Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label BaJACKIEBONG. Show all posts
Showing posts with label BaJACKIEBONG. Show all posts

Monday, 13 November 2023

 LỜI KÊU GỌI CỦA CÔ JACKIE BÔNG TỪ CUỐI NĂM 2021 NHƯNG THIẾT NGHĨ VẪN CHƯA ĐẾN VỚI MỌI ĐỒNG MÔN CỰU SV/QGHC CHÚNG TA RẤT CẦN QUAN TÂM- ƯỚC MONG CUỐN PHIM ĐƯỢC PHỔ BIẾN RỘNG RÃI TRỞ LẠI ĐỂ LƯU GIỮ CHO HẬU THẾ VNCH./-Mt68

________________

13 December 2021

Thư kêu gọi hỗ trợ của Cô Jackie Bông Wright gửi các CSV Học viện QGHC Sài gòn

Thưa anh Sáu và tất cả quý ACE CSV QGHC,

Nhờ anh Sáu gởi cho tất cả quý ACE CSV QGHC toàn cầu dùm.

Cách đây sáu tháng, một số ACE QGHC có nhã ý kêu gọi anh Chu Lynh và tôi phụ giúp thực hiện một cuốn phim tài liệu về Gs Bông.  Quý ACE cũng sẵn sàng đóng góp chi phí đễ nhờ người bên Cali làm công tác đó.  Tôi có trả lời với quý ACE là tôi có tiếp xúc với anh Chu Lynh và anh ấy đã chấp nhận.  Anh đưa ra lập trường là VFC (Vietnam Film Club) lấy quyền quyết định chọn lựa hình ảnh, viết kịch bản và phỏng vấn ai thì tự quyền chọn lọc, không bị áp lực của gia đình hay của một ai.  Tôi có chấp nhận điều kiện này, và cũng đồng ý là hoàn trả lại cho anh những chi phí cần thiết như việc di chuyển, ăn ở hotel khi đi phỏng vấn bên Cali, và trả tiền những vật liệu cần dùng để quay phim. Anh có đưa cho tôi giấy tờ chứng nhận chi phí và tôi đã hoàn trả cho anh lối $3,000 + 1,000 tiền ăn cơm tại nhà hàng mời 28 người có tới đóng góp cho buổi ra mắt 7/11/21 vừa qua, trong đó có vài lần hội họp ăn cơm bàn công việc.  Rất cám ơn quý ACE đã cung cấp tài liệu và hình ảnh cho anh CL, tuy không được nhiều, nhưng cũng tạm được.

Tôi cũng rất mang ơn công lao của quý ACE vùng Đông Bắc Hoa Kỳ thực hiên thêm một cuốn phim tài liệu về GS Bông, cho ra mắt đúng ngày 10/11/21.

Thường thì anh Chu Lynh bỏ ra gần một năm mới làm xong một phim tài liệu, nhưng kỳ này anh làm việc ngày lẫn đêm để hoàn tất mau chóng phim tài liệu này trong vòng sáu tháng để kịp ra mắt phim trong tuần Lễ Giỗ 50 năm của Gs Bông.  Anh không có tính tiền công lao của anh để quay phim và edit cả trăm lần, sửa đi sửa lại từ một chữ hay một dấu phẩy, cũng như việc di chuyển v.v.. Chắc quý ACE cũng mãn nguyện một phần nào sau khi xem cuốn phim: "Vụ Ám Sát Gs Nguyễn Văn Bông.” Anh Chu Lynh chọn không ra mắt cuốn phim tại California, chỗ có đông ACE QGHC nhất, mà làm trong studio SBTN-DC vì Covid-19 Delta đang hoành hành trở lại, có người quen và trong gia đình bị lây bệnh.

Thưa anh Sáu và quý ACE,

Tôi thấy công lao của anh Chu Lynh lớn lao để thực hiện một việc mà một số quý ACE trong QGHC yêu cầu, nên tự ý tôi mạo muội xin quý ACE nào có muốn giúp đóng góp một phần gì cho anh Chu Lynh, thì xin quý ACE vui lòng gởi chi phiếu dưới tên VFC lại địa chỉ của tôi. Đó là để anh Chu Lynh tiếp tục mộng của anh là thực hiện thêm những phim tài liệu lịch sữ cho Việt Nam.  Rất mong qúy ACE giúp đóng góp. Tôi rất mang ơn. 

