***TRÍCH Y 1 CHÚT:
.............
Tóm lại, theo quan điểm chính thống của Việt Nam Cộng hòa thì ở Việt Nam chỉ có một quốc gia, miền Nam và miền Bắc chỉ là hai phần lãnh thổ của quốc gia Viêt Nam, cuộc chiến giữa hai miền là cuộc chiến ý thức hệ, giữa miền Nam chống cộng và miền Bắc cộng sản. Nói cách khác, chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam giai đoạn từ 1955 đến 30/4/1975 là một cuộc nội chiến và vì vậy không phải là chiến tranh giữa hai quốc gia, giữa hai “nước”, tương tự như những gì đã diễn ra giữa miền Nam và miền Bắc bán đảo Triều Tiên từ 1950 đến 1953. Do đó không thể dùng từ “xâm lăng” cho việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc đưa quân vào miền Nam để cùng các lực lượng cộng sản tại chỗ chống lại Việt Nam Cộng hòa. Cũng như vậy, không thể gọi ngày 30 tháng 4 là “Ngày Quốc hận” vì đã không có chuyện “mất nước” vào ngày đó. Thực vậy, cho đến nay Việt Nam vẫn có tên trên bản đồ thế giới, là thành viên Liên Hiệp Quốc, có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, cho dù lãnh thổ đã bị Trung Quốc chiếm nhiều nơi, nhất là ở biển Đông.
Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận oán hận của những người Việt từng phục vụ chính thể Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ đối với chính quyền cộng sản Việt Nam là vô cùng lớn. Vậy đâu là nguyên nhân?
Chắc chắn việc bị các lực lượng cộng sản mà nòng cốt đến từ miền Bắc đánh bại khó có thể là nguyên nhân bởi thắng, thua trong chiến tranh là chuyện bình thường đồng nghĩa oán hận này chỉ có thể đến từ hành vi trả thù khủng khiếp của chính quyền cộng sản thời hậu chiến.
Có một thực tế là trong chiến tranh người bên đối phương dù đầu hàng vẫn có thể bị giam giữ và nếu trường hợp này xảy ra thì được gọi là tù binh hay tù nhân chiến tranh. Thế nhưng một khi chiến tranh chấm dứt thì vấn đề tù binh cũng chấm dứt, không ai có thể bị giam, bị cách ly khỏi gia đình và xã hội chỉ vì đã ở bên kia chiến tuyến, trừ những kẻ bị truy tố để rồi bị xét xử do phạm tội diệt chủng – tội ác chống loài người. Do đó việc nhà cầm quyền cộng sản sau 30/4/1975 đã giam không án trong gần trăm cái gọi là “trại cải tạo” từ vài năm đến hàng chục năm trời hàng trăm nghìn cựu quân nhân và viên chức của chính thể Việt Nam Cộng hòa mà nhà cầm quyền gọi một cách sỉ nhục là “ngụy quân”, “ngụy quyền” và hơn thế nữa, buộc họ lao động khổ sai dứt khoát là đòn thù. Tài liệu có bí số “TN/QP-14” của Bộ Quốc Phòng Việt Nam được phổ biến ngày 14/02/1977 không úp mở gọi những người này là “tù nhân”: "Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình, Bộ Quốc phòng giao lại cho Bộ Nội vụ quản lý là 1.236.569 người"!
Ông Bùi Xuân Diệm, đại tá Việt Nam Cộng hòa từng là tù nhân tại “trại cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa kể lại với tôi: “Quản giáo nói với tù nhân chúng tôi rằng: ‘Sau này nếu các anh được thả về, các anh chỉ được đi dưới mương chứ không được đi trên đường!’ Nghĩa là dù có được ra khỏi nhà tù có lính gác, “ngụy quân”, “ngụy quyền” sẽ lại bị giam trong sự khinh miệt và kỳ thị đến tột cùng của nhà cầm quyền cộng sản và lần này là chung thân, là vĩnh viễn.
