Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Saturday, 30 May 2026

ĐẢNG ONE NATION (ÚC) KÊU GỌI CẤM "BỊT MẶT-TRÙM ĐẦU"- LẬP TRƯỜNG NẦY ĐANG HỐT PHIẾU CỬ TRI Ở ÚC CHÂU./-Mt68

___________

Ban the burqa: Pauline Hanson calls for national prohibition in Australia

Story by Sky News Australia

Sky News Australia

‘Ban the burqa’: Pauline Hanson calls for national prohibition in Australia



One Nation leader Pauline Hanson has called for a ban on the burqa and suggested restricting migration from some countries.

“I want to ban the burqa,” Ms Hanson said.

“If you’ve got people coming from these countries that are radical Islamists and their ideology is not compatible with our country, yes, I do, so there’s certain countries I probably would ban.

 

‘Ban the burqa’: Pauline Hanson calls for national prohibition in Australia

“I know the former government … were very mindful where they brought migrants in from.

“I do want to ban the burqa because it’s incompatible with our culture and our way of life, and it should not be worn in Australia.”./-

Friday, 29 May 2026

 NGƯỜI TÙ CẢI TẠO, CỰU PHÓ TỈNH BIÊN HÒA./-Mt68

_________________

Xuân Trên Núi Hoàng LiênNhững mùa xuân tù đày trên đất Bắc

Nguyễn Nhơn

Đầu Đông năm 76, hai ngàn tù cải tạo Miền Nam lênh đênh trên chiếc tàu Hồng Hà trên đường ra Bắc. Đổ bộ lên Bãi Cháy, Hải Phòng.Đoàn tù chia thành hai nhóm. Một hướng về Cao Bằng – Lạng Sơn tiến phát. Một quẹo trái thẳng về Hoàng Liên Sơn. Sau một ngày và gần một đêm rong ruổi, đoàn tù nhóm tôi đặt chân xuống “Trại Cải Tạo Trung Ương Số 1″, Lào Cai lúc 3 giờ sáng. Đường vào các phòng giam chật hẹp, đèn đóm lập lòe, chốc chốc hiện ra khung cửa hẹp, trông giống hệt cảnh Địa ngục A Tỳ, vẽ trên vách các ngôi chùa cổ Miền Nam.

Mùa Đông năm đó thời tiết thật là khắc nghiệt, đó là lời của bọn cai tù nhận định như vậy. Ban ngày còn được 5-7 độ C, ban đêm dưới 0 độ. Đội 11 chúng tôi khi đó chưa được phân công chẻ tăm mành xuất khẩu nên được xua đi, xa cách trại 5-3 cây số, cuốc đất trồng mì (sắn). Theo “kỹ thuật thâm canh tăng vụ xã nghĩa hiện đại” thì … hốc mì phải vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc, rồi bỏ phân xanh xuống, tức là quơ lá cây rừng bỏ xuống đầy hốc, lấp đất lại, ủ năm ba bửa mới bỏ hom mì xuống. Trong Nam, chỉ cần cuốc một cuốc, bỏ hom mì xuống, lấy chân gạt đất lắp lại là xong. Còn ở đây, đồi núi toàn sỏi đá, không làm như trên thì hom mì không làm sao bắt rễ nổi. Cho nên phải làm như vậy chớ chẳng phải kỹ thuật xã nghĩa cái mụ nội gì! 

Đội 11 triển khai đội hình, tức là dàn hàng một vòng quanh ngọn đồi trọc, vì trước đó tù hình sự đã phát xong lùm bụi rồi, bắt đầu cuốc dần lên đỉnh. Sức tôi lúc đó cầm cuốc còn không vững, lại thêm trời lạnh như cắt, tay chưn run lập cập, dẫu cho có dùng hết “tinh thần cách miệng tiến công”, ra sức cố cù lừ cuốc xuống thì chỉ thấy sỏi đá văng tứ tung mà lưỡi cuốc không ăn xuống được bao nhiêu! Tên cai tù trẻ nhìn tôi, lắc đầu ngán ngẩm, bèn bảo tôi chạy đi gom chà, đốt một đống lửa to cho nó ngồi sưởi ấm. Nghỉ giữa buổi, chúng cho phép anh em xúm quanh đống lửa, sưởi ấm một lúc. Nhìn anh em mặt mày tái xanh, tái xám, ngồi ủ rũ giống như một lũ u hồn, oan khuất. Lại thêm gió giật từng cơn, đã lạnh càng thêm giá buốt, tôi cám cảnh sanh tình, đặt tên cho ngọn đồi đó là “Đỉnh Gió Hú” cho nó văn chương, thơ mộng. Chiều xuống, sương mù giăng mắc, gió rét căm căm, bọn tù lầm lũi bước. Về đến trại, trời đã tối mịt mùng. Nuốt vội một chén đá duy nhất củ mì băm mà nơi đây gọi là “sắn dui” là cai tù đã lùa vào phòng giam, khóa lại. Ai nấy lật đật giăng mùng. Bao nhiêu mền chiếu đều đem ra quấn vào người. Riêng tôi, lấy hết mền chiếu trải phía dưới, quấn quanh người tấm nệm mỏng của trại tù, ngồi dựa vách run rẩy, chống lạnh cho đến khi mệt mỏi, thiếp đi. Phòng giam chật hẹp, chứa 50 nhân mạng mà lúc nầy vắng lặng như nhà mồ vì không ai đủ sức cựa quậy, đi lại. Thuở nhỏ, ở Miền Nam ấm áp quanh năm nên nghe ông già, bà cả ví von “lạnh thấu xương, lạnh nứt da, nứt thịt hoặc lạnh trong xương lạnh ra” đều không hiểu nổi. Lúc này tuổi ngoài 40 mới hiểu được thế nào là cái lạnh trên núi rừng Việt Bắc.

Cho nên một buổi sáng tàn Đông, nhằm ngày Chúa Nhật, cai tù mở cửa trễ. Đang ngồi thiêm thiếp, bất đồ anh bạn nằm bên cạnh mở tung cửa sổ ra. Ngoài song cửa hoa rừng nở rộ một màu trắng xóa khắp núi đồi, báo hiệu mùa Xuân đến. Chỉ trong một thoáng, tôi cảm thấy trong lòng bừng nở một sức sống mới: Sự HỒI SINH của Mùa Xuân. Cho nên sau nầy, khi đọc Thiền Luận của Suziki, dẫn bài “Hài cú” của một thi sĩ Nhật Bản, nhìn một đóa hoa đơn côi bên vệ đường, cảm tác nên, để dẩn giải về nguyên lý “Chẳng phải một, chẳng phải hai” của Thiền Đạo, tôi cảm nhận được liền. Cũng tương tự, khi đọc bài Xuân Thiền cuả Trúc Lâm Trần Nhân Tôn:

Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không
Xuân về hoa nở, rộn trong lòng
Đến nay hiểu được điều không sắc
Xuân đến, giường Thiền, ngắm rụng hồng

Hoặc giả hai câu trứ danh:

Đừng tưởng Xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước, MỘT CÀNH MAI

Tết năm đó, trên núi rừng Hoàng Liên, chúng tôi có một điều vui nhỏ, mỗi người được một cặp bánh chưng nhân đậu, có một lát thịt mở đàng hoàng, tuy nhỏ và mỏng. Đáng ghi nhớ là một sự kiện chấn động: Đó là tin hai người tù cải tạo Miền Nam toan vượt ngục, bị bắt lại. Ngày mồng ba tết năm đó, toàn phân trại K1 tập hợp tại Hội trường để nghe viên Chúa ngục xỉ mắng và đe dọa về vụ nầy. Về sau, biết được hai người anh em dũng cảm nầy là: Thiếu Tá TQLC Tôn Thất Thiện Nhơn và một Trung Tá HQ dường như tên là Phát.

Đó là cái Tết đầu tiên trên đầu phía Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn. Về sau, khi từ phòng kỷ luật ra, anh Tôn Thất Thiện Nhơn được bố trí về Đội 11 chẻ tăm mành của chúng tôi. Lúc nầy đã sang Hè, trời nóng như thiêu, như đốt. Cột kèo bằng tre nứa, giữa trưa nổ đom đóp.Trong một buổi họp đội do tên quản giáo chủ trì, anh T3 Nhơn liền cho nổ bom, long trời, lở đất, chấn động cả toàn trại. Chẳng là vừa khi khai họp, một tên “ăng ten” hèn nhát đứng lên tố cáo, “Nhờ ơn Bác đảng nuôi cho ăn học, nhà cao, cửa rộng, áo quần lành lặn, mà có người còn phát ngôn phản động… “. Tên nầy chưa kịp chỉ danh ai thì anh T3 Nhơn đã hùng hổ đứng vụt lên, bất kể cai tù dọa nạt, hô lớn như vầy: ” Đồ bợ đít, ngồi xuống. Tao chẳng những không biết ơn mà tao thù, tao oán. Bởi vì bác đảng mà thân tao tù tội, gia đình tan nát, đói khát, rách rưới tả tơi. Còn nhà cao, cửa rộng hả? Coi kìa! cái phòng giam chật hẹp, nóng như thiêu đó giống như Hỏa ngục A tỳ. Đồ bợ đít hỗn xược! Câm miệng, không thôi tao dọng vỡ mồm”. Trước tình cảnh lỡ khóc, lỡ cười, tên cai ngục bèn đứng dậy … dong thẳng một lèo … vì không có võ trang bảo vệ.

Mùa Xuân năm Kỷ Mùi 78 kế tiếp là một cái Tết buồn. Đêm 29 Tết, bác Hồ Đắc Trung cựu Dân Biểu và Tỉnh Trưởng Tây Ninh bị đau ruột trầm trọng. Trại chở đi Bệnh Viện Lào Cai cấp cứu, mãi không thấy về, không biết thân xác vùi dập nơi đâu! Đó là cái chết đầu tiên của người tù cải tạo Miền Nam trên núi rừng Hoàng Liên. Lại thêm năm đó, trại cạn láng rồi nên mỗi thằng tù chỉ được phát cho một cặp bánh chưng mỏng lét, ruột toàn khoai lang. Đến nổi bọn cai ngục mắc cở, chống chế, “Thôi mấy anh ăn đỡ cái Tết xoàng ở đây để năm tới về nhà ăn Tết vui hơn”.