Nay kính,

Jackie Bong Wright
309 Yoakum Plwy #1501
Alexandria, VA 22304   

571-422-5704   
KHÔNG HIỂU CẢ MIỀN NAM, CẢ VNCH KHÔNG AI CÓ KHẢ NĂNG ĐỂ VIẾT VỀ CỐ GS NGUYỄN VĂN BÔNG SAO?! TÊN CÙ LỦ NẦY KHÔNG CÓ 1 NGÀY VNCH, HẮN LÀ GỐC VIỆT CỘNG 1000% LẠI ĂN KÉ CHUYỆN GS BÔNG BỊ VIỆT CỘNG SÁT HẠI - THẬT LÀ CHUA XÓT CHO CẢ MIỀN NAM CHỨ KHÔNG RIÊNG AI- Hắn viết gì là chuyện riêng của hắn, nhưng với hành văn, từ ngữ, giọng điệu sặc mùi hôi hám VC. Vậy mà người Quốc Gia lại ngây thơ, khép nép theo hắn. Ca tụng hắn là hoàn toàn phản tác dụng đối với tất cả tình cảm mà Người Nam đã dành cho Cố GS Nguyễn Văn Bông./-TCL/Mt68
_____________________
Vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông: Cái kết được báo trước của VNCH 
(kỳ cuối) 
25/11/2019 

Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ 



Hiện trường vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông

 

 Ám sát, sụp đổ và đôi điều nhận định 

 Lẽ dĩ nhiên, Giáo sư Bông càng hữu ích cho việc củng cố chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, xương sống của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, thì ông càng nguy hiểm đối với bên kia chiến tuyến. Chưa nói đến việc Giáo sư Bông được bổ nhiệm làm Thủ tướng, chỉ riêng các vai trò quan trọng mà ông đang nắm giữ, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, “lò” đào tạo quan chức bộ trung, cao cấp cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa và vì vậy là một trong những “cơ quan đầu não” của chính quyền này, và chủ xướng Phong trào Quốc gia Cấp Tiến, một tổ chức chính trị chống Cộng triệt để, đã đủ đưa ông vào “tầm ngắm” của hoạt động “trừ gian, diệt ác” của các lực lượng an ninh Cộng sản, đặc biệt sau khi có Chỉ thị số 32/CT ngày 15/12/1967 của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.
Lễ cưới của Jackie Bông và Lacy Wright, Washington D.C., 1976.
Lễ cưới của Jackie Bông và Lacy Wright, Washington D.C., 1976.

Được ban hành nhằm chuẩn bị cho “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa” dịp Tết Mậu Thân 1968 theo Nghị quyết tháng 12/1967 của Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Chỉ thị này nêu nhiệm vụ, phương hướng của công tác an ninh trong thời gian tới với nội dung: “Hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn và các vùng xung yếu, phối hợp với các lực lượng vũ trang khác và lực lượng chính trị của quần chúng đẩy mạnh trừ gian, diệt ác và bộ máy kìm kẹp, hạ uy thế của địch, tạo thế cho phong trào cách mạng của quần chúng nổi dậy, tiến lên tiêu diệt cơ quan đầu não, các tổ chức cảnh sát, tình báo của Mỹ - ngụy, các đảng phái phản động của địch một cách triệt để, góp phần đánh sụp ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giành chính quyền về tay nhân dân, tích cực nắm vững tình hình địch, tích cực chuẩn bị lực lượng chuyên môn để truy kích địch, bảo vệ chính quyền cách mạng” (9).

Cựu đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, Ellsworth Bunker, và cô dâu Jackie Bông tại lễ cưới Jackie Bông và Lacy Wright, Washington, 1976.
Cựu đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, Ellsworth Bunker, và cô dâu Jackie Bông tại lễ cưới Jackie Bông và Lacy Wright, Washington, 1976.

