CỤ ĐỒ GIÀ HÁP NẦY NĂM XỬA NĂM XƯA TÊN LÀ BÙI ĐẮC DANH - KHÔNG HIỂU SAO NAY LẠI XƯNG LÀ "BÙI ĐẮT DANH"- "ĐẮC" RỒI "ĐẮT" HỒI NÀO KHÔNG AI HAY BIẾT? CỤ TỰ ĐỀ TÊN HAY AI VIẾT GIÙM CỤ?! CỤ NHẮC VƯƠNG HỒNG SỂN KHIẾN ANH EM NHỚ HẬU GIANG ĐỨT RUỘT - NHỚ BÁNH BAO BÀ 5 SA ĐÉC KHÔNG KÉM - ĐÙA 1 CHÚT CHO CÓ NHAU NHÉ CỤ ĐỒ BIÊN HÒA (?) Thân Kính mến-Mt68 Kangaroo.
__________________
Thân gởi anh Sáu,
Danh muốn nhờ anh “post” chuyện sau đây:
1) Cảm ơn ông “Chánh Sở” đã cho xem phim (classic), xem hình ảnh Sài Gòn,
đọc luận văn Quốc Gia Hành Chánh – ông Chánh Sở làm tôi nhớ nhà quá!
Cảm ơn. Cảm ơn.
2) Danh thử xin mở mục “Đọc giùm quý bạn”. Và... xin bắt đầu với bài của tác
giả Vương Hồng Sển
Trối Trăng, Tự Tình
Tôi đang bực tức và bất mãn, giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời, đành gõ
máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp, lông lông đỡ tức.
Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in
thành sách, tôi đã bị sửa văn, thiến của tôi bộn bàng, người sửa văn, vốn có học với
tôi vài niên, nay có bằng Hán học, và tuân lời ông ra vốn cho máy in chạy và có
lịnh của bề trên, nên văn tôi bị thiến. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ, và nên nói
lại, những gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin
hỏi tỷ như khi chưng một lục bình dịp tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho
dễ coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm
gọn thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy,
bình hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỉ thí, văn
pháp, người xuất bản nào đụng chạm đến bao giờ.
Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc
đó là lời nói của những nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản
thảo, đều bị bôi bỏ, chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh
dấu thời đại, như giá vàng, ngày mua, người bán, nay lượt bớt... khiến cho hiện
nay, có một cuốn của tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, vì khách chơi cổ ngoạn
vẫn tìm sách cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ nhì (không phải tự tôi cho in) tuy
trong ruột sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu
dốt nên sách bán không chạy...
V.H.S. (4-3-1993)
(Trích từ trang 53 và 54 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu, 1993 – Di Cảo
Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt
Nam)
Tết Và Tôi
Tôi xin nói Tết và tôi. Thằng tôi là đáng ghét, nhưng phải nói, và xin kể một
chuyện không tốt, gọi xả xú bắp để bước qua năm Dậu – con Gà:
Hôm ấy là hai mươi chín tháng chạp thiếu, lối mười giờ khuya, thiên hạ
đang rần rần mua vui buổi chợ đêm nơi Bến Thành, và tôi đang thơ thẩn đưa một
bạn gái về nhà đường Farinole, nay đổi gọi Đặng Trần Côn.
Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa khôi chưa có. Tóc đỏ hoe hoe, ăn nói có
duyên, nhà ở hẻm chẹt nầy, chuyên nấu cơm tháng cho mấy thầy, và tôi chịu
miệng, đầu tháng tới sẽ cho người xách gào-mên (ngoài kia gọi cầu mền), lãnh
phần đem về, nhưng bữa nay phải cho tôi trước xem nhà, sau cho thử bất thình lình
một dĩa lập-là cho rõ tài ngự thiện. Hai đứa cặp kè đang đi cà rịch cà tang trên
đường Lý Tự Trọng, pháo nổ điếc tai, và trận mưa buổi chiều còn đọng nước...
Bỗng Mười nói:
- Anh S., nước dơ quá, ướt giày tôi hết.
