phèo Bolsa”.

Lý do rất dễ hiểu là bởi vì ông Lê Xuân Khoa “hành nghề” đối lập với ông Ngô KỷĐó là “nghề kiss ass communist” dịch nôm na ra là “nghề bưng bô (Việt) Cộng”!
 
Giáo sư Vũ Quốc Thúc không thể dùng “ngôn ngữ” như ông Lê Xuân Khoa chê bai những người phê bình “Thư ngỏ” là những người “chống Cộng cực đoan”, là chỉ trích hạ cấp!  
 
Chính vì những việc làm theo đuôi ông Lê Xuân Khoa mà một bậc tôn sư, một bậc chính nhân quân tử - như lời xưng tụng của ông Lê Quế Lâm - như giáo sư Vũ Quốc Thúc đã tự vong thân vào lúc cuối đời!
 
Tiếc thay!
  
NGUYỄN THIẾU NHẪN tieng-dan-weekly.blogspot.com

Friday, 22 March 2013

Lục Sự LÊ TRỌNG QUÁT LÀ 1 TRONG 36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI ĐÃ KÝ TNT XIN PHÂN VC TRƯỚC ĐÂY - GIỜ LẠI GIỞ TRÒ KHÔNG TƯỞNG ĐỊNH LỘI BỘ NGOÀI KHÔNG GIAN - Thằng xà Quát nầy ĐÉO HẾT NGU .../- Mt68


Ý kiến vận động các quốc gia đã ký kết hiệp định Paris ngày 27/1/1973 và acte final ngày 2/3/1973 .
Ls. Lê Trọng Quát,
 Paris, ngày 22 tháng 3, 2013
Kính gửi quý chiến hữu và thân hữu,

Nhiều bạn đã từng phục vụ quốc gia dưới thời Việt Nam Cộng Hòa và một số bạn trẻ thuộc thế hệ kế tiếp yêu cầu tôi cùng các vị nguyên ở trong Hành pháp và Lập pháp VNCH đứng ra vận động các quốc gia đã ký kết hiệp định Paris ngày 27/1/1973 và acte final ngày 2/3/1973 áp lưc CSVN phải tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam, mà các chính phủ của các quốc gia này đã cam kết bảo đảm trong hiệp định.
Các chiến hữu và thân hữu này đã dựa trên cơ sở VNCH là một trong 12 quốc gia đã ký kết hiệp định, và sự kiện CS Bắc Việt vi phạm trầm trọng hiệp định, xâm chiếm Miền Nam VN, không làm cho Chính Phủ VNCH của Miền Nam VN mất tính cách hợp pháp, hợp hiến và chính danh của nó đối với nhân dân trong nước và luật pháp quốc tế.
Ý thức hoàn toàn rằng quan điểm pháp lý này là nền móng của trật tự thế giới, tiêu chuẩn của đạo lý chính trị quốc tế, nhưng đối diện với thực tế phủ phàng là vị thế của CSBV- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - đã có quan hệ ngoại giao lâu năm với các quốc gia trên thế giới, tôi đo lường trước những khó khăn chắc chắn sẽ gặp trên con đường vận động, cơ hồ đưa đến thất bại nếu chúng ta chỉ sử dụng con đường này mà thôi.
Vì vậy, tôi thiển nghĩ chúng ta không thể tranh đấu riêng rẽ được mà phải lồng cuộc vận động này vào trong cuộc tranh đấu phục hồi quyền Dân Tộc Tự Quyết đang lan rộng một cách kiên cường mạnh mẽ trong nước, đòi hỏi sửa đổi tận gốc hoặc thay thế hiến pháp hiện hành qua một tiến trình bầu cử tự do một quốc hội lập hiến v.v........
Đồng bào chúng ta ở hải ngoại phải hổ trợ bằng mọi cách cuộc tranh đấu chắc chắn sẽ cam go của đồng bào ở quốc nội, cam go nhưng nhờ những yếu tố khách quan trong nước và trên thế giới, sẽ thành công như tất cả các cuộc tranh đấu giành tự do từ hơn hai mươi năm nay của các dân tộc thuộc Đế quốc Nga Sô củ và các nước chư hầu ờ Đông Âu, tiếp đến các cuộc cách mạng mang tên màu sắc hương hoa: cách mạng màu Cam ở Ukraine,, cách mạng Hoa Hồng ở Géorgie, cách mạng hoa Tulipe ởKirghiztan, cách mạng Hoa Lài ở Tunisie, cách mạng lật đổ nhà độc tài Khadafi ở Lybie, Moubarak ở Ai Cập và đang đánh sập chế độ độc tài ở Syrie.
Tại Bắc Mỹ Châu, Âu Châu và Úc Châu mà đồng bào ta cư ngụ đông đảo, chúng ta cần sử dụng lá phiếu cử tri để vận động các dân biểu, nghị sĩ ( tiểu bang và liên bang như ở Hoa Kỳ và vài quốc gia khác) ủng hộ chúng ta bằng cách áp lực mạnh mẽ chính phủ của quốc gia họ phải đòi hỏi Cộng sản Việt Nam chấm dứt mọi hành động đàn áp dân chúng, thực thi quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam VN và toàn dân Việt Nam qua các cuộc tổng tuyển cử dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc v.v..... CSVN ( chính phủ VN Dân Chủ Cộng Hòa) đã cam kết trong Hiệp Định Paris và 12 chính phủ và LHQ đã cam kết bảo đảm việc thi hành quyền dân tộc tự quyết trong Văn Kiện cuối cùng ( Acte final) ngày 2/3/1973.
Với trọng lượng chính trị của các vị dân biểu, nghị sĩ đối với các chính phủ dân chủ của nước họ, - đặc biệt ở Hoa Kỳ mà chính phủ OBAMA không nắm được đa số ở Viện Dân Biểu - chúng ta sẽ có nhiều hy vọng thành công hơn là chúng ta trực tiếp vận động ngay các chính phủ vì các chính phủ của họ làm việc quen thuộc với chính phủ cộng sản Hà Nội qua các quan hệ ngoại giao từ nhiều năm nay chưa kể những ràng buộc hổ tương có thể có giữa CSVN với các chính phủ này.
Ngoài ra, sự tiếp cận của chúng ta với các vị dân biểu, nghị sĩ ở bất cứ quốc gia nào cũng dễ dàng hơn sự tiếp cận với các nhà lãnh đạo chính phủ vì các vị đại diện dân cử cần lá phiếu của chúng ta và gần gủi với chúng ta trong cùng một địa phương. Riêng tại Hoa Kỳ, quốc gia có thể áp lực mạnh nhất đối với Hà Nội, sự vận động trực tiếp của chúng ta với chính phủ liên bang ở Hoa Thịnh Đốn sẽ khó khăn hơn trước nhiều với Ngoại trưởng John Kerry như chúng ta đều biết.
Nhưng chúng ta sẽ khẩn khoản yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ chu toàn trách nhiệm thực hiện lời cam kết bảo đảm sự thực thi quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam và của toàn dân Việt Nam khẳng định trong Hiệp Định Paris mà chính họ đã khởi xướng và chủ động cấu trúc. Cuộc vận động quan trọng này sẽ khởi sự vào thời điểm thích hợp nhất khi một số tối thiểu cần thiết dân biểu, nghị sĩ và đoàn thể tranh đấu cho nhân quyền, tự do tôn giáo ở Hoa Kỳ đã ủng hộ cuộc tranh đấu phục hồi quyền dân tộc tự quyết của chúng ta.
Tại quốc nội, ở Miền Nam VN, thành phần dân chúng từ hạng tuổi 50 trở lên đã sinh trưởng dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa - phần đông đảo còn lại là con cháu của họ - chắc chắn đang luyến tiếc một chế độ mà chính họ đã dựng lên và đã mang lại cho đồng bào cơm no áo ấm và tự do so với những năm tháng dài sau 1975, khổ cực, bị áp bức, bị kỳ thị, như những công dân hạng nhì ngay trong xứ sở của họ.
Hoạt động của chúng ta ở Miền Nam nhờ vậy sẽ phải thuận lợi do những liên hệ mật thiết như cùng huyết mạch, cùng môt dĩ vãng, và giờ đây cùng một quyết tâm tranh đấu cho tương lai của mổi người, mổi gia đình và tương lai của cả Miền Nam ruột thịt thân yêu. Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn trong tâm tưởng và luyến tiếc của đồng bào Miền Nam đến mức một số bài báo ở Sài Gòn bây giờ đã công khai so sánh và nhận xét đời sống trước 1975 dễ chịu và thoải mái hơn hẳn đời sống sau 1975.
Ngay cả với đồng bào Miền Bắc,sau gần 70 năm bị kìm kẹp và khổ nhục, Miền Nam vẫn luôn luôn có khả năng thu hút họ như “ đất lành chim đậu “ khiến họ sẽ ít ngần ngại hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam ruột thịt cùng nhau đứng lên tranh đấu phục hồi quyền tự quyết của toàn dân VN.
Chúng ta đang đứng trước một thời cơ thuận lợi nhất vì trong nước,sự sợ hải đã tan biến gần hết, dân chúng bị áp bức, bóc lột, cướp đoạt ruộng vườn, đã nổi dậy chống lại cường quyền ở nhiều địa phương, trí thức, lao động, ngay cả nhiều cựu đảng viên cộng sản cao cấp cũng đang đòi hỏi thay đổi thể chế chính trị, trả lại quyền dân cho dân.
Trong lúc ấy, nền kinh tế và tài chính quốc gia tiến tới tình trạng phá sản, nạn thất nghiệp lan tràn, thanh niên có học không tìm được việc làm giữa lúc các lãnh đạo cộng sản và gia đình , phe cánh và thuộc hạ trở thành tỷ phú, triệu phú đô-la , thách thức quảng đại quần chúng đang biến thành “ vô sản “ thực thụ !
Cuộc diễn biến hòa bình đang đột biến tiến tới hồi chung cuộc.Chúng ta không thể quay lưng lại với đồng bào trong nước. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải cảnh giác và đả phá các luận điệu tiêu cực, nhẫn nhục mà một số đồng bào bi quan, an phận đã vô tình tung ra và hẳn nhiên bị cộng sản đội lốt chống Cọng khai thác tối đa trong khuôn khổ sách lược nội tuyến của chúng vào trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại để chia rẽ chúng ta như chúng đã thực hành hữu hiệu lâu nay !!!
Với những kỷ niệm trung thành giữa chúng ta, tôi rất mong sớm được sự đồng tình hợp tác đoàn kết của quý bạn để cùng nhau chúng ta hoàn thành tốt đẹp lần đóng góp cuối cùng của chúng ta cho Tổ quốc và cho tương lai của con cháu chúng ta
Trân trọng và thân ái cùng quý bạn ,
Lê Trọng Quát, thành viên Lập Pháp và Hành Pháp VNCH IvàII