Cũng cần nói thêm rằng hoạt động “trừ gian, diệt ác” gia tăng với việc “Ông trùm tình báo Cộng sản” Mười Hương (tức Trần Quốc Hương) (10) tham gia Thường vụ T4 - Khu ủy Sài Gòn – Gia Định và nắm chức Trưởng ban An ninh T4 vào năm 1970, hai năm sau khi ông từ Bắc về Nam và công tác tại Tình báo Miền, Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam (Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam). Thực vậy, Mười Hương có ba nhiệm vụ chính khi về làm Trưởng Ban An ninh T4: diệt ác ôn, đánh xẹp khí thế chính trị của địch; tiến hành công tác điệp báo, xây dựng mạng lưới cơ sở, nắm âm mưu địch; đảm bảo an ninh khu vực.

Để nói, ngay sau khi bắt đầu vận động thành lập Phong trào Quốc gia Cấp Tiến vào tháng 10/1968, vị Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chính trở nên nguy hiểm gấp đôi và vì vậy trở thành mục tiêu trừ diệt hàng đầu của Ban an ninh T4.

Ngày 25 tháng 11 năm 1968, sinh viên Luật khoa Đỗ Hữu Cảnh và công nhân Trần Văn Hoành đã đặt chất nổ ở bức tường ngăn giữa phòng họp của Học viện Quốc gia Hành chánh và phòng làm việc của Giáo sư Bông (11). Ông may mắn thoát chết, chỉ bị xây sát đôi chút và ngất đi. Ông Lê Công Truyền, nhân viên Học viện và là người đưa Giáo sư Bông đến bệnh viện, cho biết vụ nổ tạo một lỗ thủng bằng cái nong trên tường và đẩy Giáo sư tọt vào gầm bàn làm việc. Vẫn theo nhân chứng này, câu đầu tiên của Giáo sư Bông sau khi hồi tỉnh tại bệnh viên là: “Có anh em nào bị gì không?”.

Thế nhưng Giáo sư Bông không còn gặp may mắn trong vụ mưu sát thứ hai. Vụ này do sinh viên năm thứ ba Khoa Khoa học Vũ Quang Hùng và trung úy quân lực VNCH Lê Văn Châu, thành viên Trinh sát vũ trang thuộc Ban An ninh T4 (12), thực hiện bằng một trái mìn DH khoảng 5kg liên kết với ba trái lựu đạn da láng tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản, Sài Gòn, vào trưa ngày 10/11/1971.

Trong bài viết “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” đăng trên Dân Việt (báo điện tử của Trung ương Hội nông dân Việt Nam) ngày 30/4/2011, ông Vũ Quang Hùng kể: “Trung tuần tháng 10 năm 1971, ngay sau khi nhận lệnh của cấp trên về mục tiêu cần diệt là Giáo sư Nguyễn Văn Bông, việc đầu tiên là tôi điểm lại tất cả anh chị em trong đội do tôi (Vũ Quang Hùng, bí danh Ba Điệp) làm đội trưởng. Đội trinh sát võ trang mang bí số S1 hoạt động nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn thành lập chưa đầy một năm, gồm 11 người (kể cả tôi). Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam (tức Thái Doãn Mẫn, sau 30/4/1974 là Đại tá, phó Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh - CHHV) – phó Ban An ninh T4: “Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”.

Đã có nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền và quân đội Sài Gòn bị An ninh T4 bị ám sát. Tuy nhiên vụ ám sát Giáo sư Bông mới là đòn chí tử vào Việt Nam Cộng Hòa.

Như đã phân tích, Giáo sư Bộng là sự lựa chọn hoàn hảo của Mỹ cho “Việt Nam hóa chiến tranh”, chiến lược gây dựng cho chính quyền Sài Gòn khả năng tự đương đầu với địch thủ Cộng sản, trong đó tăng cường năng lực “đấu tranh chính trị” ở vị trí ưu tiên. Thực vậy, Hội nghị Paris đang bàn đến hiệp thương giữa các bên tham chiến người Việt để tổ chức bầu cử cử ở miền Nam Việt Nam. Về phần Tổng thống Thiệu, dù muốn dù không ông cũng phải thừa nhận “Giải pháp Nguyễn Văn Bông” là cách duy nhất có thể giúp Việt Nam Công hòa tiếp tục tồn tại bởi Tướng ba sao này quá hiểu rằng không có cơ may nào, dù là nhỏ nhất, ngăn chặn bước tiến của các lực lượng Cộng sản bằng biện pháp quân sự. Do đó, vụ ám sát Giáo sư Bông dập tắt hy vọng sống sót duy nhất của Việt Nam Cộng hòa. Ông Hoàng Đức Nhã kể: “Khi nghe tin Giáo sư Bông bị ám sát, Tổng thống Thiệu buồn lắm, rất là buồn, Ông ấy nói với tôi: “Đấy chú thấy không, mình cố gắng như thế đó mà không biết thằng nào nó phá” cho dù đã tự động nghi vấn Cộng sản đứng đằng sau.