Tôi đang xách tay một gói thịt nguội, vừa mua đùm đề, nào ba-tê nào gà ướp
lạnh, thêm một chay sâm banh hiệu Veude Amiot giá chín cắc bạc, mình đang hai
tay không rảnh mà “con nầy” làm khó, chê dơ chê bẩn... Tôi vụt đáp: “Lưng đây
nè! Lại đây, cõng cho! Mà phải chịu khó xách dùm mấy món nầy!” Tôi nói nãy giờ
còn dài quá chớ sự việc xảy ra ngắn xủn! Qua khỏi vũng nước cũ vừa thấy cửa phố
của Mười. Tôi đứng thẳng lưng, chờ Tóc Đỏ bước xuống. Nhưng vẫn đánh đeo và
ngâm giọng Bạch Vân, Hồng Vân gì gì đó. Ngâm rằng: “Chuối cau năm nải một
quày! Mặt mầy không đáng xách giày tao đi!”
- Con nầy hỗn! Chưa chi nó đã trèo đèo!
Tôi ểnh ngực cho rớt xuống, và miệng hát giáo đầu giọng mở màn: “Nghe
đây!”
- “Lưng vừa vắt L... mầy hăm hở! Tay cầm xúc xích thung thăng!
Chốn chiến trường tớ vẫn nhát gan! Nơi lộ vắng, thay hồ tay bốc!”
Rồi tôi bốc thiệt và bỏ ăn Tết, bỏ chai rượu, bỏ gói thịt, về nhà rửa tay và
mang tiếng ngày nay “học giả”, xin đính chánh “giả chớ không thiệt”.
V.H.S. (18-12-1992)
(Trích từ trang 21, 22 và 23 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di
Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt
Nam)
Trang Cuối Một Quyển Sách
Anh Thăng Long văn sĩ,
Cái thú của người uống nước trà là một cái thú yên lặng, giản dị. Không cần
đàn đúm. Không cần phải có các món nhắm lỉnh kỉnh lôi thôi. Nó không làm người
ta bốc cơn hào sảng lửa rơm. Nó làm cho người ta chậm rãi thanh thản.
Tiếng còi tàu chạy bằng đầu máy diesel đánh thức tôi dậy từ 3 giờ sáng. Pha
một bình Thiết Quan Âm. Bước ra ngoài hít thở chút không khí. Mùa Xuân đã về.
Những ngày lạnh giá đã qua. Ban đêm trong nhà không cần phải mở lò sưởi nữa.
Trước mặt tôi một tờ báo địa phương, mấy tờ Việt ngữ do các bạn gởi lên
cho. Tờ báo Xuân Ất Sửu có đăng lại bài thơ Quách Tấn:
Trước tết mai là hoa
Sau tết mai là củi
Trước bao nhiêu nâng niu
Sau bấy nhiêu hất hủi
Nâng niu mai chẳng mừng
Hất hủi mai không tủi...
Vị nước trà đắng ngọt thấm dần làm tôi tỉnh táo. Còn bốn ngày nữa, lại một
cái tết đến rồi. Ăn tết ở một nơi không có ai để ý, đường phố xe cộ mọi người sinh
hoạt bình thường làm mình lạc lõng. Năm nay gia đình ở nhà đã ăn tết trước cả
tháng càng làm cho mình lạc lõng hơn.
Khu vườn bên cạnh nhà tôi xơ xác.
Hai ông bà già người Mỹ có vẻ yếu mệt, không còn trồng trọt gì. Tuổi già lui
cui trong nhà, không thấy con cháu lại thăm bao giờ. Mọi năm vào tháng này đáng
lẽ họ ra ngoài trồng lại cỏ, bắt dàn cây. Vào dịp tết ta, khu vườn vẫn có nhiều hoa
nở.
(Trích trang 277 trong sách “Ngọn Cỏ Bồng” do nhà xuất bản Người Việt
phát hành năm 1985 tại Westminster, California, Hoa Kỳ).