Thursday, 3 January 2013


BỌN TRÍ NGU - NHỨT LÀ ĐANG SỐNG TỰ DO Ở HẢI NGOẠI CÒN HÈN HƠN CỤC PHÂN NHIỀU - VÌ CỤC PHÂN NÓ DÁM NGANG NHIÊN NỔI LỀU BỀU - CÒN TRÍ THỨC NHIỀU ĐỨA CHỈ DÁM LOM KHOM DƯỚI ...HÁNG VIỆT CỘNG ./- Mt68


TRÍ THỨC: CÒN THUA “CÁI… TỰ DO!”

-LÃO MÓC-    
   
Có người đưa bức ảnh một ông kiến trúc sư ở trong nước cúi gập người, khấu đầu bắt tay Chủ Tịch nước VC Trương Tấn Sang khi được ông này trao cho cái giải thưởng Văn Học, Nghệ Thuật gì đó và chê bai việc làn hèn hạ của ông kiến trúc sư. Theo tôi, ông kiến trúc sư này không đáng trách bằng mấy ông Giáo sư, Tiến sĩ dạy đại học, sử gia, “nhà tranh đấu cho dân chủ” ở hải ngoại đã cúi gập mình xuống, khấu đầu ca tụng tới tận mây xanh, kêu gọi mọi người nên đọc một quyển sách “sử chẳng ra sử, chuyện kể chẳng ra chuyện kể” của một anh “VC con” ca tụng “VC cha”.
 