Mà quả có thế thật, vì cuối tháng sáu năm đó, toàn trại, trừ hình sự và các anh Biệt Kích Miền Nam bị giam cầm ở đây từ trước, được lịnh chuẩn bị di chuyển. Có điều … KHÔNG phải về NAM mà là về Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, về phía hữu ngạn sông Hồng. Trại nầy nổi danh là “MỒ CHÔN TÙ CẢI TẠO MIỀN NAM”! Vốn nó là trại cải tạo địa phương cải sang. Nhà cửa lụp xụp, lợp toàn bằng lá cói, lương thực dự trữ không có. Cho nên chỉ sau đó một tháng, xãy ra trận “dịch chết đói” mà họ gọi văn hoa là “suy dinh dưởng”. Có trên một trăm anh em tù cải tạo Miền Nam, rải rác khắp 5 phân trại, nhất là phân trại K1, K2, ngã gục, vùi thây khắp các đồi trồng khoai mì.

Mùa Xuân năm Canh Thân 79, vì suốt năm dài không nhận được chút ít tiếp tế nào của gia đình từ trong Nam gởi ra, nên sức dự trữ trong cơ thể cạn rồi, ai nấy đều phờ phạc, lửng lơ như xác chết chưa chôn. Tuy nhiên, tôi có một kỷ niệm cuối cùng với Đại Tá Nguyễn Văn Của, Tỉnh Trưởng Bình Dương. Tết năm đó, họ để cho tù đi lại các khu, thăm hỏi nhau. Khu tôi ở cách khu ĐT Của chỉ một bức tường cao. Tôi qua đó tìm thăm Ông. Thấy tôi, ông bước lại bá cổ, mừng rở. Tôi dang ra nhìn Ông đùa, “Coi bộ còn khá lắm”. Ông vừa chửi thề, vừa kéo lưng quần ra, “Coi nè, lưng quần tao hụt cả tấc vầy! Được, được cái nỗi gì!” Lúc nầy quả thật Ông Tỉnh Trưởng đã ốm yếu quá rồi. Tôi chỉ đùa cho Ông vui vậy thôi. Mùa Đông năm ấy, Ông bị phổi có nước. Mặc dầu anh em ở Bệnh xá, cũng là tù cải tạo, tận tình giúp đở, nhưng mà Ông yếu quá, quỵ xuống vĩnh viển.

Ngày chôn Ông, tôi đang cuốc đất bên vệ đường. Chống cuốc, đứng nhìn anh em đội Cải Lương quảy chiếc hòm dã chiến, đầu cao đầu thấp, lắt lẻo bước đi, trông thật thảm thương. Đàng sau chiếc hòm đong đưa đó, không có một ai thương khóc tiễn đưa. Tôi đứng đó, thầm khóc tiễn Ông mà cũng khóc cho thân phận khốn khổ của chính mình. Nói rằng khóc thầm là bởi vì, nếu chảy nước mắt mà bọn cai tù hay ăng ten nhìn thấy thì vừa bị chửi, vừa bị làm kiểm điểm về tội “không yên tâm cải tạo”.

Hồi đó, mùa Đông năm nào hay nói cho đúng là bắt đầu từ đầu tháng 9 tức là mới đầu Thu là tôi bắt đầu ôm bụng, rên rỉ cho đến hết Đông qua Xuân. Cho nên kể từ khi ĐT Của thượng đồi chè, tức là chôn bên cạnh đồi trồng trà, anh em thường kháo nhau, “không biết mùa Đông năm nay Phó Nhơn có qua khỏi không hay là lên đồi chè làm Phó cho Ông Của?”. Tôi nghe thấy được, liền dẫy ra, “Ổng có kêu thì kêu thằng Vinh đó! Nó là Phó của ổng chớ can hệ gì tới tao.”

Tuy nói đùa như vậy mà suýt tí nữa thì tôi đã theo Ông Của thật. Giữa tháng 12 năm 80, tôi đau một trận, thập tử, nhất sinh. Không phải ví von mà thật sự là như vậy. Đêm đó, khoảng 10 giờ, tôi bắt đầu lên cơn đau. Đến nửa đêm, chịu không nổi, la hét dữ dội, kêu lính gác, đòi cho đi Bệnh xá. Tên nầy lém lỉnh, dở trò hoãn binh, bảo chờ đi kêu cai ngục mở khóa cửa. Tôi chỉ biết lăn lộn, rít lên từng cơn. Gần sáng, tôi chịu hết nổi, làm liều, bước lại cửa sổ, thò tay qua song sắt, kêu toáng lên, xin cho một mủi Atropine. Thằng lính gác có biết trô pin, trô péc cái gì, nạt lại bảo chờ một chốc là mở khóa. Tới sáng, lả người nên khi cửa phòng giam được mở, tôi chỉ lờ mờ nhận thấy anh Mai, Đội phó Đội Rau Xanh, quấn mền, bồng đi. Đến Bệnh Xá, anh vừa đặt xuống là tôi bất tỉnh nhân sự. Từ đó về sau, tôi không biết gì nữa. Tỉnh lại thì đã nửa đêm, lại bắt đầu rên rỉ. Anh Lang cũng là tù cải tạo, được cử làm y tá trực Bệnh Xá, nghe thấy, bước lại nhỏ nhẹ bảo, “Cả Bệnh Xá chắt chiu mãi mới có được 5 ống Atropine. Từ sáng đến giờ, thấy anh đau đớn quá, không cầm lòng được, đã chích cho anh hết rồi. Bây giờ, dẫu còn thuốc cũng không dám chích cho anh nũa. Thôi, ráng ẩn nhẫn cho qua cơn.” Tôi dật dờ, khi tỉnh, khi mê như vậy trải qua 4 ngày, đêm. Sáng ngày thứ năm, thấy tôi có vẽ tỉnh táo, anh Lang cầm một ống thuốc đưa ra trước mặt tôi, không rõ là thứ thuốc gì, miệng nói, “Thuốc nầy khá mạnh, anh liệu sức kham nổi không, tôi chích cho.” Tôi cùng đường rồi, đánh liều, đưa tay ra. Quả nhiên, mủi kim chích chưa kịp rút ra, tôi cảm thấy như có ai cầm búa tạ đập mạnh vào ngực. Vừa tức thở, vừa nghe khí huyết nhộn nhạo, dâng lên, dâng lên. Sức sống từ mười đầu ngón tay, ngón chân thoát ra khỏi thân thể. Tôi kêu lên, “Anh Lang ơi! Tôi mệt quá!” mà nghe văng vẳng như tiếng của ai đó chớ không phải tiếng của mình. Tôi mơ hồ nghe thấy anh bảo, “Nằm xuống, nằm xuống.” Nếu tôi nghe lời anh, nằm xuống, có lẽ đã đi luôn rồi! May sao, tôi chỉ chống hai tay ra sau cho vững, nửa nằm, nửa ngồi, cố ngáp ngáp thở. Đợt thứ nhứt vừa hạ xuống, đợt nhộn nhạo thứ hai lại bùng lên. Có điều lạ lùng là lúc nầy tôi không cảm thấy đau đớn gì. Trí óc vẫn sáng suốt. Nhìn ra bên ngoài, buổi sáng mùa Đông mà lại có ánh nắng vàng le lói. Đồi núi dường như nhảy múa, khi gần khi xa. Tôi thầm than, “Cả đời không làm gì ác, sao đành phải vùi thây nơi rừng núi xứ lạ, quê người?” Rồi cố gắng hít thở. Bỗng nhiên, tất cả đều lắng xuống, thân tâm cảm thấy êm ả lạ thường. Đến nỗi khi về lại giường, nằm xuống đi vào giấc ngủ cô miên, êm đềm như chưa từng thấy.

Hồi đó, tôi chưa đọc Kinh Phật nên không lý giải được hiện tượng kể trên. Về sau, trong những năm cày cuốc trên Khu Kinh Tế Mới Bảo Lộc, tôi lần mò đọc Kinh Luận mới vỡ lẽ. Nếu hồi đó tôi hiểu được lẽ “Tùy Thuận Duyên Giác”, yên lặng nằm xuống, có lẽ đã dứt nghiệp từ khi ấy. Nhưng vì không hiểu biết, tôi lại cưỡng cầu, lại còn dấy lên “một niệm” oan khuất nên lại tái sinh. Nói cho rõ thì như vầy: Đạo Phật giải thích về Nghiệp bằng hình ảnh một mủi tên, ví như thân mạng. Nghiệp lực là sức mạnh phóng mủi tên thân mạng lao đi. Nghiệp dứt, mủi tên hết đà rơi xuống, thân mạng cũng dứt theo. Lúc đó, tôi đâu hiểu lý nầy nên mới cưỡng cầu, dấy lên một niệm oan khuất, tạo ra một Nghiệp Lực mới, đẩy mủi tên thân mạng tiếp tục duyên nghiệp mới.

Trên đây là những MÙA XUÂN TRÊN NÚI HOÀNG LIÊN, bởi vì nói là Tân Lập, Vĩnh Phú, kỳ thật nơi đó vẫn là một thung lũng hẹp nằm giữa rặng Hoàng Liên trên Đất Bắc

Xuân năm nay là bắt đầu năm thứ năm, sống trên đất Mỹ. Bốn Mùa Xuân qua đều không cảm thấy gì là Tết. Hội Tết ở đây, dẫu cho tổ chức khéo léo cách mấy cũng không thể tạo nên “không khí” của Ngày Tết nơi Quê Nhà. Con lân múa trong Hội Chợ Mỹ không thể nào sinh động như con cù giỡn pháo trên đường phố quê tôi. Con cù râu bạc đó làm thế nào sánh được với con cù râu bạc của Hội Chùa Bà, xứ THỦ, Bình Dương.

Tìm đâu thấy cành mai vàng rực rỡ của Ngày Tết ở Quê Nhà!? Tìm đâu thấy cảnh trẻ em mặc quần áo Tết sặc sỡ, vui đùa trên hè phố, thỉnh thoảng đốt trái pháo chuột nổ tì tạch!? Cho nên ngày Tết, cứ nằm nhà, ngâm Kiều, giải khuây:

Ngày Xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Hoặc giả, xót thân 15 năm lưu lạc phong trần thì ngâm Kiều vịnh:

Tấm lòng nhi nữ thương mà trách
Chẳng trách chi Nàng, trách Hóa công

Nguyễn Nhơn
Cuối Đông 1994
Quy định mới phủ bóng lên giấc mơ thẻ xanh Mỹ. 