Thực tế cho thấy sau khi Giáo sư Bông bị ám sát, Tổng thống Thiệu theo quán tính tiếp tục giữ Tướng Khiêm ở vị trí Thủ tướng, đồng nhất với duy trì nội các chiến tranh. Điều này không chỉ củng cố quyết tâm thống nhất đất nước bằng quân sự của những người Cộng sản Việt Nam mà còn biện minh hơn nữa việc theo đuổi chiến tranh đến cùng của họ trong dư luận thế giới nói chung, dư luận Mỹ nói riêng. Tóm lại, cổng Dinh Độc lập bị hai xe tăng mang số hiệu 390 và 843 trong đội hình tổng tấn công của 20 sư đoàn chính quy Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ vào trưa ngày 30/4/1975 chỉ là sự kiện được tiền định bởi vụ ám sát Giáo sư Bông mà thôi!

Để kết thúc bài viết này, tác giả có đôi điều nhận định từ vụ ám sát Giáo sư Bông.

Vợ chồng tác giả và bà Jackie Bông Wright (phải). Virginia, 10, 2019.
Vợ chồng tác giả và bà Jackie Bông Wright (phải). Virginia, 10, 2019.

Đầu tiên, “Việt Nam hóa chiến tranh” hỏng ngay từ đầu vì chiến lược này của Mỹ được giao cho Đại sứ Bunker triển khai, trong khi vị này lại mâu thuẫn với chính mình trong triết lý hành động.

Như đã nói tới, sở dĩ được Tổng thống Johnson phái sang Việt Nam để thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh” là vì Bunker đã giải quyết được khủng hoảng Đôminica bằng giải pháp chính trị, tạo điều kiện cho Mỹ rút quân trước viễn cảnh sa lầy quân sự tại đây. Thế nhưng, “giải pháp chính trị” mà Bunker áp dụng ở Nam Việt Nam lại khác hẳn với “giải pháp chính trị” mà ông triển khai ở Đôminica.

Tại đảo quốc ở Caribê, Bunker nỗ lực đưa các bên tham chiến người Đôminica ngồi lại với nhau để định ra một cuộc bầu cử và ông đã thành công. Trái lại ở Nam Việt Nam, vị đại sứ Mỹ này không hề tìm cách đưa Việt Nam Cộng hòa vào con đường đối thoại với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông chỉ chăm chăm dàn xếp chính trị giữa các thành phần chống Cộng nhưng đối lập nhau trong nội bộ Việt Nam Cộng hòa để chính thể này đủ vững để chống Cộng thành công. Do đó, việc Bunker dàn xếp được một sự “cộng sinh chính trị” giữa Tổng thống Thiệu và Giáo sư Bông cũng không giúp được gì cho việc giảm nỗ lực chiến tranh từ phía những người Cộng sản, nếu không muốn nói là ngược lại. Điều này rốt cuộc đã dẫn đến cái chết của của Giáo sư Bông và của chính Việt Nam Cộng hòa như ta đã thấy.

Tiếp theo, tình báo Cộng sản hoạt động rất hiệu quả.

Như đã trình bày, cuộc thảo luận giữa ông Hoàng Đức Nhã, phái viên của Tổng thống Thiệu, và Giáo sư Bông về việc bổ nhiệm vị này làm Thủ tướng bắt đầu vào ngày 10/7/1971 và kết thúc 2 ngày sau đó. Lời kể của “ám sát viên” Vũ Quang Hùng cho thấy tình báo Cộng sản đã nắm được thông tin này hầu như ngay lập tức. Điều này càng phi thường khi biết rằng mãi nửa tháng sau giới phóng viên báo chí phương Tây tại Sài Gòn – cũng là các nhà tình báo - mới biết chuyện.