Năm ngoái, có người lên tiếng trách móc các trí thức trong nước đã viết “thỉnh nguyện thư” này nọ lên lãnh đạo đảng CSVN đề nghị thế này, thế nọ. Theo tôi, những vị trí thức này không đáng trách bằng 35 ông bà trí thức theo đuôi ở hải ngoại. Sống dưới chế độ toàn trị, những vị trí thức trong nước mới phải xin xỏ này nọ. 35 ông bà trí thức ở hải ngoại có đầy đủ tự do, dân chủ lại tự cúi gập mình xuống, khấu đầu xin xỏ những lãnh tụ của VC mới thật là đáng trách!
 
Năm ngoái, ở trong nước “ông trí thức” Nguyễn Huệ Chi đã than vãn lãnh đạo Đảng coi trí thức không bằng con bò. Giáo sư sử học Hà Văn Thịnh thì cho là Đảng coi trí thức còn thua con chó!
 
Mấy ông Tiến sĩ, Giáo sư Đại học, sử gia, “nhà tranh đấu cho dân chủ” ở Mỹ, ở Anh, ở Úc đã mặc áo thụng vái anh sử gia dỏm Huy Đức, tác giả sách “Bên Thắng Cuộc” chắc  là quý vị đang ra sức phấn đấu để trở thành như “các trí thức’Bác Hồ’” ở trong nước?
 
Xin can quý vị!
Xin mời quý vị cùng tôi cùng nhìn lại cách đối xử của đảng CSVN với một “Việt kiều yêu nước thứ thiệt” là giáo sư Nguyễn Đăng Hưng ở Bỉ.    
 
Năm ngoái, ký giả Mặc Lâm của đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA) có phỏng vấn giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (NĐH), một “Việt kiều yêu nước thứ thiệt” về “mối tương quan giữa trí thức và nhà nước (CSVN)”. Sở dĩ tôi dùng mấy chữ “Việt kiều yêu nước thứ thiệt” trước tên giáo sư Nguyễn Đăng Hưng vì ông giáo sư này về nước với mục đích đem tài năng để giúp ích đất nước dưới sự cai trị của đảng CSVN rất sớm sủa: từ năm 1989, tức là cách đây 23 năm. Và ông ta đã viết bài “Bút ký của một nhà khoa học Việt kiều” đăng trên tờ báo thiên Cộng “Đoàn Kết” ở Paris vào tháng 1 năm 1989.
 
Theo ký giả Mặc Lâm thì “Giáo sư Tiến sĩ Khoa học NĐH trong hơn 40 năm qua  đã giảng dạy và nghiên cứu tại đại học Liège (Vương quốcBỉ) về Toán và Cơ Học, trở thành một trong những nhà cơ học xuất sắc nhất của Châu Âu và thế giới. Ông đã nhận được danh hiệu Giáo sư ưu tú và Huân chương cao quý của Vương quốc Bỉ dành cho các nhà khoa học cùng với nhiều giải thưởng quốc tế khác. Ông đã vận động và trực tiếp tham gia dự án EU Bỉ hỗ trợ đào tạo đại học và cơ học tại một số trường Đại học trong nước. Hàng trăm tiến sĩ, thạc sĩ của VN được đào tạo thành công qua dự án đó”.
 
Điều này cho thấy ông giáo sư NĐH rất có công với đảng CSVN.
 
Năm ngoái, nhân vụ tổ chức Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam gọi tắt là VUSTA có 1 bản kiến nghị với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về hoạt động của hội này, ký giả Mặc Lâm bèn đặt câu hỏi cho GS/NĐH như sau:
 
-Thưa Giáo Sư, trong bản kiến nghị đọc trước TBT Nguyễn Phú Trọng thì giáo sư Đặng Vũ Minh xác định rằng VUSTA là một tổ chức chính trị, xã hội và nó có chức năng tập họp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng liệu sự lãnh đạo này có hạn chế sự đóng góp của trí thức hay không nhất là các trí thức từ nước ngoài về.
 
Ông giáo sư “Việt kiều yêu nước” này đã trả lời như sau:
 
-… Vấn đề ở đây là đã rất nhiều năm qua chúng ta thấy là Đảng chưa đủ hội tụ chung quanh mình những tinh hoa dân tộc. Chung quanh Đảng chưa có những người trí thức có tinh thần phản biện được trình độ có thể góp ý được, phản biện được, hay là ngăn chặn được những sai lầm. Tại sao trong thời thực dân mà lại đào tạo được những người như Hoàng Xuân Hãn, Võ Nguyên Giáp, thời gian về sau này đã không còn thấy những bộ mặt trí thức như vậy nữa. Nhìn như vậy thì ta mới thấy được rằng có một sự hạn hẹp, có một giới hạn, có một cái gì đó mà nó không được ổn lắm về vấn đề xuất hiện và hình thành đợt trí thức đủ bản lĩnh, đủ điều kiện để có thế đưa đất nước tiến lên nhất là về mặt văn hóa, về khoa học và về công nghệ.   
 
Trong bài phỏng vấn ông GS/NĐH cũng cho rằng:
 
"Khi nhà cầm quyền không có chung quanh mình những bậc trí thức, những người tài ba, những bộ óc có nghĩ, những phát minh, thì là cái chính thể đó bị thiệt thòi hơn cả”.
 
Ông ta cũng trách móc Đảng và Nhà nước CSVN về chuyện “bức tử” tổ chức IDS của Tiến sĩ Nguyễn Quang A.
 
Và ông GS/NĐH cũng thố lộ là “muốn tổ chức giúp VN đào tạo 20 ngàn Tiến sĩ nhưng mà VN không có trường đào tạo Thạc sĩ (Master) cho nó ra hồn”. Và ông ta thú thực với ký giả Mặc Lâm thì ông ta cũng đành “bó tay.com” - nói theo cách nói của giới internet ở trong nước. 
“Tôi muốn rằng những người có bằng cấp hãy trở nên là những người trí thức là bởi những người trí thức phải là những người tư duy cho thời đại, tư duy cùng thời đại, đồng hành với thời đại và chịu trách nhiệm với thời đại. Thế thì anh có bằng cấp chưa đủ, anh phải là cái người chịu trách nhiệm cùng với thời đại, anh phải là cái người ra tay với thời đại thì anh mới thành trí thức. Nếu mà anh có bằng cấp rồi, anh đã giỏi rồi, tôi hy vọng anh sẽ trở thành nhà trí thức”.
 
Với định nghĩa về người trí thức như trên của giáo sư Phạm Toàn thì phải nói ông giáo sư Nguyễn Đăng Hưng là người… trí thức.
 