***
Danh xin nhờ anh Sáu Nguyễn cho “post” hai chuyện:
1 Bạn Kim Chi (Belgique) thân mến,
Danh rất vui mừng khi nhận được 2 email thăm hỏi với đầy sự khích lệ. Rất
cảm ơn. Nhờ chuyển lời thăm hỏi chị Lan Anh.
2 Mục “Đọc giùm quý bạn” dưới đây được trích trong sách “NHỮNG
NGÀY MUỐN QUÊN 1975-1983” của tác giả Đoàn Thêm do Tổ Hợp Xuất Bản
Miền Đông Hoa Kỳ phát hành năm 1992.
“... Đến phi trường Bangkok..., tôi mới hết phấp phỏng mà bảo nhà tôi:
- Bây giờ bà có thể mừng!...”
(trang 421)
“... Tới nửa đêm, chúng tôi được lên máy bay bay qua Tây Đức trước khi
sang Canada...”
(trang 423)
“... Trước mặt tôi, sau lưng ông ngồi ghế trên, là những tập tạp chí với tranh
ảnh màu, gài sẵn đó cho hành khách. Giả thử tôi vớ được tại Sài Gòn, hẳn tôi phải
xem cho mỏi mắt. Sao bây giờ tôi lại dửng dưng? Chắc tại những ấn phẩm này
không còn là đồ quốc cấm hoặc bị coi là dấu tích văn hóa tư sản đồi trụy nên mất
sức hấp dẫn của “trái cấm”. Vả lại, tôi vội gì vì từ nay tôi chỉ e không đủ ngày giờ
đọc, để đọc gì thì đọc, học gì thì học. Nghĩ tới đây tôi thấy vui lạ lùng: có lẽ đây
mới chính là sự thích thú mà bao lâu tôi đã lẳng lặng ước mong. Tôi tìm lại được
quyền tự do mà tôi đặt lên hàng đầu các tự do cá nhân: tự do của đầu óc. Cánh cửa
lại mở toang cho tôi trở vào cõi bao la của văn hóa nhân loại...”
(trang 424)
***
Dưới đây là phần rút ngắn chuyện “Tình Nghĩa Nghĩa Tình” của tác giả
Khôi An, trích trang 208, 209, 210, 211 trong Đặc San Hậu Nghĩa số 25, phát hành
nhân dịp Tết Giáp Thìn 2024
Tình Nghĩa Nghĩa Tình
Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước
Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm
tòa nhà Quốc Hội.
Ngày đó tôi vừa mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh
hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một
cảm xúc gần như là tiếc cho người đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng
nhìn lá cờ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm người bạn đồng thuyền vào
buổi sáng mùa hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng?
Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín
người đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng.
... Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu
chúng tôi đang bị tàu cướp Thái Lan đuổi bắt...
... Chúng tôi chạy vòng vèo ngay trước mũi tử thần trong suốt một đêm, và
bình minh tới dù không ai mong đợi. Những tin sáng đã vét đi màn đêm đang che
chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách
giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảng khắc... Rồi tôi lại nghe bác lại
chửi, nhưng lần nầy đượm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:
- ĐM, hình như tụi nó bỏ chạy hả bây?
... Bổng bác tài công và những người trong phòng máy trên cao vụt la lớn:
- Có tàu! Có tàu lớn ở đằng xa kia!
- Tàu gì vậy? Vái trời cho không phải tàu của Liên Xô
... Chúng tôi như được hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc
tàu kia chỉ là một đóm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả... chúng tôi vội nhắm cái
chấm tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia cũng đang chạy về phía chúng tôi vì
nó càng ngày càng lớn dần.
Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút người đàn
ông ngồi trên cao la lạc giọng:
- Thấy cờ rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!
Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem máy dầu. Mọi
người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống
Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một
tòa nhà mười mấy tầng, những người lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để
đem con nít và những người yếu sức lên trước...
... Ngày đó tôi vừa học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt
của Cộng sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong
những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân
ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi.
… Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thủy thủ
đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng được cảm
giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc của
Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ
chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...