Ông Nhã kể: “Cuối tháng 10, François Nivolon, phóng viên báo Pháp Le Figaro gọi điện cho tôi, hỏi: “Thưa ông Tổng trưởng, dường như Tổng thống Thiệu sắp cải tổ nội các và Giáo sư Bông đã được mời bàn chuyện này. Có đúng vậy không?” Khi tôi nói là có nhiều giáo sư Bông trong xã hội thì Nivolon nói: “Chỉ có một giáo sư Bông, bạn của ông đó” bởi biết tôi đã cùng làm việc với Giáo sư Bông trong chuyến đi Pháp. Thấy tôi không phủ nhận cũng không xác nhận tin này thì Nivolon nói: “Đừng giỡn, chúng tôi biết vai trò của ông trong vụ này rồi”. “Chúng tôi đã cố gắng giữ rất mật cuộc thảo luận với Giáo sư Bông với tư cách Chủ tịch Phong trào Cấp Tiến Quốc gia – ông Nhã nói tiếp – vì sợ các đảng phái khác phá thối. Nhưng dựa trên thông tin mà ông Vũ Quang Hùng đưa ra thì tôi nghĩ tình báo Cộng sản thậm chí biết được cuộc thảo luận này ngay khi nó mới bắt đầu”.

Suy cho cùng, thành tích tình báo này của những người Cộng sản không có gì là lạ vì trong tay của Trưởng Ban An ninh T4 Mười Hương và Tình báo Miền có một loạt điệp viên “chui sâu, leo cao” trong bộ máy chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Trong số các điệp viên chiến lược này có Nguyễn Văn Tá (Đặng Trần Đức, Ba Quốc, sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục 12 Tổng Cục Tình báo Quốc phòng, Quân đội Nhân dân Việt Nam), làm việc tại Phủ Đặc ủy trung ương tình báo do Đại tá Nguyễn Khắc Bình (sau này là Thiếu tướng quân lực VNCH), một người thân tín của Tổng thống Thiệu, làm Đặc ủy trưởng. Với chức vụ Trưởng ban chính trị phụ trách các đảng phái, ông Tá chắc chắn được Đại tá Bình giao nhiệm vụ lập hồ sơ về Giáo sư Bông với tư cách Chủ tịch Phong trào Quốc gia Cấp Tiến để báo cáo với Tổng thống Thiệu cho dù Giáo sư Bông được Đại sứ Bunker bảo trợ (13). Do đó, rất có thể chính điệp viên Nguyễn Văn Tá là người đã chuyển cho Tình báo Miền thông tin Tổng thống Thiệu mời Giáo sư Bông làm Thủ tướng, thậm chí trước cả khi ông Nhã khởi sự thảo luận với Giáo sư Bông. Cũng cần nói thêm rằng, Cụm A22 của Tình báo Miền hoạt động tại “Phủ Đầu Rồng” (Phủ Tổng thống VNCH) trong đó có Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng, hai cố vấn Tổng thống Thiệu, đã bị bắt và đưa ra xét xử vào năm 1969.

Cuối cùng, Giáo sư Bông dẫu có chết thảm và thuộc về bên chiến bại bởi qui luật nghiệt ngã của chiến tranh, những đứa con tinh thần xuất sắc của ông, “Vấn đề đối lập trong chánh thể dân chủ” và “Luật Hiến pháp và chính trị học”, vẫn hiện diện như giá trị tham khảo cần thiết cho công cuộc xây dựng một Nhà nước dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

Lời bạt

Năm 1976, quả phụ Giáo sư Bông, bà Lê Thị Thu Vân tái giá. Bà lấy Lacy Wright, một nhân viên ngành ngoại giao, người đã từng phục vụ tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trước 30/4/1975. Tại lễ cưới, cựu Đại sứ Bunker đã đóng vai người cha để trao bà cho Lacy. Ông bà sống với nhau rất hạnh phúc, ngày nào bà cũng nấu cơm cho ông ăn.