Do đó, tôi rất ngạc nhiên về những điều mà ông ta đã trả lời phỏng vấn của ký giả Mặc Lâm về “mối tương quan giữa trí thức và Nhà nước (CSVN)”. Tôi lại càng ngạc nhiên hơn vì sau khi về nước để đóng góp vào năm 1989, bị vỡ mộng, ông về Bỉ và nhận nơi này làm quê hương và được chính phủ Bỉ cử qua Congo để giúp phát triển xứ sở này. Và ông ta đã viết như sau:
 
“Phải sang cái xứ Phi Châu xa xôi này mới tìm thấy được một khung cảnh Việt Nam hài hoà, đa nguyên, đa dạng, mới có trách nhiệm đúng với khả năng, mới được trọng dụng và biết quý trọng lẫn nhau”. (Trích “Bút ký của một nhà khoa học Việt kiều”).
 
Vì không có theo dõi nên  không biết vì sao ông giáo sư NĐH lại về lại VN để “đóng góp tiếp” vào sự phát triển đất nước VN xã hội chủ nghĩa. Và lại thốt lời “tần cung oán” với Đảng và Nhà Nước VN xã nghĩa khi trả lời phỏng vấn ký giả Mặc Lâm?!
 
Tôi không nghĩ rằng ông giáo sư NĐH không biết gì về chủ nghĩa cộng sản và nhất là về CSVN vì những gì ông ta viết trong bài “Bút Ký” vào năm 1989.
 
Tôi cũng không tin là ông ta không biết gì về những người trí thức như triết gia Trần Đức Thảo, luật sư Nguyễn Mạnh Tường những người đã nghe theo lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh đã về nước để góp phần đánh đuổi thực dân Pháp.
 
Các ông trí thức Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường đã lỡ dại lên tiếng sửa sai, góp ý mà đã bị truy bức nghèo khổ, mất vợ mất con, sống trong cảnh cùng cực cho đến chết. Chẳng lẽ một người trí thức như giáo sư Nguyễn Đăng Hưng không biết là ông trí thức Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp cho đến chết. Và chuyện Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là người trí thức, theo ông GS/NĐH chắc cần phải xét lại.
 
Và, không lẽ ông GS/NĐH không biết những số phận nghiệt ngã đã dành cho những văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân văn - Giai phẩm?
 
Chẳng lẽ một “người trí thức” như ông GS/NĐH không biết chỗ cư trú hàng ngày và cũng là mộ phần của “người trí thức” ngàn lần trí thức Nguyễn Hữu Đang là một ô trũng ở cạnh lũy tre làng. Công việc mưu sinh hàng ngày của người dựng lễ đài để ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập là đi nhặt những bao thuốc lá để đổi cóc, nhái với lũ trẻ trong làng?
 
Và chẳng lẽ, không phải ông GS/NĐH là người đã viết về vụ xử án Tiến sĩ Cù Huy Hà  những giòng chữ như sau:
 
"… Một người đứng tuổi đã từng theo dõi vụ án Tạ Đình Đề vừa có nhận xét là ngày xưa dân chủ công lý khá hơn nhiều. Dân chúng được nghe trực tiếp diễn tiến bên trong và hành xử của công an khá lịch sự. Thế mới biết… VN mình đi thụt lùi, ngay cả sau gần 25 năm đổi mới!Đây là nỗi đau không thể tả được của những ai tha thiết với tiền đồ của dân tộc”.
 
Một người trí thức con cưng của chế độ đối đầu với nhà cầm quyền độc tài còn bị đối xử như thế, thử hỏi…
-Ông Móc à, nói chuyện với mấy thằng trí thức đó mà làm cái gì. Cái bọn này ông tổ sư bồ đề Lê Văn Ninh của tụi mình gọi là cái gì ông Móc nhớ không?
 
-Thưa anh Ba, “Bác” Lê Văn Ninh gọi mấy thằng này là bọn “ngu dốt hữu dụng”.
 
-Ét-xắc-ly! Đúng y boong! Ông Móc lớn tuổi rồi mà trí nhớ còn tốt lắm. Thời lão Võ Văn Kiệt kêu gọi bọn Việt kiều yêu nước nhảy ra lổn nhổn cứ như là ếch nhái gặp mưa. Có thằng giáo sư Phó phó gì đó…
 
-Dạ, Phó Bá Long.
 
-Đúng ngay chóc! Lúc đó Ba Dũng này còn đang học tại chức ở Đại học Rừng U Minh  để lấy bằng Tiến sĩ Luật, nghe lão Phó này đọc thơ con cóc “Mười tám năm rồi các bạn ơi/ Xa quê lòng dạ rất bùi ngùi!”, rồi lão xuống “xề” xin lão Võ Văn Kiệt ra một cái luật đại xá cho bọn ngụy quân, ngụy quyền nghe mà ứa gan…            
 
-Anh Ba chuyện môn vẽ dùng mực đỏ vẽ hình vuông để chích mông cho bệnh nhân mà cũng biết được chuyện tày trời này sao?
 
-Ê! Ông Móc đừng coi coi thường Ba Dũng này, nghe. Lão thiến heo Đỗ Mười còn dùng cái trò đánh tư sản mại bản mà hốt của dân miền Nam biết bao nhiêu là vàng bạc. Xin lỗi ông Móc, bộ thằng y tá không hơn thằng thiến heo sao? Rồi còn lão Tố Hữu chỉ biết làm thơ ca tụng Bác Hồ cũng được làm Phó Thủ Tướng “giá lương, tiền”, ông Móc thấy có chết thằng nào trong Bộ Chính Trị đâu.
 
-Không phải coi thường anh Ba đâu. Ý tôi nói là anh Ba lúc đó cũng giống như Khổng Minh Gia Cát Lượng còn đang ẩn dật ở Ngọa Long Cương…
 
-Thiệt vậy sao? Ông Móc nói vậy thì được. Nói cho ông Móc biết,(đừng có nói lại với ai, nghe chưa?) Bọn này còn hơn Đại sư phụ Mao Xi Tung coi “bọn trí thức còn thua… cục phân”. Nói cho ông Móc biết: có thằng trí thức nào hơn thằng Cù Huy Hà Vũ hay không? Chống đối phải không? Rũ tù! Kháng án phải không? Y án!
 
-Thưa anh Ba, còn cái vụ ý kiến của ông giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về cái vụ mấy cái hội trí thức VUSTA, IDS gì đó thì sao?
 