... Như thế đó, tôi đã may mắn gặp được cái đẹp đẽ nhất của đất nước Mỹ
trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo
tồi tàn nhưng gia tài của tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình
người, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh của gia
đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những “sứ giả” trên tàu Mỹ đem đến
cho chúng tôi... Có lẽ tình cảm của tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con
tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dương, từ khoảng khắc
mấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ
khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân
tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò
lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái
Lan, từ hình ảnh những người Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám
thuyền nhân chúng tôi đang lục tục di vào trại mà cố ngoái lại nhìn qua làn nước
mắt.
Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách
nhiệm với chúng tôi. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu
hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với
những chuyến vượt biên kém may mắn.
Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm
ban đầu của tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy nước
Hoa Kỳ là một đất nước bao dung – hay mong rằng – nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng
với tôi nước Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi
khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù
sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt...
Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may
mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những
rác rưởi trong dòng sông, chắn ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỷ ông ta mới
dám chà đạp quốc kỳ ngay trước tòa nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ “ra đi
không có ngày về”. Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc
Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái
chết của hơn một trăm ngưởi trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm
1983...
... Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho
cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không phiền hà khi tôi
đem chia xẻ trái ngọt đó nơi tôi sinh ra. Tinh thần của nước Mỹ luôn khuyến khích
mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng
để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được
trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không
còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mệnh hay nhân phẩm...
***
#5
Vườn Cũ
Hồi mới quen nhau, cô gái kể về ông ngoại, nhà ngoại mình bằng cách nhại
lại một mẩu chuyện vui trên báo, theo kiểu rao vặt “Nam, bảy mươi tuổi có một
nhà lá, cột cặm. Và khu vườn nhiều cây, vài cây sung, vài cây khế, đằng trước có
hàng rau, chuối nhiều không đếm được, hai cây vú sữa bên hè, rau muống, rau lang
bò nhóc đất. Cần rau trai, cải trời cũng có, lục bình, kèo nèo xanh rờn... Dừa dài
theo bờ, theo liếp, chanh de mấy cài góc ao... Không mua, không bán. Chỉ khoe
vậy thôi. Cần tìm bạn. Ưu tiên người ít nói, không nói càng tốt”.
Bởi người chủ vườn, ông ngoại cô có biệt danh là Hết Nói, một người khá
lặng lẽ, khách đến, ông chỉ cười “Mới tới? Vẹt một chỗ ngồi chơi”. Nghe được
mấy tiếng đó, quay đi quay lại, ông già bỏ ra vườn mất biệt. Lần đầu cô đưa anh
về, anh không biết mình đã làm gì phật ý ông già, trong bụng buồn buồn, dằn dỗi.
Lúc đấy thì anh chưa biết tính ông, chưa va chạm nhiều, lòng chưa thương
tích, chưa nát nhàu bởi người đời xiên vào những lời đau. Lúc đấy cô chưa ra Hà
Nội học, chưa gởi lại cho anh ông già với khu vườn “Anh nhớ tơi lui bầu bạn với
ngoại, hãy vì em...” Cái chữ “vì em” làm anh ngất ngư, nên tuần nào cũng chạy xe
về ngoại ô. Để ngồi uống trà với ông già, ngó hoa cau rụng, lòng nhẹ bâng, lâng
lâng, không biết vì ngồi với một người gần như đã từ bỏ khả năng giao tiếp bằng
âm thanh, hay vì khu vườn đầy nắng.