Được hỏi thái độ của bà đối với những người đã ám sát Giáo sư Bông, Jackie Bông khẳng định: “Tôi theo Đạo Phật nên tôi không thù hận họ”. Bà nói tiếp: “Năm 1994, Thượng nghị sĩ John McCaine gặp tôi và hỏi tôi suy nghĩ thế nào về việc Quốc Hội Mỹ muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, tôi nói ngay: “Đối với tôi, vấn đề quan hệ ngoại giao với Việt Nam không phải là “why” (tại sao) mà là “when” (khi nào)”. Bà cho biết cả ba người con của bà với Giáo sư Bông, Annie, Victor và Alex, đều đã về thăm và làm việc tại Việt Nam. “Annie, con đầu của tôi – bà kể - nhất quyết về Việt Nam khi hai nước chưa có quan hệ ngoại giao. Con gái tôi nói: “Ba con là người Việt Nam, con là người Việt Nam, con phải về Việt Nam để phục vụ”. Jackie Bông nói thêm rằng Lacy chồng bà đã về thăm Việt Nam những 5 lần nhưng bản thân bà chưa về lần nào vì còn có những băn khoăn, trở ngại.

Cuối cuộc trò chuyện, Jackie Bông cho biết có nhà xuất bản ở Việt Nam đề nghị bà cho họ in lại cuốn “Luật Hiến pháp và chính trị học” của Giáo sư Bông nhưng bà chưa quyết định. Dẫu vậy, tác giả bài viết này tin rằng một ngày không xa bà sẽ lại có mặt ở Việt Nam, trước hết để dự buổi lễ tái sinh tác phẩm ấy của người chồng quá cố của bà, một “trí thức uy tín”.

Chú thích

(9) Chiến công xuất sắc của Lực lượng An ninh miền Nam, Hải Giang (theo Lịch sử Công an nhân dân), An ninh Thế giới Online, ngày 03/03/2008.

(10) Trần Quốc Hương từng làm việc bên cạnh các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, từng là tù nhân của chính quyền thực dân Pháp và chính quyền Ngô Đình Diệm. Ông là người tổ chức và cũng là cấp trên trực tiếp của những điệp viên chiến lược cộng sản nổi tiếng nhất trong Chiến tranh Việt Nam là Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo và Phạm Xuân Ẩn.

(11) “Bí mật điệp báo chưa từng công bố: đốt cháy con bài của Mỹ”, Nam Thi, Thanh Niên ngày 2/5/2000.

(12) Trong bài “Những ký ức hào hùng của người trinh sát vũ trang nội đô” của Phú Lữ, Công an nhân dân ngày 05/02/2018, Thiếu tá Công an Lê Việt Bình cho biết: “Ban An ninh T4 thuộc Khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Ban này có các tiểu ban như Bảo vệ chính trị, điệp báo, hậu cần, an ninh vũ trang, giao liên... Đến tháng 4-1965, Ban An ninh T4 lập thêm một tiểu ban mới: Trinh sát vũ trang, bí danh là B5. Khác với An ninh vũ trang chuyên hoạt động ở vùng nông thôn và vùng ven với nhiệm vụ chống các trận càn quét, bảo vệ căn cứ, bảo vệ các lãnh đạo..., địa bàn chiến đấu của Trinh sát vũ trang là vùng nội đô Sài Gòn - Gia Định. Nhiệm vụ của Trinh sát vũ trang không chỉ là điều tra nghiên cứu, thu thập tình hình phục vụ tác chiến, mà chủ yếu là tiêu diệt “Việt gian, ác ôn” nhằm làm thất bại các ý đồ chiến lược của Mỹ -Thiệu, đập tan ách kìm kẹp của địch, tạo điều kiện phát triển các phong trào đấu tranh của đồng bào đô thị”.

(13) Trong bài “Ông tướng tình báo bí ẩn và những điệp vụ siêu hạng (kỳ 21): Khi Mỹ trở thành đối tượng của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo” của Hoàng Hải Vân - Tấn Tú, Việt Báo (Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI) - Bộ thông tin và truyền thông) ngày 11/3/2004, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (Nguyễn Văn Tá, Ba Quốc) cho biết “nhiệm vụ chủ yếu của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo là bảo vệ Nguyễn Văn Thiệu, đối tượng của Phủ Đặc ủy là Mỹ và các thế lực chống đối trong và ngoài chính quyền”.