-Có sao đâu. Bọn nó thích nói thì để bọn nó nói cho nó sướng miệng! Đảng và Nhà nuớc ta có mất cọng lông chân nào đâu. Đảng và Nhà Nước ta đâu có cần Tiến sĩ, Tiến xiếc mà làm gì. Ngay cả thằng Vũ Viết Ngoạn nó cũng có bằng Tiến sĩ mà có thằng tố cáo là bằng giả.. Bằng Tiến sĩ giả thì cũng kêu bằng Tiến sĩ, hổng lẽ có thằng nào đó nó nói thằng Vũ Viết Ngoạn có bằng “Tiên sư” à? Còn Chính phủ ta thì bằng cấp này, bằng cấp nọ cả đống. 
 
Đảng và Nhà Nước ta bắt nhốt lại linh mục Nguyễn Văn Lý, y án Cù Huy Hà Vũ, xử 3 năm tù cho thằng Phạm Minh Hoàng, nhốt thằng Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân của đảng Việt Tân, rồi mới đây bắt nhốt luôn thằng luật sư Lê Quốc Quân ở trong nước.  Bọn nước ngoài nó um sùm lên đòi này, đòi nọ ta tỉnh bơ thì làm gì nhau? 
 
Còn ba cái vụ biểu tình yêu nước, chống Trung Quốc hả? Cũng đi chỗ khác chơi! Đừng có giỡn mặt… nhà cầm tiền!
 
-Thưa anh Ba, sao lại là nhà cầm… tiền?
 
-Còn làm sao nữa: thì có tiền mới có quyền, có quyền mới có tiền!
 
-Bái phục! Bái phục! Anh Ba đúng là Thủ Tướng số một La mã. Trước anh Ba không ai, sau anh Ba cũng sẽ không có ai ngon lành các cái như vậy.
 
-Đủ rồi! Đủ rồi! Ông Móc ca tụng quá hai cái mũi tui nó phình lên như “hai cái bao cao su tình ái” mà thằng Tướng Công An Hoàng Kông Tư nó “tặng”cho thằng Cù Vũ thì bỏ mẹ! 
 
-Còn câu hỏi chót: Xin anh Ba cho biết vì sao anh Ba lại bảo là lãnh đạo Đảng ta còn hơn cả sư phụ Mao Xi Tung “coi trí thức không bằng cục phân”?
 
-Có gì đâu mà khó hiểu, ông Móc? Với 2 cái bao cao su đã qua sử dụng mà thằng Tướng Công An Hoàng Kông Tư đã dùng trong vụ án Cù Huy Hà Vũ thì Đảng ta đã coi cái bọn “trí thức còn thua… cái tự do”!
 
-Sợ mấy ông lãnh đạo Đảng VC của anh Ba thiệt. Vậy mà ở hải ngoại vẫn có những ông trí thức đang ra sức phấn đấu để được trở thành những cái… tự do! Thảm thương thiệt! 
   
  
LÃO MÓC 
tieng-dan-weekly.blogspot.com

Friday, 31 August 2012

CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG CHỈ BIẾT "BỀ MẶT" THÔI-CHƯA ĐỦ ! - DOÃN QUỐC SĨ NGON LÀNH NHƯ VẦY SAO LẠI KÝ TÊN TRONG DANH SÁCH 36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI (LXKhoa) và DANH SÁCH BÊNH VỰC TUỆ SĨ KHÔNG PHẢI VC (Vĩnh Hảo) ?????./- Mt68

Doãn Quốc Sỹ với khúc quành của dòng sông
cảm nghĩ Nguyên Trần
 Nhân đọc bài tùy bút “Bố Sỹ và Cô Út” thật cảm động và chân tình của nhạc sỹ/nhà thơ Phan Ni Tấn viết về những thăng trầm của nhà văn/GS Doãn Quốc Sỹ, tôi bỗng có ý nghĩ là phải viết đôi dòng vế nhà văn khả kính nầy vì tôi vốn là người yêu mến truyện ông và kính trọng tư cách ông từ lâu.
Trong “Bố Sĩ và Cô Út”, Phan Ni Tấn tự thuật lại chuyến gặp gỡ mới đây vào tháng 7/2012 tại Toronto của hai người bạn vong niên, đó là nhà văn Doãn Quốc Sỹ và anh. Truyện cũng ghi lại  mối giao tình giữa hai người   ngay từ lúc còn ở Việt Nam dưới cái gọi là chế đô cộng hòa xã nghĩa , lúc mà cả hai cùng ở một bên trời lận đận và hơn nữa cùng có tâm hồn phóng khoáng hiền hòa của những người nghệ sĩ nên rất dễ đồng cảm tương đắc. Điểm đăc biệt là nhà văn tuy tuổi hạc đã 90 mà vẫn còn quắc thước tinh anh.
 Cũng như tất cả bằng hữu thân sơ khác của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Phan Ni Tấn cũng có nhận xét chắc nịch rằng ông là một con người trí thức có tâm hồn khoan hòa đôn hậu và một ý chí bất khuất can trường.
 Chính cái con người “uy vũ bất năng khuất” của ông đã khiến Doãn Quốc Sỹ  bị Việt Cộng bắt giam nhiều lần mà tổng cộng thời gian tù tội lên tới trên 14 năm nhưng  lúc nào ông cũng vẫn an nhiên tự tại. Sau khi ra tù, ông vẫn giữ lòng son sắt quyết nói lên tiếng nói cho tự do dân chủ ngay trong lòng địch. Ngay cả những lần Phan Ni Tấn tới thăm ông tại căn nhà trong hẽm đường Thanh Thái - sau khi ông ra tù - ông vẫn không từ bỏ sự chống đối chế độ độc tài toàn trị bất nhân để mưu tìm tự do hạnh phúc công bằng cho đồng bào mặc dù chúng đã bao lần đến nhà khuyến dụ ông thôi chống đối thì sẽ được nhiều đãi ngộ.