Khu vườn cũng lạ lùng như ông già Hết Nói. Vườn không rộng, gây ấn
tượng cũ kỹ vì những tàng cây lớn thâm u; vì toàn những loại cây trái vớ vẩn, hơi
hoang dại, do chim chóc mang tới, chẳng sinh lợi; vì cây cối mọc lung tung, không
ngay hàng thẳng lối. Chỗ này, cây rúc vào nách cây, cây chen cây, chỗ khác lại
trống một khoảng, ông già xới đất tỉa ớt, cà. Đám cây này cũng lộn xộn. Anh thắc
mắc, ông già lừ đừ, “Đừng bắt cây cỏ cũng xếp hàng”. Ông già hơi cổ quái, nên
vườn cũng ảnh hưởng, cây cỏ mọc xênh xang, như thể chim ỉa hạt ở đâu, cây nẩy
mần lên ngay chỗ đấy, ông già chẳng dời đi. Người quen nề nếp, quen khuôn phép
thấy lạ. Ngoài cỏ dại bị chặt từ lúc mon men bờ, hết thảy tự nhiên được sống đời tự
nhiên. Những trưa nồng, không thấy chim sâu chim sẻ nhưng tàn cây vọng xuống
véo va véo vắt, như thể chính những lá cây kia hót. Mấy con ong nghệ o e mon
men trên đám bông muồng. Sập tối, vài con cú mèo đậu trên cây vú sữa già kêu
từng hồi, anh hỏi ông già không sợ sao, ông cười bảo, sợ gì, cú kêu thì cũng như
chim sáo hót, hay cu đất nó gáy thôi.
Vườn quyến rũ chim chóc, ong bướm đã đành, mấy thằng bạn anh cũng mê
mẩn, chủ nhật nào cũng men theo để... nhậu. Nhiều lúc, ông già Hết Nói mót từng
cái ly mới đủ cho khách. Mồi thì không phải lo, bưng cái rổ thủng thỉnh dạo một
vòng vườn là nhậu mệt nghỉ. Cá sẵn dưới ao, gà ác cả bầy đủng đỉnh bươi đống
rơm mục. Một bữa ăn cá rô chiên xù, ông già hái vào một rổ lá lạ hoắc, nào là lá
đậu rồng, lá cát lồi, lá chùm ruột với nắm cải xanh. Tiệc nữa chừng thì rổ rau hết
sạch, thằng bạn chết nhát hay giơ mấy cái lá lên, dò xét “Cha, không biết ăn vô có
chết dại không đây?” nhưng vẫn ăn liến láu, khen bùi, khen chát, khen mùi lá non
sao mà thơm râu.
Ông già Hết Nói coi bộ vui. Anh có cảm giác ông già luôn lặng lẽ nói cùng
đám trẻ, rằng không cần ngôn từ cũng chuyển tải được tình người, rằng trên đời
vốn chẳng có rác, cây cỏ cũng vậy, cũng không hoàn toàn vô tích sự. Tệ như cỏ
cức heo, cỏ mực mọc bờ ao cũng làm thuốc được. Tự nhiên sinh cây không trái,
hay trái thiếu ngon, thí đã có lá, có hoa tặng người. Đất thảo thơm nên người thảo
thơm, cây cỏ thảo thơm. Ăn lươn um, tụi nhỏ giật mình, nếu thiếu lá nhàu không
biết cái món này lãng đến mức nào. Càng ngày, càng có cảm giác ta được nhiều
hơn cả ăn ngon. Có bữa, làm món bì cuốn lá sung, ông già hái mấy cái lá có nhiều
đốm trắng, nổi gù lên, một đứa thắc mắc, sao lá mướt rượt mà ngoại chê, lại lựa cái
lá thấy ghê? Ông già không trả lời, đưa cuốn lá sung cho nó, ăn xong, nó vỗ đùi
“Ngon quá chừng, ngọt, mà giòn”. Bữa nhậu bỗng dậy động vì “triết lý lá sung”,
thô ráp, xấu xí mà ngon, bùi, cũng như con người ta, ngoại hình không đẹp, không
nói hoa mỹ cũng chẳng hề gỉ, ăn thua là tấm lòng, tất nhiên, triết lý này chẳng thể
ứng dụng cho những cuộc thi... hoa hậu.
Suốt mùa hạn, hết bì cuốn lá sung, hết khế chua chuối chát cặp mắm lòng,
đến cá lóc nấu cháo nhúng rau đắng đất mọc theo mấy bụi chuối... Và những cô vợ,
người yêu của bạn anh lơn tơn đi đào khoai chuối, khoai báng, củ lùn, rồi hớn hở
thổi lửa luột nồi khoai đầy vun. Có bữa, cả bọn biến thành con nít, khi xắt những
trái gòn non, cộng với mấy cái bắp chuối con con chấm muối giấm. Có đứa rưng
rưng, vì nó nhớ thời thơ ấu nghèo hay vì trái ớt dầm cay xé?!