 Thay đổi mới trong quy định xin thẻ xanh của Mỹ khiến người nhập cư lo ngại quá trình xét duyệt sẽ kéo dài và thêm nhiều bất định.


Cơ quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ngày 22/5 thông báo rằng những người nước ngoài đang ở Mỹ và muốn xin tư cách thường trú nhân (thẻ xanh) sẽ cần phải rời Mỹ và trở về quê nhà nộp đơn, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt nhưng chưa nêu rõ.

Ngay lập tức, điện thoại của luật sư di trú Flavia Santos Lloyd liên tục đổ chuông, khi khách hàng của bà băn khoăn, lo lắng về hệ lụy của chính sách mới. Lloyd không chắc phải trả lời họ thế nào, nhưng bà biết thay đổi này sẽ làm chậm quá trình xử lý hồ sơ xin thẻ xanh.

"Điều này gây ra tâm lý e ngại. Chúng tôi có một số hồ sơ chuẩn bị xử lý, nhưng giờ tôi thấy rõ là nên chờ xem tình hình thế nào đã", bà nói.

Chính sách này có khả năng ảnh hưởng đến hàng trăm nghìn người nộp đơn xin thẻ xanh mỗi năm ở Mỹ, được coi là một phần trong bước chuyển hướng của chính quyền Tổng thống Donald Trump nhắm vào các con đường nhập cư hợp pháp, sau khi đã tập trung phần lớn cho việc xử lý người di cư bất hợp pháp tại Mỹ kể từ năm ngoái, theo Rebecca Santana, nhà bình luận AP.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, người nước ngoài cư trú hợp pháp được phép nộp hồ sơ và hoàn tất toàn bộ quy trình xin thẻ xanh (thường trú nhân) ngay tại Mỹ. Nhóm này gồm người kết hôn với công dân Mỹ, người sở hữu visa lao động hoặc du học, người tị nạn, người xin tị nạn chính trị và nhiều diện khác.

Tuy nhiên, với thông báo mới của USCIS, điều này đã thay đổi. Những người này sẽ phải quay về quê nhà, nộp hồ sơ tại văn phòng lãnh sự Mỹ ở địa phương và chờ xét duyệt. Họ sẽ không được quyền kháng cáo hay khiếu nại nếu hồ sơ bị quan chức lãnh sự bác bỏ.

USCIS cũng ban hành một bản ghi nhớ chi tiết hơn nhằm hướng dẫn nhân viên xét duyệt hồ sơ. Các chuyên gia về di trú cho hay bản ghi nhớ này có nhiều thông tin phức tạp hơn, gây mơ hồ về phạm vi áp dụng của quy định mới.

Bộ An ninh Nội địa ngày 27/5 cho hay sự thay đổi này sẽ không ngăn cản bất kỳ ai có đủ điều kiện "một cách hợp pháp và đúng đắn" nhận được thẻ xanh, dù nó sẽ khiến một số người phải nộp đơn bên ngoài nước Mỹ. Bộ này nói chính sách sẽ "không có tác động đáng kể nào đối với những người nộp đơn có trình độ cao và các chuyên gia có tay nghề cao luôn tuân thủ luật pháp".

Công ty luật di trú Boundless Immigration trong bài đăng diễn giải về chính sách mới trên blog riêng cho biết các nhân viên xét duyệt đang được hướng dẫn "áp dụng các tiêu chuẩn tự quyết một cách nghiêm ngặt hơn". Tuy nhiên, họ cho rằng quy định này không hoàn toàn chấm dứt quy trình chuyển đổi tình trạng cư trú đối với "những người nộp đơn đủ điều kiện", tùy thuộc vào loại thị thực họ sở hữu.

Shev Dalal-Dheini, giám đốc cấp cao về quan hệ chính phủ tại Hiệp hội Luật sư Di trú Mỹ, cho biết chính sách mới có thể nhắm vào những người ở quá hạn thị thực, như cha/mẹ của công dân Mỹ ở lại sau khi thị thực hết hạn, nhân viên một công ty được thuyên chuyển đến Mỹ, hoặc những người đang ở nước này bằng thị thực dành cho giới tăng lữ và chức sắc tôn giáo.

"Có vẻ như đối tượng mà họ nhắm tới là những người đang ở Mỹ quá thời hạn lưu trú cho phép", bà nói.

Kevin Miner, cộng sự của công ty luật di trú Fragomen, cho biết ông kỳ vọng những người sử dụng thị thực dựa trên việc làm, như H-1B, sẽ được miễn trừ. Đây là nhóm thị thực được gọi là "dual-intent" (hai mục đích), cho phép người mang visa không định cư tại Mỹ nộp đơn xin thẻ xanh. Bản ghi nhớ cũng nêu rõ các loại visa dual-intent có thể nằm trong diện ngoại lệ.

"Đó có lẽ là các trường hợp sẽ tiếp tục được tiến hành quy trình xét duyệt bình thường và chúng ta sẽ không thấy tác động đáng kể nào", Miner nhận định.

Matthew Soerens, thành viên của tổ chức giúp tái định cư người tị nạn tại Mỹ mang tên Cứu trợ Thế giới, cho biết từ ngữ trong bản ghi nhớ đề cập đến các trường hợp người nhập cư phải chuyển đổi tình trạng cư trú của họ tại Mỹ. Điều đó khiến Soerens hy vọng chính sách mới sẽ không áp dụng cho người tị nạn.

Soerens nói thêm người tị nạn, vốn là những người phải chạy trốn bạo lực ở quê hương, đã đáp ứng một bộ tiêu chí cụ thể để được nhận vào Mỹ sau quá trình thẩm định lâu dài. Họ bắt buộc phải thực hiện quy trình xin thẻ xanh một năm sau khi đến Mỹ và không thể trở về nhà vì những rủi ro có thể đối mặt ở đó.

Tuy nhiên, những người vào Mỹ theo diện nhập cảnh tạm thời với lý do nhân đạo cũng có thể bị ảnh hưởng, theo Soerens. Nhiều người trong số đó có thể đã có gia đình ở Mỹ hoặc họ đã kết hôn với công dân Mỹ, cho phép họ có đủ điều kiện để nộp đơn xin thẻ xanh. Tuy nhiên, quy trình xét duyệt giờ đây có thể trở nên phức tạp.

Dalal-Dheini cho hay trong bối cảnh hiện tại, khó có thể đưa ra lời khuyên pháp lý chung cho mọi người. "Nó sẽ là một vấn đề rất cụ thể và phải xét theo từng trường hợp", bà nói.

Hiệp hội Luật sư Di trú Mỹ cho biết vài người tham gia phỏng vấn thẻ xanh theo hướng dẫn mới vào ngày 26/5 đã phải đối mặt với những câu hỏi chưa từng gặp trước đây.

Một người nộp đơn xin thẻ xanh theo diện kết hôn với công dân Mỹ đã bị hỏi tại sao họ lại nộp đơn xin chuyển đổi tình trạng tại Mỹ thay vì quay trở lại quê nhà và nộp đơn tại đại sứ quán ở đó. Họ cũng được hỏi liệu có bất kỳ yếu tố nào cản trở họ quay về quê nhà nộp đơn hay không, và họ có còn gia đình ở đó không.

Một người khác được yêu cầu nộp mẫu đơn chứng minh lý do họ nên được phép nộp đơn tại Mỹ và được thông báo rằng họ phải chứng minh sẽ không trở thành gánh nặng tài chính hay "gánh nặng xã hội" cho nước Mỹ. Các bằng chứng này có thể bao gồm tờ khai thuế năm 2025, thư từ người sử dụng lao động xác nhận mức lương của họ và bảng sao kê ngân hàng.

Luật sư Lisa Seifert ngày 26/5 tháp tùng một trong những khách hàng của mình đến tòa nhà của Bộ An ninh Nội địa Mỹ tại Tukwila. Đây là nơi mọi người đến để giải quyết các thủ tục nhập cư với chính phủ liên bang, bao gồm cả những người muốn xin thẻ xanh khi đang ở Mỹ.

"Ai nấy đều lo lắng hơn bình thường. Ai cũng muốn biết liệu họ có phải đối mặt với những câu hỏi xét duyệt mới này hay không", Seifert kể.

Theo Washington Post, Mỹ cấp hơn một triệu thẻ xanh mỗi năm và tính đến thời điểm hiện tại, hơn một nửa số người nộp đơn đã có mặt sẵn ở Mỹ.

Luật sư di trú Karol Brown cho hay từ đầu tuần này, nhiều khách hàng đã liên hệ với bà để hỏi liệu thay đổi chính sách sẽ ảnh hưởng đến họ như thế nào, và họ có thể ở lại hay không.

"Sự hoang mang và bất an là có thật. Quy định mới đang tác động đến cuộc sống của mọi người, khả năng được ở bên người thân và làm công việc mơ ước của họ, cũng như quyền của các nhà tuyển dụng để đảm bảo có nhân sự cho những vị trí quan trọng tại đây", Brown nói.

Bà Lloyd cho hay "tôi không muốn mọi người hoảng loạn. Lời khuyên của tôi dành cho họ lúc này là hãy kiên nhẫn chờ xem thế nào".

Một gia đình người nhập cư rời khỏi khách sạn ở New York City ngày 10/1/2024. Ảnh: AFP

Wednesday, 27 May 2026

NƯỚC MỸ LẠNH LÙNG ... TỈNH BƠ ... NO HELP VÌ SỢ TÊN BAY, ĐẠN LẠC./-Mt68
_______________
Chủ nhân căn nhà Trump house 
TẠI NAM CALIFORNIA QUA ĐỜI SAUVỤ HÀNH HUNG DÃ MAN. 