 Tình hình chính trị tại hải ngoại trong thời buổi nhập nhằng nhiễu nhương nầy, có biết bao nhiều người mệnh danh là trí thức mà còn theo đuôi Việt Cộng để kiếm chút bả lợi danh thì hình ảnh một kẻ sĩ tiết tháo cương trực nhu hòa như nhà văn Doãn Quốc Sỹ quả là một viên ngọc quý soi sáng con đường chính nghĩa cho thế hệ mai sau. (???? Mt68)
 Về cuộc đời công danh , Doãn tiên sinh từng dạy học tại các trường Nguyễn Khuyến (Nam Định) Chu văn An (Hà Nội) và sau khi di cư vào Nam: Trần Lục ( Sài Gòn), hiệu trưởng trường trung học công lập Hà Tiên, giáo sư Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa cho tới giữa thâp niên 60, ông đi du học tại Hoa Kỳ về ngành gíáo dục xong trở về nước tiếp tục giảng dạy cho tới ngày mầt nước.
 Nói về  sư nghiệp văn chương, ông viết  cả thảy25 truyện dài rất có giá trị văn học nghệ thuật mà nổi tiếng nhất là Chiếc chiếu hoa cạp điều, Khu rừng lau, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến,Tình yêu thánh hóa, Ngã ba sông, Dòng sông định mệnh…Đăc biệt truyện “Con cá mắc cạn” được dịch ra tiếng Anh (The stranded fish)  và bày bán trong các nhà sách Mỹ .

Riêng đối với tôi, truyện “Dòng sông định mệnh” (1959)là truyện tôi thích nhất. Tưởng cũng nên nói thêm là thời thư sinh tay trắng mộng đầy, ngoài “Dòng sông định mệnh” truyện thứ hai mà tôi cũng say mê là “Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương” của nhà văn Bình Nguyên Lộc.                            
 Thuở nhỏ tôi mê đọc tiểu thuyết lắm, nhưng gia đình tôi có khá giả gì mà mua hết sách về đọc nên tôi bèn đi cái đường thông dụng nhất lúc đó là…mướn truyện  xem. Viết tới đây thì xin quý bạn cho tôi ngưng một chút để ngàn lần xin lỗi mấy ông nhà văn, nhà phát hành thời bấy giờ nha. Lỗi lầm lắm nhưng thằng nhỏ mê đọc qua mà không có tiền  thì biết làm sao đây!  Tệ trạng thời đó sao mà giống những khán thính giả yêu ca nhạc ngày nay mà lại cũng thích mua băng sang lậu quá!!! Nhưng trường hợp thằng nhỏ mướn truyện nầy đáng được tha thứ hơn phải không quý vị?
 Trở lại truyện “Dòng sông định mệnh”, tính ra trong cuộc đời con người, tình yêu, công danh, sự nghiệp ít nhất cũng phải trải qua một khúc quành giống như một dòng sông, trước khi luân lưu chảy ra tới biển cũng phải vấp phải một khúc quành nào đó . Đó là chủ đề chính  trong truyện “Dòng sông định mênh”.
 Truyện kể lại một chuyện tình êm đềm lãng mạn và trong sáng của Thiệu và Yến, đôi bạn trẻ  từ lúc mới 9, 10 tuổi, cùng là lối xóm với  nhau trong một làng nhỏ ở tỉnh Bắc Ninh miền Bắc. Hai đứa nhỏ cùng chơi chung, cùng tắm chung trên dòng sông Đuống nên sinh tình quyến luyến. Thứ tình cảm nầy, Việt Cộng miệt thị là tình cảm tiểu tư sản. Cũng đúng thôi vì đối với Việt Cộng có cái tình nào khác hơn hay nói rõ hơn là chúng không có cái quyền có tình yêu nào khác hơn là tình yêu bác và đảng cũng như tình yêu tổ tiên của đảng là Mác Lê.
 Hai đứa trẻ chơi thân với nhau từ nhỏ để rồi tới một lúc nào đó, Thiệu bỗng yêu thương Yến  mà không hay nhưng vốn bản tính nhút nhát nên cậu bé không dám thổ lộ với người mơ mà vẫn ôm ấp mối tình câm. Cho tới khi hai đứa trẻ lên Hà Nội  học trung học thì Yến đã bắt đầu e ấp thẹn thùng với người bạn trai từ tấm mẵn trong khi Thiệu thì càng tương tư người đẹp hơn mà khổ nỗi cũng còn nhát gái. Thêm vào đó, Yến trọ nhà người chú ruột rất nghiêm khắc, nhiều lần Thiệu thập thò trước cửa nhà mà không dám vào thăm Yến. Cho tới một hôm, không dằn được sóng tình  cuồn cuộn dâng lên trong lòng, Thiệu đánh liều viết lá thư tỏ tình (kiểu  nầy sao mà nghe quen quen với tôi hồi nhỏ quá) rồi đón đường  run run trao cho Yến. Để rồi sau đó chàng thấp thỏm đứng ngồi không yên ngóng chờ tin nhạn. Vài hôm sau, Thiệu nôn nóng chận đường Yến “để hỏi thăm kết quả” thì người đẹp chỉ trả lời ngắn gọn: “Đừng anh Thiệu ạ!” chứ không chịu giải thích cho rõ ràng: đừng là đừng thế nào? Còn nhỏ phải lo học hành rồi chuyện kia tính sau hay đừng là tôi không yêu anh. Tuy bị hụt hẫng nhưng Thiệu vẫn nuôi hy vọng vì giữa hai người có cả một khung trời kỷ niệm êm đềm nhất là Thiệu đã một lần liều chết nhảy xuống sông cứu Yến dù chàng không bơi rành lắm.
 Chuyện tình đang độ nửa vời như vậy thì trong một khoảng thời ngắn ngủi, cha mẹ Thiệu lần lượt trước sau qua đời vì không chịu nổi sự áp bức bốc lột tận cùng của bọn Việt Minh. Riêng mẹ Thiệu thì chết trước khi bà chính thức hỏi Yến cho Thiệu. Rồi tin dữ lại tiếp theo là  khi tình Thiệu dậm chân tại chỗ thì đùng một cái, mẹ Yến nhận trầu cau dạm hỏi Yến của gia đình một chàng trai giàu có du học từ bên Pháp về thì Thiệu phải là người đứng bên lề.. Lúc đó Thiệu mới bàng hoàng đau đớn nghĩ  rằng dòng sông của chàng và Yến thường nô đùa thời thơ ấu đã tới một khúc quành oan nghiệt nhận chìm cả ước mơ đôi lứa của chàng. Vậy là chàng liên tiếp nhận 3 cái tang: tang cha, tang mẹ và tang một cuộc tình cùng đau đớn như nhau. Sau khi chịu tang cha mẹ xong, Thiệu  ghi danh vào học trường  mỹ thuật  Hà Nôi ngay khi vừa đổ tú tài 2,  và trở thành họa sĩ  còn Yến thì học trường thuốc (dược khoa) mặc dủ đã lập gia đình.
 Sau đó  Thiệu theo Lũy người bạn thân vào quê anh là cố đố Huế dạy học tại một trường trung học do chính Lũy làm hiệu trưởng - mà cũng có thể xem như là một cuộc bỏ trốn của kẻ chiến bại trên tình trường.
 Ở Huế cho tới trước ngày cách mạng mùa Thu 1945, Thiệu bỏ cố đô vào chiến khu tham gia kháng chiến chống Pháp với hoài bảo dành độc lập tư do cho quê hương như bao chàng trai cùng thế hệ. Nhưng sau mấy năm kháng chiến, anh thấy rõ bộ mặt thật gian trá bất nhân hèn hạ phản trắc và ngu dốt của cái gọi là Việt Minh chỉ là tay sai của Cộng Sản Quốc Tế muốn áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân vô thần trên đất nước Việt Nam chứ yêu thương giống nòi gì cái ngữ đó. Thế là anh trốn lại về thành (dinh tê) và ở đó luôn cho tới hiệp định Genève 20/71954 ngăn chia đất nước và Thiệu cũng bặt tin gia đình từ đó.
 Một thời gian ngắn sau, Thiệu bất ngờ nhận được thơ chị Hoa nhờ Lũy chuyển,  chị Hoa là chị thứ ba của Thiệu báo tin gia đình chị và anh hai Tín đều đã di cư vào Nam. Chị nhắn Thiệu vào Sài Gòn vừa dễ sinh sống vừa có chị có em nương tưa nhau nhất là khi cha mẹ đã mất cả rồi.  Thiệu bèn sắp xếp dọn về  Sài Gòn mà nơi đó cuộc đời Thiệu lại bắt đầu một khúc quành mới của dòng sông.
 Tạo, người  bạn thân khác của Thiệu ở Hà Nội, bấy giờ  cũng vào Sài Gòn và đang làm chủ một tờ báo văn học nghệ thuật mang tên Nguồn Việt. Tạo cần  Thiệu làm tổng thư ký  tòa soạn rất hợp với khả năng của chàng. Ngoài ra, Tạo còn chơi đẹp với bạn là  giao hẳn cho chàng một chiếc xe hơi để chạy việc.
 Một hôm vì công việc tòa soạn quá nhiều khiến Thiệu nhức đầu nên tấp vào một nhà thuốc tây để mua thuốc thì trời ơi! Thiệu có nằm mơ cũng không dám mơ như vậy vì dược sĩ chủ nhà thuốc tây là…Yến của Thiệu năm nào. Một Yến càng đẹp hơn xưa như trái cây chín mùi tuy có chút gợn buồn.
 Mừng mừng tủi tủi sau cuộc tái hợp bất ngờ kỳ diệu, Thiệu còn biết thêm là chồng của Yến đã mất hai năm trước tại Hà Nội và Yến phải bồng bế hai con thơ di cư vào Nam . Tai vùng đất mới Sài Gòn, nàng chắc mót hết vốn liếng mở được nhà thuốc nầy nằm ngay trên đường Bonard.