Rồi mưa sập soài, kéo theo lê thê những mây đen, sấm chớp. Con đường đến
nhà ông già Hết Nói hơi khó đi, nhưng có hề gì khi khu vườn bắt đầu lên tiếng của
sự nảy mầm, tiếng của những chồi xanh. Vì cái màu trắng muốt của đọt lụa hay
phớt tím của đọt cóc, đọt xoài mà người phải lăn vô bếp đổ bánh xèo. Tuần kế tiếp,
ai đó sáng kiến làm cái Lễ kỷ niệm ngày xưa... nghèo; bẻ những đọt rau muống,
rau lang, cải trời, rau dền, nhãn lồng... xanh mởn luộc lên chấm với tương kho.
Lúc đó, vài đứa đã nghiện khu vườn có ông già trầm lặng, vài đứa khoái
ngồi trầm ngâm uống trà với ông, nghe ông nói chuyện đời (bằng cái cách riêng
của ông). Chuyện nhậu chẳng quan trọng nữa, đôi lúc cả bọn băm bổ chạy xe ra
ngoại ô, chỉ để ngồi dưới gốc cây vú sữa, nghe chim hót, nghe dừa rụng xuống ao,
nghe tay chuối khô xào xạc, nghe khu vườn nói về triết lý của đất. Lúc ấy đã hết
năm, cô gái sắp về. Mọi người đùa là biết đâu cô sẽ dắt về một anh chàng Hà Nội.
Biết đâu cô chẳng về nữa. Một năm khiến anh thay đổi nhiều, thì cô ấy, biết đâu...
Tôi viết những dòng này như lời nhắn đến người người yêu của anh bạn tôi, nếu
chị không về nữa, chắc chắn khu vườn sẽ có đến hai người Hết Nói, họ trồng lung
tung những cây cỏ (tưởng như) dại, để chờ đợi, để giữ tròn lời hứa với một câu nói
dở, “hãy vì em...” Đấy, có thể tôi thi vị hóa bạn tôi, cũng có thể anh quên mất
chuyện đó rồi, anh gắn bó với ông già, khu vườn chỉ vì ông già, khu vườn. Vậy
thôi.
(Trích trang 157, 158, 159, 160, 161 trong quyển Tạp Văn “Ngày Mai Của
Những Ngày Mai” của tác giả Nguyễn Ngọc Tư do nhà xuất bản Phụ Nữ phát hành
năm 2007 tại Việt Nam)
#6
Tác giả Vương Hồng Sển viết ngày 23 tháng 4 năm 1993:
... Hôm qua, ngày 22-4, 8 giờ sáng, tôi đang lui cui đánh máy nơi buồng văn,
bỗng đứa cháu gái nội chạy vô báo có khách đến kiếm và đang đứng chờ ở cổng
ngỏ sau, tôi đang áo thun quần đùi, cũng không kịp và không cần thay y phục tử tế
khác, lòng bực tức vì khách nào đây đến phá đám, làm tôi đang viết và bị mất
hứng..., tôi ra đến cửa thì gặp một cô tươi tắn, miệng cười cười bày hàm răng cửa
có một lằn nhỏ phân hai, lễ phép xin tôi cho đẩy xe vào sân trong và tự giới thiệu:
“Cháu, đại diện báo Giải Phóng, đến xin cụ một bài về ngày Ba Mươi tháng Tư...
Tôi không đợt dứt lời, vụt nói:
- Xin lỗi cháu, ăn mặc sổ sàng như vầy, tiếp... nhưng tôi không biết nịnh!
- Không cần phải nịnh đâu. Xin cụ cứ viết như suy nghĩ...