Ông Kerry Sheron - chủ nhân căn nhà nổitiếng với các biểu ngữ ủng hộ Tổng thốngTrump tại Southern California, đã qua đời sau gần một tuần nằm bệnh viện trong tìnhtrạng nguy kịch vì bị hành hung dữ dội. Sheron là cựu quân nhân Lục quân Hoa Kỳvà được nhiều người trong khu vực biết đếnvì treo dày đặc cờ Mỹ cùng các biểu ngữMAGA quanh căn nhà của mình tại Escondido. 
Vụ tấn công xảy ra hôm Ngày 20 tháng 5 bên ngoài nhà của Sheron,theo giới hữu trách. Công tố viên cáo buộc Thomas Caleb Butler,;32 tuổi, đã tấn công Sheron trong một vụhành hung được mô tả là vô cớ.nghi phạm Butler với các cáo buộc gồmmưu sát, ngược đãi người cao niên, đedọa hình sự và hành hung. Phó Biện lý Ross Garcia trước đó nói trước;tòa rằng Sheron bị thương tích “thảm khốc”

 “Nạn nhân sau đó ngã xuống đất và tiếp tụcbị đánh vào vùng đầu.” Các đoạn phim an ninh được truyền thôngđịa phương công bố cho thấy ôngSheronđứng trước căn nhà trên đường Buchanan;trước khi nghi phạm tiến tới và tấn công ông.


Một nhân chứng gần đó được cho là đã tìm

 cách can thiệp trước khi nghi phạm bỏ chạy

 khỏi hiện trường.
Cảnh sát sau đó bắt giữ Butler gần khu vực 

xảy ra vụ việc.

Trong những ngày trước khi Sheron qua đời, 

vợ ông là Maria nói với báo giới rằng “không 

còn hy vọng nào nữa” khi chồng bà tiếp tục

 nằm bệnh viện với các thương tích nghiêm 

trọng.

Bà cho biết gia đình đã chuẩn bị cho tình 

huống xấu nhất sau khi bác sĩ cảnh báo 

tình trạng của Sheron xấu đi nhanh chóng

 vì chấn thương nặng ở đầu.

 

 

viendongonline.com

 

Nghi phạm Thomas Caleb Butler, 32 tuổi, đã 

lao vào đánh đập ông Sheron một cách tàn 

nhẫn

 

 

Những hình ảnh được công bố sau vụ hành 

hung cho thấy Sheron bị bầm tím, băng bó

 và gắn nhiều thiết bị y tế trong phòng bệnh.

Giới hữu trách cho biết Butler hiện vẫn bị 

giam mà không được tại ngoại.


Công tố viên nói các cáo buộc hiện có thể 

được nâng cấp sau cái chết của Sheron.


Theo giới chức điều tra, Butler có thể sẽ bị 

truy tố thêm các tội danh liên quan tới giết 

người ngay trong tuần này.

 

Nhiều người hàng xóm cho biết khu vực này 

bị chấn động bởi vụ bạo lực xảy ra trên một 

con đường dân cư vốn yên tĩnh.

 

Một lần nữa, nước Mỹ phải đối diện với 

mặt tối nguy hiểm của cái gọi là “DTS” — 

hội chứng thù ghét Trump cực đoan

 

Nhiều năm qua, truyền thông thiên kiến 

và các chiến dịch chính trị cực đoan đã 

góp phần nuôi dưỡng bầu không khí

thù ghét độc hại nhắm vào những 

người ủng hộ Trump. 

 

Khi một bộ phận xã hội liên tục bị gán 

nhãn là “kẻ thù”,là “phát xít”, hay là 

“mối nguy cho dân chủ”,

rồi chuyện gì đến cũng đả đến và cũng

 xuất hiện những kẻ tin rằng bạo lực

 như vậy là điều chính đáng.

 

Điều đáng sợ nhất không phải chỉ là 

một vụ tấn công cá nhân, mà là sự 

bình thường hóa của lòng căm thù 

chính trị. 

 

Một cựu quân nhân Mỹ từng phục vụ 

đất nước giờ đây nằm hấp hối chỉ vì 

treo cờ và bày tỏ niềm tin chính trị của 

mình ngay trên chính ngôi nhà của ông. 

 

Đó là dấu hiệu cho thấy sự cực đoan 

đang ăn mòn nền dân chủ Mỹ từ bên 

trong.

 

 CÔNG AN VIETNEM ĐÃ BẮT ĐƯỢC 2 HUNG THỦ GIẾT THỦ LÃNH "DỪA KHÔ GIANG HỒ" (COCONUT GANG-HO) Ở SYDNEY./-Mt68

________________

Two Samoan nationals arrested over killing of Sydney gang leader in Vietnam.

Arrests made: Two Samoan nationals were detained in Vietnam over the fatal shooting of Sydney’s Coconut Cartel leader Lorenzo Laemalu.

Feud background: The murder is suspected to be linked to Laemalu’s gang war with Sydney’s Alameddine crime family.

Cross-border stakes: The case highlights transnational organised crime risks and challenges for Australia–Vietnam law enforcement cooperation.

Vietnam arrests two Samoan nationals over killing

Vietnam’s Ministry of Public Security confirmed the arrest of Vaa Vaa, 27, and Tafia Steve, 23, accused of involvement in the May 21 shooting of Lorenzo Laemalu and the wounding of associate Sauni Sam. Authorities allege the pair entered Ho Chi Minh City on May 14, monitored the victims’ routines, and attacked them after a seafood restaurant gathering. Both suspects were detained near the Cambodia border, with Vietnamese police issuing emergency detention orders and pursuing charges against several others for failing to report the crime or aiding the suspects. ABC News Australia + 2

Transnational crime and Vietnam

Vietnam is increasingly treated as a neutral ground for serious transnational crimes by organized gangs.

The perpetrators acted on orders from overseas and had a detailed escape plan toward Cambodia.

The incident raises questions about Vietnam’s capacity for prevention, border control, and international cooperation.

thesaigonpost.com

Gang feud spills across borders

Laemalu, 24, was a senior figure in the Coconut Cartel, which declared war on the Alameddine crime family earlier this year, triggering a series of violent incidents in Sydney. Messages shared on underworld-linked platforms suggest Alameddine associates claimed credit for the killing, which experts see as part of a strategy to target gang leadership abroad. The feud’s escalation to Vietnam underscores the reach of Sydney’s organised crime networks and their willingness to operate internationally. Sydney Morning Herald + 3

Authorities outline arrest circumstances

Vietnamese state media report the suspects used fake passports and aliases to enter the country, allegedly acting on overseas orders with a planned escape route. CCTV footage shows two men in black firing at Laemalu and his associate before fleeing. The arrests took place shortly after the shooting, but officials have not confirmed if all suspected accomplices are in custody, leaving questions about the broader network involved. 9News + 2

From Sydney streets to Southeast Asia

Analysts say the assassination is the first major test of the 2024 Australia–Vietnam Comprehensive Strategic Partnership, which pledged deeper cooperation on transnational crime. While a Mutual Legal Assistance Treaty exists, the absence of an extradition treaty could complicate the prosecution of suspects with Australian links. The case has become a litmus test for whether the bilateral framework can deliver results under the pressure of a high-profile, politically sensitive murder investigation. indoneo.com + 1

"As David Chau, a political and security analyst, I believe this case goes far beyond a typical criminal incident. It is a clear example of how transnational organized crime networks are increasingly treating Vietnam as a “neutral ground” to carry out serious crimes."

thesaigonpost.com

David Chau

Tuesday, 26 May 2026

 ĐÂY! NGUYỄN QUANG DŨNG -ĐS KHÓA 22 -TRƯỞNG BAN BÁO CHÍ HỘI QGHC MIỀN ĐÔNG HOA KỲ

ĐỒNG THỜI LÀ CHỦ BIÊN 1975 MAGAZINE- VÀ NGẠC NHIÊN HƠN CẢ NGUYỄN QUANG DŨNG CÔNG KHAI TỰ XƯNG LÀ "BCH HỘI CỰU THÀNH VIÊN MẶT TRẬN QUỐC GIA GIẢI PHÓNG HOA KỲ" 

*(TM BCH Association of Former National Liberation Front Members of the United States

Nguyen Quang Dung.)

***Xin Đồng Môn Nguyễn Quang Dũng vui lòng sớm giải thích chuyện KHÔNG AI HIỂU NỔI trên đây giùm!!!./-Mt68

_____________________


51 năm trước, tôi hai mươi tuổi. Năm nay, tôi bảy mươi mốt. Tháng Tư lại về. Chỉ thấy trong tôi một trĩu nặng lặng lẽ, đọng lại trong lồng ngực, như bầu trời nặng trĩu mây đen trước cơn mưa.

Thế hệ chúng tôi mang trong lòng Tháng Tư như một vết thương sâu: Tháng Tư Quốc Hận. Chúng tôi không cần giải thích với nhau, đó là ngôn ngữ riêng, trong ánh mắt, bằng những mất mát, máu và nước mắt. Không bút mực, sách vở nào ghi lại đầy đủ được.

Con cái chúng tôi nhìn chúng tôi với tình thương chân thật, nhưng chúng nhìn tháng Tư như người đứng trước bức tranh cổ – trân trọng, mà không còn cảm được nhiệt độ của ngọn lửa khi nó còn cháy. Thế hệ kế tiếp đã xây dựng được cuộc sống tốt đẹp trên những vùng đất tự do. Và đó chính xác là điều chúng tôi vượt biển, vượt biên để tạo dựng và trao cho chúng.

Còn các cháu thế hệ thứ ba nhắc đến Việt Nam như một mảnh màu nhỏ trong tấm vải thế giới bản sắc rộng lớn hơn. Đó không phải là thất bại của chúng tôi. Đó chỉ là diễn biến tất yếu của thời gian.

Và mỗi 30-4 tôi lại tự hỏi – như đã tự hỏi suốt 51 năm qua, mượn một tựa sách của cố nhà văn Nguyễn Mạnh Côn – Hòa Bình…Nghĩ gì? Làm gì? Không phải với sự thúc bách hay cay đắng, mà với sự kiên trì lặng lẽ của người đã chứng kiến những giấc mơ, những mảnh đời tan vỡ để hiểu rằng hy vọng không phải là lạc quan một cách ngây thơ. Đó là một sự lựa chọn, được đổi mới mỗi ngày.

Số báo này tập hợp những suy nghĩ, tâm tình của nhiều người, nhiều thế hệ. Điều gắn kết họ không phải là một lập trường chính trị chung, mà là một thói quen chung – thói quen không để ký ức tan biến vào im lặng.