Tác giả là một luật gia, học giả và nhà bất đồng chính kiến, cựu tù nhân chính trị Việt Nam./-

Thursday, 18 February 2021

MỘT ĐOẠN TRAO ĐỔI GẦN ĐÂY./-TCL

Một giờ với bà Jackie Bong-Wright
Last updated Feb 8, 2021
 Bà Jackie Bong-Wright (ảnh: jackiebongwright.com)
 179

MẠNH KIM
80 tuổi nhưng hoàn toàn minh mẫn, bà có thể kể lại từng chi tiết những sự kiện quá khứ như thể thời gian không thể tàn phá ký ức bà, từ chuyện người chồng – giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chánh VNCH, bị ám sát tại Sài Gòn cách đây gần tròn 50 năm (tháng 11-1971) đến những hoạt động xã hội-chính trị tích cực sau khi đến Mỹ. Bà là Jackie Bong-Wright – một chứng nhân lịch sử chiến tranh Việt Nam mà không chỉ cá nhân bà mà cả gia đình bà cũng là một phần trong đó. Buổi nói chuyện với bà những ngày giáp Tết Tân Sửu 2021 không chỉ khơi gợi hình ảnh và dữ liệu lịch sử mà còn cho thấy nghị lực đáng nể của một mẫu phụ nữ Việt Nam hiếm gặp: rất “Tây” trong tư duy nhưng rất “Ta” trong triết lý sống đậm đặc truyền thống Á Đông.
 Bà Thu Vân (Jackie Bong) và Giáo sư Nguyễn Văn Bông cùng hai con (ảnh tư liệu)
Bà – tên Việt Nam là Lê Thị Thu Vân – thích miêu tả mình như một cánh bướm đầy màu sắc, bay nơi này nơi kia, nhặt nhạnh những mẫu văn hóa và mang đến sự hài hòa ở bất cứ nơi nào mình có mặt. Khó có thể kể hết những đóng góp của Jackie Bong-Wright cho cộng đồng người Việt trong suốt bốn thập niên kể từ khi bà đến Mỹ. Cũng khó có thể tưởng tượng một phụ nữ gầy nhỏ – hệt như ngoại hình nhỏ gầy của Đệ nhất phu nhân Nancy Reagan, người mà bà từng được mời gặp trực tiếp trong Tòa Bạch Ốc – lại ẩn tiềm nhiều năng lượng như vậy. Triết lý sống của bà là niềm tin. Niềm tin giúp bà vượt qua nhiều biến động từng đánh gục mình mà niềm tin cũng giúp dân tộc vượt qua nhiều thăng trầm. Bà định nghĩa thành công không phải là việc lên đến đỉnh nhanh và cao như thế nào mà là khả năng bật dậy cao và nhanh như thế nào khi ta rơi chạm đáy. Những sự kiện nào đáng kể nhất để minh họa cho sự “bật dậy” khi bị rơi xuống đáy mà bà có thể kể lại – tôi hỏi…
 Bà Jackie Bong-Wright thời còn trẻ (ảnh tư liệu)
Lần thứ nhất là sự kiện ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông, khi bà sống với ông vỏn vẹn sáu năm, có ba mặt con, và lúc đó bà chỉ hơn 30 tuổi. Cái chết bi thảm của chồng đã làm gục ngã bà hoàn toàn. Trong nhiều ngày, bà nằm nhẹp gần như bất động. Khóc nhiều đến mức mắt sưng húp không thể đọc chữ. Bà không biết nên oán giận ai. Chị ruột của bà đã tập kết ra Bắc “đi theo cộng sản”; trong khi hai người anh/em trai của bà khoác áo lính VNCH và chồng bà chọn con đường chính trị đối lập với bộ máy đang cai trị VNCH của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Bà bỏ ăn và mất ngủ suốt nhiều ngày. Người nhà đưa bà vào Chợ Lớn gặp một ông thầy thuốc Tàu. Bà bắt đầu ngủ được. Quan trọng hơn, bà bắt đầu nghĩ đến các con. Chúng sẽ ra sao nếu thiếu bà? Ba đứa con nhỏ là động lực để bà bật dậy. Nhớ lại hình ảnh người chồng đầy ý chí, nỗ lực vươn lên từ hoàn cảnh cực kỳ nghèo khổ và học miệt mài để cuối cùng trở thành một giáo sư luật lừng lẫy, bà tự nhủ bà phải cứng rắn và mạnh mẽ đứng lên để không phụ lòng chồng. Hai tháng sau, bà bỏ việc dạy Pháp văn và làm việc cho Trung tâm Văn hóa Việt Mỹ (thuộc Cơ quan dịch vụ thông tin Hoa Kỳ – U.S. Information Services) với vị trí giám đốc.