- Tôi đã từng bị xí gạt, vừa rồi có một người dắt ông kia lại nhà, bảo tôi ưng
nói vài câu để ông ấy cho đứa con quay phim thâu tiếng nói và thâu luôn ảnh, điện
vẫn điện của tôi, quay phim vừa xong, ông ấy lòn tay dưới bàn tôi đang ngồi, trao
cho tôi một bì thơ dày dày, khách ra về, tôi lấy ra đếm, vỏn vẹn năm chục ngàn
(50.000), tôi tức tức mà khách đã đi xa, nay cháu đến như vầy, và tôi đang tức khí,
xin nói thật với cháu, hãy về hỏi lại nhà báo tiền nhuận bút là bao, như phải chẳn
thì tôi sẽ viết, chớ xin lỗi cháu, với tuổi 92, tôi quen sổ sàng, tôi là con đ. có hạng,
trả đúng giá thì tôi mới chịu ngủ!...
(Trích trang 101 và 102 trong sách Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di Cảo
Vương Hồng Sển do nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất và phát hành tại Việt
Nam năm 2012)
***
02/15/2026
Rất cảm kích khi biết tác giả “Cóc Cuối Tuần” trở thành “Ông Đồ” trong
mùa Xuân Bính Ngọ 2026, Danh kính xin phép quý độc giả mượn ý và lời bài thơ
“Ông Đồ” của tác giả Vũ Đình Liên để xin có ít lời:
Năm nay, đào vẫn nở
Vẫn thấy ông Đồ xưa
Thấy người muôn năm cũ
Đâu đây vẫn thấy hồn
“Sức” của Danh chỉ có vậy. Xin kính cáo.
Và kính chúc mừng năm mới bình an.
***
Lời cảm tạ: Trân trọng cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Chữ, nguyên trưởng
khoa FAMIS (tài chánh, kế toán, kinh tế, điện toán ứng dụng và ngoại thương) Đại
học HOUSTON DOWTOWN – HOA KỲ, đã cho phép trích dẫn từ ngữ và ý
tưởng trong bài viết “Hoài niệm duyên nghiệp và suy tư thô thiển cùa một người
VIỆT NAM tị nạn về Đại học CẦN THƠ” đăng trong đặc san “Kỷ niệm 60 năm
thành lập Viện Đại học CẦN THƠ (1966 – 2026), phát hành tại California, USA
15-3-2026”.
VIỆC LÀM
Tập quán: “Hồng hơn chuyên”
Vè dân gian: “Nhứt trực hệ
Nhì quan hệ
Ba tiền tệ
Bốn trí tuệ
Hai thực tế nầy, từ lâu ngấm ngầm chi phối nhân lực làm việc tại VIỆT
NAM. Hiến pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VIỆT NAM cho biết, đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo đất nước. Theo đó, người dân khó mà chen chân vào hàng
ngũ cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước và hiện tượng “3 không”, đã xảy ra:
- Không có việc làm
- Không chịu xin việc
- Không muốn học nghề
Đều là con dân VIỆT NAM, ai ai cũng muốn có việc làm để mưu sinh và
đóng góp cho xã hội. Từ khi VIỆT NAM mở cửa (1987) cùng với sự “cởi mở”
trong giáo dục/đào tạo kế đó (1989), kinh tế tư nhân được công nhận và đã thâu
dụng một số nhân lực làm việc trong dân chúng. Vấn đề là làm sao để mọi người
trong độ tuổi làm việc đều có việc làm. Xin được ghi lại một vài gợi ý:
1) Về phía nhà cầm quyền, chánh sách giáo dục/đào tạo cần được “cập nhật
hóa”.
a) Các trường trung học chuyên nghiệp và đại học cần cải tổ chương
trình giảng dạy nhằm cung cấp trang bị kỷ năng thực dụng cần thiết
đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh tế. Trường nên mời các Tổng
Giám Đốc, Giám Đốc, chủ tịch tập đoàn sản xuất, công ty, xí nghiệp...