Một dân tộc không mất đi vì bại trận. Họ mất đi khi thế hệ kế tiếp không còn cảm thấy cần tự hỏi: Tôi là ai, tôi từ đâu đến, và tôi muốn đi về đâu?

Chừng nào còn có người đặt câu hỏi ấy – dù bằng tiếng Việt hay tiếng Anh, dù ở Sài Gòn hay ở Hoa Thinh Đốn – thì Việt Nam vẫn còn đó.

Trân trọng,

Nguyễn Quang Dũng

Chủ biên 1975 Magazine

 ĐÙA DZAI HAY THẬT???

NGUYỄN QUANG DŨNG ĐS22 LÀ TRƯỞNG BAN BÁO CHÍ CỦA HỘI QGHC MIỀN ĐÔNG HOA KỲ- SAO NAY LẠI XƯNG LÀ "THAY MẶT BAN CHẤP HÀNH HỘI CỰU THÀNH VIÊN MẶT TRẬN QUỐC GIA GIẢI PHÓNG (LIBERATION FRONT) HOA KỲ??? ĐỀ NGHỊ HỘI MIỀN ĐÔNG MAU KÊU AMBULANCE ĐƯA NGUYỄN QUANG DŨNG ĐI CẤP CỨU Ở BỊNH VIỆN TÂM THẦN NÀO GẦN NHỨT TRỤ SỞ HỘI QGHC MIỀN ĐÔNG GIÙM!!!!./-Mt68

________________________

 

Dear Mr. Six

Please help spread the word about the new email address of Mr. Do Quang Toa, Eastern Region National Association of Civil Servants.

Mr. Do Quang Toa's new email address is:

tquangdo26@gmail.com



Thank you very much, Uncle Six.

 

TM BCH Association of Former National Liberation Front Members of the United States

Nguyen Quang Dung


 CON GÁI (NGOÀI HÔN THÚ) CỦA FIDEL CASTRO HIỆN SỐNG LƯU VONG Ở FLORIDA, MỸ./-Mt68

________________

Alina Fernández Revuelta (sinh năm 1956) là một nhà hoạt động xã hội người Cuba. Bà là con gái của vị lãnh đạo của Cuba là ông Fidel Castro. Bà đã bị chỉ trích bởi chính quyền của Cuba, nơi bà sống cho đến năm 1993.

Tiểu sử



Fernández sống với người mẹ của mình là bà Natalia Revuelta Clews, người sinh ra tại Havana vào năm 1925 và người cha dượng Orlando Fernández. Ở Cuba, bà Fernández sống với công việc của một người mẫugiám đốc điều hành về quan hệ công chúng của một công ty thời trang của Cuba, theo như Ban Chương trình Đại học. Vào năm 1993, khi đã 37 tuổi, bà đã rời Cuba đến Tây Ban Nha, có sử dụng những giấy tờ giả và cả tóc giả. Elena Díaz-Verson Amos, một di dân người Cuba, và người chồng của bà là John Amos (một người thành lập ra Alfac) đã giúp bà Fernández rời khỏi Cuba. Fernández đã sống ở Columbus, Georgia với Díaz-Verson trong một số năm.

Bà Fernández đã rời đến Miami, Florida và bà làm việc cho một đài phát thanh. Vào năm 1998, bà viết cuốn sách Con gái của Castro: Hồi ký của một người chạy trốn của Cuba đã mô tả cuộc sống của mình ở Cuba và những thay đổi xảy ra trong gần 4 thập niên đã qua. Bà có một chường trình phát thanh có tên là Simplemente Alina (Alina Đơn giản) thuộc đài WQBA ở Miami. Vào thứ bathứ năm, giá vé trong chương trình của bà la tốt, với những khách mời như các họa sĩnhà soạn nhạc. Bà dành những ngày thứ tư để nói về chính trị của Cuba.

Bà có một người con gái. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2008 với tạp chí Foreign Policy,[2] bà nói rằng bà thân thiét với người chú của mình là Raúl Castro hơn là người cha Fidel. Bà nói rằng Raúl, người tiếp nối cha bà với vai trò chủ tịch của Cuba, đã giúp đỡ bà trong một số dịp. "Ông ấy là con người mà bạn có thể đến và yêu cầu sự giúp đỡ trong mọi lúc nếu như bạn có một vấn đề thực tế nào đó. Về mặt cá nhân tôi hỏi ông ấy để được sự giúp đỡ hai lần, và ông ấy giúp tôi ngay lập tức. Trong gia đình này, ông ấy là người duy nhất có thể giúp bạn. Trong những vấn đề như thế này, Fidel thực sự không giúp ích gì".

Vê việc bà có muốn trở lại Cuba hay không, bà Fernández đã trả lời: "Tôi không biết. Trong những năm sống dài, tôi đã trở thành một cái cây già cỗi và già cỗi hơn mà không có gốc".

Vụ kiện

Người cô của bà Fernández, Juanita Castro, đã tố cáo cháu mình vì tội phỉ báng nói xấu vê các đoạn văn về đoạn tự truyện về Juanita và cha mẹ của Fidel, Angél CastroLina Ruz. Vào năm 2005, một phiên tòa tiếng Tây Ban Nha đã phán quyết Fernández và Plaza & Janes, nhà xuất bản tại Barcelona của Random House, phải trả 45000 dollar Mỹ cho Juanita, người nói rằng cuốn sách đã phỉ báng gia đình của bà: "Những người đã ăn hết đĩa của Fidel hôm qua đến đây và muốn có tiền và quyền lực, vì vậy họ nói bất cứ điều gì họ muốn, ngay cả khi điều đó không đúng... Một phần gia đình tôi chịu trách nhiệm cho rất nhiều đau khổ ở Cuba - bạn không thể thay đổi cái đó". Juanita cũng nói thêm rằng: "Nhưng không ai có quyền xúc phạm gia đình của Fidel. Xúc phạm Fidel - có rất nhiều điều để nói". Một bản dịch tiếng Anh của cuốn tự truyện nói trên đã loại bỏ những đoạn đó./-


Monday, 25 May 2026

 Phần Số Đã Định

Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA

Tôi sinh năm Tân Tỵ (1941) và năm nay là năm Ất Tỵ (2025) tôi đã được 84 tuổi.  Cũng như moi người, cuộc đời tôi cũng đã trải qua không biết bao nhiêu sóng gió, thăng trầm, có được có mất.  Với tuổi “bát tuần” này, tôi nhìn lại và thấy rõ là mọi việc đã xảy ra đều do sự sắp đặt của Ơn Trên, và với sự dìu dắt vô hình của Ơn Trên, tôi đã hết sức phấn đấu và không bao giờ bỏ cuộc.  Bài viết này cố gắng ghi lại những sự việc mà, ở tuổi 84 này, tôi vẫn còn nhớ được khá đầy đủ. 

Học Hành và Thi Cử

Ba Mẹ tôi sinh được 8 người con và tôi là con út.  Bốn người con lớn đều đã mất sớm, phần lớn đều trước khi Mẹ tôi sinh ra tôi.  Sau khi Ba tôi mất vào đầu năm 1948, trong nhà chỉ còn lại Mẹ và 4 chị em tôi là Chị Hai Lâm Nguyệt Anh (1933-2015), Chị Ba Lâm Nguyệt Phương (1936-), Anh Tư Lâm Vĩnh-Tế (1939-2000), và tôi Lâm Vĩnh-Thế:

Hình Mẹ và bốn chị em tôi – Hàng đầu: Mẹ tôi với Anh Tế (bên phải) và tôi
Hàng sau: Chị Anh (bên phải) và Chị Phương (bên trái) – Ảnh chụp khoảng giữa thập niên 1950

Tôi đã cố gắng rất nhiều để theo gương học giỏi của các anh chị, và với sự độ trì của Ơn Trên, tôi đã học hành có kết quả rất tốt và tôi đã thi đậu tất cả các kỳ thi lấy văn bằng của hai bậc Tiểu Học và Trung Học:

• Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học: Khóa ngày 19-6-1950

• Bằng Tiểu Học: Khóa ngày 22-6-1953

• Bằng Trung Hoc Đệ Nhứt Cấp: Khóa ngày 6-6-1957

• Bắng Tú Tài 1: Năm 1959

• Bằng Tú Tài 2: Năm 1960

Và tôi cũng đã thi đậu cả 2 kỳ thi tuyển rất khó khăn:

• Thi tuyển vào lớp đệ thất của Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký vào Hè 1953

• Thi tuyển vào năm thứ nhứt, Ban Sử Địa, Khóa 3 (1960-1963), Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG) vào Hè 1960

Công Tác Tại Việt Nam

Dạy Học

Sau 3 năm học, tôi đã tốt nghiệp khóa 3, Ban Sử Địa, Trường ĐHSPSG vào tháng 4 năm 1963, với Hạng Bình Thứ, và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Câp, giảng dạy môn Sử Địa, cho các lớp Trung Học Đệ Nhị Cấp, chuẩn bị đi thi các bằng Tú Tái 1 và Tú Tài 2:

Chứng Chỉ Tốt Nghiệp ĐHSPSG – GS Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký ngày 24-4-1963

Nhiệm sở đầu tiên trong cuộc đời đi dạy học của tôi là Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre).  Tôi đã dạy học tại đây 3 năm liên tiếp (1963-1966) và tháng 9-1966 tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Chính tại ngôi trường tân tiến này, do một sự tình cờ của định mệnh, hay nói đúng hơn là do một sự sắp xếp của Ơn Trên, tôi đã chuyển sang làm công tác thư viện, và nhờ vậy tôi đã có được cơ hội đi du học tại Hoa Kỳ trong hai năm, và có được một sự nghiệp đáng kể trong ngành thư viện học.

Làm Công Tác Thư Viện

Việc chuyển sang làm công tác thư viện bắt đầu vào một buổi sáng trong năm học 1970-1971.  Đó là một ngã rẻ rất bất ngờ và đầy may mắn trong đời tôi.[1] Rõ ràng đây cũng là do Ơn Trên sắp xếp, hoàn toàn vượt ra ngoài sự tính toán, sắp xếp của cá nhân tôi.  Vào giờ nghỉ buổi sáng hôm đó, tôi vào Thư Viện của Trường KMTĐ để chúc mừng một người bạn: Anh Nguyễn Ứng Long, lúc đó là Thư Viện Trưởng của Trường, vừa được Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bổ nhiệm vào chức vụ Giám Đốc Nha Văn Khố và Thư Viện Quốc Gia. Tôi thành tâm nghĩ rằng anh xứng đáng với chức vụ đó vì anh là một trong những người Việt Nam đầu tiên, vào năm 1965, đã đậu bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science – MLS) từ trường đại học Peabody College, thuộc Viện Đại Học Vanderbilt, (Peabody College of Library Science, Vanderbilt University), tiểu bang Tennessee. Hoa Kỳ.