Bà tổ chức các buổi thuyết trình, hội nghị, chương trình hòa nhạc, triển lãm, dạy nghề… Tiếp đó, bà vận động các chiến dịch vì nữ quyền. Bà thậm chí thực hiện một cuộc “cách mạng” chưa từng có ở miền Nam: vận động Quốc hội VNCH thông qua luật kế hoạch hóa gia đình, bất luận báo chí lên án gay gắt vì nghĩ rằng bà cổ xúy phá thai trong khi thật ra bà vận động ngừa thai. Bà trở thành một trong phụ nữ sáng chói nhất xã hội lẫn chính trường VNCH giai đoạn đó dù bà không hề là chính khách và có tham vọng chính trị. Bà bật dậy mạnh đến mức được báo chí Mỹ thường xuyên nhắc đến, với vai trò và sự xuất hiện liên tục của bà trong xã hội miền Nam. Năm 1972, bà được mời ăn trưa với Phu nhân Thống đốc California Nancy Reagan (người sau này là Đệ nhất phu nhân Tổng thống Mỹ) tại Sài Gòn. Năm 1973, tờ New York Times phỏng vấn bà. Trong cùng năm, bà dự một hội nghị Liên Hiệp Quốc về phụ nữ…
Lần thứ hai bà “bounce back” là khi đến Mỹ năm 1975. Nếu năm 1971 bà chỉ mất chồng thì năm 1975 bà mất tất cả. Bà không biết phải làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng như thế nào. Xin việc nơi nào cũng bị từ chối. Xuất thân từ gia đình cực giàu, sống nhung lụa như tiểu thư, học trường Pháp ngữ ở Đà Lạt; rồi du học Pháp, Anh và sau đó Mỹ, bà có bằng cử nhân Pháp nhưng không có bằng… đánh máy và gần như không có kỹ năng chuyên môn nào khác ngoài trình độ ngoại ngữ và ngoại giao. Bà thấy mình vô dụng. Bà khóc cho sự “bất tài” của mình. Một lần nữa, bà lại nghĩ đến các con. Bà không thể gục ngã để con bà bơ vơ nơi xứ lạ. Bà bật dậy.
Với sự giúp đỡ của cựu Đại sứ Mỹ tại VNCH Ellsworth Bunker, bà dần hòa nhập vào cuộc sống mới. Bà đi làm ở Lacaze Gardner School tại Washington DC. Lúc này, làn sóng tỵ nạn người Việt đến Mỹ bắt đầu tăng. Bà lao vào việc giúp đỡ họ. Bà cùng Hội Phụ Nữ Thái Bình Dương Á Mỹ (Asian Pacific American Women) vận động Quốc Hội Mỹ giúp người tỵ nạn tái định cư. Bà còn thành lập tổ chức phi lợi nhuận Dịch Vụ Xã Hội Tỵ Nạn Đông Dương (Indochinese Refugees Social Services- IRSS) để mở nhà tạm trú, tổ chức lớp dạy nghề cho những người Việt chân ướt chân ráo mới sang… Sau khi mọi việc tạm ổn và cảm thấy ít nhiều chu toàn nghĩa vụ xã hội, bà ghi danh vào Đại học Georgetown, nơi bà học với Tiến sĩ Madeline Albright, người sau này là Ngoại trưởng Hoa Kỳ trong Nội các Bill Clinton. Hai năm sau, năm 1984, bà lấy bằng cao học (master) về bang giao quốc tế…
Lần thứ ba bà bật dậy, chính xác hơn là bà có thêm động lực và niềm tin để bật dậy, là cuộc tình với ông Lacy Wright, một viên chức ngoại giao Hoa Kỳ. “Nhờ anh ấy, tôi lấy lại hy vọng. Anh ấy kéo tôi ra khỏi những cơn trầm cảm. Anh ấy yêu thương và chiều chuộng tôi hết mực. Anh ấy cũng thương yêu các con tôi..../-