Sau đó tình xưa nghĩa cũ tìm về với nhau và điều đáng ghi nhận nhất và cũng nhức đầu nhất là hai người mặc dầu từng bày tỏ những cử chỉ  yêu nhau tha thiết nhưng chưa hề hôn nhau  hay thậm chí ôm nhau. Sao mà tình yêu trong sáng thánh thiện quá. Thật đúng là Amour Platonique. Ngay cả lúc Thiệu run run cầu hôn thì Yến chỉ mĩm cười nói “ Thôi mà anh Thiệu” để anh muốn hiểu sao thì hiểu. Thìệu nhớ lại câu nói ngày xưa khi Yến trả lời thư tỏ tình của anh cũng là” Đừng anh Thiệu ạ!” Nhưng Thiệu tin chắc rằng qua thái độ ánh mắt và lời tâm tình thì Yến cũng yêu mình lắm nên anh tự nhủ là chỉ ôm hôn Yến khi hai người đã thành vợ chồng. (Mặc dù luôn quý trọng tiền bối Doãn Quốc Sỹ nhưng nhà em xin phản đối ông tới cùng về cái chuyện “cám treo để heo nhịn đói nầy” . Chơi ác như vậy thì ai mà chịu cho nổi. Người phàm tục chớ thần thánh gì cho cam.  Tức chết đi được).
 Nhưng thực ra Thiệu cũng muốn kéo dài tình trạng ù ơ ví dầu  mãi vì chàng tự ái mà nghĩ rằng  chàng chỉ thực sự nên đến với Yến khi công thành danh toại chứ cái nghề báo bổ nầy nó long đong lắm mà chàng lại không muốn làm “thân cư dược sỹ”. Chính vì cái sự chần chừ nầy mà sau đó Thiệu đã phải trả một giá thật đắt.
Sau một thời gian thân tình gắn bó gần như đã yêu nhau nhưng lời yêu chưa nói ra, Thiệu đề nghị vẽ một bức tranh cho Yến và được nàng ưng thuận ngay. Thực ra không gì hạnh phúc cho nàng bằng được người yêu họa chân dung mà nàng biết chắc là đã ăn sâu trong tâm khảm chàng.
 Sau khi vẽ xong, Thiệu phone hẹn với Yến 3 giờ chiều hôm sau sẽ mang tranh tới cho người yêu và chàng định là sẽ trao bức tranh như món quà cầu hôn nàng. Trước đây thì Thiệu không xúc tiến việc cưới xin vì còn mang mặc cảm thua kém Yến nhưng sau đó do sự đốc thúc của chị Hoa và hơn nữa Thiệu thấy mình và Yến cũng đã trên 30, sợ cảnh đêm dài lắm mộng nên  Thiệu quyết định sẽ cưới Yến. Và Yến hứa giao nhà thuốc tây cho nhân viên trông coi để  ở nhà chờ Thiệu  mang tranh tới.
 Sáng hôm sau Thiệu còn đang ngủ cho khoẻ để chờ chiều đi gặp người đẹp thì bất ngờ vợ chồng Tạo và vài ký giả bạn tới rủ Thiệu đi chơi mà họ lại ra vẽ bí mật không nói là đi đâu. Nể bạn và hơn nữa cũng là người ân của mình, Thiệu đi cùng họ. Và cả bọn trực chỉ tới một ngôi chùa cổ nằm ven rừng ở Thủ Dầu Một để đi picnic. Tất cả khề khà thế nào mà mãi tới hơn 3 giờ mới chịu trở về, đã vậy còn rủ nhau tới nhà Tạo để nghe tao đàn dương cầm. Thiệu từ chối ngay và phóng xe như bay tới nhà Yến. Đúng 4 giờ 5 phút. Chàng chạy nhanh vào nhà thì chị người làm nói Yến đi khỏi. Thiệu biết lỗi nên ngồi chờ tới 6 giờ chiều nhưng chẳng thấy bóng dáng nàng đâu.
 Tâm Trạng rối bời, chàng buồn rầu trở về nhà , biết rằng Yến giận chàng nhiều lắm. Liên tiếp mấy ngày sau, chàng đến gặp nàng khi tại nhà thuốc tây khi tại nhà, nhưng đều bị nàng khước từ với lý bận rộn. Hình như nàng cố tình không cho Thiệu cơ hội giải thích và xin lỗi.
 Sau một tuần nôn nóng và đau khổ vì không gặp được người yêu, Thiệu thấy đời thật buồn chán vô vị đến không thiết sống vì chàng đã yêu người tình đầu đời tha thiết tới độ: “ nếu trái đất nầy có hủy diệt thì tro bụi của chàng cũng phải tìm cho bằng được tro bụi của Yến để mà hòa quyện lấy nhau” có nghĩa là chàng không muốn rời xa Yến của chàng một giây một phút nào hết ngay cả khi lìa đời. Qua mấy ngày chiến tranh lạnh giữa hai người, Thiệu linh  cảm rằng cuộc tình  đã chấm dứt và dòng sông lại lạc đến một khúc quành cay nghiệt mới.
 Ôm nỗi thất tình, Thiệu tới Tòa Đại Sứ Pháp nộp đơn xin học bổng du học trường Mỹ Thuật Paris . Có lẽ nhờ lá thư giới thiệu chàng là thiên tài hôi họa của ông giám đốc trường mỹ thuật Hà Nội là người Pháp mà chỉ thời gian ngắn sau đó, Thiệu nhận thư Tòa Đại Sứ Pháp chấp thuận cấp học bổng cho chàng học năm thứ ba trường Mỹ Thuật Paris. Thiệu nhận tin nầy như sét đánh ngang mày thay vì vui mừng, vì  chàng biết rằng bản án tử hình cho cuộc tình dù đang vào ngõ cụt của họ đã được ban ra.
 Chàng lo chạy xong hết mọi thủ tục xuất ngoại du học rồi đêm cuối cùng trước khi rời Sài Gòn và cũng có lẽ là ngàn đời vĩnh biệt Yến, Thiệu tới gặp nàng với cả một cõi lòng tan nát. Gương mặt Yến sáng hẳn lên khi trông thấy Thiệu. Chàng nghẹn ngào nói:
 -      Tôi muốn gặp Yến một chút có được không?
 Hình như Yến vì quá hân hoan hạnh phúc khi gặp lại người yêu nên nàng chưa bắt gặp nổi đau của Thiệu:
 -      Được chứ! Mời anh vào nhà.
 Tới chừng nghe Thiệu nói: 