Anh Long và tôi – Ảnh chụp tại nhà Anh Long, Paris, Hè 2009

Sau khi chúc mừng anh và trò chuyện được một lúc, đột nhiên anh Long đề nghi tôi vào thư viện thay anh để anh có thể yên tâm đi nhận nhiệm vụ mới.  Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không hiểu tại sao tôi nhận lời anh ngay, không một chút do dự, đắn đo.  Độ hơn một tháng sau, Hiệu Trưởng Trường KMTĐ, Giáo Sư Phạm Văn Quảng (tốt nghiệp Cao Hoc Giáo Dục = Master of Education từ Đại Học Ohio, Hoa Kỳ năm 1965) cử tôi dự một khóa huấn luyện căn bản về thư viện học tại Sài Gòn do Cơ Quan Phát Triển Thư Viện (Library Development Authority – LDA), một đơn vị của Cơ Quan ViệnTrợ Hoa Kỳ (United States Agency for International Development – USAID) tổ chức, kéo dài trong 3 tuần lễ.  Người đứng đầu LDA là Ông Cố Vấn John Lee Hafenrichter (mà sau đó chúng tôi quen gọi là Ông Haf) đã lên viếng Trường KMTĐ nhiều lần và hài lòng với công tác của tôi trong thư viện, và ông đã đề nghị và được USAID chấp thuân cấp cho tôi một học bổng đi du học Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) để lấy bằng MLS tai Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU).

Du Học Tại Hoa Kỳ

Trong hai năm theo hoc tại SLSSU, giáo sư hướng dẫn (academic advisor) mà cũng là giáo sư chính của tôi là Giáo Sư Pauline Atherton (về sau lập gia đình với Giáo Sư John Cochrane bà đổi tên lại là Pauline A. Cochrane). 

Ảnh Giáo Sư Pauline A. Cochrane chụp khoảng sau năm 2000

Tôi đã học tất cả 3 giáo trình với bà (trong 12 giáo trình cần thiết để lấy bằng MLS):

• LSC 503: Organization of Information Resources

• LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources

• LSC 998: Readings and Research in Library Science

Trong hai năm (1971-1973), tôi đã hoàn tất 12 giáo trình, đại đa số đạt điểm A (9/12) của bậc Cao Học, và tốt nghiệp vào cuối tháng 5-1973 với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS):

Bảng Điểm (Transcript) do Phòng Học Vụ (Registrar) của SLSSU cung cấp.

Bằng Master of Library Science (MLS) của Đại Học Syracuse, New York, Hoa Kỳ

Thành Quả Tại Việt Nam

Về nước, đầu năm 1974, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN), và sau đó được Viện Đại Học Vạn Hanh cử nhiệm làm Trưởng Ban, Ban Thư Viện Học, thuộc Phân Khoa Văn Hoc và Khoa Học Nhân Văn. 

Cùng với Ban Chấp Hành HTVVN gồm toàn những anh chị em trẻ, tốt nghiệp từ các trường thư viện học của Mỹ và Úc, tôi đã giúp HTVVN tạo được những thành tích đáng kể, và, vì vậy, tôi đã được các hội đoàn văn hóa tư bầu vào Hội Đồng Văn Hóa GiaoDuc (HĐVHGD), một cơ quan hiến định do chính Phó Tổng Thống VNCH (lúc đó là Cụ Trần Văn Hương) làm Chủ Tịch.  Tại phiên hop khoáng đại đầu tiên của nhiệm kỳ 2 (1974-1978) của HĐVHGD, tôi được bầu vào chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hóa Giáo Dục Đại Chúng, 1 trong 8 ủy ban của HĐVHGD.

Tai Đại Học Vạn Hạnh, cùng với các góp ý của các bạn trong Ban Chấp Hành HTVVN, tôi đã đề nghị và được Hội Đồng Viện chấp thuận chương trình huấn luyện Cử Nhân Thư Viện Học, và đã thực hiện được học kỳ đầu tiên (từ tháng 9-1974 đến tháng 1-1975).  Học kỳ 2, dự định kéo dài từ tháng 2-1975 đến tháng 6-1975, chưa được hoàn tất vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975.

Mọi việc đang được tiến hành rất thuận lợi và tốt đẹp thì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 ập đến và tất cả đã bị xóa sạch.  Tôi đã phải trải qua 6 năm dài dưới chế độ Cộng Sản cho đến khi được Anh Tư tôi, Tiến Sĩ Lâm Vĩnh-Tế (1939-2000), Giáo Sư Trưởng Ban Hóa Học của CEGEP (Centre d’enseignement général et professionnel) Bois-de-Boulogne, tại Montréal bảo lãnh di dân sang Canada.  Gia đinh nhỏ của tôi, gồm 2 vợ chồng tôi và 2 đứa con trai, Dũng 17 tuổi, và Trung, 5 tuổi, đã đăt chân xuống Phi Trường Mirabel, Montréal, vào buổi chiều ngày 23-9-1981.

Công Tác Tại Canada

Làm Lao Động Tại Montréal       

Mặc dù được sự giúp đỡ rất tận tình của Anh Tư tôi, và đã gởi đi khoảng gần 80 đơn xin việc đến các thư viện trong tỉnh bang Quebec, tôi đã không được nơi nào nhận cả, ngay cả việc mời đến phỏng vấn (interview) cũng không có.  Tôi đành phải chấp nhận làm một công việc lao động khuân vác làm ca đêm, từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya,  trong một kho hàng ở Montréal, với mức lương tối thiểu (minimum wage) là 4,25 đô la Canada một giờ.

Liện hệ thầy-trò giữa Ân Sư Atherton và tôi đã không chấm dứt vào tháng 5-1973 mà sẽ còn kéo dài hơn nửa thế kỷ cho đến khi Bà mãn phần vào ngày 29-7-2024.  Trong suốt thời gian này, Bà đã luôn luôn giữ liên lạc với tôi, lo lắng và giúp đở cho tôi, ngay cả trong thời gian tôi còn bị kẹt lại tại Việt Nam sau ngày 30-4-1975.  Tháng 10-1981, chỉ 2 tuần lễ sau khi tôi đến định cư tại Canada, Bà đã gọi điện thoại sang thăm tôi, và ngay lập tức giúp tôi (đóng học phí cho tôi, giới thiêu tôi với Giáo Sư Khoa Trưởng và Giáo Sư John Leidi), đi học trở lại tại Trường Thư Viện Hoc của Viện Đai Học McGill tại Montréal (School of Library Science, McGill University).  Tôi đã vừa làm lao động ca đêm toàn thời gian (full-time, 8 giờ một ngày) trong một kho hàng vừa theo học Giáo Trình Computerized Cataloguing do Giáo Sư John Leidi giàng dạy, mỗi tuần 2 buổi, vào trưa Thứ Hai và Thứ Tư, từ 1:00 đến 2:30 giờ.  Ngay buổi học đầu tiên, Giáo Sư Leidi đã đi xuống tận bàn tôi ngồi, bắt tay đôi và gọi tôi là “Big Brother = Đại Sư Hynh.”  Thì ra John là người Mỹ, cũng là cựu sinh viên của SLSSU và cũng là học trò của Ân Sư, nhưng học sau tôi nhiều năm, sau khi đậu Tiến Sĩ = PhD, John đã sang Canada day học.

Công Tác Thư Viện Đầu Tiên Tại Canada

Công việc làm chuyên môn về thư viện đầu tiên tại Canada của tôi, một công việc làm hợp đồng (contract job), thời gian là đúng một năm (từ 1-4-1982 đến 31-3-1983), cho Thư Viện Trung Ương của Bộ Canh Nông Canada (Central Library, Agriculture Canada) tại thủ đô Ottawa, là do công ty tìm việc làm Sharon Professional Services (SPS) giới thiệu.  Tôi được việc làm này hoàn toàn là do tác động của danh tiếng và uy tín của Ân Sư tại Bắc Mỹ:

• Ân Sư đã viết cho tôi một thư giới thiệu (reference letter) rất ấn tượng, trong đó có một câu như sau: “He was, without doubt, one of the top ten or twenty students I have had in twenty-five years of teaching.” (xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Không còn nghi ngờ gì nữa hết, anh ấy đã là môt trong mười hay hai mươi sinh viên giỏi nhất trong hai mươi lăm dạy học của tôi”).

• Bà Joyce MacKintosh, Phó Giám Đốc, Thư Viện Trung Ương của Bộ Canh Nông Canada, người có trách nhiệm phỏng vấn (interview) tôi, một chuyên gia về thư viện của Canada, lại là một người rất ngưỡng mộ Ân Sư.

• Bà Renée Staples, Trưởng Phòng Nhân Viên (Manager, Human Resources Department) của SPS, ngươi đã chọn tôi và đưa tôi đến Thư Viện của Bộ Canh Nông để được phỏng vấn, là một người Mỹ, vì lập gia đình với Ông Richard Staples, người Canada, nên đã sang Canada sinh sống và làm việc, lại là một người sinh trưởng tại thành phố Syracuse và cũng là một cựu sinh viên của Đại Học Syracuse, nên tự nhiên có cảm tình với tôi vì tôi cũng là cựu sinh viên Đại Học Syracuse, và do đó đã chọn tôi, mặc dù lúc đó tôi hoàn toàn không có một chút kinh nghiệm nào cả về công tác thư viện tại Bắc Mỹ nói chung và tại Canada nói riêng.

Sau khi chấm dứt công việc làm hợp đồng một năm này và không tìm được viêc làm khác, tôi phải làm làm đơn xin hưởng trợ cấp thất nghiệp (Unemployment Insurance = UI).  Sau đó lại là một thời gian khoảng hơn một năm cũng làm các công việc hợp đồng với thư viện của Tối Cao Pháp Viện Canada (Supreme Court of Canada), và thư viện của hai bộ của chính phủ liên bang Canada là Bộ Sắc Tộc và Bắc Vụ (Department of Indian and Northern Affairs), và Bộ Tư Pháp (Department of the Sollicitor-General).