Mà đâu đã hết, ngay cả gia đình những tù nhân này cũng không thoát khỏi đòn thù của nhà cầm quyền cộng sản. Thực vậy, quyết định ngày 19/5/1976 của Chính phủ buộc “dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân” đi “vùng kinh tế mới” lập tại các vùng rừng núi hẻo lánh không gì khác hơn là nhằm đầy ải họ và nhất là nhằm tước đoạt nhà cửa của họ. Bên cạnh đó, thành viên những gia đình này và những gia đình “ngụy quân”, “ngụy quyền” khác phải chịu một sự phân biệt đối xử gay gắt, hầu hết trong số họ bị cấm đoán vào đại học và cơ quan Nhà nước, ngay cả du lịch hay học tập ở nước ngoài họ cũng không được phép, nghĩa là cụt đường tiến thân trong xã hội. Tóm lại, các cựu quân nhân và viên chức Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ bị chính quyền cộng sản tước đoạt những quyền cơ bản của con người, của công dân và vì vậy họ chỉ còn là “phó thường dân” theo đúng nghĩa đen của từ này.
Tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị xóa sổ, mong là một cách hòa bình. Và cái ngày bao mong chờ đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như “Ngày Tự do” (Freedom Day) đồng nhất với dấu chấm hết cho bức tường “30 tháng 4 - Giải phóng miền Nam” cứa lòng dân tộc.
Không dừng lại đó, chính quyền cộng sản còn đang tâm đẩy rất nhiều người đã sống dưới chế độ cũ vào chỗ chết khi đứng ra tổ chức hoặc bật đèn xanh cho các cuộc vượt biên chủ yếu bằng đường biển như bán bãi, bán thuyền nhằm thu vàng và chiếm đoạt nhà cửa của họ, đúng cái kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” mà dân gian thường nói. Thực vậy, những cuộc vượt biên đầy rủi ro này đã dẫn đến cái chết thê thảm của hàng trăm nghìn người hoặc do bị lật thuyền hoặc do bị cướp biển giết, đó là chưa kể hàng nghìn, hàng nghìn đàn bà, con gái bị cướp biển hãm hiếp ngay trước mặt người thân của họ trong tột cùng đau đớn.
Một chính quyền táng tận lương tâm như thế, hỏi sao mà không oán hận chất chồng để trở thành thù hận!
Tuy nhiên trong bất cứ hoàn cảnh nào tồn tại một hận thù như vậy là có hại không kể xiết cho quốc gia Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc lăm le chiếm nốt quần đảo Trường Sa sau khi đã chiếm một phần quần đảo này vào năm 1988 và nuốt trọn quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974. Nói cách khác, hóa giải hận thù dân tộc là nghĩa vụ đối với Tổ quốc mà chính quyền cộng sản Việt Nam buộc phải thực hiện và hơn thế nữa, cấp bách.
Chính vì lợi ích tối cao đó của quốc gia Việt Nam mà ngày 30/8/2010 công dân Cù Huy Hà Vũ, một người không hề dính dáng tới Việt Nam Cộng hòa, đã gửi Quốc Hội Việt Nam “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lấy “Việt Nam” làm Quốc hiệu để hòa giải dân tộc”. Thế nhưng thay vì làm theo lời nói phải này, chính quyền cộng sản lại lấy đó làm chứng cứ về “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để bỏ tù công dân Cù Huy Hà Vũ. Cáo trạng ngày 17/12/ 2010 của Viện kiểm sát Hà Nội hậm hực: “Vũ bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phê phán Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gây chia rẽ, thù hằn dân tộc bằng lời lẽ: “ ...Tiếc thay cho ban lãnh đạo nhà nước Việt nam thống nhất đã không làm được như thế mà ngược lại - phải nói thật - còn xát muối vào vết thương chiến tranh chưa kịp lên da bằng việc tập trung cải tạo trong hàng năm trời cả trăm nghìn quân nhân viên chức VNCH, ....đẩy không ít người Việt thuộc chính quyền cũ vào vòng xoáy thù hận, dẫn đến một số quay ra chống chính quyền mới để rồi bị kết tội xâm phạm an ninh quốc gia”! (*)
Vậy là rõ: Chính quyền cộng sản Việt Nam cam tâm bán nước cho Trung Quốc nên mới cự tuyệt đến cùng hòa giải dân tộc. Do đó với những ai giòng giống Lạc Hồng, mau chóng giải thể chính quyền độc tài này không chỉ là cách duy nhất để cứu nước mà còn là cách duy nhất để xóa bỏ hận thù dân tộc vì một Việt Nam hiển vinh trên trường quốc tế.
Tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị xóa sổ, mong là một cách hòa bình. Và cái ngày bao mong chờ đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như “Ngày Tự do” (Freedom Day) đồng nhất với dấu chấm hết cho bức tường “30 tháng 4 - Giải phóng miền Nam” cứa lòng dân tộc.
...............
cu huy ha vũ.