-      Anh phải đến báo với Yến, à không! đến chào Yến thì đúng hơn. Ngày mai anh đi Pháp rồi…
  Nghe tới nầy, Yến thấy như cả vũ trụ quay cuồng sụp đổ, nàng tưởng chừng như té xỉu xuống, tay nàng run run giọng nói đứt quãng:
 -      Anh…đi…Pháp
 Thiệu cúi đầu tránh ánh mắt đau đớn của người yêu: 
-      Phải! Anh được học bổng sang đó học nốt về hội họa.
 Hai tay Yến nắm chặt lại và nàng cắn môi không phải để suy nghĩ mà để có đủ nghị lưc chịu đựng nhát búa khốc liệt của định mệnh.
Giây lâu Yến hỏi , giọng lạc hẳn đi khiến Thiệu có cảm tưởng như nghe tiếng đó từ trong giấc chiêm bao:
 -      Chúng mình giận nhau thực ư hở anh?
 Đó! Hai người yêu nhau đã  đau khổ xa nhau như thế đó. Trong tức tưởi nghẹn ngào, trong bẽ bàng cay đắng.


                 Cầm bằng như nước đôi dòng lạ
                 Gặp gỡ mà chi để biệt ly
 Sau đó. Thiệu qua Pháp học tiếp hội họa và trở thành họa sỹ nổi tiếng. Nửa năm sau, chàng thành hôn với cô đầm Suzanne tuyệt đẹp là người ái mộ chàng họa sị Việt Nam tài hoa mà họ gặp nhau trong một cuộc triển lãm tranh của Thiệu tại Tây Ban Nha. Suzanne sau trở thành một nàng dâu lý tưởng được cả gia đình Thiệu yêu mến. Còn Yến sau khi Thiệu đi, nàng đau buồn sang nhà thuốc tây trở về Hà Nội sống và lấy chồng là một đại thương gia và có thêm một con.
 Truyện tình buồn kết thúc trong cơn sóng ngầm an phận với lỡ làng đau thương cộng thêm  văn phong nhẹ nhàng trong sáng nhưng vô cùng lôi cuốn của nhà văn Doãn Quốc Sĩ,. Tôi đã say mê đọc truyện nầy nhiều lần, mà lần nào cũng thấy tuyệt vời pha lẫn chút bâng khuâng ngậm ngùi.
 Hôm nay, ngồi viết những dòng chữ nầy trước là để chia xẻ lòng kính trọng quý mến cùng anh  Phan Ni Tấn đối với nhà văn tiền bối Doãn Quốc Sỹ  qua tùy bút “Bố Sĩ và cô Út”, thứ nữa xin mượn  trang giấy để trang trọng vinh danh:
 -      một nhà văn lớn
-      một tư cách lớn
-      một sĩ khí lớn
-      một bao dung lớn
-      một sư nghiệp lớn
 đó là KẺ SĨ THỜI ĐẠI DOÃN QUỐC SĨ.
 Viết xong tại Mississauga sáng 30/8/2012
Nguyên Trần