Công Tác Tại CCOHS (1984-1992)

Tình trạng đó chỉ chấm dứt vào ngày 23-8-1984 khi tôi nhận được công việc làm thường trực và toàn thời gian (permanent and full-time job) tại một cơ quan liên bang ở Hmilton.  Chuyên may mắn này, chăc chắn cũng là do Ơn Trên sắp đặt cho tôi, diễn ra như sau:

“Mới làm việc được vài tuần tại Bộ Tư Pháp, vào khoảng đầu tháng 7-1984, một hôm đọc báo The Globe and Mail, tờ nhật báo lớn nhất của Canada, tôi thấy một cơ quan liên bang tại thành phố Hamilton, cũng thuộc tỉnh bang Ontario, tên tiếng Anh là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (viết tắt là CCOHS; xin tạm dịch là Trung Tâm Canada về Sức Khỏe và An Toàn Lao Động), đăng một quảng cáo thật lớn cho biết họ cần tuyển dụng cùng một lúc 5 chức vụ (một chuyện rất ít khi xảy ra) cho bộ phận Documentation Services của họ như sau:

              Manager, Online Catalogue

             Inventory Cataloguer

             Canadiana Cataloguer

             Subject Cataloguer

             Physical Hazards Information Scientist

Tôi gởi đơn ngay xin được tuyển dụng vào chức vụ Inventory Cataloguer.  Ngày 7-8-1984, tôi nhận được văn thư của CCOHS mời tôi đến trụ sở của cơ quan ở Hamilton để được phỏng vấn vào ngày 15-8-1984.  Ngày 23-8-1984, CCOHS gửi văn thư chính thức báo tin là họ nhận tôi làm Inventory Cataloguer cho Documentation Services với lương năm là 27.491 đô la.  Đây là một công việc toàn thời gian, thường trực, với rất nhiều quyền lợi giống như một công chức của chính phủ liên bang Canada.  Không còn nghi ngờ gì nữa cả, tôi đã thật sự được Canada chính thức công nhận là một chuyên viên về thông tin thư viện.”[2]

Sau khi làm việc được khoảng 8 tháng, CCOHS lại mở lại cuộc thi tuyển chức vụ Manager, Online Catalolgue mà năm trước họ đã không tuyển được.  Tôi nộp đơn xin dự thi, và mọi việc đã diễn ra thật tốt đẹp như sau:

“Tôi chính thức bắt đầu làm việc tại CCOHS vào ngày 17-9-1984.  Tám tháng sau, vào đầu tháng 4-1985, CCOHS lại đăng báo mở lại cuộc thi tuyển chức vụ Trưởng Ban Thư Mục Trực Tuyến (Manager, Online Catalogue) mà năm trước họ đã không tuyển được.  Lần này, tôi đã nộp đơn xin dự thi, được phỏng vấn vào ngày Thứ Hai, 10-6-1985, và ngày 14-6-1985, tôi nhận được văn thư của CCOHS báo tin cho hay tôi đã trúng tuyển, và ngày 24-6-1985 tôi chính thức bắt đầu nhận nhiệm vụ Trưởng Ban Thư Mục Trực Tuyến này.”[3]

Tôi đã giữ chức vụ Manager, Online Catalogue này được hơn 7 năm.  Đây là một công việc thường trực (permanent), toàn thời gin (full-time), lương cao (high-salary job), cuối năm 1991, lương năm của tôi đã lên đên trên 70.000 đô la Canada).  Nhờ vậy tôi đã mua được nhà.  Tôi cứ tưởng là sẽ có thể làm cho đến ngày nghỉ hưu.  Nhưng quả đúng như Ông Bà mình thường dạy con cháu: “chuyện trên đời khó mà biết trước được.”

CCOHS được thành lập do đạo luật The Canadian Centre for Occupational Health and Safety Act được Quốc Hội Canada thông qua vào năm 1978 lúc do Đảng Tự Do (Liberal Party of Canada = Parti liberal du Canada) nắm đa số.  CCOHS luôn luôn ủng hộ giới lao động đại diện bởi các nghiệp đoàn.  Bây giờ là năm 1992, Đảng Bảo Thủ (Conservative Party of Canada = Parti conservateur du Canada) đã thắng và chiếm được đa số tại Quốc Hội.  Đảng Bảo Thủ ủng hộ phe chủ nhân và chống lại các nghiệp đoàn, và, vì vậy họ tìm cách phá hoại CCOHS.  Hành động đầu tiên của họ là cách chức ngay lập tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động nổi tiếng khắp thế giới và để thay thế ông họ cử một ông tướng đã về hưu, Trung Tướng(tướng 3 sao) Arthur St.-Aubin, một ngươi hoàn toàn không có một chút kinh nghiệm nào cả về an toàn lao động.  Lúc bấy giờ CCOHS đã sản xuất được các CD-ROM, gọi là CCINFOdisc, bán ra khắp thế giới và thu được hằng năm khoảng 5 triệu đô la.  St.-Aubin ra lệnh cho cácvị Giám Đốc (Directors, đưng đầu các Directorate của CCOHS) phải tăng số bán lên ngay 12 trệu đô vào năm sau.  Các vị Giám Đốc lần lượt từ chức, rời bỏ CCOHS.  Sau đó St.-Aubin tiến tới cho nghỉ việc tất cả các Trưởng Ban (Manager, đứng đầu các Department trong các Directorate).  Lúc đó, với chức vụ Manager, Database and Information Resource Development Department, bị cho nghỉ việc vào ngày 30-9-1992.

Năm Năm Trời Lận Đận (1992-1997)

Sau khi bị cho nghỉ việc tại CCOHS một cách rất oan ức, tôi bị xuống tinh thần khá trầm trọng vì nghĩ rằng mình đã bị đối xử rất bất công, là nạn nhân của một thủ đoạn chính trị bẩn thỉu, và nhứt là buồn vì những chuyện đó hoàn toàn đi ngược lại bản chất và truyền thống nhân hậu của xã hội và ngươi dân Canada.  Nhưng rồi tôi cũng vượt qua được cuộc khủng hoảng tinh thấn đó, và bắt đầu tìm kiếm một việc làm khác trong phạm vi chuyên môn của mình.

“Trong hai tuần lễ sau cái biến cố không vui tại CCOHS đó, tôi đã cố gắng hết sức để quên nó đi, và, sau cùng, tôi đã vượt qua được. Tôi bắt đầu tìm việc làm mới và vào đầu tháng 11-1992 tôi đã tìm được một công việc làm hợp đồng 12 tháng tại Thư Viện của Quốc Hội tỉnh bang Ontario, thay thế cho một nữ biên mục viên nghỉ hộ sản.  Sau khi hợp đồng xong, nhờ sự giúp đỡ của một bạn đồng nghiệp cũ tại CCOHS, tôi lại có được một hợp đồng mới 6 tháng tại Cơ Quan Sức Khỏe và An Toàn Lao Động của tỉnh bang Ontario (Workplace Health and Safety Agency = WHSA) tại Toronto.  Trách nhiệm của tôi là thiết kế và xây dựng một Thư Viện / Văn Khố cho cơ quan WHSA.  Sau 6 tháng, Thư Viện / Văn Khố của cơ quan được thiết lập xong và được đưa vào hoạt động rất tốt, và, nhờ vậy, cơ quan quyết định kéo dài hợp đồng thêm 6 tháng nữa.  Và, sau cùng, công việc hợp đồng của tôi trở thành thường trực, và tôi nhận được văn thư của WHSA thông báo là tôi được nhận làm Quản thủ Thư Viện và Văn Khố, chính thức bắt đầu vào ngày 2-8-1994.

Sau cuộc bầu cử vào tháng 6-1995, Đảng Bảo Thủ của tỉnh bang Ontario thắng lớn, chiếm được đa số và thành lập chính phủ mới.  Và lịch sử được tái diễn.  Cơ quan WHSA đã được thành lập trong thời gian cầm quyền của Chính phủ Đảng Tân Dân Chủ (New Democratic Party = NDP).  Chính phủ tân cử của Đảng Bảo Thủ quyết định giảm bớt vai trò quan trọng của cơ quan này nên đã quyết định biến nó thành một bộ phận của Cơ Quan Bồi Thường Lao Động (Workplace Safety and Insurance Board = WSIB).  Tất cả nhân viên của WHSA đều bị hạ tầng công tác.  Bà Giám Đốc cũ của tôi tại WHSA chỉ còn là một nhân viên làm công tác nghiên cứu khoa học mà thôi.  Thư Viện / Văn Khố của WHSA bị sáp nhập vào thư viện của WSIB, và tôi trở thành một quản thủ thư viện cấp thấp ở trong thế lúc nào cũng có thể bị cho nghỉ việc vì thâm niên của tôi chỉ mới có hơn một năm mà thôi.  Đối diện với một tình trạng bấp bênh như vậy, tôi không có cách nào khác hơn là phải, một lần nữa, lo tìm một công việc làm mới khác.”[4]

Công Tác Tại Đại HọcSaskatchewan (1997-2006)

Trưởng Ban Biên Mục

Đầu tháng 5-1997, đọc báo The Globe and Mail, tôi thấy Thư Viện của Viện Đai Học Sakatchewan, trong Vùng Đại Bình Nguyên của Canada (Grand Prairie of Canada), có đăng một thông báo tìm người cho chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department)

“Đây quả thật là một công việc mà tôi đã mơ ước từ khi đặt chân lên Canada từ tháng 9-1981.  Tôi gởi đơn xin việc ngay lập tức.  Hai tuần lễ sau, tôi nhận được điện thoại của vị Trưởng Phòng Nhân Viên của Thư Viện Đại Học Saskatchewan, mời tôi đến dự cuộc phỏng vấn vào ngày Thứ Hai, 2-6-1997.   Thư viện Đại Học Saskatchewan đã dàn xếp để tôi có được một thời gian thật vui vẻ thoải mái trong mấy ngày tại Saskatoon.  Mặc dù cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra vào ngày Thứ Hai, 2-6-1997, họ đã mua vé máy bay cho tôi đi Saskatoon vào trưa Thứ Bảy 31-5-1997 để tôi có được buổi tối Thứ Bảy và trọn ngày Chúa Nhựt để có thể thăm viếng thành phố Saskatoon và khuôn viên của Trường Đại Học.