làm tham vấn giảng huấn, cũng như mời họ làm diễn giả các buổi hội
thảo về hoạt động sản xuất, kế hoạch phát triển, hướng đi kinh tế
trong tương lai gần và xa... để định hướng cơ hội làm việc cho học
viên (học sinh, sinh viên). Cần có mạng lưới hợp tác giữa nhà trường
và các đơn vị kinh tế trong vùng. Một trung tâm phát triển, tham vấn,
giới thiệu việc làm tại các trường, sẽ làm gia tăng hiệu quả giải quyết
việc làm cho học viên tốt nghiệp – mục tiêu tối hậu của giáo dục/đào
tạo.
b) Hợp tác, cộng tác, hỗ trợ những cơ quan, công ty, xí nghiệp (công, tư)
mở lớp huấn luyện tay nghề cần cho sản xuất, kinh doanh... tạo điều
kiện và cơ hội tìm việc. Khuyến khích những cơ sở nầy nhận học viên
còn đang đi học vào làm việc bán thời gian (như khấu trừ thuế,...) –
được biết có nhiều thực hiện nầy.
2) Về phía người công nhân và học viên:
a) Trong tinh thần người biết chỉ người chưa biết, người đi trước dắt
người đi sau, các hội đoàn nghề nghiệp sẽ rất hữu ích cho ai bước vào
lực lượng lao động. Bản thân người công nhân, dù đang có việc, cũng
cần tham dự các khóa huấn luyện kỷ năng cao hơn hay các nghề liên
hệ để thăng tiến nghề nghiệp, cũng như dễ dàng tìm việc khi cần.
Hoạt động của các hội cựu học sinh, sinh viên các trường, nhứt là hội
có thành viên đang là cấp chỉ huy của các đơn vị sản xuất kinh tế, cần
có các liên lạc, liên hệ giữa “ma cũ, ma mới” để đàn anh, đàn chị giúp
đỡ khuyến khích, hướng dẫn hỗ trợ, giang tay đỡ đầu, giới thiệu, kể cả
việc nhận đàn em vào làm việc.
b) Khởi đầu của việc làm là phỏng vấn tuyển dụng. Phải biết tự “quảng
cáo” mình với sự thành thật để trả lời các câu hỏi. Trong buổi phỏng
vấn, không nên thụ động 100% mà cố gắng tìm cơ hội để hỏi ngược
lại người phỏng vấn mình, bằng những thắc mắc có được từ suy diễn
nhạy bén qua câu hỏi của người phỏng vấn. Thí dụ:
- Bạn muốn làm vị trí đó không?
- Tôi muốn làm, nhưng khi có trở ngại, có vấn đế mới, có yếu tố
mới... thì các phòng ban hay nhân sự nào giúp sức không? Hay tôi
phải quyền biến, linh động giải quyết? Trách nhiệm vụ việc, phân
định ra sao?
Tốt nhứt, trước khi đi dự phỏng vấn, phải hiểu rõ mình xin làm công
việc gì, vị trí nào, cơ quan, xí nghiệp đó cung cấp, sản xuất cái gì. Nếu
là vật dụng: phải biết hình dáng, mẫu mã, công dụng... Cũng cần biết
một ít về qui mô hoạt động, thành tích, vai trò của xí nghiệp, cơ quan
với các ngành nghề liên quan (qua báo chí, quảng cáo...). Với quyết
tâm nhẫn nại, thử xin vào làm việc không lương (tình nguyện) tại cơ
quan, xí nghiệp mà mình nhắm tới. Khi nơi nầy mở việc tuyển dụng
thì có điều kiện thuận lợi và ưu tiên. Khi còn đi học, dùng thời gian
rảnh để đầu tư việc làm theo cách nầy là hiệu quả nhứt.
Việc làm là vấn đề ai cũng quan tâm, nhứt là trong tình trạng có áp lực
dân số. Dân số càng đông, tinh thần “nhường cơm, xẻ áo” càng cần
thể hiện và phát huy. Đó là tánh bác ái, là tâm bình đẳng mà tinh thần
tuyên ngôn độc lập 1945 có đề cập tới.
Bùi Đắt Danh