Cuộc phỏng vấn đã diễn ra đúng theo tiêu chuẩn của các Trường Đại Học tại Bắc Mỹ, với một chương trình phỏng vấn trọn một ngày với rất nhiều ủy ban của Thư Viện.  Hơn hai tháng sau, tôi nhận được điện thoại của Ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, cho biết tôi đã được nhận.  Và sau đó, Trường Đại Học cũng đã gửi văn thư Offer of Employment chính thức cho tôi xác nhận tôi đã được cử nhiệm làm Trưởng Ban Biên Mục cho Thư Viện của Trường.” [5] 

Trong thời 3 năm (1997-2000), trong chức vụ Trưởng Ban Biên Mục này  tôi đã thực hiện thành công được một số dự án công tác quan trọng cho Thư Viện như sau:

• Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn Tại Ngoai (Outsourcing of Authority Control = AC)

• Huấn Luyện Về Biên Mục Cho Nhân Viên trong 4 ngày, từ 27 đến 30-4-1998

• Xử Lý Tài Liệu Điện Tử (cho cả sách điện tử- e-books, và tạp chí điện tử – e-journals)

Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật

Sau 3 năm làm Trưởng Ban Biên Mục, tôi được vào Biên Chế (Tenure), thăng cấp từ Librarian 3 lên Librarian 4 (cấp cao nhứt của Quản Thủ Thư Viện Đại Học tại Bắc Mỹ), vào ngày 1-7-2002, và tôi cũng được Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee =LMC) thăng cấp lên làm Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuạt (Head, Technical Services Division), trông coi cả 2 Ban Biên Mục và Ban Thủ Đắc (Acquisiions Department, phụ trách việc mua sắm sách và tạp chí cho thư viện và trao đổi với các thư viện khác) và, đương nhiên cũng trở thành một thành viên thường trực cua LMC luôn

Ngày 28-10-2002, tôi chính thức được nghỉ phép Sabbatical Leave 1 năm để đi làm nghiên cứu.  Trong thời gian nghĩ Sabbatical Leave, tôi đã hoàn thành được 2 dự án nghiên cứu sau đó đã được công bố như sau:

• Một bài báo với nhan đề Quality control issues in outsourcing cataloguing in United States and Canadian academic libraries, đã được đăng trong tạp chí Cataloging & Classification Quarterly, Vol. 40, Issue 1 (2005), tr. 101-122.

• Một bài báo với nhan đề A Web-based database of CIS declaasified documents on the Vietnam War, đã được đăng trên tạp chí điện tử Online, Vol. 28, no. 4 (July/August 2004).

Sau Sabbatical Leave, trở về Trường, tôi được Ông Frank Winter, Giám Đốc Thư VIên cử giữ chức vụ Senior Original Cataloguer, và làm việc thêm 3 năm nửa cho đến khi chính thức nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.  Vợ chồng tôi dọn nhà trở về thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, tại căn nhà mà chúng tôi đã mua từ năm 1988:

Nhà gia đình tại số 585 Britannia Avenue, Hamilton, Ontario , Canada

Những Việc Làm Sau Khi Nghỉ Hưu

Sau khi nghỉ hưu, tôi đã có được nhiều thì giờ hơn để làm công việc nghiên cứu về lịch sử là ngành chuyên môn đầu tiên tôi đã được đào tạo tại Việt Nam khi theo học Ban Sử Địa, Trường Đại Học Sài Gòn trong 3 năm 1960-1963.

Các Bài Viết Đăng Trong Các Tạp Chí Chuyên Môn

Sau đây là các bài báo đã đăng trong các tạp chí chuyên môn:

2006“Dakao: một trung tâm văn hóa,”Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long,” số. 4 (Tháng7/ 2006), tr.197-220.

2007. “Những sắc thái riêng biệt trong tín ngưỡng dân gian Miền Nam,” Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số. 5 (Tháng 1/2007), tr. 234-252.

2007. “Tài liệu Việt học tại Đại Hoc Cornell (1),” Dòng sử Việt, số. 2 (Tháng 1/6 2007), tr. 84-89.

2007. “Mật ước giữa các tướng lãnh cao cấp Việt Nam Cộng Hòa 1967,” Dòng sử Việt, no. 2 (Thang1/3 2007), tr. 27-35, 89.

2007. “Tài liệu Việt học tại Đại Học Cornell (2),” Dòng sử Việt, số. 3 (Tháng 4/6 2007), tr. 130-140, 50. 

2007. “Cuộc khủng hỏang nội các tại VNCH vào cuối tháng 5 nam 1965,” Dòng sử Việt số. 3 (Tháng 3/6 2007), tr. 40-50.

2007. “Thủ Đức: xưa và nay,” Tạp san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số. 6 (Tháng 5/2007), tr. 173-189. 

2007. “Cuộc chỉnh lý ngày 30/1/1964 của Trung Tướng Nguyễn Khánh, Dòng sử Việt,  số. 4 (Tháng 7/9 2007), tr. 55-67.

2007. “Khoán ước của Minh Hương Xã,” Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số 7 (Tháng 9/2007), tr. 52-63.

2007. “Thượng Hội Đồng Quốc Gia,” Dòng sử Việt, số  5 (Tháng 10/12 2007), tr. 40-54. 

2008. “Tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ liên quan đến Ông Ngô Đình Diệm vào tháng 4 năm 1955,” Tạp san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số 9 Tháng 9/2008), tr. 77-89.

Những Bài Viết Đăng Trên Trang Web Petrus Ký Úc Châu

Lịch sử VNCH:

Văn Hóa:

Thơ:

Các đề tài khác:

Các Sách Đã Xuất Bản

ALA Từ Điển Giải Nghĩa Thư Viện Học và Tin Học Anh-Việt, Galen Press xuất bản, 1996 (sách dịch, nguyên tác tiếng Anh ALA Glossary of Library and Information Science, soạn giả Heartsill Young; dịch giả: Phạm Thị Lệ-Hương, Lâm Vĩnh-Thế, và Nguyễn Thị Nga).

Bộ Quy Tắc Biên Mục Anh-Mỹ Rút Gọn, 1988, LEAF-VN (Library and Education Assistance Foundation for Vietnam) xuất bản, 2002 (sách dịch, nguyên tác tiếng Anh The Concise AACR2, 1988 Revision, tác giả Michael Gorman; dịch giả: Lâm Vĩnh-Thế và Phạm Thị Lệ-Hương).

Ðakao Trong Tâm Tưởng, Hoài Việt xuất bản, 2008.

Bạch Hóa Tài Liệu Mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa, Hoài Việt xuất bản, 2008.

Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967: Những Năm Xáo Trộn, Hoài Việt xuất bản, 2010.

Republic of Vietnam, 1963-1967: Years of Political Chaos, Hoài Việt xuất bản, 2010.

Truy Cập Thông Tin Theo Chủ Đề (Subject Access to Information), Đại Học Sài Gòn,         Khoa Thư Viện Thông Tin xuất bản, 2010.

The Price of Freedom: Exodus and Diaspora of Vietnamese People, Người Việt Books xuất bản, 2017 (sách dịch, nguyên tác tiếng Việt Giá Tự Do, tác giả Lâm Vĩnh Bình).

Cultural Research Field Trips, Vietnamese Youth and College Students of Montreal xuất bản, 2018 (sách dịch, nguyên tác tiếng Việt Du Khảo Văn Hóa, tác giả Lạp Chúc Nguyễn Huy).

Vietnam, Territoriality, and the South China Sea: Paracel and Spratly Islands, Routledge xuất bản, 2019 (sách dịch, nguyên tác tiếng Việt Những Bằng Chứng về Chủ Quyền của Việt Nam Đối Với Hai Quần Đảo Hoàng Sa Trường Sa, tác giả Hãn Nguyên Nguyễn Nhã).

The History of South Vietnam: The Quest for Legitimacy and Stability, 1963-1967, Routledge xuất bản, 2021.

Tròn Nhiệm Vụ: Hồi Ký của một Quản Thủ Thư Viện Canada Gốc Việt, Nhân Ảnh xuất bản, 2021.

Trường Petrus Ký Trong Tâm Tưởng: Nhớ về Trường Cũ, Thầy Cô, và Bạn Học, Nhân Ảnh xuất bản, 2021.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Một Quân Đội Anh Hùng Bị Bức Tử, Nhân Ảnh xuất bản, 2021.

Armed Forces of the Republic of Vietnam: A Heroic Army Unjustly Abandoned and Left for Dead, Nhân Ảnh xuất bản, 2022.

Cultural Civil War Between North and South (1975-1986) in Vietnam, Nhân Ảnh xuất bản, 2022 (sách dịch, nguyên tác tiếng Việt Nội Chiến Văn Hóa Bắc Nam (1975-1986) tại Việt Nam, tác giả Lạp Chúc Nguyễn Huy).

Characterizing the Vietnamese Culture, Nhân Ảnh xuất bản, 2022 (sách dịch, nguyên tác tiếng Việt Định Hình Văn Hóa Việt, tác giả Lạp Chúc Nguyễn Huy).

Full Circle: Memoir of a Vietnamese-Canadian Librarian, Austin Macauley (London, Anh Quốc) xuất bản, 2024.

THAY LỜI KẾT:

Đã bước qua ngưỡng cửa của tuổi “Bát Tuần, nhìn lại đoạn đường khá dài này, tôi đã nhận ra thật rõ ràng, không còn một chút nghi ngờ nào nữa cả, sự sắp xếp, an bài của Ơn Trên trong tất cả mọi sự việc đã xảy đến trong đời tôi, từ chuyện học hành thi cử khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành và ra đời đi làm việc.  Với sụ trợ giúp quý báu của Ơn Trên, tôi đã có thể vượt qua một cách thật dễ dàng tất cả các khó khăn, trở ngại và hoàn thành tốt đẹp mọi nhiệm vụ và công tác được giao phó. Tôi thành tâm cảm tạ Ơn Trên.

GHI CHÚ:

1. Lâm Vĩnh-Thế.  Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the

2. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, tr. 110-111.

3. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr.118.

4. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 122-123.

5. Lâm Vinh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 124.